|
Ngày… tháng … năm …
Kính gửi cô Ai-Cơ Hoàng-Thịnh,
Từ hơn mười năm nay, cộng đồng Việt tại tiểu
bang Victoria này đã được biết đến những nỗ lực của cô trong
việc duy trì tiếng mẹ đẻ cho trẻ Việt tại hải ngoại, trong đó
may mắn có con em chúng tôi. Hôm nay tôi xin đại diện một số
đông phụ huynh học sinh Việt gửi đến cô lá thư này để tỏ lòng
mến mộ và biết ơn cô.
Chúng tôi vẫn đồng ý với nhau rằng nhờ được
học cô mà con em chúng tôi rất vững tiếng Việt, về cả bốn mặt
nghe, nói, đọc, viết, hơn hẳn con em của bà con bạn hữu chúng
tôi sống ở nơi khác. Điều đáng mừng nhất là các cháu thấm nhuần
được những nét văn hóa truyền thống Việt tốt đẹp, biết ăn nói cư
xử lễ phép, kính trên nhường dưới, biết công ơn cha mẹ, biết
chăm chỉ học hành, biết chứng tỏ với người bản xứ rằng trẻ Việt
vừa giỏi vừa ngoan v.v...
Chúng tôi cũng mong nhân cơ hội này xin cô
phổ biến kết quả học tập rất đáng hãnh diện của con em chúng tôi
(cũng chính là học trò cô), vừa để khích lệ các cháu, vừa để
chứng minh với biết bao phụ huynh và học sinh khác rằng : tiếng
Việt rất đáng yêu, dễ học, còn dễ học hơn tiếng Anh nữa. Mà kinh
nghiệm bản thân đã cho tôi thấy rằng : đối với một người mẹ
không rành tiếng Anh như tôi, những gì các con tôi học được từ
chương trình tiếng Việt chính là chiếc cầu tuyệt vời nối kết tôi
với các con, tôi với xã hội Âu Mỹ và các con tôi với nguồn gốc
Việt.
Thân kính,
Nguyễn thị Sâm
********************************************************************
Ngày… tháng … năm …
Chị Sâm quý mến,
Bao giờ tôi cũng rưng rưng xúc động trước
những bày tỏ chân tình của học sinh hay phụ huynh dành cho mình.
Chính những ánh mắt trong sáng đầy tin tưởng của đám học trò
thân yêu và chính những lời chân tình như thế của phụ huynh đã
giúp tôi vượt qua trùng trùng khó khăn thử thách trong nghề "bán
cháo phổi" này. Cảm ơn chị Sâm rất nhiều.
Theo lời yêu cầu rất hợp lý của chị, tôi xin
phổ biến thành quả học tập mới nhất, trong năm nay của học sinh
trường Tiểu học Footscray. Vì đồng thời với thư của chị, tôi
nhận được thư của một số bạn hữu và giáo viên các trường Việt
ngữ cuối tuần ở các cộng đồng hải ngoại khác, yêu cầu tôi chia
sẻ kinh nghiệm sọan giảng làm sao cho trẻ Việt ham thích học
tiếng Việt, nên xin chị cho phép tôi lần lượt trình bày các diễn
tiến học tập trước khi đưa đến kết quả tốt đẹp mà các cháu đạt
được:
Để dạy Tiếng Việt cho cấp lớp Vỡ Lòng, Một,
Hai và Ba, thay vì bắt các em ê a đánh vần (khiến các em nhàm
chán, khó nhớ, dễ quên) tôi tận dụng các trò chơi/ bài hát đơn
giản/ truyện cổ tích mà trẻ con yêu thích. Mở đầu một bài học,
tôi cho các em được vui chơi/ múa hát/ đóng kịch trước đã. Trẻ
con thuộc rất mau và nhớ rất lâu lời các bài hát, các câu
chuyện. Sau khi các em nghe rành, nói đúng các lời ấy, tôi mới
cho các em trông thấy bài hát, câu chuyện viết trên giấy. Mỗi
buổi học, tôi chỉ tập trung sự chú ý của các em vào một vài từ
/ngữ / âm / vần có trong lời bài hát, câu chuyện đó để dạy các
em ráp vần, đọc và viết mà thôi. Chẳng hạn, sau khi các em đã
hát và chơi bài "Múa Voi", tôi chỉ hoặc dạy các em vần "oi" ,
hoặc phụ âm đầu "k" / "c" mà thôi.
Cuốn Các Trò Chơi Cổ Truyền Của Trẻ Em Việt
Nam, viết bằng Anh và Việt ngữ của tôi, vừa xuất bản tại
Melbourne, có trình bày rõ ràng từng bước cách chuẩn bị và biến
một trò chơi cổ truyền Việt nam thành một bài học sinh động,
hào hứng.
Các băng nhạc cassette, CD, video và karaoke
dành riêng cho thiếu nhi Việt (sản xuất tại Mỹ và Úc) hiện nay
bán đầy rẫy ở các tiệm sách, chứ không hiếm hoi như trước kia.
Các sách truyện thiếu nhi (in ở Mỹ và Úc) cũng không thiếu.
Riêng tôi, tôi đã dịch hàng ngàn cuốn sách nhỏ từ tiếng Anh sang
tiếng Việt, nhằm đáp ứng nhu cầu đọc sách mỗi ngày của hơn trăm
học sinh Việt tại trường tôi.
Với học sinh Việt thuộc cấp lớp 3, 4, 5 và 6,
thay vì bắt các em "viết chính tả" (các em rất sợ) hoặc "chép từ
bảng xuống tập" (chỉ giúp các em luyện chữ viết) hoặc "học thuộc
lòng" (khá vất vả cho các em), tôi thử dùng phương pháp "tập làm
thơ" mà tôi đã áp dụng thành công với vô số trẻ Việt sinh ở hải
ngoại, trong đó có hai con ruột của mình.
Quả nhiên, phương pháp này đã hấp dẫn được
tất cả học sinh, kể cả những em vốn thiếu tự tin và "sợ Tiếng
Việt vì khó học quá". Tôi bắt đầu bằng một đề tài rất gần gũi
với các em:"Bạn Em" ; đồng thời tận dụng những từ vựng mà chắc
chắn các em rất quen thuộc: tên của chính các em.
Trong tiết thứ nhất, tôi dùng tên các em để
phân biệt vần BẰNG (dấu huyền và không dấu), với vần TRẮC (dấu
sắc, hỏi, ngã và nặng). Rồi tôi cho các em thử tìm các vần bằng
/ trắc trong bài thơ Học Trò Tôi (do chính tôi viết về các em).
Đến tiết thứ nhì, các em làm việc theo nhóm
hai hoặc ba người. Mỗi nhóm giúp nhau ráp được càng nhiều từ
vựng cùng vần với tên từng em càng tốt. Chẳng hạn, nhóm A gồm
hai em tên Vi và Mỹ Xuyên. Hai em này giúp nhau ghép các phụ âm
đầu với vần "i" và "uyên", viết thành 2 cột chữ. (Biết hai em sẽ
"vất vả" với vần "uyên" nên tôi đến tận nơi giúp và cắt nghĩa
rằng các em có thể dùng thêm vần "iên", vì 2 vần này nghe hao
hao như nhau). Ví dụ đây là 2 cột chữ do Vi và Mỹ Xuyên ráp
được:
"i" "uyên/
iên"
(so) bì
(đánh) chuyền
chi
(tóc) huyền
di`
huyên thuyên
đi
thuyền
ghi
khuyên
khi
(có) quyền
lì (khoai) chiên
(nhu) mì
hiền
(cái) ni
liền
nhì
miền
nghi
(tự) nhiên
phì
phiền
thi tiên
vì tiền
v.v...
v.v...
Qua việc ráp phụ âm đầu với vần thành chữ,
các em đã cùng tìm tòi và làm giàu vốn từ vựng cho nhau, đồng
thời giúp nhau luyện / củng cố khả năng đánh vần. Ngoài ra tôi
dành 15 phút cuối tiết để phân tích cho cả lớp những chữ viết
sai, chẳng hạn "có diêng" (duyên), "có guyềng" (quyền), "chơi
đánh chiềng" (chuyền), nhà "ghạch" (gạch) hai "thừng" (từng),
"giàng mái" (dàn máy), "dử dình" (giữ gìn), "sặc sẻ" (sạch sẽ),
"cắc dáng bong hòng" (cắt dán bông hồng), "dở kịt" (vở kịch),
"trơừng" (trường), v.v...
Tiết thứ ba, các nhóm viên nhìn vào 2 hoặc 3
cột chữ ấy và "phỏng vấn" lẫn nhau, chẳng hạn Vi hỏi Mỹ Xuyên:
"Bạn có biết/ thích chơi đánh chuyền không?" hoặc "Bạn có thích
khoai chiên không?", v.v... Cuộc phỏng vấn giúp các em luyện khả
năng đặt câu hỏi, trả lời, thu lượm và ghi nhớ tin tức. Sau cuộc
phỏng vấn, Vi đã gom được khá nhiều ý để viết một đoạn văn hay
làm một bài thơ ngũ ngôn về Mỹ Xuyên.
Tiết thứ tư và năm, mỗi nhóm chia sẻ bài của
nhóm mình với cả lớp, được tôi và cả lớp góp ý nhuận sắc lại.
Các em đã cười ròn rã không ngớt trong 2 tiết này khi được giúp
nhận ra những nhầm lẫn thông thường và ngộ nghĩnh. Chẳng hạn,
"giật đồ" (giặt đồ), "đẻ" chơi (để chơi), "lồng mẻ" (lòng mẹ),
"chòn chử híu" (tròn chữ hiếu), "ich yew" (ít nhiều), con
"neat"(nít), "đến đái" (đền đài), v.v...
Tiết thứ sáu, các em viết, minh họa và trình
bày bài của nhóm mình cho thật đẹp, rồi hãnh diện đem trưng bày
trên tường ngoài hành lang cho cả trường xem. Chưa hề nghêu ngao
"học thuộc lòng", nhưng rõ ràng là em nào cũng đã thuộc nằm lòng
và sẽ nhớ mãi mãi các bài văn/ thơ có liên hệ mật thiết đến
chính mình.
Sau đây là kết quả 6 tiết học tập hào hứng
của các lớp 3/4 D, 3/4 S, 4/5 S, 5/6 H và 5/6 M, Trường Tiểu học
Footscray. Một số em tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về thơ. Một số
khác cần được cả lớp giúp sức. Tôi đã hỏi ý các em. Các em bằng
lòng cho tôi phổ biến "tác phẩm " và tên thật của các em.
BẠN EM
Bạn em tên Mỹ Xuyên,
Tính nết rất dịu hiền,
Da trắng hồng, xinh xắn,
Hai má lúm đồng tiền.
(Trần Thu Trang)
Bạn em tên là Vi,
Không bao giờ phá, lì.
Mà dịu dàng, duyên dáng,
Và không thích so bì.
(Lê Hoàng Hiệp)
Bạn em tên Quỳnh Như,
Được cưng mà hổng hư,
Học hay, ca múa giỏi,
Và rất thích viết thư.
(Võ Kim Nhi)
Bạn em tên Thu Trang,
Không thích đi lang thang
Hay diễu cười dí dỏm,
Ít mặc màu nâu, vàng.
(Jacqueline Dương Trác Ngọc)
Bạn em tên Trác Ngọc,
Vừa giỏi vừa chăm học,
Đêm đêm thích ngắm trăng
Và say mê viết, đọc.
(Mei-Sin Lai Mỹ Xuyên)
Bạn em tên Kim Nhi,
Tính nết rất nhu mì,
Giúp bạn cùng học giỏi,
Dễ thương khó ai bì.
(Mimi Huỳnh Quỳnh Như)
Bạn em tên là Phong,
Chỉ thích ở trong phòng,
Coi ti vi, đọc sách,
Không thích đi lòng vòng.
(Nguyễn Vinh Quy)
Bạn em tên Phan Tú,
Hên quá, có người chú,
Cứ cho tiền xài hoài,
Và đồ chơi đầy tủ.
(Quách Tuấn Anh)
Bạn em tên Tuấn Anh,
Ăn vừa khoẻ vừa nhanh,
Chữ viết nhỏ và đẹp,
Có chị tên Tuyết Anh.
(Tony Phan Tú)
Bạn em tên Hoàng Hiệp,
Hay đi chơi với Diệp,
Quấn quýt như chị em,
Không sợ ai ăn hiếp.
(Nguyễn thị Vi)
Bạn em tên Ngọc Hùng,
Không thích chạy lung tung.
Dù bị ai chọc ghẹo,
Bạn cũng không nổi sùng.
(Lớp 4/5 S)
Bạn em tên Diệu Hương,
Vừa xinh, vừa dễ thương,
Chăm ngoan và lễ phép,
Lại học giỏi nhất trường.
(Lớp 4/5 S)
Bạn em tên Huệ Sang,
Ăn mặc rất đàng hoàng,
Nhưng lại hay mắc cở,
Trông hiền như cành lan.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em, Michelle Thương,
Yêu thích những giọt sương,
Hay ngồi dưới gốc phượng,
Không muốn bị coi thường.
(Lớp 5/6 M)
Bạn em tên Huỳnh Anh,
Không ưa mùi tỏi hành,
Có rất nhiều bạn tốt,
Để cùng chơi đá banh.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Sơn Anh,
Rất ham chơi đá banh,
Thích vẽ hình hí hoạ
Chạy đua thì rất nhanh.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Tú Trinh,
Dáng nho nhỏ xinh xinh,
Hiền lành và lễ phép,
Ai cũng có cảm tình.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Quốc Linh,
Không thích chơi một mình,
Nên có nhiều bạn lắm,
Cùng mê phim hoạt hình.
(Lớp 5/6 M)
Bạn em tên Thi Hương,
Dáng dong dỏng, xương xương,
Hay cười đùa vui vẻ,
Nên ai thấy cũng thương.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Quốc Nam,
Rất hay ăn bưởi, cam,
Không ưa người đánh lộn,
Và những ai nói xàm.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Thùy Dương,
Vì tính hay ngủ nướng,
Nên hổng thích đến trường,
Vào những ngày gió chướng.
(Lớp 3/4 D)
Bạn em tên là Việt,
Thích học đọc, học viết,
Luôn cố gắng, chăm ngoan,
Nên càng ngày càng biết.
(Lớp 3/4 D)
Bạn em tên Thu Hằng,
Cả ngày chỉ thích ăn,
Có em là bé Thảo,
Cả ngày chạy lăng xăng.
(Lớp 3/4 D)
Bạn em tên Thuý Vi,
Tính nết rất nhu mì,
Say mê môn Tiếng Việt,
Trong lớp, giỏi nhất nhì.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên là Mỹ,
Lúc nào cũng suy nghĩ,
Học giỏi và rất chăm,
Với bạn, rất chung thủy.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Tường Vân,
Chơi với Thương rất thân,
Hai người hợp tính nết,
Cùng đi chơi xa gần.
(Lớp 5/6 H)
Bạn em tên Ngọc Bích,
Bánh kẹo thì rất thích,
Hổng ngán bị đau răng
Nhưng lại sợ bánh ít.
Em có bạn tên Uyên,
Cùng vần với tên em,
Học hay, ca múa giỏi,
Và cười thật có duyên.
Em có bạn tên Hồng,
Cao chưa được một thước
Nên phải có người bồng
Mỗi khi cần uống nước (từ vòi).
(Phạm Vương Tiên 3/4 D)
Tuyệt vời nhất là các em đã đem được nguồn
hứng khởi về đến tận gia đình! Sau đây là một số bài do các em
tự ý viết thêm ở nhà:
NHỮNG NGƯỜI THÂN
Anh em tên là Duy
Tính tình rất lạ kỳ:
Đi học, thì hổng thích,
Mà lại thích đi thi!
(Lê Hoàng Hiệp)
Em em tên Đăng Khoa,
Thích kem sô cô la,
Hay bày bừa, phá phách,
Nên bị ba mẹ la.
(Trần Thu Trang)
Mẹ Như tên là Lụa,
Khuôn mặt rất sáng sủa,
Ngày nào cũng ngâm thơ,
Hoặc xem phim ca múa.
(Võ Kim Nhi)
Chị em tên Phương Thảo,
Rất sợ trời mưa bão,
Thông minh và học chăm,
Biết chiên trứng trên chảo.
Em em tên Thiên Hương,
Nhỏ xíu và dễ thương,
Ngày nào cũng ráng học,
Vì hổng muốn ăn "lươn".
(Jacqueline Dương Trác Ngọc)
Mẹ Nhi tên là Trang,
Dáng vừa đẹp vừa sang,
Có bốn người con gái,
Ai cũng giỏi, chăm, ngoan.
(Mimi Huỳnh Quỳnh Như)
Ba em tên là Anh,
Chơi thân với bác Thanh,
Hai người cùng chịu khó,
Và vui vẻ, hiền lành.
(Nguyễn thị Vi)
Cô em cũng tên Bích,
Cũng ghét chuyện cổ tích,
Cũng mít ướt quá trời,
Và rất sợ ong chích!
(Phạm Vương Tiên 3/4 D)
Hy vọng rằng những bài thơ tuy còn non nớt
nhưng hồn hậu đáng yêu trên đây, của các em bé Việt nam sinh ra
và lớn lên trên đất Úc, đã đem lại nụ cười phấn khởi cho các bậc
phụ huynh / ông/ bà/ chú/ bác hằng quan tâm đến sự duy trì và
phát triển ngôn ngữ mẹ cho các thế hệ tương lai.
Đồng thời, hy vọng rằng bài chia sẻ kinh
nghiệm này sẽ gửi gấm được chút ý kiến, cảm hứng và niềm tin đến
các thày cô đang dạy Tiếng Việt cho trẻ Việt ở hải ngoại, tin
rằng cháu nào cũng thừa lòng yêu thích và khả năng học tiếng mẹ,
rằng không những các cháu có thể nói, đọc, viết rành rẽ mà còn
LÀM THƠ bằng tiếng mẹ được nữa kia!
Thân ái,
Ai Cơ Hoàng Thịnh
Trở về Trang Chính
|