|
Nhà khảo cổ hoặc bất kỳ ai khi tìm được cổ ngoạn hiếm hoi là họ
đã bắt được một tài sản quí báu. Những vật cổ bằng đá, bằng
đồng, bằng xương hoặc đồ gốm còn tìm thấy nhiều trong lòng đất,
nhưng tranh cổ và văn cổ thì thật hiếm.
Đất nước Việt-nam bị chiến tranh liên tục, lại bị thiên tai bão
lụt, khí hậu ẩm ướt nên những tranh cổ, văn cổ... đa số nếu
không bị cướp bóc, đốt phá, tiêu hủy nếu không thì cũng bị hư
hỏng với thời gian. Những bức tranh xưa nhất còn lưu lại đã tìm
thấy, vẽ trên da, trên đá hoặc trên gốm. Những lời văn xưa nhất
còn lưu lại đã được người đời truyền tụng nay đặt cho cái tên là
văn chương bình dân gồm ca dao, đồng dao, phong dao, ngạn ngữ,
vè v.v... Nôm na dân Việt cổ gọi thơ là vè, nhất là những bài
thơ ngắn dùng làm lời hát nói. Đôi khi người ta có vẻ khinh bạc
đối với chữ vè, nhưng vè chính là tên đặt cho thơ Việt cổ. Thơ
hoặc vè chỉ là một thứ, có giá trị hay không, không do tiếng
gọi.
Khoảng 40 năm về trước, nhà văn An Phong Nguyễn Văn Diễn sưu tầm
được một bài vè cổ tại một Bản Mường gốc Quảng Trị định cư tại
Banmêthuột Darlac. Bài thơ cổ rất hay, từ thời tiền sử. Ông đã
tu chỉnh lại cho dễ hiểu, bình giải bài thơ. Đôi khi ông trình
bày trong các dịp đám cưới và rất được khán thính giả tán
thưởng. Theo ý kiến của ông An Phong Nguyễn Văn Diễn: “Toàn bài
thơ chỉ dùng chữ Việt, có một số chữ cổ khó hiểu, không có trong
ngôn ngữ Hán Việt hiện nay, hình như bài thơ xuất hiện trước khi
người Tàu độ hộ...”
Bài thơ cổ có dạng là một bài thơ mới thật tuyệt diệu và quí
biết bao! Bài thơ nầy có một giá trị khảo cứu thi văn cổ và văn
hóa dân tộc vô cùng lớn lao. Theo sự nghiên cứu của tôi có lẽ
bài thơ cổ nầy đã có từ thời văn minh rất xưa trước cả thời
trống đồng. Trên trống đồng Ngọc Lũ (2.000/TCN) khắc những hình
nguời nhảy múa, có nghĩa là đã có múa, có ca. Có ca tất phải có
thơ lời. Văn có vận, có vần, có nhịp, ý có gợi cảm, gợi tình,
gợi phấn chấn mới thúc dục mọi người dấn thân vào nghệ thuật ca
múa.
Trước khi có trống đồng thời đã có trống gổ mặt da. Trước khi có
trống gổ thì có sanh, phách, gỏ mõ hoặc vỗ tay, dậm chân, giã
chày làm nhịp. Lời ca, thơ lời, văn nói có âm vận nhịp nhàng,
hay, đẹp, đặc sắc mới kích động được ca múa. Lời thơ thường được
làm ra từ lâu trước, nếu không thì ít nhất phải đồng thời với ca
múa. Ca múa là thức ăn tinh thần cần thiết cho sự sống của con
người như rau quả, thịt cá từ nguyên thủy đến nay. Đó là những
hoạt động cần thiết cho sự sống bất cứ thời nào, nên không có gì
phải ngạc nhiên trước những tác phẩm tuyệt vời của người xưa.
Khi có sự hiện diện của con người biết nói trên trái đất thì có
ca múa, mà có ca múa tất có văn-thơ-nói. Việc sưu tầm lại được
thơ văn tiền sử khi con người chưa có chữ viết hay có chữ viết
mà đã bị thất truyền mới là điều khó khăn và rất khó minh chứng.
Khi nghiên cứu rằng, thời văn-hóa Bắc-sơn (Hậu Hòa Bình), người
Việt cổ đã có truyền thống mai táng và cưới hỏi; tất nhiên
văn-thơ-nói và ca múa phải có từ trước. Thời văn hoá Bắc Sơn là
thời huy hoàng về nông nghiệp kéo dài 6 thiên niên kỷ, từ 7.000
năm đến 1.000 năm tr.CN. Vì thế tìm một niên đại trong thời đại
dài dằng dặc nầy cho bài thơ cổ, tưởng không đến nỗi nhầm lẫn
nhiều.
Người ta có thể đặt vấn đề, bài thơ cổ do người Mường, sống cách
ly với người Việt ở đồng bằng, đã làm ra sau nầy. Theo nhà giáo
kiêm nhà văn An Phong Nguyễn văn Diễn, sau khi nghiên cứu cuộc
sống hiện tại của dân Mường, đã quan niệm:
“Văn-hóa các tộc họ Bách Việt thiểu số như Mường, Mán, Dao, Lô
lô, Thái... còn sót lại, đã tàn phai sau cuộc chiến thảm bại của
Liên minh Xích Quỷ tại Trác Lộc (2.704 TCN) và các cuộc chiến
tranh lấn chiếm đất đai của Hoa tộc trong suốt nhiều ngàn năm
sau đó. Họ không còn khả năng tư tưỡng sáng tạo. Họ chỉ còn nhớ
những gì tổ tiên lưu lại rồi truyền cho con cháu mà thôi. Vì đó
là những khúc ca múa mang nặng một minh triết vi diệu, có vần,
có nhạc dễ nhớ, dễ truyền khẩu. Chính họ không giải thích được
tư tưởng của tiền nhân trong bài thơ cổ. Cũng như trường hợp dân
Ai-Cập trước đây đã không đọc được chữ trong Kim-tự-tháp mà phải
nhờ đến người Pháp thời Napoléon nghiên cứu rồi dạy lại cho họ”.
Phải chăng đó cũng là trường hợp của chúng ta ngày nay đối với
khoa Tử vi Kinh Dịch?
Giai đoạn văn-hóa Bắc Sơn là thời gian đất nước ta đã phát triển
mạnh ngành nông nghiệp lúa nước, ngành nuôi gia súc, và đặc biệt
là đã có tục lệ lấy chồng theo mẫu hệ, nên việc chế ra thơ vè để
ca múa tưởng cũng hữu lý. Có thể coi bài thơ cổ này có niên đại
trong khoảng 6.000 đến 1.000 năm Tr.CN, là thời gian trên đất cổ
Việt nảy sinh nhiều nền văn hóa hậu Hoà-bình huy hoàng như các
văn-hóa anh em Bắc Sơn và Sa Huỳnh.
Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng Tàu dạy dân ta tục lệ cưới hỏi là
quá đáng. Bách Việt hay Việt cổ đã có lễ đám cưới trước Tàu.
Dưới thời bị Bắc phương đô hộ, chính quan Tàu đã buộc dân ta
phải làm đám cưới theo truyền thống Tàu thì sử Tàu gọi đó là
giáo dục man di theo lễ nghĩa. Vã lại lễ nghĩa Tàu do Đức Khổng
Tử rút ở lễ nghĩa Bách Việt mà chế biến ra.
Chắc chắn bài thơ cổ này chỉ là một trong những bài đã được đặt
ra để làm lời cho ca vũ trong những đình đám tế lễ. Bài thơ cổ
nầy được ông An Phong Nguyễn Văn Diễn đặt tên là “Thương Em Từ
Thuở Tiên Rồng”. Bài gồm 15 câu, tác giả bài vè phải có nhiều
kinh nghiệm sống, lao động nông súc cũng như tâm lý giáo dục nên
không thể là người trẻ. Lại trong chế độ mẫu hệ, nên bài vè nầy
cũng có thể do một nữ nhân làm ra.
Tác giả đã dùng lời chàng trai, dùng những hình ảnh thường nhật
trong đời sống để diễn đạt cách tán tỉnh tình yêu và hôn nhân
trước một nàng con gái mà chàng yêu mến. Theo An-Phong Nguyễn
văn Diễn, chủ nhân của bài thơ cổ sưu tầm, nương theo ý chính
trong thơ, có thể chia bài thơ cổ làm ba phần, mỗi phần 5 câu.
Bài thơ cổ có một nghệ thuật bố cục về hình thức thật đặc sắc.
Cứ một đoạn 5 câu thì được chia làm 2 phần: phần đầu gồm 2 hoặc
3 câu dùng để tả kinh nghiệm cuộc sống để rồi gián tiếp đem áp
dụng vào tình yêu trai gái trong 2 hoặc 3 câu tiếp. Cách dùng
lời, dùng ví dụ tuy đơn giản mà tư tưởng rất thâm trầm. Những ví
dụ hoàn toàn dựa trên cuộc sống và tình trạng thiên nhiên rất dễ
hiểu cho moị người, cổ cũng như ngày nay. Cứ như vậy những hình
ảnh quan trọng được nâng lên dần, dẫn đến một kết thúc trọn vẹn
cho tình yêu lứa đôi.
Những lời ví von rất duyên dáng, trung thực, thuyết phục. Tác
giả đã dùng những hình ảnh vô cùng sống động và đánh động lòng
người. Những hình ảnh đó đi từ cái tầm thường nhỏ bé nhất, rồi
lớn dần với tư tưởng thơ. Với những thay đổi nhỏ nhặt lời thơ,
tác giả lập đi lập lại nhiều lần ý thơ, một cách say sưa, ngộ
nghỉnh làm tăng ý nghĩa và sức mạnh thuyết phục.
Nội dung bài thơ còn là một nghệ thuật tâm lý thuyết phục rất
cao. Tư tưởng diễn đạt tiến từ tình trạng đời sống cô độc của
trai, gái thiếu thốn lúc ban đầu, để tiến đến chỗ đưa ra một
chân lý cho một đời sống an vui khi có đôi có bạn. Rồi từ đó
bước ngay vào một thực tế hôn nhân một cách rất chân thực và
thanh tao; ồn ào và táo bạo, tuy có vẻ hơi tục nhưng rất ngây
thơ, chính xác, sáng sủa và trong vui với hình ảnh “cuốn lại”
ngộ nghĩnh.
Rõ ràng, toàn bài thơ cổ chứng minh chế độ một vợ một chồng “Gái
thiếu”, “Trai thiếu”, “O một mình” “Tui một mình”, “O với Tui”,
“Tui với O”, “Hai đứa miềng”. Tư tưởng bình đẳng nổi bật giữa
tình yêu trai gái trong hôn nhân và cuộc sống. Đây phải chăng là
một triết lý xuất phàm mà con người cổ đã nhờ ảnh hưởng Thiên,
Địa, Nhân mặc khải. Tình yêu của người Việt cổ được tả chân
nhưng lại thấm đầy đạo lý. Tình yêu dẫn đến hôn nhân hoàn toàn
không nhuốm dục vọng.
Vào thời văn hóa Bắc-sơn, tài nghệ về nông nghiệp và nuôi gia
súc khác nào một người có bằng kỷ sư ngày nay, nên chàng trai đã
bắt đầu bài ca bằng lời khoe khoang tài cán nông súc của mình
qua những hình ảnh lao động hàng ngày. Đem cái tài giỏi lồng vào
lời than để mở màn tán tỉnh. Đồng thời cũng để giải thích, rằng,
tất cả đều phải cần sự giúp sức, phải cần sự ràng buộc, phải bỏ
công lao, phải có tình yêu mới khấm khá được. Tâm lý ngoại giao
để chinh phục thật là tinh tế.
1- Khoai to bồn thì tốt cổ
(bồn = vồn = luống; cổ = củ).
2- Đậu ba lá thì bừa un
(bừa = vừa; un = vun = đắp).
3- Gà mất mạ thì lâu khun
(mạ = mẹ; khun = khôn).
4- Gái thiếu trai thì thậm khổ!
5- Trai thiếu gái thì thậm khổ!
Tài năng và kinh nghiệm đã mở ra một chân lý không thể có con
đường khác. Trong bước đầu tán tỉnh, chàng đặt vấn đề với nàng:
Khoai muốn to củ phải có nhiều đất đai, đánh luống cao lên. Đậu
muốn nhiều trái phải vun thêm đất vào gốc đúng lúc. Gà con muốn
chóng khôn, mau lớn phải có sự dẫn dắt, ấp ủ và tình yêu của mẹ
nó. Vậy thì nàng và chàng cũng vậy thôi. Muốn sống ấm no, vui
vẻ, hạnh phúc thì phải có sự hổ trợ, sự săn sóc và phải có tình
yêu, sự ưu đãi của nhau, cho nhau, vì nhau như cây khoai, cây
đậu, chú gà con kia. Lời mở đầu tự nhiên và rất duyên dáng.
Trong câu 4 và 5, tác giả đã dụng ý dùng chữ “thậm” để diễn tả
trạng thái “quá nhiều”. Ta thử dùng chữ “thiệt” hoặc chữ “rất”
thay cho chữ “thậm” thì rõ ràng ý không đạt. Chữ thậm muốn nói
lên một nỗi khổ sâu xa, phức tạp và bí ẩn khó lòng giải trừ
được. Chữ “thậm khổ” như bày ra trước mắt người đọc, cảnh người
con gái không kham nổi lao nhọc vất vả trước những khó khăn, vất
vả của cuộc đời... Với con trai thì cả một sự cô độc mênh mông,
buồn chán... Chữ “thậm” còn nói lên những lời than thở khôn
nguôi... than thở để được thông cảm, để cầu lụy... Ngày nay chữ
“thậm” ít khi được dùng đến trừ trong các chữ kép như “thậm
chí”, “thậm tệ”...
Sau bước đầu dè dặt, xem ra tình hình cho phép, chàng trai đi xa
hơn trong thuyết phục với những hình ảnh cao dần và đánh động
tâm lý hơn. Chuyển từ tài năng kinh nghiệm, tâm sự qua lý luận
triết lý; từ than vãn sang khuyên răn. Tuy nhiên những ví von
vẫn luôn dựa trên cuộc sống và thiên nhiên. Đặc biệt, chàng trai
luôn tỏ ra người thành thạo giỏi giang. Chàng nhắm vào sự tương
trợ để sinh tồn và phát triển của mọi tạo vật. Thật là tinh tế
trong tâm lý con người.
Năm câu ở đoạn 2 cho ta thấy không còn là lời giải thích, than
thở mà là huấn từ, là chân lý. Vì có chân lý nên hành động là
giáo dục. Tính cách giáo dục là của đấng bề trên chỉ dạy cho
nàng lẫn chàng. Rõ ràng đây là một triết lý nhân sinh vô cùng
quan trọng của người Việt xưa nay.
Tại đây một điểm đặc trưng trong tâm tư ngươì Việt cổ, cứ hễ mở
miệng ra là Trời cùng Đất trước đã rồi mới đến Người. Tư tưởng
nầy nhiều ngàn năm sau lại phát triển mạnh trong Nho học. Rõ
ràng trong việc giáo dục, người Việt cổ đã lấy việc tương quan
giữa Trời, Đất và Người làm nền tảng. Trời sinh, Đất dưỡng và
Người hưởng. Vậy Người không thể phân ly với Trời Đất. Nhờ Đất
làm trung gian nên người kết hợp với Trời. Dân Việt mỗi lần gặp
đau thương, bất mãn thì kêu “Trời Đất ơi !”.
6- Trời sinh trâu thì sinh cỏ
7- Đất sinh giếng thì sinh mo
(mo cau làm gàu múc nước)
8- Người sinh oa thì sinh tui
(oa = o = cô, bà; chữ cổ: Nữ oa, Triệu oa:
người Tàu đọc trại ra Triệu Ẩu để diểu cợt)
9- Oa một miềng thì khôn đặng
(miềng = mình)
10- Tui một miềng thì khôn đặng
Tác giả bài thơ cổ nhấn mạnh và lặp lại hai lần 2 chữ “khôn
đặng”: ý nghĩa huấn từ, giáo dục, đạo đức sâu xa và quyết liệt.
Có lẽ ngày nay các nhà đạo đức chân chính cũng khó có một thái
độ giáo dục cương quyết như thế. Thật tình là “khôn đặng”, vì
gái thiếu trai thì làm sao có con, làm sao bảo tồn sự sống với
bao nặng nhọc hiểm nguy bao quanh... Trai thiếu gái thì làm ra
của nhưng ai nấu cho ăn, lại sinh ra bao điều phiền toái rắc
rối, gàn dở... Chính đó là triết lý Âm Dương cũng như quan niệm
về Trời Đất và Người rất phù hợp với đạo đức Việt cổ mà đức
Khổng Tử đã chép lại, triết gia Lương Kim Định và Học-phái An Vi
của ông đã ra sức nghiên cứu, học hỏi và phát triển.
Bước tán tỉnh tiến đến kết quả cuối cùng với 5 câu cuối, tập
trung vào sự cần thiết kết hợp, giao duyên. Đây chính là nền
tảng của hôn nhân giúp con người tồn tại, lớn lên trong hạnh
phúc. Tác giả vẫn luôn dùng những lời ví von. Nhưng lần nầy,
trong đoạn cuối, những hình ảnh lớn lao nhất trong thiên nhiên
được đưa ra. Hiện tượng đưa ra vô cùng táo bạo mà chính xác.
Không khí không dồn lại làm sao tạo ra gió, mây không được gió
thổi từ biển vào làm sao có mưa. Gió, mây và mưa là những hiện
tượng tất yếu rất cần thiết trong nông nghiệp. Lấy hình ảnh gió
mây của vũ trụ để liên hệ đến hành động mây mưa của nam nữ quả
là một mời gọi cực kỳ thuyết phục và là điều kiện tất yếu trong
hôn nhân hạnh phúc.
11- Gió ngoài biển hắn dồn bô (bô=vô)
12- Mây trên trời hắn cuốn lại
13- Oa với tui cùng cuốn lại
14- Tui với oa cùng cuốn lại
15- Hai đứa miềng cùng cuốn lại.
Bài thơ kết thúc không lời kết. Loại kết thúc nầy khơi dậy nhiều
ý tưỡng thầm lặng trong tâm tư người nghe, người đọc. Đúng thế,
khi con người diễn đạt đến cái tột đỉnh thì lời kết nằm trong
cái tỉnh. Cái kết thúc bất ngờ đã tạo cho tư tưởng bài ca tiếp
tục sống động, vang vọng, mênh mang và phấn khởi trong tâm tư
người nghe. Chính cái ngưng bất ngờ bảo đảm cho sự chân thật của
bài văn. Văn chương ngày nay tưởng cũng khó gặp được cái ngưng
kết chân thật tuyệt vời đến thế!
Kinh qua vài điều trên, ai dám bảo con người Việt cổ kém văn hóa
hơn người ngày nay? Ai dám bảo người Việt cổ không có một nền
văn minh tinh thần sống động?
Hiểu được kiến thức, tư tưởng, triết lý, tâm lý, tình yêu của
người Việt cổ đại nhiều thiên niên kỷ về trước qua thơ phú của
họ phải chăng là một điều kỳ thú lớn lao và cũng vô cùng độc đáo
trên thế giới. Hiểu như thế, phải chăng là chúng ta đã đào xới
được một nền văn minh cổ đại một cách quá toàn hảo!? Hiểu như
thế là phải chăng là chúng ta đã có phước quay về gặp lại tổ
tiên hiền triết của chúng ta; chúng ta hãnh diện về họ; và phải
sẵn sàng sống xứng đáng với tiền nhân. Từ nơi đây chúng ta cũng
sẽ còn phanh phui được hàng trăm điều kỳ lạ.
Những lời dùng trong bài thơ cổ âm vang nặng giọng điệu miền quê
Trung Việt đặc biệt các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Đề dễ hiểu bài thơ cổ, nhà văn
An-Phong Nguyễn văn Diễn đã viết lại theo “tiếng Việt” miền
Trung:
Khoai to vồn thì tốt cổ
Đậu ba lá thì vừa un
Gà mất mẹ thì lâu khun
Gái thiếu trai thì thậm khổ!
Trai thiếu gái thì thậm khổ!
Trời sinh trâu thì sinh cỏ
Đất sinh giếng thì sinh mo
Người sinh O thì sinh tui
O một mình thì khôn đặng
Tui một mình thì khôn đặng.
Gió ngoài biển hắn dồn vô
Mây trên trời hắn cuốn lại
O với tui cùng cuốn lại
Tui với O cùng cuốn lại
Hai đứa miềng cùng cuốn lại...
Bài thơ cổ tiêu biểu nầy chứng minh cho chúng ta nhiều điều rất
lý thú. Nó đã nói lên rằng thơ văn ca múa như có sẵn trong dòng
máu dân Việt tộc từ thời tiền sử Việt Nam. Nó đã chứng minh rằng
từ thời tiền sử dân Bách Việt đã sống dựa trên một nền tảng
triết lý sâu xa trước vạn vật, trời đất. Triết lý đó chứng minh
rằng muốn tồn tại và phát triển phải có sự kết hợp để tương
sinh. Quan niệm hôn nhân một vợ một chồng rất rõ ràng trong tư
tưỡng. Quan niệm nầy rất được tôn trọng với lễ lược đình đám ca
múa.
Như vậy bài thơ cổ đã chứng minh một giá trị nhân bản đích thật
của mỗi một con người bất luận nam hay nữ, bất luận yếu hay
mạnh. Chỗ đứng của sức mạnh hà hiếp bốc lột không lãng vãng ở
đây được. Cuối cùng nó đã chứng minh một giá trị văn hóa trong
việc xây dựng gia đình lứa đôi, một vợ một chồng “O với Tui”,
“Tui với O”, “Hai đứa miềng” thôi.
Lời thơ xuất khẩu dễ dàng, hay, đẹp, đầy đủ, ngắn gọn, phải
chăng chứng minh làm thơ là việc thông thường của người Việt cổ?
Thơ có vận, có vần, có nhịp, tức dùng để ca múa. Điều nầy chứng
minh rõ rệt tục lệ ca múa ăn mừng ngày trai gái lấy nhau, đó
chẳng phải là nguồn gốc của hôn nhân sao? Như thế bài thơ cổ đã
chứng minh quan niệm hôn nhân cao quí của người Việt cổ. Phong
tục đám cưới đã có từ thời tiền sử Việt Nam, Hậu Hoà Bình chứ
không chờ người Tàu đến giáo hóa. Có chăng họ bắt tổ tiên ta
phải theo tập tục của họ trong chủ trương đồng hóa.
Điều thú vị đặc biệt là qua bài thơ cổ nầy chúng tôi nghĩ rằng
trong thời gian Tiền sử, Sơ sử và Lịch sử tiên khởi, đất nước
Bách Việt nói chung và nước Việt phương Nam nói riêng đã có một
nền thi văn giàu thịnh. Ca dao, phong dao, tục ngữ, ngạn ngữ,
vè... chỉ là một phần nhỏ còn được truyền khẩu lại nhờ vào tính
chất thực dụng trong đời sống hằng ngày và trong giáo dục đạo
đức, luân lý gia đình và làng mạc. Phần lớn văn chương cổ đã bị
thất truyền. Như vậy những tên đặt như ca dao, phong dao, đồng
dao, tục ngữ ... để chỉ phần lưu lại của văn chương cổ chưa thể
chính xác. Thật là không thể chính xác được, vì người ta lầm
rằng ca dao, tục ngữ... là hoàn chỉnh và là văn chương bình dân
mới.
Như vậy văn minh thi-văn-nói, thi-văn-ca có khác gì
thi-văn-viết. Chỉ khổ vì bị người Tàu đô hộ quá lâu nên sự lưu
truyền hạn chế làm hậu thế khó lòng hiểu biết được. Thi-văn và
giáo dục nước ta chắc chắn đã thịnh hành từ nhiều ngàn năm về
trước đã bị thất truyền và bị Tàu cướp mất. Tàu đô hộ nước ta
quá sớm và quá lâu năm, cướp đất đai và đồng hóa dân Bách Việt
quá nhiều. Tàu đã lợi dụng sức mạnh chữ viết, nhanh tay ghi lại
những gì giá trị nhất của Bách Việt để làm tài sản của họ.
Khổng-Tử quả là người chân chính, ngài đã nói rằng “Thuật nhi
bất tác” (chỉ thuật lại đạo cổ chứ ông không sáng tác. Rõ ràng
những điều có sẵn đó là văn chương, triết-học, giáo dục, dịch
lý, luân lý, đạo lý... đã có sẵn trong đông đão người dân, trong
vùng đất rộng lớn mà họ xâm chiếm ở phương Nam..
Triết gia Lương Kim Định, khi đọc bài thơ cổ nói trên ông nói
ngay với chủ nhân bài thơ: “Đây là Kinh Việt” như ông đã gọi
những chuyện cổ Tiên Rồng, Mai An Tiêm, Tiên Dung Chữ Đồng Tử,
Thánh Gióng... Năm 1958, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch khi cho
nghiên cứu lại văn minh Trung Hoa, ông phải khựng lại khi đi lên
đến đức Khổng Tử. Vì ông không thể tìm ra nguồn gốc triết học
Trung Hoa sau Khổng Tử. Họ chỉ biết rằng hầu hết nền văn chương,
triết học, bói toán trên xuất phát từ vùng Động Đình Hồ và Lưỡng
Quảng. Buồn thay cho ông, những vùng này lại là đất cũ của người
Bách Việt. Mà chạm đến Bách Việt thì Tàu rất dị ứng. Họ sợ mất
tất cả những gì mà người ta gọi là văn minh Trung Hoa.
Thế nên ca dao, đồng dao, phong dao, tục ngữ, ngạn ngữ, vè
v.v... không thể gọi gọn là văn chương bình dân. Bởi vì có nền
văn học nào mà chẳng do dân gian kiến tạo, có cá nhân hay vua
chúa nào làm nên được văn học. Có thể người ta đã hiểu lầm phần
lưu lại của văn chương cổ mà đặt tên.
Chắc chắn ca dao, phong dao, tục ngữ v.v... chỉ là một phần hữu
dụng trong giáo dục, được dân gian chọn lọc, cắt xén từ thi văn
cổ.
Sở dĩ dân tộc ta yêu chuộng ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ... vì phần
lớn chúng chứa đựng một nền giáo dục nhân bản có giá trị mãi với
thời gian. Nền giáo dục nầy đã được nhắc lại trong Huấn Địch
Thập Điều Thánh Dụ của vua Minh Mạng do Gs. Lê Hữu Mục biên
soạn: “Thiện chính, thiện giáo, tiếp vu dân tâm, Thường đạo chỉ
trinh, thất hưu tiền cổ” (Chính sách hay, giáo dục tốt, thấm sâu
vào nhân tâm, sự vững vàng của đạo thường giống như thời tiền
cổ).
Chúng ta thử nghĩ nếu Truyện Kiều bị thất truyền, những thế hệ
mai sau thế nào cũng sẽ rút ra hàng trăm ca dao, ngạn ngữ từ
Truyện Kiều.
Vậy ca dao, tục ngữ... có thể là biểu tượng, là đại diện của một
nền văn chương cổ Việt đã bị thất truyền. Dù sao, đã có một phần
quan trọng văn chương cổ còn được truyền tụng và đã được người
Việt ghi chép lại thành sách trong thế kỷ 20. Hy vọng trong
tương lai các nhà khảo cổ ngữ học, các nhà sử học, văn học có
thể sẽ sưu tầm những bài thơ văn cổ hầu cùng với ca dao ngạn
ngữ, để có thể làm sống lại tối đa nền thi văn cổ truyền bất hủ
quý báu của dân tộc Việt Nam.
Ts. Bs. Thiên Thanh Nguyễn Thị Thanh
Trở về Trang Chính
|