Cập Nhật về Điều Trị  HIV/AIDS


 

BS Đồng Ngọc Khanh

E-Mail: bsdongngockhanh@khoahoc.net

05 tháng 06 năm 2008

Khi  AIDS xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ, đã chưa có thuốc trị và chỉ có một số ít thuốc điều trị cho những bịnh cơ hội đi kèm. Trong một thập kỷ qua, nhiều phương thức điều trị đã được triển khai để chống lại nhiễm HIV và những bịnh lẫn ung thư đi kèm . Do HIV thuộc nhóm retrovirus, các thuốc dùng để điều trị nhiễm HIV cũng được gọi là thuốc kháng retrovirus (antiretrovirals).

 

 

A- Điều Trị Hiện Thời

Nhóm thuốc đầu tiên được chấp thuận để điều trị nhiễm HIV được gọi là nhóm ức chế men phiên ngược (reverse transcriptase (RT) inhibitors= RTI). Các thuốc này chặn đứng một giai đoạn sớm của chu kỳ tăng trưởng (sao chép) của virus. Nhóm thuốc này hiện nay chia thành 2 nhóm:

            + Các nucleoside ức chế men phiên ngược (nucleoside RT inhibitors =NRTIs),

            + Và không-nucleoside ức chế men phiên ngược (non-nucleoside RT inhibitors =NNRTIs).

1)- Nucleoside ức chế men phiên ngược (Nucleoside RT inhibitors =NRTIs) bao gồm

             + AZT (zidovudine),

             +  FTC (emtricitabine hay Emtriva®),

             +  TDF (tenofovir disoproxil fumarate hay Viread®),

             +  ABC (abacavir hay Ziagen®),

             +  ddI (dideoxyinosine),

             +  ddC (dideoxycytidine),

             +  d4T (stavudine), và

             +  3TC (lamivudine).

Các thuốc này làm chậm sự lan toả của HIV trong cơ thể và làm chậm sự khởi phát của các nhiễm trùng cơ hội. Tuy nhiên, chúng không thể ngăn cản HIV lây lan cho người khác.

2)- Không-nucleoside ức chế men phiên ngược (Non-nucleoside reverse transcriptase inhibitors =NNRTIs), như

              + delvaridine (Rescriptor®),

              + nevirapine (Viramune®) và

              + efavirenz (Sustiva®), được dùng phối hợp với các thuốc kháng retrovirus (antiretroviral) khác.

3)- Nhóm thuốc thứ 3 là nhóm ức chế men protease (protease inhibitors), chúng làm gián đoạn sự sao chép của virus ở một giai đoạn muộn hơn của chu kỳ sinh trưởng. Nhóm này gồm có:

               + ritonavir (Norvir®),

               + saquinivir mesylate (Invirase®),

               + indinavir (Crixivan®),

               + nelfinavir (Viracept®),

               + amprenavir (Agenerase®),

               + atazanavir (Reyataz®),

               + fosamprenavir (Lexiva®),

               + darunavir (Prezista®), và

               + tipranavir (Aptivus®).

4)- Một nhóm thuốc “phối hợp” bao gồm

                + Kaletra®, phối hợp 2 ức chế protease là lopinavir ritonavir;

                + Combivir®, phối hợp AZT3TC (xem phần trên); và

                + Trizivir®, phối hợp bộ ba của abacavir (Ziagen®), lamivudine zidovudine (AZT, Retrovir®).

                + Truvada® là phối hợp của 2 thuốc (emtricitabinetenofovir disoproxil fumarate).                                              

                +Epzicom® phối hợp 2  ức chế men phiên ngược (nucleoside reverse transcriptase inhibitors =NRTIs) là Epivir® (lamivudine, 3TC) và Ziagen® (abacavir sulfate).

Lợi điểm chủ yếu của phối hợp thuốc là “gánh nặng thuốc” được giảm thiểu và bịnh nhân dùng ít viên hơn.

5)- Loại thuốc mới nhất để trị HIV là nhóm “ức chế hoà nhập” (fusion inhibitors). Thuốc đầu tiên trong loại này là Fuzeon® (enfuvirtide), nó ngăn ngừa virus HIV xâm nhập vào tế bào T (T cell), từ đó ngăn ngừa virus lây lan sang những tế bào T khác.

Do virus HIV có thể trở nên kháng với nhiều loại thuốc, việc điều trị dựa trên sự phối hợp trị liệu (“cocktail therapy”), dùng 2 hoặc nhiều thuốc cùng một lúc để ức chế virus một cách hiệu quả.

Các thuốc hiện có không trị khỏi được nhiễm HIV hoặc AIDS, và chúng đều có những tác dụng phụ có thể nguy hiểm. Ví dụ, AZT có thể làm giảm hồng cầu hoặc bạch cầu, nhất là khi dùng vào giai đoạn cuối của bịnh AIDS. DdI (dideoxyinosine) có thể gây viêm tuỵ (tuyến khá lớn nằm sau dạ dày, đóng vai trò quan trọng trong tiêu hoá thức ăn và điều hoà đường huyết của cơ thể) và gây đau đớn do tổn thương dây thần kinh. Các thuốc ức chế protease (protease inhibitors) thường gât buồn nôn, tiêu chảy và các triệu chứng rối loạn tiêu hoá khác. Nếu bịnh nhân bị đái tháo đường hoặc tăng cholesterol máu, các thuốc ức chế protease có thể gây trở ngại trong điều trị các chứng bịnh này. Chúng còn có thể tương tác với các thuốc khác, gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng.

6)- Một số thuốc có thể giúp điều trị các nhiễm trùng cơ hội thường xảy ra với bịnh nhân nhiễm HIV. Các thuốc này bao gồm:

                     + foscarnet ganciclovir để điều trị nhiễm trùng mắt do virus cự bào ( cytomegalovirus = CMV),

                     + fluconazole để trị nấm men và các nhiễm vi nấm khác, và

                     + trimethoprim/sulfamethoxazole (TMP/SMX) hoặc pentamidine để điều trị viêm phổi do Pneumocystis carinii  (Pneumocystis carinii  pneumonia=PCP).

PCP là một trong những nhiễm trùng cơ hội thường gặp và gây tử vong cao nhất đi kèm với HIV. Để phòng ngừa PCP, ngưòi lớn có lượng tế bào T CD4 (CD4T-cell) thấp hơn 200 được điều trị dự phòng, đồng thời với điều trị kháng virus. Trẻ em được cho dùng điều trị dự phòng PCP khi tế bào T CD4 xuống thấp hơn số lượng bình thường của nhóm tuổi. Tất cả bịnh nhân đã sống sót qua một đợt PCP sẽ phải dùng thuốc dự phòng suốt thời gian còn lại để tránh tái phát viêm phổi, bất kỳ số tế bào T CD4 là bao nhiêu.

7)- Bịnh nhân có  sarcom Kaposi hoặc các loại ung thư khác sẽ được điều trị bằng xạ trị, hoá trị hoặc tiêm alpha-interferon là một protein tự nhiên đã được biến đổi bằng công nghệ gen.

8)- Gel Alitretinoin  (Panretin®) 0,1 % được dùng bôi ngoài cho các tổn thương ngoài da do sarcom Kaposi ở bịnh nhân  AIDS.

H 5- Sarcom Kaposi

9)- Triệu chứng biếng ăn sẽ được điều trị bằng 2 loại thuốc dùng theo toa đã được FDA phê chuẩn:

                     + dronabinol (Marinol®), một tinh chất tổng hợp của marijuana, và

                     + megestrol acetate (Megace®).

 

B- Các tiến bộ mới trong điều trị AIDS

Các thuốc kháng HIV đang dùng hiện nay vừa đắt tiền mà đôi khi lại khó sử dụng. Chúng không tác dụng đồng đều cho tất cả bịnh nhân, và một số người không chịu đựng nổi các tác dụng phụ.  Ngoài ra, rất ít hy vọng là các thuốc này có khả năng thanh lọc hoàn toàn virus HIV khỏi cơ thể. Các điều trị ngày nay chưa đầy đủ. Cần phải phát triển thêm nhiều chọn lựa mới.

1)- Các loại thuốc mới ức chế protease và ức chế RT đang được phát triển. Các thuốc này tác dụng ở những liều lượng thấp hơn các thuốc hiện nay và/hoặc có tác dụng đối với một quần thể virus rộng hơn (đặc biệt những chủng đã kháng trị).

2)- Một nhóm thuốc mới, các thuốc ức chế integrase (integrase inhibitors), phá vỡ một chất hoá học gọi là  integrase, mà virus HIV cần để đưa vật liệu di truyền của chúng vào tế bào của người bị nhiễm

3)- Một nhóm khác, các thuốc ức chế ngón tay kẽm (zinc finger inhibitors), nhằm vào cấu trúc “ngón tay kẽm” ("zinc finger" structure) của virus HIV không dễ dàng thay đổi bằng đột biến. Những dạng thuốc đầu tiên của nhóm này hiện đang được  thử nghiệm trên người ở giai đoạn sớm.

4)- Nhóm thuốc antisense (antisense drugs) là hình ảnh soi gương ("mirror image") một phần mã di truyền của virus HIV. Các thuốc này khoá vật liệu di truyền của  virus và ngăn cản chúng hoạt động.  Hai thuốc  antisense,

                    + HGTV43

                    + VRX496, đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng.

5)- Một số phương thức đang được nghiên cứu liên quan đến cách tiếp cận mới trong điều trị nhiễm HIV, hơn là những thuốc truyền thống. Một trong những phương thức này là việc sử dụng các chất “hoá động”  ("chemokines") được sản xuất từ những tế bào máu kháng nhiễm trùng của người, để giảm bớt lượng những độc tố (cytokines) do HIV tạo ra.

6)- Gần đây, đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực miễn dịch liệu pháp, khi những kháng thể trong bản thân một người nào đó có thể được dùng để làm chậm sự sao chép của virus HIV. Khả năng tự nhiên chống trả lại HIV bị loại bỏ sớm trong quá trình lây nhiễm (hoặc được duy trì lâu hơn ở một số trường hợp có diễn tiến bịnh chậm). Các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tìm hiểu tại sao sự đáp trả virus này lại bị mất đi và làm cách nào để phục hồi nó lại bằng trị liệu.

 

Bs Đồng Ngọc Khanh, BV Đa Khoa Hoàn Mỹ SàiGòn

 

Tài liệu Tham Khảo:

www.cdc.gov

www.fda.gov

www.drugs.com

 

 

Trở về Trang Chính