|
A- Làm sao để chẩn đoán u não?
Khi một người có những triệu chứng gợi ý u não, bác sĩ sẽ thực
hiện một hay nhiều biện pháp sau đây:
·
Khám thực thể—Bác
sĩ khám kiểm tra lâm sàng tổng quát.
·
Khám thần kinh—Bác
sĩ kiểm tra độ tỉnh táo, sức cơ, sự phối hợp động tác, các phản
xạ, và đáp ứng với kích thích đau. Bác sĩ sẽ kiểm tra đáy mắt
xem có phù gai thị do u chèn ép thần kinh thị giác.
·
MSCT
scan—Chụp
đa lát cắt vùng sọ não. Chích tĩnh mạch chất cản quang để quan
sát rõ hơn. Hình ảnh tổng hợp lại có thể cho thấy u não. .
·
Chụp Cộng Hưởng Từ
MRI—Từ
trường mạnh kết nối với một máy vi tính cho thấy những hình ảnh
chi tiết trong cơ thể. Hình ảnh có thể được in lại. Đôi khi phải
chích chất tương phản để hình ảnh quan sát được rõ ràng hơn. Có
thể thấy u não hoặc những vấn đề bất thường khác ở não.
Bác sĩ có thể chỉ định làm thêm:
·
Chụp mạch máu—Chất
cản quang tiêm vào mạch máu sẽ di chuyển đến não bộ để giúp bác
sĩ quan sát rõ u não nếu có.
·
X Quang sọ—Một
số loại u não gây kết tủa calcium hoặc những thay đổi ở xương
sọ. Chụp XQuang giúp bác sĩ thấy những thay đổi đó.
·
Chọc
dò tuỷ sống—Bác
sĩ rút một ít dịch não tuỷ qua chọc dò ống sống bằng cây kim dài
và mỏng. Thủ thuật này được thực hiện với gây tê tại chỗ. Thời
gian thực hiện kéo dài khoảng 30 phút. Bịnh nhân cần nằm đầu
thấp vài giờ sau đó để tránh bị nhức đầu. Phòng xét nghiệm sẽ
kiểm tra dịch não tuỷ để tìm tế bào ung thư hoặc các dấu hiệu
bịnh lý khác.
·
Chụp tuỷ sống—Chụp
XQuang tuỷ sống có tiêm thuốc cản quang vào dịch não tuỷ qua
chọc dò ống sống để phát hiện u ở tuỷ sống.
·
Sinh thiết—Lấy
một ít mô để quan sát dưới kính hiển vi và tìm tế bào ung thư.
Sinh thiết có thể cho thấy hiện diện của tế bào ung thư, những
thay đổi tế bào có thể dẫn đến ung thư và những bất thường khác.
Sinh thiết là phương pháp chính xác nhất để chẩn đoán u não.
·
Bác sĩ phẫu thuật có thể làm sinh thiết bằng 3 cách sau:
o
Sinh thiết kim—Rạch
đường nhỏ ở da đầu, khoan một lỗ nhỏ qua xương sọ sau đó dùng
kim hút một ít mô não bị khối u.
o
Sinh thiết qua hướng dẫn của CT scan hoặc MRI.
o
Sinh thiết đồng thời với điều trị—Bác
sĩ lấy một ít mô gửi xét nghiệm tế bào sau khi đã cắt bỏ khối u
não.
Đôi khi không thể thực hiện được sinh thiết. Phẫu thuật viên
không thể lấy mô bướu để làm sinh thiết mà không gây tổn thương
đến não bộ khi khối u nằm ở thân não hoặc một số vị trí nguy
hiểm khác. Khi đó, bác sĩ sẽ dùng MRI, CT, hoặc các xét nghiệm
chẩn đoán hình ảnh khác.
Bịnh nhân cần làm sinh thiết có thể hỏi bác sĩ những câu hỏi như
sau:
·
Tại sao tôi cần phải làm sinh thiết? Sinh thiết sẽ tác dụng đến
kế hoạch điều trị của tôi ra sao?
·
Tôi sẽ được áp dụng phương pháp nào để sinh thiết?
·
Sinh thiết sẽ kéo dài bao lâu? Tôi có tỉnh táo khi làm sinh
thiết? Có đau không?
·
Nguy cơ nhiễm trùng và xuất huyết sau sinh thiết? Có nguy cơ nào
khác không?
·
Kết quả sinh thiết sẽ có trong bao lâu?
·
Nếu tôi thực sự bị u não, ai sẽ nói với tôi về phương pháp điều
trị? Và khi nào?
B- Chuẩn bị cho điều trị
Bác sĩ có thể mô tả các chọn lựa trong điều trị và thảo luận về
các kết quả hy vọng sẽ đạt được cho mỗi phương pháp. Bác sĩ và
bịnh nhân có thể cùng hợp tác với nhau để hoạch định ra một
phương án điều trị phù hợp với yêu cầu của người bịnh.
Điều trị tuỳ thuộc nhiều yếu tố, bao gồm loại u, vị trí, kích
thước, và giai đoạn của khối u. Đối với một vài typ u não, bác
sĩ cũng cần biết xem tế bào ung thư có hiện diện trong dịch não
tuỷ hay không.
Sau đây là một số câu hỏi mà bịnh nhân có thể hỏi bác sĩ trước
khi điều trị:
·
Tôi bị loại u não nào?
·
U lành tính hay ác tính?
·
Giai đoạn của khối u?
·
Chọn lựa điều trị của tôi ra sao? Bác sĩ khuyên tôi điều gì? Tại
sao?
·
Lợi ích của từng phương pháp điều trị ?
·
Nguy cơ và tác dụng phụ của từng phương pháp?
·
Chi phí điều trị?
·
Việc điều trị sẽ ảnh hưởng đến công việc hàng ngày của tôi ra
sao?
·
Có thử nghiệm nghiên cứu lâm sàng nào có thể thích hợp đối với
trường hợp của tôi?
Bịnh nhân không cần phải hỏi tất cả các câu hỏi và hiểu rõ tất
cả các câu trả lời của bác sĩ. Trong quá trình điều trị, những
điều chưa rõ sẽ được giải thích và bác sĩ sẽ bổ sung thêm nhiều
thông tin khác.
C- Các Phương Pháp Điều Trị
Bịnh nhân u não có nhiều chọn lựa trong điều trị. Tuỳ theo typ
của khối u và giai đoạn và bịnh nhân có thể được điều trị bằng
phẫu thuật, xạ trị hoặc hoá trị. một số bịnh nhân được điều trị
phối hợp.
Ngoài ra, ở bất cứ giai đoạn nào của bịnh, bịnh nhân cũng cần
được điều trị giảm đau và các triệu chứng khác của ung thư, điều
trị giảm nhẹ các tác dụng phụ và điều trị nâng đỡ về mặt tinh
thần. Phương pháp này được gọi là điều trị triệu chứng, điều trị
hỗ trợ hoặc hoặc điều trị giảm nhẹ.
Bác sĩ sẽ là người phù hợp nhất để bàn luận về những chọn lựa
điều trị và dự báo các kết quả.
Phẫu thuật
là phương pháp điều trị thường dùng cho đa số u não. Cạo tóc
sạch, gây mê toàn phần, rạch da đầu, mở cửa sổ ở hộp sọ, mổ lấy
một phần hoặc toàn bộ khối u, đóng hộp sọ, khâu lại da đầu.
Bịnh nhân có thể hỏi bác sĩ một số câu trước khi phẫu thuật được
tiến hành:
·
Tôi sẽ cảm thấy ra sao sau phẫu thuật?
·
Nếu đau thì bác sĩ sẽ xử trí thế nào?
·
Tôi phải nằm viện bao lâu?
·
Tác dụng phụ về lâu dài sau này? Tóc tôi có mọc trở lại không?
·
Khi nào thì tôi có thể trở về với những hoạt động bình thường?
·
Khả năng hồi phục hoàn toàn của tôi thế nào?
Khi u nằm ở thân não, bác sĩ sẽ không thể cắt bỏ khối u mà không
làm tổn thương đến các mô não bình thường. Lúc đó sẽ dùng đến
các phương pháp điều trị khác.
Điều trị bằng tia xạ
(còn gọi là xạ trị) dùng các tia năng lượng cao để tiêu diệt tế
bào ung thư. Tia xạ có thể là tia XQuang, tia gamma , hoặc tia
protons. Dùng một cỗ máy lớn chiếu chùm tia vào khối u và mô
chung quanh. Đôi khi tia xạ còn được chiếu vào toàn bộ não bộ
hoặc tuỷ sống.
Xạ trị thường được thực hiện sau phẫu thuật. Tia xạ tiêu diệt
những tế bào còn sót lại. Đôi khi xạ trị sẽ được sử dụng thay
thế khi không thể tiến hành phẫu thuật.
Liệu trình xạ trị thay đổi tuỳ theo loại u, kích thước, và tuổi
của bịnh nhân. Mỗi lần điều trị chỉ kéo dài vài phút.
Bác sĩ sẽ tiến hành từng bước để bảo vệ mô lành chung quanh khối
u khi xạ trị:
·
Phân đoạn (fragmentation)—Xạ
trị thường được thực hiện 5 ngày mỗi tuần trong nhiều tuần. Khi
rải đều tổng liều xạ trị trong một thời gian dài hơn sẽ giúp bảo
vệ các mô lành ở vùng khối u.
·
Siêu phân đoạn (hyperfragmentation)—Bịnh
nhân được chiếu những liều bức xạ nhỏ ngày 2 hay 3 lần thay vì
dùng liều cao ngày 1 lần.
·
Xạ trị lập thể (Stereotactic radiation therapy)—Sử
dụng những chùm tia xạ rất hẹp chiếu vào khối u ở nhiều góc độ
khác nhau. Khi dùng phương pháp này , bịnh nhân sẽ phải đội một
khung cứng trên đầu. Chụp MRI hoặc CT scan để tạo hình ảnh
chính xác và vị trí của khối u. Bác sĩ sẽ tính toán chính xác
liều bức xạ cần thiết cùng kích thước và góc chiếu của các chùm
tia. Có thể xạ trị một lần hoặc vài lần.
·
Xạ trị theo không gian 3 chiều (3-dimension conformal
radiotherapy)—Máy
tính vẽ ra hình ảnh không gian 3 chiều của khối u và mô lành
chung quanh. Bác sĩ chiếu nhiều chùm tia vào hình dáng chính xác
của khối u. Việc chiếu tia tập trung chính xác vào khối u sẽ
giúp bảo vệ các mô lành chung quanh.
·
Xạ trị bằng chùm tia Proton (Proton beam radiation therapy)—Nguồn
bức xạ là protons thay cho XQuang. Bác sĩ nhắm chùm tia protons
vào khối u. Protons có thể đi xuyên qua mô lành mà không gây tổn
thương gì đáng kể.

Sau đây là một số điều mà bịnh nhân có thể hỏi bác sĩ trước khi
xạ trị:
·
Tại sao tôi cần xạ trị?
·
Khi nào thì bắt đầu? Khi nào thì chấm dứt điều trị?
·
Có tác dụng phụ gì?
·
Tôi sẽ tự chăm sóc ra sao trong khi xạ trị?
·
Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả?
·
Tôi có thể tiếp tục những hoạt động hàng ngày khi xạ trị?

Hoá trị liệu (Chemotherapy),
dùng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư, đôi khi cần thiết trong
điều trị u não. Thuốc có thể dùng đường uống hoặc tiêm. Dù đường
nào thì thuốc cũng vào máu và di chuyển khắp cơ thể. Thuốc này
được sử dụng từng đợt để cơ thể có thời gian hồi phục sau mỗi
đợt điều trị.
Hoá trị liệu thường được sử dụng ngoại trú. Ít khi cần nhập viện
điều trị
Hoá trị liệu thường được sử dụng ở trẻ em. Tuy nhiên, người lớn
cũng có thể được hoá trị sau khi đã phẫu thuật và xạ trị.
Ở những bịnh nhân có u não tái phát, bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ
khối u và cấy vào vài viên nhện có tẩm hoá chất. Mỗi viên nhện
có kích thước khoảng một đồng xu. Trong vài tuần, viên nhện rã
ra và phóng thích thuốc vào não. Thuốc có tác dụng diệt tế bào
ung thư.
Bịnh nhân có thể hỏi một số câu hỏi chung quanh việc sử dụng hoá
trị:
·
Tại sao tôi cần dùng phương pháp điều trị này?
·
Hoá trị sẽ tác dụng ra sao?
·
Có tác dụng phụ không? Tôi sẽ đối phó ra sao?
·
Khi nào thì bắt đầu điều trị? Khi nào thì chấm dứt
·
Tôi có cần tái khám thường xuyên không?
D- Tác dụng phụ của điều trị u não?
Việc điều trị có thể gây tổn thương các tế bào và mô lành, do đó
sẽ xuất hiện những tác dụng phụ. Tác dụng phụ tuỳ thuộc nhiều
yếu tố, bao gồm vị trí của khối u, loại u và phạm vi điều trị.
Tác dụng phụ thay đổi tuỳ theo bịnh nhân, theo từng giai đoạn và
đợt điều trị. Trước khi tiến hành điều trị, bác sĩ giải thích về
tất cả các tác dụng phụ có khả năng xảy ra và những cách thức
mà bịnh nhân nên áp dụng để đối phó với chúng.
Phẫu thuật
Bịnh nhân thường bị nhức đầu hoặc bất an trong những ngày đầu
sau phẫu thuật. Tuy nhiên dùng thuốc có thể kiểm soát được sự
đau đớn.
Bịnh nhân cũng thường cảm thấy yếu đuối và mệt mỏi. Thời gian
hồi phục sau phẫu thuật thay đổi theo từng bịnh nhân.
Một số vấn đề khác tuy ít gặp nhưng vẫn có thể xảy ra. Dịch não
tuỷ hoặc máu có thể tích tụ trong não và gây sưng phù não. Cần
theo dõi các triệu chứng để phát hiện tình trạng này. Dùng
steroids sẽ làm giảm bớt sung phù. Đôi khi cần phẫu thuật lần 2
để dẫn lưu dịch. Bác sĩ phẫu thuật sẽ đặt một ống dài và mỏng
(shunt) trong não thất. Ống này được luồn dưới da xuống đến
bụng. Dịch dư thừa từ não được dẫn lưu xuống bụng. Đôi khi dịch
được dẫn lưu vào tim.
Khi nhiễm trùng xảy ra, bịnh nhân sẽ được dùng kháng sinh.
Phẫu thuật não có thể gây thương tổn đến mô lành. Tổn thương não
là vấn đề nghiêm trọng. Bịnh nhân sẽ có những vấn đề về tư duy,
thị giác và ngôn ngữ. Bịnh nhân có thể có thay đổi về nhân cách
hoặc co giật. Đa số những biến chứng này thường giảm hoặc biến
mất đi theo thời gian, nhưng đôi khi tổn thương não là vĩnh
viễn. Bịnh nhân sẽ cần đến các phương pháp vật lý trị liệu, điều
trị tiếng nói (speech therapy), hoặc điều trị bằng công việc
(occupational therapy).
Xạ trị
Buồn nôn nhiều giờ sau xạ trị. Mệt mỏi ngày càng tăng sau xạ
trị. Nghỉ ngơi là cần thiết nhưng bịnh nhân cũng cần phải hoạt
động tích cực.
Xạ trị thường gây rụng tóc. Tóc sẽ mọc lại sau vài tháng. Xạ trị
còn gây ảnh hưởng vùng da tương ứng. Da đầu và tai đỏ, khô và
đau.
Xạ trị đôi khi gây sưng não và nhức đầu. Dùng thuốc giảm đau sẽ
đỡ hơn.
Xạ trị có thể tiêu diệt cả mô não khoẻ mạnh. Tác dụng phụ này
gọi là hoại tử sau xạ trị. Hoại tử não gây đau, co giật và có
thể tử vong.
Ở trẻ em xạ trị có thể ảnh hưởng đến tuyến yên và các mô não
bình thường khác. Điều này sẽ gây những khó khăn trong học vấn
và sự phát triển của cơ thể sau này. Ngoài ra, xạ trị khi bé có
thể tăng nguy cơ u thứ phát về sau. Các nhà nghiên cứu đang tìm
hiểu xem hoá trị có thể thay thế cho xạ trị ở trẻ em hay không
Tác dụng phụ sẽ nặng hơn khi hoá trị và xạ trị được sử dụng đồng
thời.
Hoá trị
Tác dụng phụ của hoá trị tuỳ thuộc vào loại thuốc được dùng.
Những tác dụng phụ thường gặp nhất bao gồm sốt và lạnh run, chán
ăn và cảm giác yếu mệt. Dùng thuốc có thể giảm bớt các triệu
chứng .
Bịnh nhân được cấy viên nhện (wafer) có chứa thuốc sẽ được theo
dõi các dấu hiệu nhiễm trùng. Điều trị kháng sinh nếu có nhiễm
trùng.
Điều Trị Hỗ Trợ
Dù ở bất cứ giai đoạn nào của bịnh, bịnh nhân u não cũng sẽ được
chăm sóc hỗ trợ để phòng tránh các vấn đề nảy sinh và cải thiện
chất lượng sống trong thời gian điều trị .
Nếu đau do u não, có thể dùng giảm đau.
Có những loại chăm sóc hỗ trợ cho bịnh nhân u não sau đây:
·
Steroids—Đa số bịnh nhân u não cần phải dùng corticoids để giảm
bớt triệu chứng đau do sưng phù não
·
Thuốc chống động kinh—U não có thể gây co giật. Bịnh nhân có thể
dùng thuốc chống động kinh để đề phòng co giật.
·
Shunt—Nếu dịch tích tụ trong não, bác sĩ có thể đặt một shunt để
dẫn lưu.
Đa số bịnh nhân u não thường dùng các chăm sóc hỗ trợ đồng thời
với điều trị khối u. Một số quyết định không điều trị khối u mà
chỉ dùng thuốc hỗ trợ để giảm đau.
E- Phục hồi chức năng sau điều trị u não?
Đội chăm sóc sẽ cố gắng hỗ trợ bịnh nhân để phục hồi lại các
hoạt động thường ngày càng sớm càng tốt:
·
Vật lý trị liệu—U
não và điều trị u não có thể gây liệt. Có thể bị suy yếu và rối
loạn thăng bằng. Chuyên gia vật lý trị liệu sẽ giúp bịnh nhân
lấy lại sức lực và sự cân bằng.
·
Chuyên gia điều trị giọng nói (Speech
therapists) giúp những bịnh nhân có khó khăn về giọng nói, cách
diễn đạt và rối loạn nuốt.
·
Các chuyên gia về điều trị bằng công việc (Occupational
therapists)—Họ
sẽ giúp bịnh nhân phục hồi lại các hoạt động thường ngày như ăn,
dùng nhà vệ sinh, tắm rửa và thay quần áo.
Các chăm sóc hỗ trợ đặc biệt cần thiết ở trẻ em u não nhằm phục
hồi và duy trì những hoạt động của não
F- Điều gì xảy ra sau điều trị u não?
Tái khám đều đặn rất quan trọng sau điều trị u não. Bác sĩ sẽ
chú ý khám kỹ lâm sàng và thần kinh để kiểm tra xem u có tái
phát. Tuỳ theo tình huống mà bác sĩ có thể cho chụp lại MRI hoặc
CT scan để kiểm tra. Nếu bịnh nhân được đặt shunt, bác sĩ sẽ
kiểm tra tình trạng hoạt động của nó. Bác sĩ sẽ giải thích cho
bịnh nhân về kế hoạch theo dõi bịnh: Thời gian tái khám và các
xét nghiệm cần làm để kiểm tra.
Bs Đồng Ngọc Khanh, BV Đa Khoa Hoàn Mỹ SàiGòn
Xem thêm:
NHỮNG
ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ U NÃO
Trở về Trang Chính
|