Các dạng sai sót trong Y Khoa


 

BS Đồng Ngọc Khanh

E-Mail: bsdongngockhanh@khoahoc.net

 10 tháng 07 năm 2008

Có nhiều trường hợp có thể dẫn đến những sai sót trong y khoa. Các dạng sai sót có thể xảy ra ở mọi giai đoạn từ khâu chẩn đoán đến khâu điều trị. Trong một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu về các Báo Cáo Y Khoa Mỹ, sau khi tiến hành thống kê các loại sai sót về y khoa ở các cơ sở y tế. Họ nhận thấy các nguyên nhân dẫn đến sai sót được xếp loại như sau

Sai sót về kỹ thuật (44%),

Sai sót trong chẩn đoán (17%),

Thiếu sót trong dự phòng tổn thương (12%),

Sai sót trong sử dụng thuốc (10%)



Khoảng 70% các sai sót đều được xem là có thể dự phòng được. Phần còn lại được cho là những sai sót không thể dự phòng được, ví dụ như trường hợp bệnh nhân phản ứng quá mẫn với một loại thuốc nào đó mà chưa có tiền sử dị ứng được ghi nhận.

Cơ Sở Quốc Gia vì sự An Toàn cho Người Bệnh của Hoa Kỳ (National Patient Safety Foundation = NPSF) đã tiến hành một cuộc nghiên cứu thăm dò qua điện thoại để tìm hiểu ý kiến của bệnh nhân về sai sót trong y khoa. Kết quả cho thấy 42% bệnh nhân tin rằng họ đã từng chịu hậu quả của sai sót y khoa. Trong những trường hợp đó 33% xảy đến với bản thân bệnh nhân, với người thân của họ (48%), hoặc với bạn bè (19%). Những sai sót mà họ từng gặp được phân loại như sau:

+ Chẩn đoán sai (40%),

+ Sai về thuốc men (28%),

+ Sai về thủ thuật y khoa (22%),

+ Sai về hành chánh (4%),

+ Sai về thông tin liên lạc (2%),

+ Sai về kết quả xét nghiệm (2%),

+ Trang thiết bị hoạt động không tốt (1%)

+ Các sai sót khác (7%).



Nơi xảy ra sai sót về y khoa là:

+ Bệnh viện (48%),

+ Phòng mạch bác sĩ (22%),

+ Phòng mổ (7%),

+ Phòng khám (5%),

+ Phòng cấp cứu (5%),

+ Nhà thuốc (4%),

+ Tại nhà (3%),

+ Phòng xét nghiệm y khoa (1%),

+ Nhà điều dưỡng (1%), và

+ Nơi khác (5%).



Khi được hỏi về nguyên nhân chủ yếu gây sai sót, những người được NPSF phỏng vấn đã trả lời như sau:

+ Bất cẩn/thiếu quan tâm (29%),

+ Nhân viên chưa được đào tạo/thiếu khả năng (14%),

+ Thông tin liên lạc (12%),

+ Chẩn đoán sai (8%),

+ Nhân viên làm việc quá sức (8%),

+ Đọc toa thuốc sai hoặc sai sót trong cấp phát thuốc (6%), và

+ Nguyên nhân khác (4%)


A- Sai sót trong chẩn đoán

Có nhiều loại sai sót dẫn đến chẩn đoán sai một trường hợp bệnh lý. Chẩn đoán sai là một trong những sai sót về y khoa gây tốn kém nhất, dẫn đến sự chậm trễ, bỏ sót hoặc điều trị không phù hợp.

- Sai sót trong việc tự chẩn đoán bịnh cho mình: khi người bệnh tự chẩn đoán cho mình, rất thường xảy ra sai sót. Hãy đi khám bệnh. Đừng dựa hoàn toàn vào những thông tin y khoa trên internet.

- Bệnh lý không được chẩn đoán: một số trường hợp bệnh lý không rõ ràng và có thể bị bỏ sót, nhất là khi chúng không biểu hiện bằng triệu chứng quan trọng.

- Chẩn đoán sai: bệnh nhân có thể được chẩn đoán sai thành một bệnh lý khác.

- Chẩn đoán sai về type bệnh: Chẩn đoán đúng về bệnh lý nhưng sai về type hoặc giai đoạn bệnh.

- Các biến chứng không được chẩn đoán: bệnh đã được chẩn đoán rồi vẫn có thể có những biến chứng cũng cần phải được chẩn đoán và điều trị.

- Không chẩn đoán được những bệnh tiềm ẩn: có thể có những bệnh tiềm ẩn khác gây rối loạn trên một trường hợp bệnh đã có chẩn đoán.

- Không chẩn đoán ra những bệnh phối hợp: một số bệnh lý phối hợp với nhau, dù giữa chúng không có mối liên hệ nhân quả.

- Thiếu sót trong chẩn đoán bệnh ở những người có liên hệ với bệnh nhân: Các bệnh lây nhiễm cần phải được kiểm tra ở các thành viên khác cùng gia đình và những người khác bị phơi nhiễm; đối với các bệnh di truyền thường các thành viên khác trong gia đình cũng có nguy cơ cao và nên được tầm soát.



B- Sai sót trong điều trị:

Có nhiều cách để phạm sai sót trong điều trị .

- Sai sót trong tự điều trị: Khi bệnh nhân tự điều trị cho mình thì sai sót là rất thường gặp . Nên luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa..

- Điều trị sai bệnh trạng: do chẩn đoán sai bệnh.

- Chọn sai phương án điều trị : Phương án tổng thể để điều trị chưa phải là phương án tốt nhất.

- Sử dụng phương thức điều trị sai.

- Sai sót trong chậm điều trị: chậm điều trị ngoài ý muốn, do ý định hoặc do chưa chưa chẩn đoán được bệnh..

- Thực hiện thủ thuật sai: Tất cả các động thái y khoa từ phẫu thuật đến các xét nghiệm đều có thể gặp sai sót.



C- Sai sót trong sử dụng thuốc: Xin xem phần sau



D- Sai sót trong phòng tránh:

Thiếu sót trong việc đề phòng sai sót cũng là một dạng khác của sai sót về y khoa. Trong một số trường hợp cần phải thực hiện một số biện pháp phòng ngừa, việc không thực hiện các biện pháp đó cũng là một sai sót trong y khoa.

+ Thiếu sót trong việc phòng tránh những biến chứng đã được dự báo trước của một bệnh lý đã được chẩn đoán.

+ Thiếu sót trong việc điều trị những thành viên khác bị phơi nhiễm trong một gia đình có người bị bịnh lây nhiễm.

+ Thiếu sót trong việc thông báo rõ ràng những yếu tố nguy cơ của các tình trạng bệnh lý.


E- Sai sót trong phẫu thuật:

Các thao tác phẫu thuật thường rất phức tạp và thường vấp nhiều sai sót . Công việc hành chánh trong khoa ngoại cũng có thể dẫn đến sai sót. Trong một số trường hợp, có những biến chứng và nguy cơ của phẫu thuật dù đã được dự báo trước nhưng cũng không thể tránh khỏi được.

- Những sai sót trong phần hành chánh của phẫu thuật: sai bệnh nhân, sai về bên cơ thể cần phẫu thuật, sai về cơ quan nội tạng, quên dụng cụ phẫu thuật trong cơ thể bệnh nhân.

- Sai sót trong phẫu thuật: phẫu thuật viên có thể cắt sai hoặc phạm các sai sót khác.

- Sai sót trong gây mê: Nhiều thuốc gây mê quá hoặc ít quá (tỉnh dậy trong lúc mổ).

- Các biến chứng của phẫu thuật.

- Nhiễm trùng sau phẫu thuật: Còn gọi là nhiễm trùng do thầy thuốc.

- Truyền sai nhóm máu.



F- Sai sót của bệnh viện:

Một bệnh viện có thể phạm sai sót trong bất kỳ hoạt động nào. Nhân viên có thể phạm những sai sót rất con người và những vấn đề của toàn bộ hệ thống cũng có thể dẫn đến những sai sót.

- Nhiễm trùng trong thời gian nằm bệnh viện: gọi là “nhiễm trùng bệnh viện"

- Sai sót trong phân phát thuốc tại bệnh viện: thuốc chỉ định không đến với bệnh nhân, sai thuốc, sai liều lượng, sai trong phối hợp thuốc, cấp thuốc sai bệnh nhân, v.v.

- Sai thao tác: không thực hiện các xét nghiệm đã được chỉ định, sai thao tác hoặc thực hiện sai xét nghiệm.

- Sai trong sử dụng thuốc: Sai sót trong sử dụng thuốc là loại sai sót thường gặp nhất. Sai sót trong dùng thuốc có thể xảy ra trong bệnh viện hoặc nhà thuốc, sai sót có thể do bất cứ nhân viên nào liên quan đến việc chọn lựa hoặc phân phối thuốc như

+ Dùng thuốc không phù hợp: dùng sai thuốc cho một bệnh lý nào đó.

+ Dùng nhầm thuốc: bệnh nhân dùng nhầm thuốc mặc dù thầy thuốc đã kê đơn thuốc đúng chỉ định.

+ Nhầm tên thuốc: nhiều thuốc có tên gọi nghe giống nhau và làm cho bác sĩ hoặc dược sĩ nhầm lẫn.

+ Kết hợp thuốc sai: có những loại thuốc không thể kết hợp chung với nhau do phản ứng phụ hoặc tương tác thuốc.

+ Phản ứng thuốc: một số người bị dị ứng hoặc có phản ứng phụ với một số thuốc nào đấy. Đó là những nguy cơ và rất khó đề phòng nếu bệnh nhân chưa có tiền sử dị ứng với thuốc đó..

+ Tác dụng phụ của thuốc: Hầu như tất cả các thuốc đều có tác dụng phụ nhất định nào đó. Một số tác dụng phụ thường nhẹ, số khác rất khó chịu. Hầu như không thể dự báo trước một bệnh nhân sẽ chịu tác dụng phụ ra sao với một loại thuốc nào đó.

- Không tuân thủ điều trị: Thiếu sót trong tuân thủ điều trị là một sai sót trong y khoa, thường gặp về phía bệnh nhân.

- Sai sót của dược sĩ: phân phối thuốc là một hoạt động rất bận rộn và phức tạp. Dược sĩ có thể phạm nhiều sai sót thật đa dạng như sau:

+ Sai sót trong phân phối thuốc theo toa bác sĩ.

+ Cung cấp sai loại thuốc.

+ Cung cấp thuốc sai liều dùng

+ Nhầm lẫn tên thuốc: nhiều loại thuốc khác nhau có trùng tên gọi.

- Sai sót của labo giải phẫu bệnh học : các xét nghiệm chẩn đoán làm ở labo giải phẫu bệnh có thể bị sai lạc. Sai sót có thể là về mặt hành chánh hoặc sai sót do con người; các sai sót khác lại là do tính chất giới hạn của mỗi loại xét nghiệm.

+ Sai sót trong kết quả sinh thiết: sai sót trong quan sát lame bệnh phẩm

+ Sai sót về hành chánh: nhầm lẫn các mẫu bệnh phẩm, v.v.

+ Sai sót trong xét nghiệm và các nguy cơ: hầu như tất cả các xét nghiệm đều có một tỉ lệ sai sót nhỏ không thể tránh được (dương tính giả, âm tính giả).

+ Khả năng giới hạn của các xét nghiệm đã được biết trước

- Các sai sót và thiếu sót trong trang thiết bị: Các thiếu sót vật lý trong trang thiết bị có thể xảy đến.

+ Tuột dây truyền tĩnh mạch

+ Trang thiết bị hết pin.

- Các điều trị không cần thiết: Chăm sóc y tế quá mức có thể là một dạng sai sót của các nhân viên y tế chuyên nghiệp và các cơ sở y tế. Điều này có thể do ý định tốt (để bảo đảm sự chính xác) hoặc do các nguyên nhân tiêu cực (do muốn tăng thu nhập).

+ Thủ thuật không cần thiết

+ Xét nghiệm không cần thiết

+ Lượt khám bệnh, tái khám không cần thiết.



Kết luận


Sai sót y khoa gây thiệt hại cho người bệnh, gây lãng phí, tốn kém không cần thiết, làm giảm chất lượng điều trị, làm mất uy tín của bệnh viện.

Tình trạng công việc căng thẳng liên tục ở các cơ sở y tế khiến nhân viên rất mau mệt mỏi và dễ phạm phải những sai sót y khoa.

Cần nhận rõ những nguy cơ và những rủi ro tiềm tàng để có biện pháp phòng tránh tích cực.

Cần có bộ phận quản lý rủi ro trong mỗi cơ sở y tế để giới hạn đến mức thấp nhất các sai sót trong thực hành y khoa.

Các nhân viên y tế cần được giáo dục thường xuyên về tác hại của các sai sót y khoa và cách thức, qui trình cần tuân thủ nghiêm ngặt để phòng tránh sai sót.



BS. ĐỒNG NGỌC KHANH, BV Hoàn Mỹ Sài Gòn



Tài liệu tham khảo:

- Wrong diagnosis

- To err is human

- Medical errors.

 

Trở về Trang Chính