Phát hiện THƠ CỔ BẮC SƠN

7.000 NĂM ĐẾN 1.000 Tr.CN


 

Ts. Bs. Thiên Thanh Nguyễn Thị Thanh

E-Mail: bsnguyenthithanh@khoahoc.net

19 tháng 06 năm 2008

        
Nhà khảo cổ hoặc bất kỳ ai khi tìm được cổ ngoạn hiếm hoi là họ đã bắt được một tài sản quí báu. Những vật cổ bằng đá, bằng đồng, bằng xương hoặc đồ gốm còn tìm thấy nhiều trong lòng đất, nhưng tranh cổ và văn cổ thì thật hiếm.
Đất nước Việt-nam bị chiến tranh liên tục, lại bị thiên tai bão lụt, khí hậu ẩm ướt nên những tranh cổ, văn cổ... đa số nếu không bị cướp bóc, đốt phá, tiêu hủy nếu không thì cũng bị hư hỏng với thời gian. Những bức tranh xưa nhất còn lưu lại đã tìm thấy, vẽ trên da, trên đá hoặc trên gốm. Những lời văn xưa nhất còn lưu lại đã được người đời truyền tụng nay đặt cho cái tên là văn chương bình dân gồm ca dao, đồng dao, phong dao, ngạn ngữ, vè v.v... Nôm na dân Việt cổ gọi thơ là vè, nhất là những bài thơ ngắn dùng làm lời hát nói. Đôi khi người ta có vẻ khinh bạc đối với chữ vè, nhưng vè chính là tên đặt cho thơ Việt cổ. Thơ hoặc vè chỉ là một thứ, có giá trị hay không, không do tiếng gọi.
Khoảng 40 năm về trước, nhà văn An Phong Nguyễn Văn Diễn sưu tầm được một bài vè cổ tại một Bản Mường gốc Quảng Trị định cư tại Banmêthuột Darlac. Bài thơ cổ rất hay, từ thời tiền sử. Ông đã tu chỉnh lại cho dễ hiểu, bình giải bài thơ. Đôi khi ông trình bày trong các dịp đám cưới và rất được khán thính giả tán thưởng. Theo ý kiến của ông An Phong Nguyễn Văn Diễn: “Toàn bài thơ chỉ dùng chữ Việt, có một số chữ cổ khó hiểu, không có trong ngôn ngữ Hán Việt hiện nay, hình như bài thơ xuất hiện trước khi người Tàu độ hộ...”
Bài thơ cổ có dạng là một bài thơ mới thật tuyệt diệu và quí biết bao! Bài thơ nầy có một giá trị khảo cứu thi văn cổ và văn hóa dân tộc vô cùng lớn lao. Theo sự nghiên cứu của tôi có lẽ bài thơ cổ nầy đã có từ thời văn minh rất xưa trước cả thời trống đồng. Trên trống đồng Ngọc Lũ (2.000/TCN) khắc những hình nguời nhảy múa, có nghĩa là đã có múa, có ca. Có ca tất phải có thơ lời. Văn có vận, có vần, có nhịp, ý có gợi cảm, gợi tình, gợi phấn chấn mới thúc dục mọi người dấn thân vào nghệ thuật ca múa.
Trước khi có trống đồng thời đã có trống gổ mặt da. Trước khi có trống gổ thì có sanh, phách, gỏ mõ hoặc vỗ tay, dậm chân, giã chày làm nhịp. Lời ca, thơ lời, văn nói có âm vận nhịp nhàng, hay, đẹp, đặc sắc mới kích động được ca múa. Lời thơ thường được làm ra từ lâu trước, nếu không thì ít nhất phải đồng thời với ca múa. Ca múa là thức ăn tinh thần cần thiết cho sự sống của con người như rau quả, thịt cá từ nguyên thủy đến nay. Đó là những hoạt động cần thiết cho sự sống bất cứ thời nào, nên không có gì phải ngạc nhiên trước những tác phẩm tuyệt vời của người xưa. Khi có sự hiện diện của con người biết nói trên trái đất thì có ca múa, mà có ca múa tất có văn-thơ-nói. Việc sưu tầm lại được thơ văn tiền sử khi con người chưa có chữ viết hay có chữ viết mà đã bị thất truyền mới là điều khó khăn và rất khó minh chứng.
Khi nghiên cứu rằng, thời văn-hóa Bắc-sơn (Hậu Hòa Bình), người Việt cổ đã có truyền thống mai táng và cưới hỏi; tất nhiên văn-thơ-nói và ca múa phải có từ trước. Thời văn hoá Bắc Sơn là thời huy hoàng về nông nghiệp kéo dài 6 thiên niên kỷ, từ 7.000 năm đến 1.000 năm tr.CN. Vì thế tìm một niên đại trong thời đại dài dằng dặc nầy cho bài thơ cổ, tưởng không đến nỗi nhầm lẫn nhiều.
Người ta có thể đặt vấn đề, bài thơ cổ do người Mường, sống cách ly với người Việt ở đồng bằng, đã làm ra sau nầy. Theo nhà giáo kiêm nhà văn An Phong Nguyễn văn Diễn, sau khi nghiên cứu cuộc sống hiện tại của dân Mường, đã quan niệm:
“Văn-hóa các tộc họ Bách Việt thiểu số như Mường, Mán, Dao, Lô lô, Thái... còn sót lại, đã tàn phai sau cuộc chiến thảm bại của Liên minh Xích Quỷ tại Trác Lộc (2.704 TCN) và các cuộc chiến tranh lấn chiếm đất đai của Hoa tộc trong suốt nhiều ngàn năm sau đó. Họ không còn khả năng tư tưỡng sáng tạo. Họ chỉ còn nhớ những gì tổ tiên lưu lại rồi truyền cho con cháu mà thôi. Vì đó là những khúc ca múa mang nặng một minh triết vi diệu, có vần, có nhạc dễ nhớ, dễ truyền khẩu. Chính họ không giải thích được tư tưởng của tiền nhân trong bài thơ cổ. Cũng như trường hợp dân Ai-Cập trước đây đã không đọc được chữ trong Kim-tự-tháp mà phải nhờ đến người Pháp thời Napoléon nghiên cứu rồi dạy lại cho họ”. Phải chăng đó cũng là trường hợp của chúng ta ngày nay đối với khoa Tử vi Kinh Dịch?
Giai đoạn văn-hóa Bắc Sơn là thời gian đất nước ta đã phát triển mạnh ngành nông nghiệp lúa nước, ngành nuôi gia súc, và đặc biệt là đã có tục lệ lấy chồng theo mẫu hệ, nên việc chế ra thơ vè để ca múa tưởng cũng hữu lý. Có thể coi bài thơ cổ này có niên đại trong khoảng 6.000 đến 1.000 năm Tr.CN, là thời gian trên đất cổ Việt nảy sinh nhiều nền văn hóa hậu Hoà-bình huy hoàng như các văn-hóa anh em Bắc Sơn và Sa Huỳnh.
Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng Tàu dạy dân ta tục lệ cưới hỏi là quá đáng. Bách Việt hay Việt cổ đã có lễ đám cưới trước Tàu. Dưới thời bị Bắc phương đô hộ, chính quan Tàu đã buộc dân ta phải làm đám cưới theo truyền thống Tàu thì sử Tàu gọi đó là giáo dục man di theo lễ nghĩa. Vã lại lễ nghĩa Tàu do Đức Khổng Tử rút ở lễ nghĩa Bách Việt mà chế biến ra.
Chắc chắn bài thơ cổ này chỉ là một trong những bài đã được đặt ra để làm lời cho ca vũ trong những đình đám tế lễ. Bài thơ cổ nầy được ông An Phong Nguyễn Văn Diễn đặt tên là “Thương Em Từ Thuở Tiên Rồng”. Bài gồm 15 câu, tác giả bài vè phải có nhiều kinh nghiệm sống, lao động nông súc cũng như tâm lý giáo dục nên không thể là người trẻ. Lại trong chế độ mẫu hệ, nên bài vè nầy cũng có thể do một nữ nhân làm ra.
Tác giả đã dùng lời chàng trai, dùng những hình ảnh thường nhật trong đời sống để diễn đạt cách tán tỉnh tình yêu và hôn nhân trước một nàng con gái mà chàng yêu mến. Theo An-Phong Nguyễn văn Diễn, chủ nhân của bài thơ cổ sưu tầm, nương theo ý chính trong thơ, có thể chia bài thơ cổ làm ba phần, mỗi phần 5 câu.
Bài thơ cổ có một nghệ thuật bố cục về hình thức thật đặc sắc. Cứ một đoạn 5 câu thì được chia làm 2 phần: phần đầu gồm 2 hoặc 3 câu dùng để tả kinh nghiệm cuộc sống để rồi gián tiếp đem áp dụng vào tình yêu trai gái trong 2 hoặc 3 câu tiếp. Cách dùng lời, dùng ví dụ tuy đơn giản mà tư tưởng rất thâm trầm. Những ví dụ hoàn toàn dựa trên cuộc sống và tình trạng thiên nhiên rất dễ hiểu cho moị người, cổ cũng như ngày nay. Cứ như vậy những hình ảnh quan trọng được nâng lên dần, dẫn đến một kết thúc trọn vẹn cho tình yêu lứa đôi.
Những lời ví von rất duyên dáng, trung thực, thuyết phục. Tác giả đã dùng những hình ảnh vô cùng sống động và đánh động lòng người. Những hình ảnh đó đi từ cái tầm thường nhỏ bé nhất, rồi lớn dần với tư tưởng thơ. Với những thay đổi nhỏ nhặt lời thơ, tác giả lập đi lập lại nhiều lần ý thơ, một cách say sưa, ngộ nghỉnh làm tăng ý nghĩa và sức mạnh thuyết phục.
Nội dung bài thơ còn là một nghệ thuật tâm lý thuyết phục rất cao. Tư tưởng diễn đạt tiến từ tình trạng đời sống cô độc của trai, gái thiếu thốn lúc ban đầu, để tiến đến chỗ đưa ra một chân lý cho một đời sống an vui khi có đôi có bạn. Rồi từ đó bước ngay vào một thực tế hôn nhân một cách rất chân thực và thanh tao; ồn ào và táo bạo, tuy có vẻ hơi tục nhưng rất ngây thơ, chính xác, sáng sủa và trong vui với hình ảnh “cuốn lại” ngộ nghĩnh.
Rõ ràng, toàn bài thơ cổ chứng minh chế độ một vợ một chồng “Gái thiếu”, “Trai thiếu”, “O một mình” “Tui một mình”, “O với Tui”, “Tui với O”, “Hai đứa miềng”. Tư tưởng bình đẳng nổi bật giữa tình yêu trai gái trong hôn nhân và cuộc sống. Đây phải chăng là một triết lý xuất phàm mà con người cổ đã nhờ ảnh hưởng Thiên, Địa, Nhân mặc khải. Tình yêu của người Việt cổ được tả chân nhưng lại thấm đầy đạo lý. Tình yêu dẫn đến hôn nhân hoàn toàn không nhuốm dục vọng.
Vào thời văn hóa Bắc-sơn, tài nghệ về nông nghiệp và nuôi gia súc khác nào một người có bằng kỷ sư ngày nay, nên chàng trai đã bắt đầu bài ca bằng lời khoe khoang tài cán nông súc của mình qua những hình ảnh lao động hàng ngày. Đem cái tài giỏi lồng vào lời than để mở màn tán tỉnh. Đồng thời cũng để giải thích, rằng, tất cả đều phải cần sự giúp sức, phải cần sự ràng buộc, phải bỏ công lao, phải có tình yêu mới khấm khá được. Tâm lý ngoại giao để chinh phục thật là tinh tế.

1- Khoai to bồn thì tốt cổ
(bồn = vồn = luống; cổ = củ).
2- Đậu ba lá thì bừa un
(bừa = vừa; un = vun = đắp).
3- Gà mất mạ thì lâu khun
(mạ = mẹ; khun = khôn).
4- Gái thiếu trai thì thậm khổ!
5- Trai thiếu gái thì thậm khổ!


Tài năng và kinh nghiệm đã mở ra một chân lý không thể có con đường khác. Trong bước đầu tán tỉnh, chàng đặt vấn đề với nàng: Khoai muốn to củ phải có nhiều đất đai, đánh luống cao lên. Đậu muốn nhiều trái phải vun thêm đất vào gốc đúng lúc. Gà con muốn chóng khôn, mau lớn phải có sự dẫn dắt, ấp ủ và tình yêu của mẹ nó. Vậy thì nàng và chàng cũng vậy thôi. Muốn sống ấm no, vui vẻ, hạnh phúc thì phải có sự hổ trợ, sự săn sóc và phải có tình yêu, sự ưu đãi của nhau, cho nhau, vì nhau như cây khoai, cây đậu, chú gà con kia. Lời mở đầu tự nhiên và rất duyên dáng.
Trong câu 4 và 5, tác giả đã dụng ý dùng chữ “thậm” để diễn tả trạng thái “quá nhiều”. Ta thử dùng chữ “thiệt” hoặc chữ “rất” thay cho chữ “thậm” thì rõ ràng ý không đạt. Chữ thậm muốn nói lên một nỗi khổ sâu xa, phức tạp và bí ẩn khó lòng giải trừ được. Chữ “thậm khổ” như bày ra trước mắt người đọc, cảnh người con gái không kham nổi lao nhọc vất vả trước những khó khăn, vất vả của cuộc đời... Với con trai thì cả một sự cô độc mênh mông, buồn chán... Chữ “thậm” còn nói lên những lời than thở khôn nguôi... than thở để được thông cảm, để cầu lụy... Ngày nay chữ “thậm” ít khi được dùng đến trừ trong các chữ kép như “thậm chí”, “thậm tệ”...
Sau bước đầu dè dặt, xem ra tình hình cho phép, chàng trai đi xa hơn trong thuyết phục với những hình ảnh cao dần và đánh động tâm lý hơn. Chuyển từ tài năng kinh nghiệm, tâm sự qua lý luận triết lý; từ than vãn sang khuyên răn. Tuy nhiên những ví von vẫn luôn dựa trên cuộc sống và thiên nhiên. Đặc biệt, chàng trai luôn tỏ ra người thành thạo giỏi giang. Chàng nhắm vào sự tương trợ để sinh tồn và phát triển của mọi tạo vật. Thật là tinh tế trong tâm lý con người.
Năm câu ở đoạn 2 cho ta thấy không còn là lời giải thích, than thở mà là huấn từ, là chân lý. Vì có chân lý nên hành động là giáo dục. Tính cách giáo dục là của đấng bề trên chỉ dạy cho nàng lẫn chàng. Rõ ràng đây là một triết lý nhân sinh vô cùng quan trọng của người Việt xưa nay.
Tại đây một điểm đặc trưng trong tâm tư ngươì Việt cổ, cứ hễ mở miệng ra là Trời cùng Đất trước đã rồi mới đến Người. Tư tưởng nầy nhiều ngàn năm sau lại phát triển mạnh trong Nho học. Rõ ràng trong việc giáo dục, người Việt cổ đã lấy việc tương quan giữa Trời, Đất và Người làm nền tảng. Trời sinh, Đất dưỡng và Người hưởng. Vậy Người không thể phân ly với Trời Đất. Nhờ Đất làm trung gian nên người kết hợp với Trời. Dân Việt mỗi lần gặp đau thương, bất mãn thì kêu “Trời Đất ơi !”.

6- Trời sinh trâu thì sinh cỏ
7- Đất sinh giếng thì sinh mo

(mo cau làm gàu múc nước)
8- Người sinh oa thì sinh tui
(oa = o = cô, bà; chữ cổ: Nữ oa, Triệu oa:
người Tàu đọc trại ra Triệu Ẩu để diểu cợt)
9- Oa một miềng thì khôn đặng
(miềng = mình)
10- Tui một miềng thì khôn đặng

Tác giả bài thơ cổ nhấn mạnh và lặp lại hai lần 2 chữ “khôn đặng”: ý nghĩa huấn từ, giáo dục, đạo đức sâu xa và quyết liệt. Có lẽ ngày nay các nhà đạo đức chân chính cũng khó có một thái độ giáo dục cương quyết như thế. Thật tình là “khôn đặng”, vì gái thiếu trai thì làm sao có con, làm sao bảo tồn sự sống với bao nặng nhọc hiểm nguy bao quanh... Trai thiếu gái thì làm ra của nhưng ai nấu cho ăn, lại sinh ra bao điều phiền toái rắc rối, gàn dở... Chính đó là triết lý Âm Dương cũng như quan niệm về Trời Đất và Người rất phù hợp với đạo đức Việt cổ mà đức Khổng Tử đã chép lại, triết gia Lương Kim Định và Học-phái An Vi của ông đã ra sức nghiên cứu, học hỏi và phát triển.
Bước tán tỉnh tiến đến kết quả cuối cùng với 5 câu cuối, tập trung vào sự cần thiết kết hợp, giao duyên. Đây chính là nền tảng của hôn nhân giúp con người tồn tại, lớn lên trong hạnh phúc. Tác giả vẫn luôn dùng những lời ví von. Nhưng lần nầy, trong đoạn cuối, những hình ảnh lớn lao nhất trong thiên nhiên được đưa ra. Hiện tượng đưa ra vô cùng táo bạo mà chính xác. Không khí không dồn lại làm sao tạo ra gió, mây không được gió thổi từ biển vào làm sao có mưa. Gió, mây và mưa là những hiện tượng tất yếu rất cần thiết trong nông nghiệp. Lấy hình ảnh gió mây của vũ trụ để liên hệ đến hành động mây mưa của nam nữ quả là một mời gọi cực kỳ thuyết phục và là điều kiện tất yếu trong hôn nhân hạnh phúc.

11- Gió ngoài biển hắn dồn bô (bô=vô)
12- Mây trên trời hắn cuốn lại
13- Oa với tui cùng cuốn lại
14- Tui với oa cùng cuốn lại
15- Hai đứa miềng cùng cuốn lại.


Bài thơ kết thúc không lời kết. Loại kết thúc nầy khơi dậy nhiều ý tưỡng thầm lặng trong tâm tư người nghe, người đọc. Đúng thế, khi con người diễn đạt đến cái tột đỉnh thì lời kết nằm trong cái tỉnh. Cái kết thúc bất ngờ đã tạo cho tư tưởng bài ca tiếp tục sống động, vang vọng, mênh mang và phấn khởi trong tâm tư người nghe. Chính cái ngưng bất ngờ bảo đảm cho sự chân thật của bài văn. Văn chương ngày nay tưởng cũng khó gặp được cái ngưng kết chân thật tuyệt vời đến thế!
Kinh qua vài điều trên, ai dám bảo con người Việt cổ kém văn hóa hơn người ngày nay? Ai dám bảo người Việt cổ không có một nền văn minh tinh thần sống động?
Hiểu được kiến thức, tư tưởng, triết lý, tâm lý, tình yêu của người Việt cổ đại nhiều thiên niên kỷ về trước qua thơ phú của họ phải chăng là một điều kỳ thú lớn lao và cũng vô cùng độc đáo trên thế giới. Hiểu như thế, phải chăng là chúng ta đã đào xới được một nền văn minh cổ đại một cách quá toàn hảo!? Hiểu như thế là phải chăng là chúng ta đã có phước quay về gặp lại tổ tiên hiền triết của chúng ta; chúng ta hãnh diện về họ; và phải sẵn sàng sống xứng đáng với tiền nhân. Từ nơi đây chúng ta cũng sẽ còn phanh phui được hàng trăm điều kỳ lạ.
Những lời dùng trong bài thơ cổ âm vang nặng giọng điệu miền quê Trung Việt đặc biệt các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Đề dễ hiểu bài thơ cổ, nhà văn An-Phong Nguyễn văn Diễn đã viết lại theo “tiếng Việt” miền Trung:

Khoai to vồn thì tốt cổ
Đậu ba lá thì vừa un
Gà mất mẹ thì lâu khun
Gái thiếu trai thì thậm khổ!
Trai thiếu gái thì thậm khổ!

Trời sinh trâu thì sinh cỏ
Đất sinh giếng thì sinh mo
Người sinh O thì sinh tui
O một mình thì khôn đặng
Tui một mình thì khôn đặng.

Gió ngoài biển hắn dồn vô
Mây trên trời hắn cuốn lại
O với tui cùng cuốn lại
Tui với O cùng cuốn lại
Hai đứa miềng cùng cuốn lại...


Bài thơ cổ tiêu biểu nầy chứng minh cho chúng ta nhiều điều rất lý thú. Nó đã nói lên rằng thơ văn ca múa như có sẵn trong dòng máu dân Việt tộc từ thời tiền sử Việt Nam. Nó đã chứng minh rằng từ thời tiền sử dân Bách Việt đã sống dựa trên một nền tảng triết lý sâu xa trước vạn vật, trời đất. Triết lý đó chứng minh rằng muốn tồn tại và phát triển phải có sự kết hợp để tương sinh. Quan niệm hôn nhân một vợ một chồng rất rõ ràng trong tư tưỡng. Quan niệm nầy rất được tôn trọng với lễ lược đình đám ca múa.
Như vậy bài thơ cổ đã chứng minh một giá trị nhân bản đích thật của mỗi một con người bất luận nam hay nữ, bất luận yếu hay mạnh. Chỗ đứng của sức mạnh hà hiếp bốc lột không lãng vãng ở đây được. Cuối cùng nó đã chứng minh một giá trị văn hóa trong việc xây dựng gia đình lứa đôi, một vợ một chồng “O với Tui”, “Tui với O”, “Hai đứa miềng” thôi.
Lời thơ xuất khẩu dễ dàng, hay, đẹp, đầy đủ, ngắn gọn, phải chăng chứng minh làm thơ là việc thông thường của người Việt cổ? Thơ có vận, có vần, có nhịp, tức dùng để ca múa. Điều nầy chứng minh rõ rệt tục lệ ca múa ăn mừng ngày trai gái lấy nhau, đó chẳng phải là nguồn gốc của hôn nhân sao? Như thế bài thơ cổ đã chứng minh quan niệm hôn nhân cao quí của người Việt cổ. Phong tục đám cưới đã có từ thời tiền sử Việt Nam, Hậu Hoà Bình chứ không chờ người Tàu đến giáo hóa. Có chăng họ bắt tổ tiên ta phải theo tập tục của họ trong chủ trương đồng hóa.
Điều thú vị đặc biệt là qua bài thơ cổ nầy chúng tôi nghĩ rằng trong thời gian Tiền sử, Sơ sử và Lịch sử tiên khởi, đất nước Bách Việt nói chung và nước Việt phương Nam nói riêng đã có một nền thi văn giàu thịnh. Ca dao, phong dao, tục ngữ, ngạn ngữ, vè... chỉ là một phần nhỏ còn được truyền khẩu lại nhờ vào tính chất thực dụng trong đời sống hằng ngày và trong giáo dục đạo đức, luân lý gia đình và làng mạc. Phần lớn văn chương cổ đã bị thất truyền. Như vậy những tên đặt như ca dao, phong dao, đồng dao, tục ngữ ... để chỉ phần lưu lại của văn chương cổ chưa thể chính xác. Thật là không thể chính xác được, vì người ta lầm rằng ca dao, tục ngữ... là hoàn chỉnh và là văn chương bình dân mới.
Như vậy văn minh thi-văn-nói, thi-văn-ca có khác gì thi-văn-viết. Chỉ khổ vì bị người Tàu đô hộ quá lâu nên sự lưu truyền hạn chế làm hậu thế khó lòng hiểu biết được. Thi-văn và giáo dục nước ta chắc chắn đã thịnh hành từ nhiều ngàn năm về trước đã bị thất truyền và bị Tàu cướp mất. Tàu đô hộ nước ta quá sớm và quá lâu năm, cướp đất đai và đồng hóa dân Bách Việt quá nhiều. Tàu đã lợi dụng sức mạnh chữ viết, nhanh tay ghi lại những gì giá trị nhất của Bách Việt để làm tài sản của họ. Khổng-Tử quả là người chân chính, ngài đã nói rằng “Thuật nhi bất tác” (chỉ thuật lại đạo cổ chứ ông không sáng tác. Rõ ràng những điều có sẵn đó là văn chương, triết-học, giáo dục, dịch lý, luân lý, đạo lý... đã có sẵn trong đông đão người dân, trong vùng đất rộng lớn mà họ xâm chiếm ở phương Nam..
Triết gia Lương Kim Định, khi đọc bài thơ cổ nói trên ông nói ngay với chủ nhân bài thơ: “Đây là Kinh Việt” như ông đã gọi những chuyện cổ Tiên Rồng, Mai An Tiêm, Tiên Dung Chữ Đồng Tử, Thánh Gióng... Năm 1958, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch khi cho nghiên cứu lại văn minh Trung Hoa, ông phải khựng lại khi đi lên đến đức Khổng Tử. Vì ông không thể tìm ra nguồn gốc triết học Trung Hoa sau Khổng Tử. Họ chỉ biết rằng hầu hết nền văn chương, triết học, bói toán trên xuất phát từ vùng Động Đình Hồ và Lưỡng Quảng. Buồn thay cho ông, những vùng này lại là đất cũ của người Bách Việt. Mà chạm đến Bách Việt thì Tàu rất dị ứng. Họ sợ mất tất cả những gì mà người ta gọi là văn minh Trung Hoa.
Thế nên ca dao, đồng dao, phong dao, tục ngữ, ngạn ngữ, vè v.v... không thể gọi gọn là văn chương bình dân. Bởi vì có nền văn học nào mà chẳng do dân gian kiến tạo, có cá nhân hay vua chúa nào làm nên được văn học. Có thể người ta đã hiểu lầm phần lưu lại của văn chương cổ mà đặt tên.
Chắc chắn ca dao, phong dao, tục ngữ v.v... chỉ là một phần hữu dụng trong giáo dục, được dân gian chọn lọc, cắt xén từ thi văn cổ.
Sở dĩ dân tộc ta yêu chuộng ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ... vì phần lớn chúng chứa đựng một nền giáo dục nhân bản có giá trị mãi với thời gian. Nền giáo dục nầy đã được nhắc lại trong Huấn Địch Thập Điều Thánh Dụ của vua Minh Mạng do Gs. Lê Hữu Mục biên soạn: “Thiện chính, thiện giáo, tiếp vu dân tâm, Thường đạo chỉ trinh, thất hưu tiền cổ” (Chính sách hay, giáo dục tốt, thấm sâu vào nhân tâm, sự vững vàng của đạo thường giống như thời tiền cổ).
Chúng ta thử nghĩ nếu Truyện Kiều bị thất truyền, những thế hệ mai sau thế nào cũng sẽ rút ra hàng trăm ca dao, ngạn ngữ từ Truyện Kiều.
Vậy ca dao, tục ngữ... có thể là biểu tượng, là đại diện của một nền văn chương cổ Việt đã bị thất truyền. Dù sao, đã có một phần quan trọng văn chương cổ còn được truyền tụng và đã được người Việt ghi chép lại thành sách trong thế kỷ 20. Hy vọng trong tương lai các nhà khảo cổ ngữ học, các nhà sử học, văn học có thể sẽ sưu tầm những bài thơ văn cổ hầu cùng với ca dao ngạn ngữ, để có thể làm sống lại tối đa nền thi văn cổ truyền bất hủ quý báu của dân tộc Việt Nam.


Ts. Bs. Thiên Thanh Nguyễn Thị Thanh

 

Trở về Trang Chính