|
Khi AIDS xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ, đã
chưa có thuốc trị và chỉ có một số ít thuốc điều trị cho những
bịnh cơ hội đi kèm. Trong một thập kỷ qua, nhiều phương thức
điều trị đã được triển khai để chống lại nhiễm HIV và những bịnh
lẫn ung thư đi kèm . Do HIV thuộc nhóm retrovirus, các thuốc
dùng để điều trị nhiễm HIV cũng được gọi là thuốc kháng
retrovirus (antiretrovirals).

A- Điều Trị Hiện Thời
Nhóm thuốc đầu tiên được chấp thuận để điều
trị nhiễm HIV được gọi là nhóm ức chế men phiên ngược (reverse
transcriptase (RT) inhibitors= RTI). Các thuốc này chặn đứng một
giai đoạn sớm của chu kỳ tăng trưởng (sao chép) của virus. Nhóm
thuốc này hiện nay chia thành 2 nhóm:
+ Các nucleoside ức chế men phiên
ngược (nucleoside RT inhibitors =NRTIs),
+ Và không-nucleoside ức chế men
phiên ngược (non-nucleoside RT inhibitors =NNRTIs).
1)- Nucleoside ức chế men phiên ngược
(Nucleoside RT inhibitors =NRTIs) bao gồm
+ AZT (zidovudine),
+ FTC (emtricitabine hay
Emtriva®),
+ TDF (tenofovir
disoproxil fumarate hay Viread®),
+ ABC (abacavir hay
Ziagen®),
+ ddI (dideoxyinosine),
+ ddC (dideoxycytidine),
+ d4T (stavudine), và
+ 3TC (lamivudine).
Các thuốc này làm chậm sự lan toả của HIV
trong cơ thể và làm chậm sự khởi phát của các nhiễm trùng cơ
hội. Tuy nhiên, chúng không thể ngăn cản HIV lây lan cho người
khác.
2)- Không-nucleoside ức chế men phiên
ngược (Non-nucleoside reverse transcriptase inhibitors
=NNRTIs), như
+ delvaridine
(Rescriptor®),
+ nevirapine (Viramune®)
và
+ efavirenz (Sustiva®),
được dùng phối hợp với các thuốc kháng retrovirus
(antiretroviral) khác.
3)- Nhóm thuốc thứ 3 là nhóm ức chế men
protease (protease inhibitors), chúng làm gián đoạn sự sao
chép của virus ở một giai đoạn muộn hơn của chu kỳ sinh trưởng.
Nhóm này gồm có:
+ ritonavir (Norvir®),
+ saquinivir mesylate
(Invirase®),
+ indinavir
(Crixivan®),
+ nelfinavir
(Viracept®),
+ amprenavir
(Agenerase®),
+ atazanavir
(Reyataz®),
+ fosamprenavir
(Lexiva®),
+ darunavir
(Prezista®), và
+ tipranavir
(Aptivus®).
4)- Một nhóm thuốc “phối hợp” bao gồm
+ Kaletra®, phối hợp 2 ức chế
protease là lopinavir và ritonavir;
+ Combivir®, phối hợp AZT
và 3TC (xem phần trên); và
+ Trizivir®, phối hợp bộ ba
của abacavir (Ziagen®), lamivudine và
zidovudine (AZT, Retrovir®).
+ Truvada® là phối hợp của 2
thuốc (emtricitabine và tenofovir disoproxil fumarate).
+Epzicom® phối hợp 2 ức chế
men phiên ngược (nucleoside reverse transcriptase inhibitors
=NRTIs) là Epivir® (lamivudine, 3TC) và Ziagen® (abacavir
sulfate).
Lợi điểm chủ yếu của phối hợp thuốc là “gánh
nặng thuốc” được giảm thiểu và bịnh nhân dùng ít viên hơn.
5)- Loại thuốc mới nhất để trị HIV là nhóm
“ức chế hoà nhập” (fusion inhibitors). Thuốc đầu tiên trong
loại này là Fuzeon® (enfuvirtide), nó ngăn ngừa virus HIV
xâm nhập vào tế bào T (T cell), từ đó ngăn ngừa virus lây lan
sang những tế bào T khác.
Do virus HIV có thể trở nên kháng với nhiều
loại thuốc, việc điều trị dựa trên sự phối hợp trị liệu
(“cocktail therapy”), dùng 2 hoặc nhiều thuốc cùng một lúc để ức
chế virus một cách hiệu quả.
Các thuốc hiện có không trị khỏi được nhiễm
HIV hoặc AIDS, và chúng đều có những tác dụng phụ có thể nguy
hiểm. Ví dụ, AZT có thể làm giảm hồng cầu hoặc bạch cầu, nhất là
khi dùng vào giai đoạn cuối của bịnh AIDS. DdI (dideoxyinosine)
có thể gây viêm tuỵ (tuyến khá lớn nằm sau dạ dày, đóng vai trò
quan trọng trong tiêu hoá thức ăn và điều hoà đường huyết của cơ
thể) và gây đau đớn do tổn thương dây thần kinh. Các thuốc ức
chế protease (protease inhibitors) thường gât buồn nôn, tiêu
chảy và các triệu chứng rối loạn tiêu hoá khác. Nếu bịnh nhân bị
đái tháo đường hoặc tăng cholesterol máu, các thuốc ức chế
protease có thể gây trở ngại trong điều trị các chứng bịnh này.
Chúng còn có thể tương tác với các thuốc khác, gây ra những tác
dụng phụ nghiêm trọng.
6)- Một số thuốc có thể giúp điều trị các
nhiễm trùng cơ hội thường xảy ra với bịnh nhân nhiễm HIV. Các
thuốc này bao gồm:
+ foscarnet và
ganciclovir để điều trị nhiễm trùng mắt do virus cự bào (
cytomegalovirus = CMV),
+ fluconazole để
trị nấm men và các nhiễm vi nấm khác, và
+
trimethoprim/sulfamethoxazole (TMP/SMX) hoặc pentamidine
để điều trị viêm phổi do Pneumocystis carinii (Pneumocystis
carinii pneumonia=PCP).
PCP là một trong những nhiễm trùng cơ hội
thường gặp và gây tử vong cao nhất đi kèm với HIV. Để phòng ngừa
PCP, ngưòi lớn có lượng tế bào T CD4 (CD4T-cell) thấp hơn 200
được điều trị dự phòng, đồng thời với điều trị kháng virus. Trẻ
em được cho dùng điều trị dự phòng PCP khi tế bào T CD4 xuống
thấp hơn số lượng bình thường của nhóm tuổi. Tất cả bịnh nhân đã
sống sót qua một đợt PCP sẽ phải dùng thuốc dự phòng suốt thời
gian còn lại để tránh tái phát viêm phổi, bất kỳ số tế bào T CD4
là bao nhiêu.
7)- Bịnh nhân có sarcom Kaposi hoặc các loại
ung thư khác sẽ được điều trị bằng xạ trị, hoá trị
hoặc tiêm alpha-interferon là một protein tự nhiên đã
được biến đổi bằng công nghệ gen.
8)- Gel Alitretinoin (Panretin®) 0,1
% được dùng bôi ngoài cho các tổn thương ngoài da do sarcom
Kaposi ở bịnh nhân AIDS.

H 5- Sarcom Kaposi
9)- Triệu chứng biếng ăn sẽ được điều trị
bằng 2 loại thuốc dùng theo toa đã được FDA phê chuẩn:
+ dronabinol
(Marinol®), một tinh chất tổng hợp của marijuana, và
+ megestrol acetate
(Megace®).
B- Các tiến bộ mới trong điều trị AIDS
Các thuốc kháng HIV đang dùng hiện nay vừa
đắt tiền mà đôi khi lại khó sử dụng. Chúng không tác dụng đồng
đều cho tất cả bịnh nhân, và một số người không chịu đựng nổi
các tác dụng phụ. Ngoài ra, rất ít hy vọng là các thuốc này có
khả năng thanh lọc hoàn toàn virus HIV khỏi cơ thể. Các điều trị
ngày nay chưa đầy đủ. Cần phải phát triển thêm nhiều chọn lựa
mới.
1)- Các loại thuốc mới ức chế protease và ức
chế RT đang được phát triển. Các thuốc này tác dụng ở những liều
lượng thấp hơn các thuốc hiện nay và/hoặc có tác dụng đối với
một quần thể virus rộng hơn (đặc biệt những chủng đã kháng trị).
2)- Một nhóm thuốc mới, các thuốc ức chế
integrase (integrase inhibitors), phá vỡ một chất hoá học
gọi là integrase, mà virus HIV cần để đưa vật liệu di truyền
của chúng vào tế bào của người bị nhiễm
3)- Một nhóm khác, các thuốc ức chế ngón
tay kẽm (zinc finger inhibitors), nhằm vào cấu trúc
“ngón tay kẽm” ("zinc finger" structure) của virus HIV không dễ
dàng thay đổi bằng đột biến. Những dạng thuốc đầu tiên của nhóm
này hiện đang được thử nghiệm trên người ở giai đoạn sớm.
4)- Nhóm thuốc antisense (antisense
drugs) là hình ảnh soi gương ("mirror image") một phần mã di
truyền của virus HIV. Các thuốc này khoá vật liệu di truyền của
virus và ngăn cản chúng hoạt động. Hai thuốc antisense,
+ HGTV43 và
+ VRX496, đang
trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng.
5)- Một số phương thức đang được nghiên cứu
liên quan đến cách tiếp cận mới trong điều trị nhiễm HIV, hơn là
những thuốc truyền thống. Một trong những phương thức này là
việc sử dụng các chất “hoá động” ("chemokines") được sản
xuất từ những tế bào máu kháng nhiễm trùng của người, để giảm
bớt lượng những độc tố (cytokines) do HIV tạo ra.
6)- Gần đây, đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh
vực miễn dịch liệu pháp, khi những kháng thể trong bản
thân một người nào đó có thể được dùng để làm chậm sự sao chép
của virus HIV. Khả năng tự nhiên chống trả lại HIV bị loại bỏ
sớm trong quá trình lây nhiễm (hoặc được duy trì lâu hơn ở một
số trường hợp có diễn tiến bịnh chậm). Các nhà nghiên cứu đang
nỗ lực tìm hiểu tại sao sự đáp trả virus này lại bị mất đi và
làm cách nào để phục hồi nó lại bằng trị liệu.
Bs Đồng Ngọc Khanh, BV Đa Khoa Hoàn Mỹ SàiGòn
Tài liệu Tham Khảo:
www.cdc.gov
www.fda.gov
www.drugs.com
Trở về Trang Chính
|