|
Có nhiều trường hợp có thể dẫn đến những
sai sót trong y khoa. Các dạng sai sót có thể xảy ra ở mọi giai
đoạn từ khâu chẩn đoán đến khâu điều trị. Trong một nghiên cứu
của Viện Nghiên Cứu về các Báo Cáo Y Khoa Mỹ, sau khi tiến hành
thống kê các loại sai sót về y khoa ở các cơ sở y tế. Họ nhận
thấy các nguyên nhân dẫn đến sai sót được xếp loại như sau
Sai sót về kỹ thuật (44%),
Sai sót trong chẩn đoán (17%),
Thiếu sót trong dự phòng tổn thương
(12%),
Sai sót trong sử dụng thuốc (10%)
Khoảng 70% các sai sót đều được xem là
có thể dự phòng được. Phần còn lại được cho là những sai sót
không thể dự phòng được, ví dụ như trường hợp bệnh nhân phản ứng
quá mẫn với một loại thuốc nào đó mà chưa có tiền sử dị ứng được
ghi nhận.
Cơ Sở Quốc Gia vì sự An Toàn cho Người
Bệnh của Hoa Kỳ (National Patient Safety Foundation = NPSF) đã
tiến hành một cuộc nghiên cứu thăm dò qua điện thoại để tìm hiểu
ý kiến của bệnh nhân về sai sót trong y khoa. Kết quả cho thấy
42% bệnh nhân tin rằng họ đã từng chịu hậu quả của sai sót y
khoa. Trong những trường hợp đó 33% xảy đến với bản thân bệnh
nhân, với người thân của họ (48%), hoặc với bạn bè (19%). Những
sai sót mà họ từng gặp được phân loại như sau:
+ Chẩn đoán sai (40%),
+ Sai về thuốc men (28%),
+ Sai về thủ thuật y khoa (22%),
+ Sai về hành chánh (4%),
+ Sai về thông tin liên lạc (2%),
+ Sai về kết quả xét nghiệm (2%),
+ Trang thiết bị hoạt động không tốt
(1%)
+ Các sai sót khác (7%).
Nơi xảy ra sai sót về y khoa là:
+ Bệnh viện (48%),
+ Phòng mạch bác sĩ (22%),
+ Phòng mổ (7%),
+ Phòng khám (5%),
+ Phòng cấp cứu (5%),
+ Nhà thuốc (4%),
+ Tại nhà (3%),
+ Phòng xét nghiệm y khoa (1%),
+ Nhà điều dưỡng (1%), và
+ Nơi khác (5%).
Khi được hỏi về nguyên nhân chủ yếu gây
sai sót, những người được NPSF phỏng vấn đã trả lời như sau:
+ Bất cẩn/thiếu quan tâm (29%),
+ Nhân viên chưa được đào tạo/thiếu khả
năng (14%),
+ Thông tin liên lạc (12%),
+ Chẩn đoán sai (8%),
+ Nhân viên làm việc quá sức (8%),
+ Đọc toa thuốc sai hoặc sai sót trong
cấp phát thuốc (6%), và
+ Nguyên nhân khác (4%)
A- Sai sót trong chẩn đoán
Có nhiều loại sai sót dẫn đến chẩn đoán
sai một trường hợp bệnh lý. Chẩn đoán sai là một trong những sai
sót về y khoa gây tốn kém nhất, dẫn đến sự chậm trễ, bỏ sót hoặc
điều trị không phù hợp.
- Sai sót trong việc tự chẩn đoán bịnh
cho mình: khi người bệnh tự chẩn đoán cho mình, rất thường xảy
ra sai sót. Hãy đi khám bệnh. Đừng dựa hoàn toàn vào những thông
tin y khoa trên internet.
- Bệnh lý không được chẩn đoán: một số
trường hợp bệnh lý không rõ ràng và có thể bị bỏ sót, nhất là
khi chúng không biểu hiện bằng triệu chứng quan trọng.
- Chẩn đoán sai: bệnh nhân có thể được
chẩn đoán sai thành một bệnh lý khác.
- Chẩn đoán sai về type bệnh: Chẩn đoán
đúng về bệnh lý nhưng sai về type hoặc giai đoạn bệnh.
- Các biến chứng không được chẩn đoán:
bệnh đã được chẩn đoán rồi vẫn có thể có những biến chứng cũng
cần phải được chẩn đoán và điều trị.
- Không chẩn đoán được những bệnh tiềm
ẩn: có thể có những bệnh tiềm ẩn khác gây rối loạn trên một
trường hợp bệnh đã có chẩn đoán.
- Không chẩn đoán ra những bệnh phối
hợp: một số bệnh lý phối hợp với nhau, dù giữa chúng không có
mối liên hệ nhân quả.
- Thiếu sót trong chẩn đoán bệnh ở những
người có liên hệ với bệnh nhân: Các bệnh lây nhiễm cần phải được
kiểm tra ở các thành viên khác cùng gia đình và những người khác
bị phơi nhiễm; đối với các bệnh di truyền thường các thành viên
khác trong gia đình cũng có nguy cơ cao và nên được tầm soát.
B- Sai sót trong điều trị:
Có nhiều cách để phạm sai sót trong điều
trị .
- Sai sót trong tự điều trị: Khi bệnh
nhân tự điều trị cho mình thì sai sót là rất thường gặp . Nên
luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa..
- Điều trị sai bệnh trạng: do chẩn đoán
sai bệnh.
- Chọn sai phương án điều trị : Phương
án tổng thể để điều trị chưa phải là phương án tốt nhất.
- Sử dụng phương thức điều trị sai.
- Sai sót trong chậm điều trị: chậm điều
trị ngoài ý muốn, do ý định hoặc do chưa chưa chẩn đoán được
bệnh..
- Thực hiện thủ thuật sai: Tất cả các
động thái y khoa từ phẫu thuật đến các xét nghiệm đều có thể gặp
sai sót.
C- Sai sót trong sử dụng thuốc:
Xin xem phần sau
D- Sai sót trong phòng tránh:
Thiếu sót trong việc đề phòng sai sót
cũng là một dạng khác của sai sót về y khoa. Trong một số trường
hợp cần phải thực hiện một số biện pháp phòng ngừa, việc không
thực hiện các biện pháp đó cũng là một sai sót trong y khoa.
+ Thiếu sót trong việc phòng tránh những
biến chứng đã được dự báo trước của một bệnh lý đã được chẩn
đoán.
+ Thiếu sót trong việc điều trị những
thành viên khác bị phơi nhiễm trong một gia đình có người bị
bịnh lây nhiễm.
+ Thiếu sót trong việc thông báo rõ ràng
những yếu tố nguy cơ của các tình trạng bệnh lý.
E- Sai sót trong phẫu thuật:
Các thao tác phẫu thuật thường rất phức
tạp và thường vấp nhiều sai sót . Công việc hành chánh trong
khoa ngoại cũng có thể dẫn đến sai sót. Trong một số trường hợp,
có những biến chứng và nguy cơ của phẫu thuật dù đã được dự báo
trước nhưng cũng không thể tránh khỏi được.
- Những sai sót trong phần hành chánh
của phẫu thuật: sai bệnh nhân, sai về bên cơ thể cần phẫu thuật,
sai về cơ quan nội tạng, quên dụng cụ phẫu thuật trong cơ thể
bệnh nhân.
- Sai sót trong phẫu thuật: phẫu thuật
viên có thể cắt sai hoặc phạm các sai sót khác.
- Sai sót trong gây mê: Nhiều thuốc gây
mê quá hoặc ít quá (tỉnh dậy trong lúc mổ).
- Các biến chứng của phẫu thuật.
- Nhiễm trùng sau phẫu thuật: Còn gọi là
nhiễm trùng do thầy thuốc.
- Truyền sai nhóm máu.
F- Sai sót của bệnh viện:
Một bệnh viện có thể phạm sai sót trong
bất kỳ hoạt động nào. Nhân viên có thể phạm những sai sót rất
con người và những vấn đề của toàn bộ hệ thống cũng có thể dẫn
đến những sai sót.
- Nhiễm trùng trong thời gian nằm bệnh
viện: gọi là “nhiễm trùng bệnh viện"
- Sai sót trong phân phát thuốc tại bệnh
viện: thuốc chỉ định không đến với bệnh nhân, sai thuốc, sai
liều lượng, sai trong phối hợp thuốc, cấp thuốc sai bệnh nhân,
v.v.
- Sai thao tác: không thực hiện các xét
nghiệm đã được chỉ định, sai thao tác hoặc thực hiện sai xét
nghiệm.
- Sai trong sử dụng thuốc: Sai sót trong
sử dụng thuốc là loại sai sót thường gặp nhất. Sai sót trong
dùng thuốc có thể xảy ra trong bệnh viện hoặc nhà thuốc, sai sót
có thể do bất cứ nhân viên nào liên quan đến việc chọn lựa hoặc
phân phối thuốc như
+ Dùng thuốc không phù hợp: dùng sai
thuốc cho một bệnh lý nào đó.
+ Dùng nhầm thuốc: bệnh nhân dùng nhầm
thuốc mặc dù thầy thuốc đã kê đơn thuốc đúng chỉ định.
+ Nhầm tên thuốc: nhiều thuốc có tên gọi
nghe giống nhau và làm cho bác sĩ hoặc dược sĩ nhầm lẫn.
+ Kết hợp thuốc sai: có những loại thuốc
không thể kết hợp chung với nhau do phản ứng phụ hoặc tương tác
thuốc.
+ Phản ứng thuốc: một số người bị dị ứng
hoặc có phản ứng phụ với một số thuốc nào đấy. Đó là những nguy
cơ và rất khó đề phòng nếu bệnh nhân chưa có tiền sử dị ứng với
thuốc đó..
+ Tác dụng phụ của thuốc: Hầu như tất cả
các thuốc đều có tác dụng phụ nhất định nào đó. Một số tác dụng
phụ thường nhẹ, số khác rất khó chịu. Hầu như không thể dự báo
trước một bệnh nhân sẽ chịu tác dụng phụ ra sao với một loại
thuốc nào đó.
- Không tuân thủ điều trị: Thiếu sót
trong tuân thủ điều trị là một sai sót trong y khoa, thường gặp
về phía bệnh nhân.
- Sai sót của dược sĩ: phân phối thuốc
là một hoạt động rất bận rộn và phức tạp. Dược sĩ có thể phạm
nhiều sai sót thật đa dạng như sau:
+ Sai sót trong phân phối thuốc theo toa
bác sĩ.
+ Cung cấp sai loại thuốc.
+ Cung cấp thuốc sai liều dùng
+ Nhầm lẫn tên thuốc: nhiều loại thuốc
khác nhau có trùng tên gọi.
- Sai sót của labo giải phẫu bệnh học :
các xét nghiệm chẩn đoán làm ở labo giải phẫu bệnh có thể bị sai
lạc. Sai sót có thể là về mặt hành chánh hoặc sai sót do con
người; các sai sót khác lại là do tính chất giới hạn của mỗi
loại xét nghiệm.
+ Sai sót trong kết quả sinh thiết: sai
sót trong quan sát lame bệnh phẩm
+ Sai sót về hành chánh: nhầm lẫn các
mẫu bệnh phẩm, v.v.
+ Sai sót trong xét nghiệm và các nguy
cơ: hầu như tất cả các xét nghiệm đều có một tỉ lệ sai sót nhỏ
không thể tránh được (dương tính giả, âm tính giả).
+ Khả năng giới hạn của các xét nghiệm
đã được biết trước
- Các sai sót và thiếu sót trong trang
thiết bị: Các thiếu sót vật lý trong trang thiết bị có thể xảy
đến.
+ Tuột dây truyền tĩnh mạch
+ Trang thiết bị hết pin.
- Các điều trị không cần thiết: Chăm sóc
y tế quá mức có thể là một dạng sai sót của các nhân viên y tế
chuyên nghiệp và các cơ sở y tế. Điều này có thể do ý định tốt
(để bảo đảm sự chính xác) hoặc do các nguyên nhân tiêu cực (do
muốn tăng thu nhập).
+ Thủ thuật không cần thiết
+ Xét nghiệm không cần thiết
+ Lượt khám bệnh, tái khám không cần
thiết.
Kết luận
Sai sót y khoa gây thiệt hại cho người
bệnh, gây lãng phí, tốn kém không cần thiết, làm giảm chất lượng
điều trị, làm mất uy tín của bệnh viện.
Tình trạng công việc căng thẳng liên tục
ở các cơ sở y tế khiến nhân viên rất mau mệt mỏi và dễ phạm phải
những sai sót y khoa.
Cần nhận rõ những nguy cơ và những rủi
ro tiềm tàng để có biện pháp phòng tránh tích cực.
Cần có bộ phận quản lý rủi ro trong mỗi
cơ sở y tế để giới hạn đến mức thấp nhất các sai sót trong thực
hành y khoa.
Các nhân viên y tế cần được giáo dục
thường xuyên về tác hại của các sai sót y khoa và cách thức, qui
trình cần tuân thủ nghiêm ngặt để phòng tránh sai sót.
BS. ĐỒNG NGỌC KHANH, BV Hoàn Mỹ Sài Gòn
Tài liệu tham khảo:
- Wrong diagnosis
- To err is human
- Medical errors.
Trở về Trang Chính
|