|
Là một triệu chứng rất thường gặp gây ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng sống. Bài viết sau đây sẽ xin đề cập đến
những vấn đề như: những ai thường có nguy cơ táo bón,
nguyên nhân của táo bón, chẩn đoán và cách điều trị đồng
thời cảnh báo những triệu chứng báo động nguy hiểm.
Được xem là táo bón khi đi tiêu ít hơn 3 lần mỗi tuần.
Khi bị táo bón, phân thường cứng, khô, nhỏ và khó tống
xuất ra ngoài. Người bệnh cảm thấy đau khi đi tiêu và
thường phải rặn nhiều, có cảm giác đầy bụng.
Một số người nghĩ rằng mình bị táo bón khi không đi tiêu
mỗi ngày. Tuy nhiên vấn đề bài tiết phân 3 lần mỗi ngày
hoặc 3 lần mỗi tuần còn tuỳ thuộc ở từng người.
Táo bón là một triệu chứng, không phải một bệnh. Hầu như
ai cũng từng bị táo bón vào một thời điểm nào đó trong
đời, và chế độ ăn thiếu sót là nguyên nhân điển hình
nhất. Hiểu được nguyên nhân, cách phòng tránh, và phương
pháp điều trị sẽ giúp đa số bịnh nhân có được sự thuyên
giảm.

Ống tiêu hoá thấp:Ruột non, hồi tràng, đại tràng, đại
tràng sigma, trực tràng, hậu môn.
I- Ai hay bị táo bón?
Táo bón là một trong những than phiền về tiêu hoá thường
gặp nhất ở người. Hơn 4 triệu dân Mỹ thường xuyên bị táo
bón, với khoảng 2.5 triệu lượt khám bệnh mỗi năm. Đa số
thường là phụ nữ và người từ 65 tuổi trở lên. Phụ nữ có
thai thường bị táo bón, và đây cũng là vấn đề hay gặp
sau khi sanh hoặc sau phẫu thuật.
Đa số bịnh nhân thường tự giải quyết bằng cách mua các
loại thuốc nhuận trường bán tự do (OTC) về sử dụng. Ở Mỹ
khoảng 725 triệu đô la được dùng để mua các loại thuốc
nhuận trường mỗi năm.
II- Nguyên nhân táo bón?
Để hiểu được chứng táo bón, cần phải biết rõ đại tràng
hoạt động ra sao. Khi thức ăn đi qua đại tràng, nước
được hấp thu lại và các chất cặn bã trở thành phân. Các
co bóp của cơ đại tràng sẽ đẩy phân về hướng trực tràng.
Khi đến được trực tràng, phân đã chặt lại vì đa phần
nước đã được tái hấp thu.
Táo bón xảy ra khi đại tràng hấp thu nước quá nhiều hoặc
khi co bóp của cơ đại tràng chậm chạp và uể oải, khiến
thời gian phân đi qua đại tràng quá lâu. Hậu quả là phân
trở nên cứng và khô. Các nguyên nhân thường gây táo bón
là:
-
Thiếu chất xơ trong khẩu phần
-
Ít vận động thể lực (nhất là ở người cao tuổi)
-
một số thuốc men
-
sữa
-
hội chứng ruột kích thích
-
những thay đổi trong cuộc sống như thai nghén, tuổi
già, du hành
-
lạm dụng thuốc nhuận trường
-
nhịn không đi tiêu đúng lúc
-
mất nước
-
Các bịnh lý hoặc trường hợp đặc biệt, như đột quỵ
(thường gặp nhất)
-
những vấn đề ở đại tràng và trực tràng
-
những vấn đề của chức năng ruột (táo bón mãn tính vô
căn)
Thiếu chất xơ trong khẩu phần
Người ăn nhiều chất xơ ít khi bị táo bón. Nguyên nhân
thường gặp nhất của táo bón là một khẩu phần ăn ít chất
xơ và nhiều chất béo như phô mai, trứng và các loại
thịt.
Chất xơ—tan lẫn không hoà tan—là thành phần của rau,
trái cây và các loại hạt mà cơ thể không tiêu hoá được.
Các chất xơ hoà tan sẽ tan dễ dàng trong nước và trở
thành một hợp chất có dạng gel mềm trong ruột. Các chất
xơ không tan di chuyển qua ruột hầu như không bị biến
đổi. Khối chất độn mềm do chất xơ tạo ra giúp cho phân
mềm và dễ di chuyển.
Hiệp Hội Dinh Dưỡng Mỹ khuyên nên ăn khoảng 20 đến 35
gram chất xơ mỗi ngày. Cả người lớn lẫn trẻ em thường ăn
nhiều thức ăn tinh chế sẵn mà chất xơ thiên nhiên đã bị
loại bỏ.
Chế độ ăn ít chất xơ cũng góp phần gây táo bón ở người
có tuổi. Họ thường thiếu hứng thú trong vấn đề ăn uống
và có khuynh hướng chọn những thức ăn dễ mua và dễ chế
biến như thức ăn nhanh hoặc thực phẩm chế biến sẵn
thường chứa ít chất xơ. Ngoài ra những trở ngại trong
nhai và nuốt khiến người cao tuổi có khuynh hướng ăn
những thức ăn mềm, được chế biến sẵn, ít chất xơ.
Thiếu chất lỏng
Nghiên cứu cho thấy không phải cứ tăng lượng chất lỏng
trong khẩu phần là sẽ bớt được táo bón, nhưng nhiều
người cho biết khi họ uống nhiều nước hoặc nước trái cây
để chống mất nước thì sẽ bớt táo bón. Chất lỏng bổ sung
nước cho đại tràng và chất độn cho phân, giúp phân mềm
và dễ di chuyển hơn. Người bị táo bón nên uống nhiều
chất lỏng mỗi ngày. Tuy nhiên, những chất lỏng có chứa
caffeine, như cafê và các loại nước giải khát cola sẽ
khiến táo bón nặng hơn vì làm tăng mất nước. Một loại
thức uống khác gây mất nước là rượu. Khi uống cafê hoặc
rượu luôn nhớ uống tăng cường thêm nước để tránh táo
bón.
Ít vận động thể lực
Ít vận động thể lực sẽ dẫn đến táo bón, tuy chưa rõ cơ
chế. Táo bón thường xảy ra sau tai nạn hoặc khi bịnh
nặng cần nằm giường lâu. Thiếu vận động thể lực được xem
là một trong những nguyên nhân gây táo bón ở người cao
tuổi.
Thuốc men
Một số thuốc có thể gây nên táo bón như:
-
các thuốc giảm đau (đặc biệt loại có á phiện)
-
các thuốc kháng acid chứa nhôm và calcium
-
các thuốc hạ huyết áp (nhóm ức chế kênh calcium)
-
thuốc điều trị bịnh Parkinson
-
các thuốc giảm co thắt
-
các thuốc chống trầm cảm
-
thuốc bổ sung sắt
-
thuốc lợi tiểu
-
thuốc chống động kinh
Thay đổi trong lối sống thường nhật
Trong thai kỳ, phụ nữ có thể bị táo bón do những thay
đổi về nội tiết hoặc do tử cung to và chèn ép lên ruột.
Tuổi tác cũng ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của
ruột, vì chuyển hoá chậm hơn sẽ dẫn đến giảm bớt hoạt
động của ruột và giảm trương lực cơ. Khi du hành cũng
thường bị táo bón do khẩu phần ăn và thói quen thường
ngày bị xáo trộn.
Lạm dụng thuốc nhuận trường
Quan niệm chung cho rằng phải đi tiêu mỗi ngày một lần
đã dẫn đến việc tự mua thuốc nhuận trường để uống. Tuy
rằng bịnh nhân có thể cảm thấy dễ chịu hơn khi dùng
thuốc nhuận trường, về lâu dài họ cần phải tăng liều
thuốc lên vì cơ thể trở đã trở nên lệ thuộc: phải uống
thuốc mới đi tiêu được. Hậu quả là các thuốc nhuận
trường có thể gây lệ thuộc thuốc.
Nhịn đi tiêu
Những bịnh nhân có thói quen nhịn đi tiêu khi có nhu cầu
sẽ mất dần cảm giác mắc đi tiêu. Một số người nhịn đi
tiêu vì không muốn sử dụng nhà vệ sinh ở ngoài. Số khác
nhịn đi tiêu vì stress tâm lý hoặc do quá bận rộn. Trẻ
em có thể nín đi tiêu vì mê chơi.
Các bịnh lý đặc biệt
Các bịnh gây táo bón bao gồm các rối loạn về thần kinh,
chuyển hoá và nội tiết, các bịnh hệ thống ảnh hưởng đến
cơ quan bộ phận. Các rối loạn này làm giảm vận tốc di
chuyển của phân trong lòng đại tràng, trực tràng và hậu
môn.
Các bịnh lý có khả năng gây táo bón bao gồm.
-
Đa xơ hoá (multiple sclerosis)
-
Bịnh Parkinson
-
Giả tắc ruột mãn vô căn (chronic idiopathic
intestinal pseudo-obstruction)
-
Đột quỵ
-
Tổn thương tuỷ sống
-
Các rối loạn về chuyển hoá và nội tiết
-
Đái tháo đường
-
Tăng urê máu
-
Tăng calcium máu
-
Rối loạn dung nạp glucose
-
Suy giáp
-
Các bịnh hệ thống
-
Thoái hoá tinh bột (amyloidosis)
-
Lupus
-
Xơ cứng bì (scleroderma)
Những vấn đề ở đại tràng và trực tràng
Tắc ruột, mô sẹo—còn gọi là dây dính, túi thừa, u bướu,
hẹp đại trực tràng, bịnh Hirschsprung, hoặc ung thư có
thể chèn ép, siết chặt, làm hẹp lòng đại tràng và trực
tràng gây nên táo bón.
Những vấn đề của chức năng ruột
Có 2 thể táo bón là táo bón vô căn và táo bón chức năng.
Hội chứng ruột kích thích (IBS) với táo bón là triệu
chứng chủ yếu được phân loại riêng.
Táo bón vô căn (không rõ nguyên nhân): không đáp ứng với
điều trị tiêu chuẩn.
Táo bón chức năng: khi đường ruột vẫn bình thường nhưng
không hoạt động đúng mức. Táo bón chức năng là hậu quả
của lối sống và chế độ ăn mất cân đối, thường xảy ra ở
cả người lớn lẫn trẻ em và đa phần gặp ở phụ nữ. Đại
tràng giảm động, phân di chuyển chậm, và rối loạn chức
năng sàn chậu là 3 thể của táo bón chức năng. Đại tràng
giảm động và phân di chuyển chậm do giảm hoạt động của
các cơ ở đại tràng. Các hội chứng này có thể ảnh hưởng
đến toàn bộ đại tràng hoặc chỉ khu trú ở phần đại tràng
thấp, còn gọi là đại tràng sigma.
Rối loạn chức năng sàn chậu do suy yếu các cơ vùng chậu
bao quanh hậu môn và trực tràng. Tuy nhiên do các nhóm
cơ này có thể được chủ động kiểm soát, rèn luyện phản
hồi sinh học (biofeedback training) có thể sẽ hiệu quả
trong việc tập cho các cơ này hoạt động trở lại bình
thường và cải thiện chức năng đi tiêu.
Táo bón chức năng có nguồn gốc từ những vấn đề do cấu
trúc của hậu môn và trực tràng được gọi là rối loạn chức
năng hậu môn trực tràng hay co thắt nghịch thường của cơ
hậu môn khi đi tiêu. Các bất thường này đưa đến hậu quả
là các cơ ở hậu môn và trực tràng mất đi khả năng thư
giãn khiến phân không thoát ra được.
Bịnh nhân bị hội chứng đại tràng kích thích thể táo bón
chiếm ưu thế cũng thường có các triệu chứng đau và sình
bụng.
III- Làm sao để xác định nguyên nhân táo bón?
Bác sĩ chỉ định các xét nghiệm tuỳ thuộc vào thời gian
bị bịnh và độ nặng của táo bón, tuổi của người bịnh, có
máu trong phân hay không, các thay đổi gần đây của thói
quen đại tràng, có sụt cân hay không? Đa phần các trường
hợp táo bón không đòi hỏi những xét nghiệm chuyên sâu để
chẩn đoán và thường được cải thiện chỉ với thay đổi chế
độ ăn và lối sống. Ví dụ,ở người trẻ có triệu chứng táo
bón nhẹ, bịnh sử và khám lâm sàng cũng đủ để chẩn đoán
và điều trị.
Bịnh sử
Bác sĩ có thể yêu cầu bịnh nhân mô tả lại triệu chứng
táo bón, bao gồm thời gian của triệu chứng, tần số các
lần đi tiêu, độ chắc của phân, sự hiện diện của máu
trong phân, và thói quen đi tiêu. Ghi chép lại thói quen
ăn uống, thuốc men, mức độ hoạt động thể lực sẽ giúp bác
sĩ xác định nguyên nhân táo bón.
Định nghĩa về mặt lâm sàng của táo bón là có 2 trong số
các triệu chứng sau đây trong ít nhất 12 tuần—không cần
thiết phải liên tục—trong thời 12 tháng gần đây:
-
rặn nhiều khi đi tiêu
-
phân đóng cục và cứng
-
cảm giác đi tiêu không hết phân
-
cảm giác nghẽn tắc ở vùng hậu môn trực tràng
-
đi tiêu ít hơn 3 lần trong một tuần
Khám lâm sàng
Khám lâm sàng bao gồm thăm trực tràng bằng ngón tay đeo
găng bôi trơn để đánh giá trương lực cơ vòng hậu môn,
phát hiện điểm đau, tắc nghẽn, hoặc xem có máu hay
không. Trong một số trường hợp cần xét nghiệm máu và
chức năng tuyến giáp để phát hiện bịnh lý tuyến giáp và
loại trừ các phản ứng viêm, các rối loạn chuyển hoá và
rối loạn khác.
Các xét nghiệm chuyên sâu thường dành cho những trường
hợp nặng, khi có thay đổi đột ngột về số lần đi tiêu, có
máu trong phân, và ở những người cao tuổi. Các xét
nghiệm bổ sung dùng để đánh giá táo bón bao gồm
-
nghiên cứu chuyển động thức ăn qua đại trực tràng
-
xét nghiệm chức năng hậu môn trực tràng
-
chụp động tác tống xuất phân
Do có tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng ở người cao
tuổi, bác sĩ có thể dùng những xét nghiệm sau để loại
trừ ung thư:
-
Chụp đại tràng có cản quang
-
Nội soi đại tràng sigma hoặc nội soi đại tràng
Nghiên cứu sự chuyển động của thức ăn qua đại trực tràng
(Colorectal transit study).
Xét nghiệm này quan sát sự vận động của thức ăn qua đại
tràng. Bịnh nhân nuốt viên nang có chứa chất cản tia
X-quang. Chuyển động của viên nang cản quang trong đại
tràng sẽ được theo dõi bằng phim X-quang bụng chụp nhiều
lần trong 3-7 ngày sau khi nuốt viên nang. Bịnh nhân
được khuyên áp dụng chế độ ăn nhiều chất xơ khi thực
hiện xét nghiệm này.
Kiểm tra chức năng hậu môn trực tràng.
Những xét nghiệm này đánh giá táo bón gây nên bởi hoạt
động bất thường của hậu môn và trực tràng- còn gọi là
chức năng hậu môn trực tràng.
-
Đo áp suất hậu môn trực tràng (Anorectal manometry)
đánh giá chức năng của cơ vòng hậu môn. Nhét một ống
thông hoặc bóng chứa không khí vào hậu môn rồi rút
từ từ qua cơ vòng hậu môn để đo trương lực và các co
bóp. .
-
Xét nghiệm tống xuất bóng (Balloon expulsion tests)
đút vào trực tràng một bóng chứa lượng nước thay
đổi. Sau đó bịnh nhân được yêu cầu tống xuất bóng.
Được đánh giá là có giảm chức năng ruột khi mất khả
năng tống xuất bóng chứa ít hơn 150 ml nước.
Chụp động tác tống xuất phân (Defecography):
chụp X-quang vùng hậu môn trực tràng để đánh giá việc
tống xuất phân có trọn vẹn, nhận dạng những bất thường ở
hậu môn trực tràng và đánh giá sự co bóp và thư giãn cơ
trực tràng. Khi thực hiện xét nghiệm, bác sĩ sẽ bơm đầy
trực tràng của bịnh nhân bằng một khối bột barium mềm có
độ quánh giống phân. Bịnh nhân ngồi trên bồn cầu đặt
trong phòng máy X-quang, thư giãn và co bóp hậu môn để
tống xuất chất bột nhão ra. Bác sĩ sẽ quan sát hình dạng
khối barium nhão trên X-quang để đánh giá những bất
thường về giải phẫu và chức năng của hậu môn trực tràng
và sàn chậu diễn ra khi khối bột nhão được tống xuất.
Chụp đại tràng cản quang:
Thủ thuật này giúp quan sát trực tràng, đại tràng và
phần dưới của ruột non (hồi tràng) để định vị những vấn
đề bất thường. Thủ thuật này có thể giúp phát hiện tắc
ruột và bệnh Hirschsprung, là một bịnh không có cấu trúc
thần kinh ở đại tràng.
Cần làm sạch ruột trước khi soi. Đêm hôm trước bịnh nhân
sẽ uống một loại thuốc đặc biệt để xổ sạch ruột. Ruột
phải thật sạch vì nếu còn phân các chi tiết sẽ bị che
khuất làm cho việc quan sát đại tràng không được chính
xác và đầy đủ.
Ruột không hiện trên phim X-quang, do đó cần bơm barium,
một dung dịch đục như vôi cản quang giúp hiển thị đại
tràng. Khi thuốc đã phủ đầy các ngõ ngách của ruột, sẽ
chụp phim X-quang để thấy rõ đại tràng. Bịnh nhân có thể
cảm thấy đau quặn bụng khi barium được bơm vào ruột.
Phân có thể có màu trắng trong vài ngày sau đó.
Soi đại tràng sigma hoặc nội soi đại tràng.
Bịnh nhân ăn lỏng đêm trước nội soi. Cần rửa ruột 1 giờ
trước khi tiến hành nội soi
Để nội soi đại tràng sigma, bác sĩ dùng một ống dài, mềm
có gắn camera và nguồn sáng ở đầu gọi là ống nội soi đại
tràng sigma để quan sát trực tràng và đại tràng thấp.
Bịnh nhân có thể được gây mê nhẹ trước khi nội soi.
Trước tiên bác sĩ kiểm tra trực tràng bằng ngón tay đeo
găng có bôi trơn. Sau đó ống nội soi được đưa vào hậu
môn để quan sát trực tràng và đại tràng thấp (đại tràng
sigma). Kỹ thuật này có thể gây tức bụng và cảm giác
muốn đi tiêu. Bác sĩ có thể bơm không khí vào đại tràng
để quan sát rõ hơn. Không khí bơm vào đôi khi gây đau
quặn bụng.
Để nội soi đại tràng, bác sĩ dùng ống soi mềm có gắn
camera và đèn chiếu sáng để quan sát toàn bộ đại tràng.
Ống này dài hơn ống soi đại tràng sigma. Trong lúc soi,
bịnh nhân nằm nghiêng và bác sĩ sẽ đưa ống nội soi vào
hậu môn lên trực tràng và quan sát toàn bộ đại tràng.
Nếu thấy bất thường, bác sĩ sẽ dùng ống nội soi để kẹp
một mẫu mô nhỏ làm sinh thiết. Bịnh nhân có thể cảm thấy
đầy và đau quặn bụng sau thủ thuật nội soi.
IV- Điều trị táo bón ra sao?
Trong đa số trường hợp, các thay đổi về chế độ ăn và lối
sống sẽ giảm bớt và ngăn ngừa triệu chứng táo bón tái
phát.
Chế độ ăn
Khẩu phần đầy đủ chất xơ (20 đến 35 gram mỗi ngày) giúp
phân mềm và có khối lượng. Bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng
có thể tư vấn về chế độ ăn phù hợp. Các thực phẩm nhiều
chất xơ bao gồm các loại đậu, gạo nguyên lức, trái cây
tươi, rau củ như măng tây, cải bắp, cà rốt v.v. Bịnh
nhân táo bón nên hạn chế các thức ăn ít hoặc không có
chất xơ như kem, phô mai, thịt và thực phẩm chế biến
sẵn.
Thay đổi lối sống
Nên uống nhiều nước, nước quả và canh rau để không bị
thiếu nước, nên tăng cường vận động và dành thời gian
nhất định để đi tiêu. Nên đi tiêu ngay khi có nhu cầu,
tránh nhịn.
Thuốc nhuận trường
Phần đông bịnh nhân táo bón nhẹ không cần thuốc nhuận
trường. Tuy nhiên nếu vẫn tiếp tục táo bón sau khi đã
thay đổi chế độ ăn và lối sống, bác sĩ có thể khuyên
dùng thuốc nhuận trường hoặc thuốc xổ trong một thời
gian nhất định. Các phương thức điều trị này có thể giúp
phục hồi lại thói quen của ruột. Đối với trẻ em, điều
trị ngắn hạn với thuốc nhuận trường đồng thời với luyện
tập để phục hồi lại thói quen của ruột sẽ giúp phòng
chống táo bón.
Bác sĩ sẽ quyết định khi nào thì bịnh nhân cần đến thuốc
nhuận trường và loại nào là tốt nhất với từng người.
Thuốc nhuận trường dùng đường uống và có nhiều dạng:
lỏng, viên, bột gôm (gum powder), và dạng cốm hạt. Chúng
tác động bằng nhiều cách:
-
Nhuận trường tạo khối độn cho phân
(bulk- forming laxatives) thường được xem là an toàn
nhất, nhưng chúng có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu
của một số thuốc. Các thuốc này còn được xem là loại
bổ sung chất xơ, và được uống chung với nước. Biệt
dược gồm: Metamucil, Igol, Polycarbophil, Psyllium,
Sterculia, Fiberall, Citrucel, Konsyl, và Serutan.
Các thuốc này cần phải uống với nhiều nước nếu không
sẽ gây tắc ruột. Một số bịnh nhân cho biết sau khi
uống thuốc nhuận trường tạo khối độn, tình trạng
không những không được cải thiện mà còn tệ hơn do bị
đau và đầy bụng.
-
Nhuận trường kích thích
tạo những
co bóp nhịp nhàng của cơ ruột. Tên thương mại bao
gồm Bisacodyl, Sennosides A+B, Correctol, Dulcolax,
Purge, và Senokot. Các nghiên cứu cho thấy
phenolphthalein, thành phần trong một số thuốc
nhuận trường kích thích, có thể tăng nguy cơ ung
thư. Cơ quan Quản lý Thuốc và
Thực Phẩm Mỹ đã đề nghị loại
bỏ tất cả các thuốc bán tự do có chứa
phenolphthalein. Đa số các nhà sản xuất thuốc nhuận
trường đã thay thế hoặc có kế hoạch thay thế
phenolphthalein bằng một chất an toàn hơn.
-
Thuốc nhuận trường thẩm thấu làm nước thấm ngược vào đại
tràng khiến khiến đại căng ra. Nhóm thuốc này có tác
dụng tốt cho những trường hợp táo bón vô căn. Sản
phẩm bao gồm Lactulose, Macrogol 4000, Cephulac,
Sorbitol, và Miralax. Cần kiểm tra cân bằng chất
điện giải khi dùng nhóm thuốc này cho những bịnh
nhân bị đái tháo đường.
-
Thuốc làm mềm phân làm phân mềm và ẩm ướt. Thường
được khuyên dùng sau khi sanh hoặc sau phẫu thuật.
Thuốc bao gồm Docusate sodium, Paraffin, Colace và
Surfak. Các sản phẩm này được chỉ định cho những
bịnh nhân cần tránh rặn khi đi tiêu. Dùng nhóm thuốc
này lâu dài có thể gây rối loạn điện giải.
-
Thuốc bôi trơn làm phân như được bôi trơn và di chuyển dễ
dàng hơn trong ruột. Thường sử dụng các loại dầu vô
cơ. Tên biệt dược là Fleet và Zymenol. Các chất bôi
trơn kích thích đi tiêu trong vòng 8 giờ sau khi
uống.
-
Các nhuận trường có muối (saline laxatives)
tác dụng tựa như miếng bọt biển hút nước vào đại
tràng để cho khối phân trơn mềm, dễ di chuyển. Biệt
dược gồm Milk of Magnesia và Haley’s M-O. Nhuận
trường có muối được dùng để điều trị táo bón cấp khi
không có biểu hiện của tắc ruột. Đã thấy xảy ra rối
loạn điện giải khi dùng kéo dài, đặc biệt ở trẻ nhỏ
và những bịnh nhân suy thận.
-
Các chất kích hoạt kênh chlorua (chloride channel
activators)
tăng cường nhu động và lượng dịch trong ruột để giúp
phân di chuyển dễ dàng, giảm triệu chứng táo bón.
Một trong những thuốc đó là Amitiza (lubiprostone),
được đánh giá là vẫn an toàn sau khi sử dụng từ 6-12
tháng.Sau thời gian đó, bác sĩ nên đánh giá lại xem
việc dùng tiếp có cần thiết nữa không.
Những bịnh nhân đã lệ thuộc thuốc nhuận trường nên giảm
sử dụng chúng từ từ. Bác sĩ có thể hỗ trợ quá trình này.
Đối với đa số bịnh nhân, ngừng thuốc nhuận trường sẽ
phục hồi lại khả năng co bóp tự nhiên của đại tràng.
Các phương pháp điều trị khác
Điều trị táo bón có thể hướng đến nguyên nhân đặc hiệu.
Ví dụ bác sĩ có thể khuyên nên ngưng dùng một loại thuốc
gây táo bón nào đó, hoặc phẫu thuật để sửa chữa một bất
thường ở vùng hậu môn trực tràng, như sa trực tràng
chẳng hạn.
Bịnh nhân táo bón mãn tính do rối loạn chức năng hậu môn
trực tràng có thể dùng phương pháp rèn luyện phản hồi
sinh học (biofeedback training) để luyện tập lại các bắp
cơ kiểm soát việc đi tiêu. Phản hồi sinh học dùng một
cảm biến (sensor) để theo dõi hoạt động của ruột, tiến
trình được biểu hiện trên màn hình vi tính, giúp đánh
giá chính xác chức năng của cơ thể. Chuyên gia sẽ sử
dụng các thông tin này để giúp bịnh nhân tập luyện lại
các bắp cơ này.
Phẫu thuật cắt bỏ đại tràng là một chọn lựa điều trị đối
với bịnh nhân có những triệu chứng nặng do liệt đại
tràng (colonic inertia). Tuy nhiên cần phải cân nhắc kỹ
và tính đến các biến chứng lâu dài của phẫu thuật như
đau bụng và tiêu chảy.
V- Táo bón có thể trở nên nghiêm trọng?
Táo bón có thể dẫn đến nhiều biến chứng. Các biến chứng
bao gồm: trĩ, do rặn nhiều khi đi tiêu, hoặc nứt hậu
môn-- rách da quanh hậu môn—do phân cứng làm căng cơ
vòng hậu môn. Hậu quả là chảy máu trực tràng, thành
từng tia đỏ tươi trên bề mặt của phân. Điều trị trĩ bao
gồm ngâm hậu môn với nước ấm, đắp túi nước đá, và bôi
một loại kem đặc biệt ở vùng tổn thương. Điều trị nứt
hậu môn bao gồm nong cơ vòng hậu môn hoặc cắt bỏ mô và
da ở vùng tổn thương.
Rặn nhiều có thể khiến một phần của ruột sa ra ngoài hậu
môn. Tình trạng này gọi là sa trực tràng. Thường chỉ cần
loại bỏ nguyên nhân gây sa, như rặn hoặc ho, là đủ cho
việc điều trị . Cần phẫu thuật để củng cố, làm chặt cơ
vòng hậu môn hoặc chữa lại phần niêm mạc bị sa khi có sa
trực tràng nặng và mãn tính.
Táo bón còn có thể gây phân đóng khối (fecal impaction)
trong đại tràng và trực tràng, chặt đến nỗi sự co bóp
của đại tràng không đủ sức để tống xuất phân. Tình trạng
phân đóng khối này thường gặp ở trẻ em và người cao
tuổi. Khối phân sẽ được làm mềm bằng dầu vô cơ
(paraffine) dùng đường uống hoặc bơm thụt đại tràng. Sau
khi làm mềm khối phân đóng cứng, bác sĩ sẽ dùng một hoặc
2 ngón tay đút vào hậu môn làm vỡ khối phân và móc ra
ngoài.
VI- Những điểm cần ghi nhớ
-
Táo bón có thể xảy ra với mọi người vào một lúc nào
đó trong đời.
-
Nhiều người cứ nghĩ rằng mình bị táo bón, dù thực
tế, hoạt động bài tiết của họ vẫn bình thường.
-
Nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất là chế độ ăn
mất cân đối và ít vận động thể lực.
-
Những nguyên nhân khác gây táo bón bao gồm thuốc
men, hội chứng ruột kích thích, lạm dụng thuốc nhuận
trường, và một số bịnh lý đặc biệt khác.
-
Chỉ với bịnh sử và thăm khám lâm sàng là đã có thể
chẩn đoán và điều trị táo bón trong đa số các trường
hợp.
-
Thường thì những điều sau đây sẽ giúp giảm triệu
chứng và đề phòng táo bón tái phát:
-
Chế độ ăn cân đối, nhiều chất xơ gồm các loại
đậu, khoai, gạo lức, rau quả tươi.
-
Uống nhiều nước.
-
Tập luyện đều đặn.
-
Đi tiêu đúng giờ trong ngày.
-
Tránh nhịn đi tiêu khi có nhu cầu.
-
Nhận thức rằng thói quen bình thường của ruột có
thể thay đổi tuỳ theo từng người.
-
Khám bịnh ngay khi có thay đổi thói quen của
ruột.
-
Đa số bịnh nhân không cần dùng thuốc nếu chỉ bị táo
bón nhẹ. Tuy nhiên, bác sĩ có thể khuyên dùng thuốc
nhuận trường đối với các trường hợp táo bón mãn tính
trong một khoảng thời gian nhất định.
Một số hình ảnh minh hoạ:


Bs Đồng Ngọc Khanh, BV Đa Khoa Hoàn Mỹ SàiGòn
Tài liệu tham khảo:
digestive.niddk.nih.gov
|