|
Từ khi
quả đất và muôn loài được tạo nên cho đến ngày hôm nay thì tiến
trình đi tìm đất sống, đi tị nạn (thiên tai, chính trị, chiến
tranh, kinh tế..) hay còn nói một cách khác là đi tìm môi trường
sống mới thích hợp cho cá nhân, cho gia đình, hay cho tập đoàn
của mình đã trở thành một thực thể diễn tiến không ngừng. Tiến
trình đi tìm môi trường sống mới không chỉ xảy ra ở loài người
mà ngay cả động và thưc vật cũng không là ngoại lệ.
Các
loài thực vật trong thiên nhiên cũng vậy, chúng cũng biết đi tìm
những vùng đất thích hợp để đâm chồi mọc rễ. Chúng cũng biết
tranh dành đất sống tiết ra những hoá chất để giết chết hoặc
chăn đứng sự xâm lấn và phát triễn của các loài thảo mộc khác.
Loài thực vật nào không dung nạp được hoá chất đó sẽ bị chết.
Nếu muốn tồn tại chúng sẽ lợi dụng mưa gió để đi tìm đất mới nơi
chúng có thể sinh tồn được.
Loài
động vật cũng vậy, bất kể lớn bé, cho là nhỏ bé như những con
kiến cũng biết tranh dành lãnh thổ, đánh giết lẫn nhau, sống
thành tập đoàn riêng, bắt kẻ thù về làm nô lệ cho cộng đồng của
mình. Hể có loài nào kiến khác đến xâm chiếm lãnh thổ của mình
thì chúng tiệu diệt lẫn nhau. Giống nào yếu kém thì bị chết hoặc
bỏ chạy di tản đi nơi khác tìm đất sống đúng như lời ông bà ta
ngày xưa thường nói: “ Cá lớn nuốt cá bé”, điều nầy có
thể được kiểm nghiệm một cách rỏ ràng hơn qua các chương trình
khám phá, học hỏi và tìm tòi về các loài thực và động vật của
‘Discovery Channel’ hoăc của các đài giáo dục công cộng.
Chúng
ta là con người mặc dù ở tầng lớp cao hơn, có cấu trúc ngôn ngữ
đặc biệt cũng không khác biệt là bao nhiêu. Từ ngàn xưa đến giờ
những diễn tiến tranh chấp, chém giết lẫn nhau được lập đi lập
lại không ngừng. Dù là ở bất cứ nơi nào trên quả địa cấu, nơi
nào có con người là nơi đó có tiến trình tranh chấp, chém giết
lẫn nhau ở mức độ nặng nề, rộng lớn hơn. Loài người không những
chỉ tranh dành đất đai, ăn uống, nhà cữa, nam nữ, được yêu
thương mà còn tranh chấp một cách trầm trọng về chính kiến, giai
cấp, tôn giáo và quyền lực. Diễn tiến đó chính là qui luật đào
thải của thiên nhiên và của xã hội loài người.loài giống nào, cá
nhân hay tập đoàn nào mạnh, thích ứng được với môi trường sống
sẽ tồn tại nếu không sẽ dần dần đi dần đến tình trạng tuyệt
chủng.
Theo
Thánh Kinh của đạo Thiên đạo Thiên Chúa giáo, ngay từ thời khai
thiên lập địa chúng ta đã thấy sự tranh chấp của con người thể
hiện qua Cain và Abel trong gia đình của ông Adam và bà Eva. Vì
ghen ghét thượng đế yêu thương em mình nhiều hơn mà Cain đã đành
tâm giết chết em mình rồi hoảng sợ bỏ chạy trốn đi tìm vùng đất
mới để tránh né sự đuổi giết của phía Abel.
Gần đây
với sự phát triễn của ngành khoa học về DNA, các nhà khoa học,
nhân chủng học, Địa Lý học, Sử Học, .... đã biết được tiến trình
di chuyển của người Tiền Sử từ lúc còn là những tập đoàn sống
quay quần rải rác ở Phi Châu cách đây khoảng độ 60,000 năm đến
50,000 năm trước công nguyên. Tiến trình di chuyển nầy có thể
chia làm hai đợt chủ yếu.

·
Lần thứ nhất cách đây khoảng 60,000 B.C.
Những người ra đi lần đầu nầy đi về hướng bắc Phi Châu, vượt qua
vùng Samạc Sahara đi dọc theo đường bải biển và đã đi trong một
khoảng thời gian tương đối ngắn so với nền văn minh con người
vào giai đoạn đó. (có thể họ đi lẹ cho kịp đà di chuyển của thú
rừng vì thời tiết thay đổi quá nhanh) Họ đã đi qua Tích Lan ở
Nam Ấn Độ, qua vùng Đông Nam Á (lúc đó hảy còn là một lục địa)
cuối cùng họ phải dùng Bè hoặc Thuyền để vượt qua 100 km đường
biển để đến chổ định cư sau cùng là Úc Châu (Australia) ?

·
Lần thứ hai cách đây khoảng 50,000 năm B.C.
người Tiền sử lại một lần nữa phân chia, tách rời thành nhiều
nhóm cùng rời khỏi vườn địa đàng Phi Châu, không giống như những
người Tiền Sử thiên di lần đầu đi dọc theo bờ biển, mà họ vượt
qua vùng Đồng Cỏ Sahara đi theo dấu chân các loài thú hoang dã
thời đó chẳng hạn như Khổng Tượng, Bò rừng, Nai ....đi qua Iran,
Pakistan, Trung Á, vượt qua những rặng núi lạnh lẽo cao ngất
trời như rặng Thiên Sơn, Hy Mã Lạp Sơn, và Hindu Kush để đi đến
Đông và Bắc của lục địa Trung Hoa cổ rồi bị kẹt luôn ở đó do
thời tiết thay đổi bất thần. Những con đường lui tới đã bị phủ
lấp bằng những đồi, núi tuyết trắng xóa. Không còn sự lựa chọn
nào khác họ đã dừng chân và định cư ở đấy một thời gian một khá
dài.
Cả hai
lần di tản ra khỏi Phi Châu đều có thể là một quá trình đi tị
nạn thiên nhiên, và cũng có thể
do ở sự tranh chấp chốn ăn, chốn ở chém giết lẫn nhau, để rồi
cuối cùng đi đến giải pháp chia tay.
Sau đó,
cách đây vào khoảng 30,000 năm, theo những nhà Khảo Cổ và Địa
Chất học cho biết vào thời kỳ Băng Hà, biển Thái Bình Dương bị
Đông cứng thành đá tạo thành cây cầu Băng Đá (Beringia)
dài khoäng 1,600 cây số (1,000 miles) nối liền Á Châu và Mỹ
Châu. Giai đoạn nầy do ảnh hưởng của khí hậu tê buốt đó các loài
thú rừng trở nên khan hiếm cho nên người Tiền Sử phải săn bắt
các loài thú to lớn chẳng hạn như Khổng Tượng (Mamooth, bây giờ
đã bị tuyệt chủng), reindeer để mà sinh tồn. Theo bước chân các
loài thú đó họ đi thành từng đoàn từ phía bắc và đông bắc Á châu
sang Bắc và Nam Mỹ (North and South America), dọc đường có lẽ
rất nhiều người bị chết vì thời tiết khắc nghiệt. Gần đây người
ta đã có được di chúng và biết cách đây khoảng độ 1,000 năm C.E.
nguời Viking đã đến Bắc Mỹ Châu đụng độ và choảng nhau với Thổ
Dân Da Đỏ (dân Skraeling, một vài nhà sử học
cho rằng những thổ dân nầy chính là người mà hậu duệ của họ là
những thổ dân Montagnais ỏ Labrador, Quebec.)
Sau nầy
vào cuối thế kỷ 15 dưới sự tài trợ của vua và hoàng hậu Tây Ban
Nha, Christopher Columbus mỡ đầu chuyến hải hành đi tìm vàng bạc
châu báu và khám phá ra Châu Mỹ.
Từ khi
thời tiết và khí hậu trên quả địa cầu thay đổi và chuyển dần
sang ấm áp tạo điều kiện cho Nông Nghiệp phát triển khắp nơi
trên quả địa cầu cách đây độ chừng 10,000 năm trước công nguyên.
Nhờ đó con người có cơ hội sinh tồn và phát triễn dễ dàng hơn.
Theo đà phát triễn đó những sự tranh chấp trong xã hội loài
người càng trở nên khốc liệt hơn. Có giả thuyết cho rằng cách
đây khoảng độ 8,000 năm trước công nguyên do nạn Biển Tiến ở lục
địa Đông Nam Á, hậu duệ của những người Tiền Sử rời chiếc nôi
Phi Châu lần đầu cách đây khoảng 60,000 năm trước công nguyên
lại một lần nữa phân chia thành nhiều nhóm rời khỏi mái nhà Đông
Nam Á. Một số rút sâu vào nội địa, một số khác di tản ngược về
phía bắc Trung Hoa cổ để tìm đất sống và tị nạn Biển Tiến.
Khoảng
độ 3,000 năm trước công nguyên cho đến những năm cuối cùng của
thời Xuân Thu Chiến Quốc do sự va chạm trong đời sống hằng ngày,
tranh chấp lãnh thổ, tham vọng chính trị và quyền lực đã đưa đến
những trận chiến dã man, đẫm máu, đầy nước mắt tại Trung hoa cổ
dẫn đến những cuộc di tản ào ạt về Đông Nam Á để tị nạn chiến
tranh và chính trị.
Khoảng
chừng 1,280 năm trước công nguyên ở bắc Phi Châu ông Mose vì
không chấp nhận được sự
bất công và tàn nhẫn của người Ai Cập đối với dân tộc ông, dân
nô lệ Do Thái rời khỏi Ai
Cập đi tìm vùng đất hứa của Palestine (Canaan) để gầy dựng cuộc
sống mới cho dân tộc của ông.
Vào năm
1214 ở Á Châu, Thành Cát Tư Hản vì tham vọng bá chủ quá mảnh
liệt đã thúc đẩy ông đưa dân Mông Cổ vào những cuộc chiến thống
nhất các bộ lạc Mông Cổ rồi sau đó đem quân viễn chinh đi xâm
lăng tàn khốc khắp nơi trên thế giới, gây ra biết bao cảnh chết
chóc hải hùng cho nhân loại, để diễn tả sự hung tàn của những
đoàn quân xâm lăng nầy người ta có nói: “Nơi nào đoàn quân viễn
chinh Mông Cổ đi qua là nơi đó cỏ không thể nào mọc lên được”.
Tiếp
nối cuộc hải hành của Christopher Columbus, dân Châu Âu đua nhau
cho thuyền tàu đi đến Châu Mỹ để tìm vàng, và Châu báu, và đất
mới. Sự cạnh tranh nầy vô hình trung dẫn đến sự việc đi săn và
lùng bắt dân nô lệ da đen ở Phi Châu để bán cho thị trường tiêu
thụ ở Châu Mỹ từ thế kỷ 16 cho đến đầu thế kỷ 19. Đặc biệt là
các thương buôn Anh Quốc và Bồ Đào Nha là những người buôn bán
nô lệ da đen Phi Châu xuyên suốt vùng biển Đại Tây Dương một
cách quy mô và có hệ thống nhất. Họ đi săn mua các tù binh da
đen Phi Châu từ những bộ lạc chiến thắng rồi đem đi trao đổi
hoặc bán cho nhưng thương buôn Âu Châu.

Vào
những thời điểm nầy chíngh quyền Liên Bang Hoa Kỳ hảy còn ra
những đạo luật nhằm bảo vệ quyền làm chủ nô lệ vì nền kinh tế Mỹ
Quốc lúc đó hảy còn lệ thuộc vào sức lao động của nô lệ quá
nhiều và không thể nào tách rời yếu tố nô lệ ra khỏi nền kinh tế
được. tuy nhiên không phải người dân Mỹ nào cũng chấp nhận việc
nô lệ. Chẳng hạn như ông Samuel Sewal là một trong những người
tích cực trong việc chống đối vấn đề nô lệ.
Sau đó
những đoàn di dân Pháp, Anh, Dutch, và Thụy Sĩ cùng di tản qua
Châu Mỹ cạnh tranh với Tây Ban Nha. Sau nầy do tranh chấp quyền
lợi người Pháp đã bắt tay với thổ dân Mỹ để chống lại người Anh.
Giai đoạn từ năm 1700 đến năm 1730 giai cấp quý tộc Anh Quốc
thường hay dùng đày tớ được thu dụng từ Anh Quốc để làm việc cho
họ theo khế ước đồng thời sử dụng nô lệ da đen mà họ mua và trao
đổi được để làm việc ở các nông trường. Chỉ khi nào giao kèo hết
hạn thì những người đày tớ Anh Quốc mới được tự do. Nhưng nô lệ
da đen thì không được cái diểm phúc đó.
Năm
1830 chính phủ Hoa Kỳ ra đạo luật ép buộc những thổ dân
Cherokees, Chickasaws, Choctaws, Creeks, và Seminoles đi về phía
tây của sông Mississipi (ngày nay là Arkansa, Texas,va Missouri)
và gọi đó là lãnh thổ của những thổ dân Hoa Kỳ. Cuộc hành trình
di tản đầy nước mắt đó đã làm chết rất nhiều thổ dân da đỏ.
Cuối
giai đoạn Napoléon và đệ nhất thế chiến, từ năm 1815 đến năm
1915 đã có tổng cộng khoảng 30 triệu dân Âu Châu di tản sang Hoa
Kỳ để tị nạn chiến tranh, tôn giáo, và kinh tế.
Không
phải chỉ có người Âu Châu là những di dân đến Châu Mỹ. Thật ra
người tiền sử Á Châu là di dân đầu tiên đến Bắc Mỹ cách đây
khoảng 30,000 năm trước công nguyên. Sau nầy di dân Châu Á hiện
đại cũng góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền kinh tế Mỹ.
chẳng hạn như người Nhật và Trung Hoa. Tuy nhiên những di dân Á
Châu nầy đã gặp sự chống đối, ganh ghét và kỳ thị gay gắt từ các
di dân Âu Châu trước đó.
Năm
1882 chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ cho ra đạo luật Homestead Act
nhằm chủ yếu để cấm chỉ và đối phó với di dân Á Châu đến Hoa Kỳ
từ năm 1892 đến năm 1954, nhất là người Trung Hoa. Những người
dân tị nạn Trung Hoa nầy bị giữ ở lại đảo Ellis lâu hơn tất cả
các di dân Âu Châu khác.
Trong
những di dân đến Hoa Kỳ tị nạn có ông Albert Einstein là một
nhà Vật Lý Học nổi tiếng trên thế giới đã làm rạng danh cho
những di dân Do Thái. Hy vọng rằng trong tương lai người Việt
Nam chúng ta sẽ có nhiều guơng mặt đem lại danh dự cho cộng đồng
Việt tộc tị nạn Cộng Sản trên thế giới.
Sau khi
lãnh đạo đãng Cộng Sản Trung Quốc thành công trong việc thống
nhất đất nước, ông Mao trạch Đông đã đem quân sang đánh chiếm
Tây Tạng năm 1949. Một số dân Tây Tạng cùng với một số thầy tu
đã rời khỏi quê hương của họ và bỏ trốn sang tị nạn ở Ấn Độ. Đức
Đạt Lai Lạt Ma vì không muốn có thảm nạn chiến tranh xảy ra trên
quê hương làm cho dân tộc mình phải khổ nạn nên đành phải bỏ
trốn, di tản sang tị nạn ở Ấn Độ. Từ đó danh tiếng đức Đạt Lai
Lạt Ma của Tây Tạng được mọi người trên thế giới biết đến.
Năm
1862 chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ cho ra đời một đạo luật
Homestead Act cho phép những người dân nào đi khai khẫn đất
hoang mà khai thác được 160 mẫu đất thì có quyền làm sở hữu chủ
những mảnh đất đó. Quả thật chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ đã giữ
đúng lời hứa hẹn của họ. Điều nầy đã cho thấy sự khác biệt một
trời một vực giữa chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ ở giai đoạn đó và
chính sách “Kinh Tế Mới” của chính phủ nhà nước Cộng Sản Việt
Nam vào những năm họ hoàn tất nhiệm vụ xâm lăng miền Nam Việt
Nam. Họ hứa hẹn đủ điều nhưng kết quả chỉ là những hành động
dùng bạo quyền để cưởng bức dân chúng.
Khoảng
năm 1850 trở đi di dân Trung Hoa hầu hết là dân chúng ở các tỉnh
Phúc Kiến, Chiết Giang, và Quảng Đông bỏ quê hương sang Mỹ Quốc
tìm đất hứa để tạo cuộc sống mới, nhưng chuyện đời không phải là
một giấc mơ. Cùng là di dân đến vùng đất hứa Hoa Kỳ nhưng chính
quyền Liên Bang Hoa Kỳ lại ra những đạo luật quái gở kỳ thị
người Á Châu chẳng hạn như người Tàu khi bị người da trắng hành
hung đánh đập thì không được quyền thưa kiện và truy tố. Chưa
hết, sau đó họ lại còn ra những đạo luật cấm không cho di dân Á
Châu vào nước Mỹ vì di dân Âu Châu sợ sợ dân Á Châu với đức tính
cần cù nhẫn nại và thông minh sẽ thâu hết công ăn việc làm của
họ. Mặc dầu bị chà đạp và kỳ thị một cách thô bỉ nhưng di dân Á
Châu vẫn sừng sửng tiến lên. Đây cũng là một tấm gương chói sáng
cho cộng Việt tị nạn cộng sản trên thế giới
Năm
1945 chính phủ Hoa Kỳ do sức ép chính trị đã bắt ép 154 di dân
người Nga trả về Liên Bang Sô Viết. Có 9 người phản đối mảnh
liệt. trong đó có 3 người đã tự sát để phản đối chính sách nầy.
Nhung sau đó chính phủ Mỹ vẫn tiếp tục gửi trả về đủ con số họ
đã quyết định. Khỏi phải cần suy luận, những người Việt tị nạn
cộng sản ai ai cũng dư biết số phận của họ nếu không bị xử chết
thì cũng bị đày đi ở các trại cải tạo không hẹn ngày trở về.

Năm
1880 khoảng chừng 300,000 đến 400,000 di dân Nhật Bổn đến định
cư ở đảo Hawai làm việc ở các nông trường trồng mía và làm các
công việ lao động. Cũng như số phận của những di dân Tàu, những
di dân Nhật Bổn cũng bị đối xử một cách tàn tệ. Nhưng với bản
tính quật cường họ đoàn kết lẫn nhau cùng vửng mạnh tiến lên.
Cho đến
đầu thế kỷ 20 di dân từ Nhật Bổn và đảo Hawai ào ạt di tản về
các tiểu bang như California, Oregon, và Washington. Dân số di
dân Á Châu càng ngày càng phát triễn đông thêm, với đức tính cần
cù, nhẫn nại và thông minh, dần dà họ đã mua và làm chủ được
nhiều đất đai. Để chận đứng đà phát triễn của các di dân Á Châu,
chính quyền tiểu bang California năm 1913 ra sắc luật cấm đoán,
không cho di dân Nhật Bổn và Trung Quốc được quyền làm chủ đất
đai ở tiểu bang đó với lý do là những di dân Á Châu nầy không có
tư cách pháp nhân để trở thành công dân Mỹ.
Người
Đại Hàn là một trong những di dân thành công ở nước Mỹ. Tuy
nhiên sự thành công nầy lại dẫn đến nạn ganh ghét từ cộng đồng
da đen Hoa Kỳ. Sau đó lại có những va chạm bạo động. Đây là một
bài học đáng nhớ cho cộng đồng Việt trên thế giới. Khi thành
công nên cho bớt tiền bạc của cải để giúp đở dân nghèo nơi mình
cư ngụ.
Mễ Tây
Cơ nước láng giềng của Mỹ Quốc, không có được một chính quyền
sáng suốt yêu nước thương dân cho nên dân Mễ vẫn còn sống trong
cảnh nghèo nàn lạc hậu. Không còn nương tựa vào chính phủ của
đất nước mình được, nhiều dân Mễ quyết định kéo nhau phá rào,
vượt biên giới qua Mỹ mưu tìm cuộc sống mới đầy hứa hẹn bất chấp
chính phủ Hoa Kỳ có ra luật lệ cấm di dân bất hợp pháp hay
không. Nếu lở bị bắt trả về thì họ lại tìm trăm phương ngàn cách
khác để tiếp tục … phá rào vượt biên giới đi về đất hứa lần nữa.
Khi
tình trạng bất đồng ý kiến về chính trị và tôn giáo gia tăng đến
một cao điểm nào đó thì thảm họa tranh chấp và chiến tranh sẽ
xảy ra gây nên bao thảm hoạ chết chóc khắp nơi, có đôi khi gần
như diệt chủng thì dân chúng ở những quốc gia đó đành phải bỏ
nước ra đi tìm sự sống mới tươi sáng hơn, chẳng hạn như
Kampuchia là một thí dụ điển hình ở Đông Nam Á.
Việt
Nam đất nước của hơn 1,000 năm làm nô lệ cho Trung Quốc, Khoảng
100 năm bị cưởng bức làm nô lệ cho Pháp, và gần như lúc nào cũng
bị đắm chìm trong chiến tranh loạn
lạc.
Trong khi hầu hết các quốc gia tiên tiến trên thế giới bắt đầu
thay đổi từ thể chế Thực Dân–Phong Kiến sang Tự Do Dân Chủ thì
ngược lại Đức, Áo Quốc và Nhật Bổn biến từ thể chế Quân
Chủ–Phong Kiến sang Độc Tài–phát Xít. Riêng Nga Sô từ Quân Chủ -
Phong Kiến chuyển sang thể chế Cộng Sản - Độc Tài và truyền bá,
phát triễn rộng rải từ Âu sang Á.
Đối với
Thực dân Pháp lại là một sự mĩa mai, châm biếm cho cả quốc gia
dân tộc họ. Trong khi giương bản đề cao tinh thần Độc Lập – Tư
Do trên đất nước họ, thì chính phủ họ lại đem quân đi xâm chiếm
và tái tạo chế độ Thực Dân ở Việt Nam. Vì vậy mà tư tưởng Cộng
Sản được thêu dệt một cách giả tạo đưa cả nước vào thảm nạn
chiến tranh. Để rồi sau đó cả nước bị chìm đắm trong chủ Nghĩa
Cộng Sản, các nước trên thế giới nắm tay nhau đi lên còn Việt
Nam nắm tay anh-em Xã Hội Chủ Nghĩa đưa cả nước xuống hàng bần
cùng trên thế giới cho mải đến bây giờ mới thấy một chút đổi
khác.
Sau
ngày 30 tháng 04 năm 1975 đất nước được thống nhất đất tưởng
rằng rồi đây Việt Nam sẽ có được những chuổi ngày êm ấm, thanh
bình, xóa bỏ hận thù, bắt tay nhau xây lại quê hương từ những
hoang tàn đổ nát do chiến tranh Nam–Bắc. Nhưng sự thật lại là
một cái bánh vẽ tuyệt vời được ngụy tạo ra để thỏa mản cho những
tham vọng cá nhân. Không chấp nhận được một thể chế vô nhân như
vậy, gần hai triệu người liều mạng, bỏ nước ra đi, không phải
đường biển bằng thuyền thì cũng là băng rừng vượt núi mà trốn
khỏi nơi chôn nhau cắt rún của mình để đi tìm cuộc sống mới.
Những cái chết ngoài biển khơi hay bị mìn nổ tan thây nơi rừng
hoang xứ lạ không cản nổi những bước chân liều mình của người
dân Việt Nam.

Ngoài
Việt Nam ra chúng ta còn thấy Lào và Kampuchia, nhất là
Kampuchia lại càng bị thê thảm nặng nề hơn nữa. Xém một chút là
cả nước đã đi đến diệt chủng do chế độ Pol Pot tàn độc vượt quá
sự tưởng tượng của con người. Từ đó chúng ta thấy quả thật đi tị
nạn dù là tai hoạ do thiên tai hay do con người gây ra đều là
một hệ quả không ngừng nghĩ của con tạo và con người mà ra. Mặc
dù với khả năng của khoa học hiện đại tiến bộ không ngừng nhưng
con người đối với Thiên Tai cũng đành chịu thua, điển hình là
Tsunami ở Á Châu và Katrina ở Hoa Kỳ. Không biết được viễn ảnh
của một thế giới Hoà Đồng, con người cùng nắm tay nhau sống
thanh bình trên quả đất nầy có thể xảy ra được hay không. Người
viết bài nầy không biết gì hơn là cầu nguyện cho mọi người trên
quả địa cầu nầy hảy bỏ đi mọi ích kỷ và tham vọng cá nhân để
cùng kiến tạo trái đất trở thành vườn địa đàng cho nhân loại.
Viết
xong ngày 07 tháng 12 năm 2006
Bách Việt
Tài Liệu Tham Khảo và Hình Ảnh Trích Lục:
1.
Chuck
Willis, “Destination America”, DK Publishing, Inc 2005.
2.
Time Inc,
“Great People of The 20th Century”, Home
Entertainment 1996.
3.
Spencer
Wells, “Journey of Man”, Princeton University Press, 2002.
4.
Atlas of The
Human population by Spencer Well, Natinalgeographic.com
5.
Past and
Present Refugees by Carole Seymour-Jone.
6.
Peter
Bellwood “Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago”,
University of Hawaii Press, Honolulu 1997
Trở về Trang Chính
|