|
Từ hơn
nửa thế kỷ nay, ngành Y khoa chính thống thế giới đã bỏ ra nhiều
công trình nghiên cứu. Những cố gắng vượt bực trên đã đem đến
cho nhân loại biết bao nguồn an ủi và hy vọng. Cũng nhờ vào
những phát triễn vượt bực về những cách chẩn bệnh chính xác qua
hình ảnh X-quang phối hợp với Tin-học: Phim đồ hình bằng cách
chụp cắt lát, siêu âm (scanner, échographie vv.) và những phản
ứng của huyết thanh qua sự hiện diện của siêu vi (sérologie
virale).
Và đặc
biệt về những phát triển của môn sinh-vật-học với kính hiển-vi
điện-tử chúng ta đã biết rỏ siêu-vi (virus) và cực-siêu-vi
(ultravirus) và toàn gia đình bà con gần của chúng, cùng tất cả
những tác động của chúng trên tế bào bị chúng xâm chiếm sống
gởi.
Từ lâu
kính hiển vi điện tử cho thấy rỏ sự biến đổi đột ngột hay sự đột
biến của siêu vi trên tế bào cơ thể thành tế-bào ung thư. Y-học
đã quan sát hiện tượng đột biến của siêu-vi, một biểu tượng hình
thành tác động gây ung thư đặc biệt.
Theo
chúng tôi sự đột biến nói trên được sinh ra là do tình trạng suy
sụp về sinh lý bất thường của tế bào cơ thể. Ví dụ tế bào đau
yếu, bị thương tích, bị dập, bị nhiểm độc hóa chất hay chất độc
và tế bào đang trên đường thoái hóa, hấp hối hoặc vừa mới chết.
Do đó sức đề kháng và tính miển nhiễm của tế bào cũng yếu kém
hay suy tàn hay triệt tiêu hoà toàn khiến siêu vi dễ dàng chiếm
cứ tế bào để biến nó thành tế bào ung thư. Và từng nấc thang dẩn
dần chúng ta biết đến nguyen nhân sinh ra tế bào ung thư, để đặt
trọng tâm trị liệu vào nguyên nhân đích thực gây ung thư. Về
phương diện sinh-lý bệnh-học nếu chúng ta biết rỏ nguồn gốc bệnh
thì việc trị liệu mới hy vọng có hiệu quả tích cực.
Từ đầu,
qua nhiều sự may mắn ngẩu nhiên, chúng tôi có nhiều dịp quan
sát những hiện tượng tương đồng, giữa những triệu chứng bệnh ung
thư và bệnh do nấm hay vi nấm gây nên : bệnh phát sinh do tâm lý
bệnh, tâm sinh bệnh, ưu tư buồn phiền đau khổ có tinh cách mãn
tính mà hiện tại người ta hay gọi là stress, (nhưng chữ tress
chỉ có tính cách cấp tính) bệnh có tính chất xung khắc với bệnh
do vi trùng gốc động vật, bệnh phát triển phần lớn chậm chạp
trong một môi trường âm lạnh, trong môi trường hơi chua, môi
trường a-cit (sympathicolytique). Có khi bệnh biến thành mãn
tính, ung thư hoặc lành hẳn không cần chữa trị. Những quan sát
nầy giúp chúng tôi trị thử những trường hợp ung thư mà bệnh viện
đã chạy bằng thuốc chống nấm.
Hiệu quả
bất ngờ cho thấy những triệu chứng ung thư lâm sàng và trên
X-quang được đẩy lui một cách rỏ rệt. Sự kiện trên được lập đi
lập lại nhiều lần giúp chúng tôi nghĩ rằng siêu-vi là sinh vật
thuộc trạng thái thực vật hạ cấp hay nấm, và chính nó đã đột
biến tế bào cơ thể con người thành tế-bào-nấm-ung-thư. Chúng tôi
đã tiếp tục trị ung thư và những bệnh siêu vi (ung thư vú, ung
thư phổi, ung thư mũi, mụt ruồi, bệnh viêm gan do siêu vi B, C,
bệnh herpes, bệnh Charcot) và những bệnh nan y mà chúng tôi nghỉ
là do siêu vi gây nên bằng thuốc chống nấm.
Chúng
tôi đã đạt nhiều thành quả bất ngờ. Những thành quả đó chúng tôi
chỉ có thể chứng minh bằng những lập luận lý thuyết và những kết
quả lâm sàng, những kết quả thâu thập được trên những bệnh nhân
ung thư đã được chữa trị đầy đủ, đúng cách và đã được lành.
I- Khái
niệm về tế bào, vi-trùng, vi khuẩn :
Đễ tất
cả mọi người có thể hiểu dễ dàng về sự hình thành ung thư và
các bệnh do siêu vi và cực siêu vi gây nên, chúng tôi xin sơ
quát về cấu tạo tế bào, vi trùng (microbes), vi khuẩn
(bacilles), vi nấm (fungi) và siêu vi (virus).
Hai nhà
sinh vật học người Đức, các ông M. Schleiden và T. Schwann đã
nghiên cứu thuyết tế bào. Mọi sinh vật lớn nhỏ, động vật hay
thực vật, đều được cấu tạo bởi những tế bào. Tế bào sống trong
môi trường dinh dưỡng bằng cách thu nhập thức ăn, dưỡng khí 02
và tiêu hoá chúng đi để rồi lại phế thải những cặn bả qua màng
tế bào ra ngoài.
Màng tế
bào giữ một vai trò quan trọng đưa những chất dinh dưỡng vào tế
bào qua những lổ nhỏ và bằng hiện tượng thẩm thấu (osmose) hoặc
những hiện tượng chuyên chở đặc biệt để nuôi tế bào. Tế bào chứa
một chất gọi là nguyên-sinh-bào hay dịch-bào (cytoplasme số 13
Hình III). Dịch-bào làm thành một khối nhầy chứa nhiều tiểu
bộ-phận gọi là thể-bào hay sinh-thể-bào (organites: số 12, 15
Hình III)). Giữa tế bào có một khối quan trọng gọi là nhân
(noyau: Hình III).

Nhìn bên
ngoài dù là trẻ con cũng phân biệt được một cái cây và một con
vật dù cây và vật có nhỏ đến đâu. Nhưng về thực chất bên trong
thì cách thức và chất lượng cấu tạo tế bào và nhân của tế bào
dầu là thực vật hay động vật thì đều giống nhau. Do đó giữa
những vi-sinh-vật độc tế bào (microbes), đôi khi cũng rất khó
phân biệt nguồn gốc thực vật hay động vật.
Những
sinh vật độc tế bào như những vi-trùng (microbe), vi-nấm
(micro-champignons hay fungi), vi-men (micro-levures), vi-rêu
(micro-algues) là những giống độc-bào, nghĩa là chúng chỉ gồm
một tế bào. Người ta thường dùng tên vi-trùng mà gọi chung cho
tất cả vi-động-vật. Tiếng vi-khuẩn (bactéries, bacilles) thường
dùng để chỉ các loại vi-trùng thuộc nấm hay thực-vật. Vi trùng
và vi khuẩn có kích thước từ vài microns đến 10 microns
(1microns = 1/1000mm).
Vi
trùng, vi khuẩn và tế bào đều có một cấu tạo hóa học giống nhau.
Bên ngoài là màng tế bào được cấu tạo bởi những phân tử hữu cơ,
mở, đặc biệt là chất mở cholestérol và những phân tử protéin
cùng một ít phân tử glucose.
Với kính
hiển vi điện tử những thể-bào (organites) được nhìn thấy rỏ
ràng. Người ta phân biệt được từng chi tiết chức năng sãn xuất,
tiêu hóa, bài tiết vv. (Hình III và IV) của mổi thể-bào, chúng
rất cần thiết cho sự chuyển- hóa tế bào (métabolisme
cellulaire).
Trong
dịch-bào chứa một nhân lớn được bao bọc bằng màng-nhân mỏng.
Nhân là cơ quan di-truyền của tế bào. Những yếu tố di-truyền
trong nhân là những nhiểm-sắc-thể (số 1 Hình II). Nhiễm-sắc-thể
được cấu tạo bằng những phân tử acide désoxyribonucléique gọi
tắt là ADN và acide ribonucléique gọi tắt là ARN. Đây là những
acide nucléique hữu cơ có mặt trong các tế bào sống để cấu tạo
tính chất di truyền, có nhiều trong nhân và dịch-bào, nó đóng
vai trò quan trọng trong sự sinh sãn và tính cách di truyền của
tế bào.
ADN cấu
tạo nên những nhiểm sắc thể di truyền của mọi tế bào sinh vật từ
lớn đến nhỏ kể cả siêu-vi (virus) và đàn em của chúng. Số nhiễm
sắc thể di truyển trong nhân của loài người là 46, trong lúc đó
nhiễm sắc thể của noản tử hay tinh trùng chỉ là 46/2 tức là 23.
Khi tinh trùng và noản tử phối hợp lại để làm nên tế bào con
người thì số nhiễm sắc thể là tổng cộng của noản tử và tinh
trùng tức 46.
Hiện tượng phối hợp 2 nhóm nhiểm sắc thể của noản tử và tinh
trùng làm cho chúng ta dễ hiểu hiện tượng đột biến của siêu vi
và tế bào con người để biến thành tế bào ung thư sẽ nói đến sau
nầy. Cũng thế hiện tượng nầy cũng xẩy ra giữa 2 siêu vi để sinh
ra siêu vi mới; siêu vi và vi trùng để sinh ra một lọai vi trùng
mới; hoặc siêu vi với bất cứ tế bào động vật hay thực vật nào để
sinh ra một lọai tế bào mới. Vì thế trên trái đất các loại siêu
vi và vi trùng tăng không kể xiết hằng giây phút. Từ những đột
biến của siêu vi và của vi trùng đưa chúng ta hiểu những đột
biến của thực vật và động vật
II -
Khái niệm về siêu-vi :
Hiện tại
sinh vật nhỏ nhất mà người ta thường nói đến là siêu vi và họ
hàng gần của nó là cực siêu vi, siêu thể.... Dầu siêu-vi và cực
siêu vi chưa đáng gọi là tế bào vì nó không có dịch-bào và màng
bao bọc, tuy nhiên nó có sự sống và sinh sãn nên nó đã trở thành
một loại ‘vi-tế-bào’. Siêu vi không có nguyên dịch bào nuôi
dưỡng, nên chúng chỉ có thể sống ký sinh trong các tế bào thực
vật và động vật.
Nhiễm
sắc thể trong siêu vi hoàn toàn giống nhiễm sắc thể của bất cứ
tế bào thực vật hay động vật nào. Riêng nhiểm sắc thể của các
cực-siêu-vi (ultravirus) và siêu-thể (plasmides) và
siêu-chuyễn-thể (éléments génétiques transposables) là đàn em
của siêu vi, chỉ gồm có những phân tử ARN chứ không có ADN.
Siêu-thể và siêu-chuyễn-thể chỉ khác với cực-siêu-vi ở điểm là
nó không có màng nhân bao bọc.

Khi
những cực-siêu-vi hay siêu-thể vào được trong tế bào, ARN được
một chất enzyme đặc biệt (enzyme transcriptase reverse) biến đổi
chúng thành ADN để tác động gây bệnh cho tế bào nếu tế bào không
tiêu diệt được chúng. Khi vào trong tế bào, siêu-vi và
cực-siêu-vi dầu có màng cũng đều để màng lại bên ngoài tế bào.
Vậy khi vào tế bào tất cả gia-đình siêu-vi, cực-siêu-vi,
siêu-thể hay siêu-chuyễn thể đều có những hoạt động gây bệnh
giống nhau, nghĩa là chúng đều không có màng nhân và có dạng ADN
giống nhau. Vì vậy trong những chương nói về siêu-vi gây bệnh
chúng ta có thể hiểu rằng siêu-vi là đại diện cho tất cả gia
đình bà con gần của nó kể trên mà khoa học hiện biết đến.
Siêu-vi
là những sinh vật rất nhỏ mà trước đây ông Pasteur đã dùng màng
lọc cực tinh-vi (filtres ultrafins) vẩn không lọc được.
Siêu-màn-lọc tinh vi đến độ giữ lại những con vi trùng và
vi-khuẩn nhỏ nhất nhưng vẩn không giữ được những sinh-vật nhỏ
li-ti, nên ngày trước ông Pasteur đã gọi chúng là
vật-thể-lọt-lọc (agents filtrants), đó là những con siêu-vi và
cực-siêu-vi (virus và rétrovirus hay ultravirus) mà chúng ta nói
đến ngày nay.
Như đã
nói trên, siêu-vi không hội đủ yếu tố của một tế bào. Nhưng vì
nó sinh-sãn nên người ta không thể chối cải là nó có sự sống, nó
vẩn có chổ đứng trong hàng những sinh vật hạ đẳng nhất. Ngày nay
người ta coi nó là một loại vi-bào (prion) hạ đẳng. Kích thước
của siêu-vi đo bằng nanomètres (1milimètre = 1.000.000nm): ví dụ
con siêu-vi rừng Semliki dài 50nm (Hình I, vẻ theo hình chụp của
S.D. Fuller, Cell 48; 923, 934, 1987). Trong hình cắt ngang
(Hình II), cụm ADN làm thành siêu vi được bao bọc bởi một
màng-nhân hình lục giác làm bằng chất hửu cơ, đó là màng-vỏ của
siêu vi.

Cho đến
ngày nay Y-học đã tìm ra ba tác động của siêu vi gây bệnh đối
với tế bào cơ thể: Siêu vi làm tê liệt tế bào, ví dụ trong bệnh
AIDS; siêu vi tiêu diệt tế bào, ví dụ trong trường hợp bệnh đậu
mùa, bệnh Charcot, bệnh AIDS và cả siêu vi gây ung thư.
III -
Tác động làm tê liệt tế bào của siêu-vi :

Siêu vi
thường xuyên đột nhập và trú ngụ trong cơ thể với một lượng
nhiều vô số kể. Thường chúng đều bị tế bào cơ thể nuốt trững (
Hình III, 15), tiêu hóa đi và bài tiết chất phế thải ra ngoài
(Hình IV, 19) hay ngăn chặn mọi sự phát triển quá đáng. Nhưng
gặp lúc tế bào suy yếu, thương tât, bệnh hoạn vì một lý do gì,
siêu vi bèn phát triển xâm chiếm tế bào (Hình V). Nó bỏ màng
nhân bên ngoài, ADN của siêu vi lan vào dịch-bào (cytoplasme) cơ
thể mà sinh sống, sinh sãn và gây bệnh. Thật ra thì chính tế bào
cơ thể chụp lấy siêu-vi để tiêu diệt bằng cách tiêu hóa nó như
trong hình III, IV. Nhưng lúc tế bào không tiêu diệt được
siêu-vi thì siêu-vi gây nên nhiều rối loạn khác nhau cho tế bào.
Ở đây chúng tôi nói về việc siêu vi làm tê liệt tế bào (Hình V).
Khả năng
gây bệnh đầu tiên của siêu-vi là tác động làm tê liệt chức năng
của tế bào cơ thể. Nó tiêu diệt dần dần chức năng của tế bào. Sở
dỉ siêu-vi làm tê liệt được chức năng tế bào có lẻ vì nó lấy hết
những phân tử dinh dưỡng cần thiết cho chức năng tế bào, cũng
như nó gây chướng ngại vật cho sự điều hành chức năng. Rồi nó
lại thong thả đi ra và đi vài những tế bào kế cạnh hoặc theo
dòng máu và dòng bạch huyết di chuyển đến những tế bào xa xuôi
để tiếp tục gây bệnh. Với sự biến đổi nầy, tế bào trở thành vô
dụng, khác nào một người kỹ sư giỏi có phận sự quan trọng mà
phải thành bất lực vì khối óc và bàn tay không còn làm việc
được; khác nào một chiến sĩ đang tác chiến ngoài sa trường không
còn khả năng cầm súng.
Khi số
tế bào bị phá thành tê liệt chức năng tăng đến một độ quan
trọng, hoạt động của cơ quan bi xấm chiếm thành ra ngưng trệ.
Tính chất làm tê liệt hẵn chức năng tế bào ảng hưởng trầm trọng
đến sự sống cơ thể. Cơ thể sinh ra lắm bệnh khác nhau tùy mô
hoặc cơ quan, tức là tùy vị trí của cơ thể bị làm tê liệt mà
người ta đặt tên cho bệnh trạng: ví dụ tế bào tụy tạng Langerhan
bị phá hoại thì sinh ra bệnh tiểu đường, tế bào thần kinh bị phá
hoại thì sinh ra bệnh thần kinh hay bệnh điên. Đây cũng là
trường hợp bạch huyết cầu trong ung thư bạch huyết, lymphocytes
T4 trong bệnh AIDS/SIDA, hồng huyết cầu trong ung thư máu, tế
bào thận trong bệnh viêm thận mãn tính, tế bào gan trong bệnh
viêm gan A, B, C, và tế bào thần kinh trong các loại bệnh thoái
hóa thần kinh và tất cả các loại bệnh tâm thần .
Những
trường hợp trên có thể xẩy ra cho mọi lứa tuổi, nhưng thường
xuyên xẩy ra cho người già mà cơ thể đã suy yếu hoa mòn, người
ta thường đặt tên là bệnh già, bệnh lão hóa. Nếu đề phòng hay
chữa trị kịp thời có thể cứu lấy phần nào chức năng của các tế
bào quí báu không sinh lại được như tế bào thận, tế bào tụy
tạng, tế bào thần kinh và tránh được nhiều bệnh nan trị làm cho
sức làm việc kéo dài và tuổi thọ gia tăng.
IV- Tác
động tiêu diệt tế bào của siêu vi :
Tác động
thứ hai là siêu vi tiêu diệt tế bào. Có lẻ đây là loại siêu vi
có công lực khá mạnh hơn công lực tế bào cơ thể. Đầu tiên nó bị
tế bào cơ thể tấn công, đưa vào nguyên dịch bào để tiêu diệt.
Nhưng tế bào không tiêu diệt được siêu vi. Siêu vi bèn sống ký
sinh trong nguyên dịch của tế bào cơ thể khi tế bào yếu đuối
không tiêu diệt hay kiềm chế được nó (Hình V, 26), siêu vi sinh
sôi nẩy nở thành hàng tỉ tỉ siêu-vi-con (Hình VI, 25) xâm chiềm
tế bào. Siêu vi sinh sãn rất nhanh chóng, mổi ngày có thể sinh
ra hàng tỉ con trong dịch-bào.

Tế
bào bị xâm lăng chứa quá nhiều siêu vi ký sinh, bèn trương phình
lên, rồi nổ tung ra (Hình VII), tế bào bị tiêu diệt hoàn toàn.
Hằng hà sa số siêu-vi-con mạnh mẽ hơn cả siêu-vi mẹ (Hình
VI, 27) vì được nuôi dưỡng tự do trong môi trường béo bổ của tế
bào cơ thể, văng tung tóe (Hình VII, 28) ra khắp nơi tiêu diệt
những tế bào cơ thể khác xung quanh. Nó cũng đổ vào máu đi khắp
cơ thể, tiếp tục xâm nhập các tế bào các mô của các cơ quan xa
khác để tiếp tục tiêu diệt tế bào như trước. Và cứ như thế
siêu-vi sống và sinh sãn tiếp tục trong các tế bào rất nhanh để
tiếp tục tiêu diệt các tế bào mà nó xâm nhập. Nó cũng dễ dàng
lây lan từ người nầy sang người khác, trở thành những bệnh dịch
ví dụ như bệnh đậu mùa, bệnh viêm gan A, B, C. Có khi siêu vi
sống tiềm sinh trong cơ thể người mạnh (porteur de germes),
không tiêu diệt tế bào, nhưng qua cơ thể người khác yếu hơn thì
nó gây tiêu diệt mạnh mẻ.
Cùng lúc
ấy cơ thể huy động tế bào bạch huyết cầu tấn công siêu-vi.
Siêu-vi càng sinh nhiều thì bạch huyết cầu cũng nhanh chóng sinh
nhiều. Đây là một cuộc chiến tranh ác liệt nhưng âm thầm trong
cơ thể con người. Nếu bạch huyết cầu có đủ khả năng tiêu diệt
siêu-vi thì lành bệnh và cơ thể có tính miễn nhiểm tự tạo
(immunité acquise), hoặc sự tàn phá chỉ có giới hạn. Siêu vi có
thể bị tiêu diệt hoàn toàn, hay bị kiềm hảm trong cuộc sống tiềm
sinh, hoặc bị đẩy ra ngoài da như trường hợp mụt ruồi xanh đỏ
nâu, đen hoặc đồi mồi. Hoặc siêu vi bị bao vây vào trong các ốc
đảo như các cục bứu hiền lớn nhỏ mà chúng ta thường gặp. Những
ví dụ thường gặp về ốc đảo siêu vi là các mụt ruồi đỏ, xanh, nâu
đen, các bứu mở trong huyết quản (bứu cholestérol trong động
mạch) bứu mở dưới da (lipome), các bứu hiền, tàn nhang, nám
mặt...
Sự tiêu
diệt tế bào rất rõ rệt trong bệnh đậu-mùa. Siêu vi đậu mùa rất
mạnh giết chết các tế bào da tăng trưỡng của da gây nên những
vết sẹo trắng sâu làm thành mặt rổ, như vậy thì dầu đẹp đến đâu
cũng ôi thôi rồi, đó là một nổi niềm đau khổ của con người. Gặp
người yếu, siêu vi đậu mùa vượt cửa-ải-da, xâm nhập luôn lục phủ
ngủ tạng và hệ thần kinh, chúng nó tiêu diệt cơ thể, chết !.
Thường người ta treo màn đỏ trong phòng để hưng phấn hệ thống đề
kháng của cơ thể người mắc bệnh, để cho đậu-mùa mọc ngoài da
thật tốt mà không xâm nhập cơ thể. Nếu đạu-mùa không mọc ngoài
tốt tức là nó đã xâm nhập cơ thể (vậy chích ngừa đậu mùa là
việc tối quan trọng).
Sự tiêu
diệt tế bào cũng rất rõ ràng trong bệnh ung thư máu, bệnh ung
thư bạch huyết cầu và bệnh Sida/Aids, bệnh Charcot, và nhiều
bệnh mãn tính, bệnh tâm thần và bệnh thần kinh mà Y-học thường
nói rằng không biết được nguyên nhân và cách trị liệu.
Trong
bệnh Sida/Aids, khi số lượng Lymphocytes T4 bị hủy diệt còn
chừng mực, và cơ thể còn khả năng sinh sãn kịp thời để thay thế
số lượng bạch huyết cầu Lymphocyte T4 bị tiêu diệt, hoặc cơ thể
còn khả năng tiêu diệt phần nào siêu vi HIV, lúc đó cơ thể còn
có thể sống một cách như bình thường. Vì thế khi nhuốm phải HIV,
cơ thể vẩn còn khả năng sống mạnh khỏe trong một thời gian dài
hay ngắn tùy theo tình trạng sức khỏe của cơ thể. Sự sống nầy
kéo dài từ nhiều tháng, nhiều năm đến 10, 12 năm hoặc nhiều hơn.
Thời kỳ nầy tương đương với hoặc giống y như thời kỳ mà con
người được tiêm chủng ngừa như trong các thứ bệnh khác. Nhưng
tiếc thay trái với nguyên lý tiêm chủng thông thường, theo đó
bạch huyết cầu càng đấu tranh càng thêm kinh nghiệm chống
siêu-vi, trong trường hợp bệnh AIDS/SIDA, càng đấu tranh thì
bạch huyết cầu Lymphocyte T4 cơ thể càng yếu và siêu-vi thì càng
ngày càng mạnh. Đó là nguyên do không thế chế thuốc chích ngừa
bệnh SIDA. Vậy yếu tố nào đã gây ra hiện tượng tiêu diệt tế bào
mạnh mẽ trong trường hợp bệnh Sida trên. Chúng tôi xin sẽ có dịp
bàn đến sau.
V- Tác
động gây ung thư của siêu vi :
Cho đến
ngày nay chúng ta biết tác động cuối cùng dễ sợ nhất của siêu vi
là gây ung thư, vì đó là bản án tử hình cho kẻ vô tội. Trong
trường hợp nầy chẵng những siêu vi coi như được sống ký sinh
thoải mái không bị tiêu diệt trong dịch-bào mà nó còn dược chiếm
thế thượng phong của kẻ mạnh. Siêu vi được di động tự do không
gặp một sức cản trở nào (Hình VIII, 24, 30). Các tiêu thực thể
bào bất lực hoàn toàn (Hình VIII, 32). Thế rồi gặp hoàn cảnh
thuận lợi siêu vi có vẻ như được đưa hút vào nhân tế bào (Hình
IX). ADN của nhân tế bào mở rộng cửa đón (Hình X) mời siêu vi
vào hợp tác chung sống (cho vui vẻ với nhau !). Có lẻ siêu vi bị
thu hút bởi một vật đồng tính chất với nó, đó là ADN của nhân tế
bào cơ thể (Hình XI); để rồi chính nó nhập ADN của nó vào ADN
của tế bào cơ thể mà làm thành một ADN hoàn toàn mới. Đó là hiện
tượng hòa hợp biến đổi đột ngột như hiện tượng tinh trùng và
noản sào phối hợp với nhau để tạo nên thai nhi.
Lúc ấy
tế bào cơ thể không còn ADN của nó nữa mà đã có một ADN mới lạ,
gồm một ADN của siêu vi và một ADN của tế bào cơ thể hợp lại,
tức là ADN mới có một tính di truyền mới. Đó là hiện tượng
đột biến tế bào cơ thể. Như vậy hai ADN của tế bào cơ thể và
của siêu vi đã nhập lại với nhau làm một duy nhất, sinh ra một
tính di truyền mới trong tế bào mới. Và tế bào mới đó chính là
tế bào ung thư đầu tiên (Hình XII).
Tế bào
mới nầy là độc bào, không còn là thành phần của cơ thể vì số
nhiểm sắc thể mới của nó :
ADN
ung thư = 46 (ADN tế bào người) + X (ADN siêu vi)
X là số
nhiểm sắc thể của một siêu vi nào đó. Như vậy số nhiễm sắc thể
của tế bào ung thư không bào giờ bằng số nhiễm s8ác thể của tế
bào cơ thể là 46, nó luôn luôn lớn hơn 46. Tất nhiên tế bào mới
nầy có một tính di truyền hoàn toàn khác với tế bào cơ thể. Tất
nhiên tế bào mới nầy không thể nào tuân theo một mệnh lệnh nào
của cơ thể. Nó sống độc lập và sinh sãn nhanh chóng hổn loạn bừa
bải (Hình XIII, XIV, XV). Cơ thể tổng động binh các mô chống cự,
bao vây việc sinh sãn bừa bải nầy. Đó là nguồn gốc gây nên bứu
hiền (sẽ nói đến sau) rồi mới đến giai đoạn bứu dữ hay ung thư
(việc nầy sẽ bàn đến sau). Đó là hiện tượng siêu-vi đột biến tế
bào cơ thể thành tế bào ung thư. Việc hình thành và phát triển
tế bào ung thư thành cục bứu không hề gây một khó chịu nào cho
cơ thể, khác nào trồng thêm một cây kiểng trong nhà thì có gì
thiệt thòi.
Từ trước
đến nay nguyên nhân đúng thực của ung thư chưa được biết đến. Người ta thường đưa ra những lý do gần và lẻ tẻ mà thôi. Ví dụ
như có trường phái chủ trương ung-thư do màu sắc hóa chất; có
trường phái khác cho ung thư do siêu-vi tạo ra, có trường phái
cho ung thư là do di truyền vv..., nhưng vẩn không rõ nguồn gốc
đích thưc của nó. Người ta đã chứng minh được nhiều trường hợp
ung thư do siêu-vi sinh ra và cũng đã quan sát được nhiều trường
hợp do màu sắc hóa học gây nên hoặc do di truyền.
Ở trên
chúng tôi chứng minh rằng sơ khởi ung thư phải là do siêu-vi
thường trực có mặt khắp nơi trong cơ thể gây ra trong những điểu
kiện thuận tiện. Vậy màu sắc hóa học nhân tạo làm suy yếu tế
bào, và tình trạng sức khỏe do di truyền là yếu tố định đoạt
tình trạng đề kháng của tế bào trong việc chống lại tác động của
siêu-vi.
Các tế
bào ung thư phát triển một cách hoàn toàn hổn loạn, độc lập và
chúng có một tính chất đặc biết khác với tế bào cơ thể, đó là
tính chất độc bào hoàn toàn không giống tế bào cơ
thể. Mức độ phát triển nhanh chậm của tế bào mới còn tùy thuộc
loại siêu vi tấn công tế bào độc hại nhiều hay ít, và tùy thuộc
vào tình trạng sức khỏe của cơ thể. Khi sự phát triển đến một
mức nào đó thì nó gây phiền toái cho các tế bào, các mô (tissus)
và các cơ quan (organes) lành mạnh trong cơ thể, và làm tê liệt
và tiêu diệt các chức năng của những tế bào, mô và cơ quan, dẩn
dần đến cái chết không thể tránh.
VI -
Nguồn gốc nấm của siêu-vi :
Như đã
nói trên, sau nhiều quan sát trị liệu bệnh siêu-vi và bệnh nấm,
từ lúc ban đầu chúng tôi đã đặt những câu hỏi, phải chăng
siêu-vi có những đặc tính của tế bào nấm ?, phải chăng siêu vi
là một loại nấm hạ cấp ? Chúng tôi đã trị thử nhiều trường hợp ở
Việt-nam. Chúng tôi đã trị thữ những hiện tượng hiền và dữ do
siêu vi gây ra y như trị những bệnh nấm khó khăn nhất với những
tính chất đặc thù của nó.
Chúng
tôi đã gặt hái những kết quả thật khích lệ. Chúng tôi cũng tiêu
diệt những cụm siêu vi sống tiềm sinh như mụt ruồi đen trên mặt
mà không để lại vết sẹo, mụn đồi mồi bằng những chất thuốc chống
nấm. Chúng tôi đã thành công làm biến mất những bứu ung thư
trong phổi (được xác định bằng X-quang), những bứu ung thư vú và
di căn (bằng chứng).
Công
việc điều trị nầy đòi hỏi nhiều kiên nhẩn và thời gian để có kết
quả tốt. Những kết quả nầy đã khuyến khích chúng tôi vững tâm
tiếp tục trị liệu, làm đơn xin bằng sáng chế trị liệu tại Mỹ và
Canada, đồng thời viết ra tập sách nhỏ nầy. Chúng tôi đã kết
luận bằng một suy luận quy nạp (raisonnement par induction) rằng
siêu vi có nguồn gốc nấm. Chúng tôi hoàn toàn chỉ có những kết
quả lâm sàng (résultats cliniques) chứ không có kết quả trong
phòng thí nghiệm.
Siêu-vi,
cực-siêu-vi và bà con gần của chúng là vi-thể (plasmides) và
vi-chuyển-thể (éléments transposables). Vi-thể và vi-chuyển-thể
là những nhóm nhỏ phân tử acide nucléique ARN kết chặc với nhau.
Những vi-thể và vichuyễn-thể nầy có thể sinh ra nhiều vi-thể và
vi-chuyễn-thể-con. Chúng là những loại cực siêu vi không có
màng-vỏ bao bọc. Chúng tôi nhận thấy rằng những loại cực siêu vi
càng nhỏ thí chúng càng độc có nghĩa là rất khó tiêu diệt.
Tất cả
chúng là những sinh vật hạ đẵng nhất trên trái đất mà chúng ta
biết. Bắt nguồn từ những giống hạ đẵng nầy, siêu-vi, vi-khuẩn
gốc nấm được sinh ra trước rồi mới đến vi-trùng gốc động-vật
được sinh tiếp theo. Vậy giống hạ đẵng nầy không thể nào có
nguồn gốc động vật được, chúng chỉ có thể có nguồn gốc thực vật
với bản chất nấm. Chính vì chúng có nguồn gốc thựt vật nên khối
ung thư lúc nào cũng cứng như gổ. Chúng ta có thể kết luận rằng
siêu-vi có nguồn gốc nấm, nguồn gốc thực vật hạ đẳng nhất trên
trái đất được biết đến ngày nay. Có lẻ vì thế siêu-vi có sức
tồn-sinh cực mạnh.
Tiếng
thực vật gốc la-tinh gọi là « végétus » có nghĩa là « vigoureux
= mãnh liệt ». Siêu-vi có thể sống bám vào bất cứ giống động
vật hay thực vật nào. Siêu-vi có thể sống tiềm sinh hàng triệu
triệu năm dưới những núi băng tuyết miền Bắc-cực. Siêu có thể
chịu độ nóng đến trên 120oC, siêu-vi có thể chịu độ nóng của ánh
sáng mặt trời. Người ta đã tìm thấy siêu vi có mặt trên Hỏa
tinh. Tất cả những tính chất thiên nhiên nầy chứng minh rằng
siêu-vi có gốc thực-vật, sống mảnh liệt và bền dai nhất. Siêu-vi
là một giống siêu-vi-nấm hay siêu nấm. Vi trùng gốc động vật
không có khả năng sống mãnh liệt như thế, không có sức tồn sinh
dai dẵng như thế.
Một luận
cứ khác, trong bệnh Sida, sách Y-học thế giới cho rằng
cực-siêu-vi HIV thích chạy theo tế bào bạch cầu Lymphocytes T4
để giết nó. Nhưng có lẻ điều nầy oan cho siêu-vi và cũng oan cho
Lymphocytes T4. Theo suy luận của chúng tôi, trong cuộc chiến
đấu của cơ thể đối với cực-siêu-vi HIV, chỉ một mình Lymphocytes
T4 là chuyên gia và hăng hái nhất trong việc đi tiêu diệt HIV.
Và cũng vì sự hăng hái nầy mà Lymphocytes T4 bị tiêu diệt nhiều
nhất, và là sự tiêu diệt chính đem lại cái chết cho cơ thể. Vì
sau khi bạch cầu Lymphocutes T4 bị tiêu diệt thì những biến
chứng hay đúng hơn là những « bệnh thời-cơ cũng bản chất nâm »
(người bị nhiễm HIV chết vì những bịnh có nguồn gốc nấm) được
dịp ào ào trổi dậy. Xét qua những loại bệnh thời-cơ nầy thì hầu
hết là những bệnh do vi-nấm sinh ra.
Chúng ta
thử kể: bệnh nấm Candidose; bệnh siêu-vi Herpès; bệnh sưng màng
óc vi-nấm Cryptocoques; bệnh lao do vi-khuẩn Koch gốc thưc vật;
bệnh ung thư Kaposi; bệnh sưng phổi vi-nấm Pneumocystis Carini;
các bệnh do các loại vi-nấm Coccidiose; Histoplasmose;
Scryptosporidiose; Toxoplasmose; Cryptococcose; các chứng bệnh
do các loại vi-nấm : Mycobactérienne à M. Kansasii hay là
Mycobactérium Avium vv....
Bạch
huyết cầu Lymphocytes T4 còn nhiều và mạnh, bệnh thời cơ nấm
không phát tán được, lymphocytes T4 suy vi nặng, bệnh thời cơ
nấm nẩy sinh ra ào ạt ngay. Điều nầy chứng minh chính bạch huyết
cầu Lymphocytes T4 là chuyên gia tiêu diệt vi-khuẩn và siêu vi
gốc thực vật, mà đặt biệt là siêu-vi-nấm HIV. Điều nầy chứng
minh rõ ràng siêu-vi HIV có nguồn gốc nấm.
Để đề
phòng những bệnh-thời-cơ trong biến chứng bệnh Sida (Aids) hầu
hết đều là những bệnh do vi-khuẩn nấm, người ta cho người bị
nhiểm siêu-vi HIV uống một liều nhỏ thuốc chống nấm. Điều nầy
khẳng định rằng tế-bào bạch-huyết Lymphocytes T4 là loại tế bào
có chức-năng đặc thù tiêu hủy các vi-khuẩn gốc thực vật, mà điện
hình là siêu-vi HIV.
Vậy
trong bệnh Sida (AIDS), chính bạch huyết cầu Lymphocytes T4 đi
tìm HIV để tiêu diệt, chứ không phải HIV thích đi tìm
Lymphocytes T4 để xâm chiếm. Chẵng khác nào cảnh sát đi tìm ăn
cướp để tiêu diệt chứ ăn cướp dại gì đi tìm cảnh sát. Nhưng sau
một thời gian chống cự mảnh liệt thì ‘cảnh sát’ Lymphocytes T4
bị thua và bị sát hại bởi ‘bọn ăn cướp’ HIV !
VII-
Tính cách bất động của siêu vi và cực siêu vi :
Theo
quan niệm Sinh-vật-học của Y-khoa từ trước đến nay, người ta
vẩn cho là siêu vi biết di động (Biologie moléculaire de la
Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian Lewis, Martin
Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8 năm 1990, trang 249). Chúng
ta thử chứng minh lại nhận xét nầy.
Từ trước
người ta cho rằng siêu vi di chuyễn được vì có màng-vỏ và màng
mở bọc ngoài, và vi-thể và vi-chuyển-thể không di chuyễn được vì
không có màng. Quan niệm nầy không đúng. Sự di chuyển của các tế
bào động vật là nhờ giả túc (pseudopodes). Mà muốn có giả túc
phải có dịch-bào (cytoplasme). Ngay các thể-bào (organites) nhỏ
nhất trong dịch-bào (cytoplasme) của tế bào, muốn di chuyển phải
có giả túc. Ví dụ như thể-bào-tiêu-thực (vésicules
phagocytaires) trong dịch-bào, muốn di động thì chúng phải nhờ
đến môi trường dịch-bào trong chính nó để mọc giả túc. Siêu vi
không có dịch bào, nên không có giả túc, nó hoàn toàn không thay
hình đổi dạng để di chuyễn.
Nhờ kính
hiển vi điện tử, người ta thấy được siêu-vi rõ ràng, chúng không
hề có giả túc. Không có giả túc siêu-vi làm sao có thể di chuyễn
được. Vậy chúng ta có thể kết luận rằng siêu-vi không di chuyển
được. Mọi sự thay đổi chổ của nó là do yếu tố bên ngoài.
Vậy
siêu-vi không chứa dịch-bào nên chúng không thể di chuyển. Vả
lại, bằng cớ là lúc vào trong tế bào siêu vi bỏ màng nhân của nó
lại bên ngoài màng tế bào mà vẩn đi lại như thường. Vậy sự di
chuyễn của nó không phải tự động nhờ màng vỏ của nó. Môi trường
di chuyễn mạnh mẻ của siêu vi là bơi lội trong dịch bào; rồi gặp
cơ hôi mà băng qua màng nhân vào tận trong nhiểm sắt thể của
nhân tế bào để cấu kết với ADN của nhân tế bào.
Qua tia
sáng mặt trời chúng ta thấy trong không khí hàng tỉ tỉ hạt bụi
lớn nhỏ bay khắp nơi, sự bay này không thể cắt nghĩa là các hạt
bụi biết di động. Siêu-vi vào nhiểm hại tế bào, rồi lại đi qua
các tế bào khác là do sự lan tràn và sự bùng nổ của tế bào làm
siêu vi văng đi khắp nơi. Và cuối cùng là do máu và bạch huyết
đưa đi khắp cơ thể.
Chứng
minh về tính bất động của siêu-vi chỉ là để bổ túc thêm cho
chứng minh nguồn gốc thực vật của nó. Vì nếu đã là thực vật thì
không di chuyễn được. Ngoại trừ là sự di chuyễn của thực vật có
điều kiện như những cử động của hoa ăn ruồi, của nhiều loại cây
lá, của cây ăn thịt người ở Phi-Châu.
Ngoài
ra, những tính chất của ung thư do siêu-vi gây nên, như độ cứng
cao, những tế bào ung thư kết lại thành khối cứng mọc lởm chởm,
sần sùi. Nhưng đồng thời từng tế bào một rất dễ bị tách ra trôi
theo dòng máu và bạch huyết, cũng góp phần chứng minh lý thuyết
siêu vi có tính chất bất động và nguồn gốc thực vật.
VIII-
Siêu-vi không gây bệnh và siêu-vi gây bệnh - Tại sao tế bào
cơ thể bị siêu vi tấn công ?
Như
chúng ta đã biết siêu-vi và cực-siêu-vi là những sinh vật hạ
đẳng chỉ gồm có nhân chứa đựng các nhiểm sắc thể ADN và ARN.
Chúng có mặt tràn đầy trong không khí, đất đai, trên da và trong
cơ thể mọi sinh vật để sống ký sinh hay sống tiềm sinh mà không
hề gây bệnh.
Mổi ngày
chúng ta hít thở, ăn vào trong cơ thể hành tỉ tỉ tỉ siêu-vi.
Bình thường sức đề kháng của các tế bào cơ thể con người vượt xa
tác dụng gây bệnh của siêu vi. Và như thế các tế bào cơ thể bình
thường luôn luôn đủ sức tiêu hóa hoặc chặn đứng mọi khả năng
hoạt động và sinh sãn của siêu vi. Chúng bị dồn ép sống tiềm
sinh trong những ốc đảo.
Hầu hết
trẻ sinh ra bị những vết nốt ruồi đen, đỏ, nâu, xanh trên da
hoặc trong cơ thể; những vết nầy chính là những nhóm siêu vi
tiềm sinh cấu kết lại và bị tế bào cơ thể đẩy ra ngoài da hoặc
ẩn náu trong người. Nếu cơ thể mạnh ốc đảo siêu vi tiềm sinh,
những nốt ruồi nầy có thể dần dần biến mất, hay ngược lại mọc
thêm, hay không thay đổi suốt đời.
Nhờ sức
đề kháng của cơ thể mà siêu vi luôn bị tiêu diệt. Nếu không thì
chúng buộc phải sống tiềm sinh để chờ đợi cơ hội thuận tiện hầu
biến từ siêu vi vô hại thành siêu vi độc hại. Vì thế sự độc hại
của siêu vi tuỳ thuộc hoàn toàn ở cơ thể chúng ta.
Khi
những lý do từ bên ngoài và bên trong cơ thể làm suy giảm sức đề
kháng, siêu vi trở nên mạnh, chúng từ những ốc đảo bùng ra để
hoạt động gây tai hại cho cơ thể. Nghĩa là siêu vi có thể gây
nên ung thư hoặc nhiều loại bệnh khác nhau có nguồn gốc siêu vi.
Nhưng đâu là nguyên nhân bên ngoài và bên trong cho phép siêu vi
trở nên độc hại đối với tế bào cơ thể con người ?
Con
người có đời sống văn minh ngày nay bị đầu độc không ngừng bởi
những hoá chất trong không khí, trong thức ăn, nước uống... Đó
là những chất không phù hợp với bản tính thiên nhiên của tế bào
(partenaires anormaux). Ngoài ra còn phải kể đến những vết
thương trầy da, vết thương li ti trong đụng chạm tình dục, do
giải phẩu, do bầm dập, do nhũng tác động thẩm mỹ tai hại, lột
da, chích Silicon, tắm trắng da, nối tóc, son phấn hóa chất độc
làm thương tổn tế bào.
Hiện
cuộc sống văn minh của con người bị ngâm trong những môi trường
đầy độc tố cho thần kinh và cơ thể. Sự lạm dụng tối đa các loại
thuốc, thức ăn uống, cà-phê, thuốc lá đầy độc tố, lạm dụng tối
đa thuốc trụ sinh, các chất corticoides các chất hormones qua
nhiều thế hệ cũng đã làm hao mòn chức năng thiên nhiên chống vật
lạ xâm nhập cơ thể của các tế bào và đặc biệt là của bạch huyết
cầu. Bạch huyết cầu hầu như không còn được xữ dụng và không có
sự luyện tập thường xuyên khi cơ thể luôn có một khối dự trữ
trụ-sinh khổng lồ và ngày càng gia tăng. Tất nhiên sức mạnh của
bạch huyết cầu phải suy thoái. Các kích thích tố, thức ăn và
không khí chứa đầy độc tố đem đến cho tế bào cơ thể quá nhiều
yếu tố bất thường (partenaires anormaux) mà chúng phải chịu đựng
hàng chục năm và từ thế hệ nọ qua thế hệ kia tích tụ lại và di
truyền lại nhiều đời.
Một yếu
tố quan trọng là đời sống tinh thần. Con người của thời đại văn
minh sống xa thiên nhiên, đầu óc luôn đầy dẩy suy tư, tham vọng,
ganh ghét, lo âu, sầu buồn, phiền muộn, thất vọng, chua cay, tức
giận, hận thù, ham muốn tiền tài, danh vọng. Một trong các thứ
nói trên đủ phá hoại hệ thống đề kháng và tính miển nhiểm của tế
bào. Có khi chỉ là những điều đau khổ nhỏ nhoi không cảm nhận
được, nhưng tích tụ lại với thời gian như giọt nước làm tràn ly
nước. Đó là cơ may thương xãy ra, và cũng là cơ may béo bổ nhất
khiến siêu vi dễ dàng xâm phạm tế bào cơ thể.
Những ưu
tư phiền muộn chất chứa này có thể coi như một loại « siêu-vi vô
hình » cực độc ngặm nhấm phá hoại cơ thể còn mạnh hơn hàng trăm
lần những chất độc tố khác. Loại « siêu vi vô hình » nầy mở
đường cho siêu vi tấn công nhanh chóng vô cùng (phiền muộn là dễ
sinh cúm, dễ sinh đau răng, dẽ cảm mạo, dẻ bị lây bịnh....).
Trung ương thần kinh mệt mỏi, mất thăng bằng, suy sụp không điều
khiển được sức đề kháng, không giữ được tính miễn nhiễm gây tai
hại ghê gớm cho tế bào thần kinh và toàn cơ thể. Đó là cơ hội
quá tốt cho siêu-vi xâm lăng tế bào.
Yếu tố
cuối cùng là sự lạm dụng dục tình thái quá, hoặc sống trong tình
bất chính. Tinh lực con người bị suy thoái cùng lúc với thần
kinh. Nghị lực con người là một sức mạnh vô biên bị hủy hoại,
đặc biệt là trong những cuộc dâm dật dơ bẩn đồng tính luyến ái.
Hai dòng điện khác tên âm và dương thu hút nhau sinh năng lực,
hai dòng điện cùng tên đẩy nhau là nguyên lý thiên nhiên. Nhưng
nếu bắt buộc 2 dòng điện cùng tên phải ép lại với nhau, tất
nhiên phải tổn hao một năng lực lớn. Do đó trong trường hợp đồng
tình luyến ái có sự mất mát lớn về nội lực thể chất và nghị lực
tinh thần. Mất cả hai lực nầy, các tế bào trong cơ thể mất mát
sức đề kháng và tính miển nhiểm hoàn toàn, chúng trở thành yếu
đuối hơn các giống sinh vật hạ cấp là siêu-vi. Đó là nguyên nhân
khiến con siêu vi HIV yếu đuối trở nên mạnh mẻ phi thường trong
cơ thể người đồng tính luyến ái. Và từ đó sinh ra một dòng HIV
cực kỳ độc tác hại mọi người.
Thế giới
đã tấn công, xô đẩy trẻ em vào việc tình dục ngay tại học đường
một cách vô nhân đạo. Họ đã phá hoại hết cả đời sống ngây thơ
trong sạch nơi cơ thể lành mạnh mà sức đề kháng còn yếu đuồi của
trẻ em. Vì học đương nhiên phải thực hành, mà trẻ em thực hành
dục tính là trẻ em tự sát, nhân loại tự sát. Người ta đã hãm
hiếp trẻ em tại học đường hay dạy cho chúng tự hãm hiếp nhau, tự
phá hoại cơ thể của nhau. Trí thông minh của loài người đã ngu
xuẩn dẩn loài người trở thành dã man yêu quái hơn thú vật, độc
ác hơn là kẻ hùm beo, tàn sát nhiều thế hệ trẻ em ngây thơ trong
trắng, hậu quả thật quá bỉ ối, khủng khiếp. Trẻ em mà bộ phận
sinh dục như những bông hoa còn búp non, cánh nhụy chưa phát
triển, đã bị xã-hội đẩy vào đường tình dục ô-uế làm mất hết bao
ý nghĩa thơ mộng của tuổi thơ. Cơ thể tuổi thơ bị kiệt quệ,
tương lai đen tối, bị tiêu hao, bị phá hoại một cách man rợ,
sinh ra suy thoái, tàn tạ, già nua thể chất và tinh thần nhanh
chóng. Không biết mai đây cơ thể các em bé bị phá hoại bằng tình
dục sẽ bị suy vi và bị bệnh truyền nhiểm do cực-siêu-vi đột biến
và di truyền lại cho loài người còn khủng khiếp đến như thể nào.
Phải chăng đó là mầm móng tiêu diệt loài người một cách đê tiện
do chính con người cố tình tạo ra ?
Sau
những việc lạm dụng tình dục bừa bải hổn loạn, còn phải kể thêm
việc phụ nữ trẻ uống thuốc cai đẻ, phụ nữ già uống hóc-môn theo
lời khuyên nhủ dọa dẩm sợ bệnh loảng xương của quý ông quý bà
bác sĩ. Các vị nầy nhận tiền của các hãng bào chế giàu có ra sức
cổ vỏ uống thuốc hóc-môn bất chấp quyền lợi sức khoẻ đàn bà.
Bệnh loảng xương xa vời đâu không thấy, trước mắt bao nhiêu biến
chứng sinh ra do độc chất của hóc-môn. Thật quá sức là tội
nghiệp cho đàn bà, đã phải kinh nguyệt, sinh con nuôi con, nội
trợ, rồi học hành làm việc giống đàn ông, lại thêm bị đàn ông ỷ
là phái mạnh, dành dực, ức hiếp, đàn áp, đối xữ bất công về tất
cả mọi mặt ngoài xã hội, lại còn bị đầu độc cơ thể đàn bà bằng
hóc-môn.
Người ta
lấy cớ sợ nạn nhân mãn trong vài thế kỷ nữa nhưng họ không thấy
nạn đau khổ của đàn bà hiện tại. Họ tổ chức cho uống hóc-môn
ngừa thai cai đẻ, phỉnh gạt khuyên uống hóc-môn sau khi tắt kinh
(thật là kinh tởm) kẻo sợ già, sợ mục xương. Lại bày ra đặt vòng
xoắn như lạc đà trên sa mạc để phục vụ cái con heo lòng của bọn
đàn ông. Họ đâu quan tâm rằng rằng vòng xoắn cọ xát thường xuyên
gây thương tích cho tế bào ruột tử cung mà gây nên ung thư dễ
dàng.
Ngoài ra
còn một vấn đề cần nói đến, đó là chuyện phòng the. Sự giao hợp
giữa vợ chồng thường sinh cho cổ tử cung và cả thân tử cung
người vợ bị những cú va chạm mạnh liên tục. Sinh ra những vết
thương nhỏ li ti, đủ cho siêu vi xâm nhập. Những vết thương đó
được lập đi lập lại nhiều lần trước sức tấn công của siêu vi,
thì làm sao mà siêu vi không có cơ may dễ dàng đột biến một tế
bào cổ tử cung hay thân tử cung để sinh ra một bứu hiền. Rồi từ
bứu hiền đến bứu dữ, nhất là trong trường hợp người đàn bà có
vấn đề uất ức đau khổ vì chồng phản bội. Tất cả những thứ đó
khiến cơ thể các bà vợ mất sức đề kháng và tính miễn nhiễm dễ
dàng. Ung thư vú và tử cung tự do phát triển ào ào.
Đàn ông
thì thuốc lá, cà phê, rượu mạnh, ăn uống phủ phê cho no cơm ấm
cật, rồi thuốc kích thích viagra, đồng tính luyến ái, lén vợ đi
chơi bời tìm cảm giác mới vv. Đó là những cơ hội làm mất sức đề
kháng và miễn nhiễm của cơ thể. Trong những hoàn cảnh trên, tế
bào bị thương tổn và mất sức mạnh đề kháng thiên nhiên, thì dầu
sinh vật yếu đuối đến đâu cũng có thể tấn công tế bào.
Do đó sự
hấp thụ dưỡng khí của tế bào bị sa sút, sự bị o-xy hóa gia tăng,
sức tống khứ các độc tố yếu kém, sự chuyển hóa dinh dưỡng tế bào
đúng mức (eumétabolisme cellulaire) bị suy thoái. Sức mạnh của
tế bào bị hạ xuống thấp ngang hàng hay thua kém sức của siêu-vi.
Tất cả đó là những cơ hội tốt làm cho siêu-vi hiền lành, đột
biến thành siêu-vi hung ác gây bệnh nguy hiểm không thể lường.
Trên đây
là những lý do có thể tránh được để khiến siêu-vi bớt có đường
hoạt động. Y-khoa đã chứng minh vi-trùng, vi khuẩn hay siêu-vi
càng được nuôi dưỡng và sinh sãn trong những môi trường tốt thì
càng trở nên ác độc. Khi một siêu-vi gặp thời cơ sinh sãn trong
một tế bào rồi tung ra những tế bào khác, sức mạnh của nó đột
nhiên được gia tăng mảnh liệt. Sự thắng trận đầu tiên nầy đã
biến siêu-vi thành một giống siêu vi mới độc hại, rồi lây lan ra
khắp nơi, bất trị. Vì thế chúng ta thấy ngày càng xuất hiện thêm
nhiều bệnh siêu-vi giết người.
Nhìn
chung, xã-hội loài người với chủ nghĩa hiện sinh, với đời sống
vô luân lý, thiếu lương tâm và lương tri, con người đã tạo ra
nhiều điều kiện cho sự suy nhược tế bào cơ thể, đồng thời tạo cơ
hội cho siêu-vi phát triển để tiêu diệt loài người. Như vậy là
siêu-vi-vô-độc trong cơ thể trở thành độc-hại cho tế bào.
Những
yếu tố khác như các bức xạ, X-quang, tia tử ngoại, những màu sắc
hóa học và hàng trăm hoá chất khác đều có tính chất gây ung thư.
Các bức xạ thì đốt cháy gây thương tích cho tế bào : Ví dụ các
tia cực tím của ánh sáng mặt trời đốt phá làm tổn thương tế bào
da khiến chúng mất đi tính chất đề kháng nên dễ bị siêu vi đột
biến mà sinh ra bệnh ung thư da. Các chất màu và hóa chất thì
đem đến cho tế bào những phân tử bất bình thường (partenaires
anormaux) phá hoại sự sống của chúng, làm chúng yếu đi mất sức
đề kháng khiến siêu vi dễ dàng tấn công.
Cũng vậy
con người không có gì phải ngạc nhiên khi nhìn thấy cơ thể người
già dầu khỏe mạnh đến bao nhiêu đi nữa rồi cũng bị tàn phá bởi
siêu-vi mà chết. Khi người già chết người ta bảo là chết già. Kỳ
thực đó là những cái chết do siêu vi tác hại chậm chạp lên tế
bào cằn cổi yếu đuối.
Vì ung
thư sinh ra bằng cách đột biến của tế bào ung thư nên không thể
có di truyền, di truyền là truyền từ gène. Người ta đã quan sát
và cho là di truyền. Có thể gọi là di truyền gián tiếp, vì đây
chỉ là sự lây lan loại siêu vi mạnh có khà nămh biến đổi đột
ngột tế bào ung thư từ cha mẹ qua con cái. Ở đây cũng có thể có
sự di truyền tính chất đề kháng yếu từ cha mẹ. Do đó siêu vi có
thể tác động sinh ung thư dễ dàng mà thôi. Ngoài ra thể kể thêm
cách sinh sống cẩu thả của cha mẹ ảnh hưỡng đến con cái, ví dụ
cha mẹ nghiện cà phê, cần sa ma túy, thuốc hút, nghiện rượu, hệ
thần kinh yếu vv. Rồi đến môi trường, hoàn cảnh sống, và cách
sống cẩu thả và thiếu phòng vệ tinh thần cũng như vật chầt của
con cái.
Những lý
do trên khiến con cái có thể có ung thư giống cha mẹ, hoặc
không. Cũng như ngược lại cha mẹ không ung thư nhưng sinh con có
ung thư. Như vậy ung thư có sinh ra hay không tuỳ thuộc rất
nhiều yếu tố của cơ thể gồm nội và ngoại môi sinh chứ không do
di truyền.
X-
Siêu-vi đột biến thành tế bào có tính di truyền riêng biệt :
Sau khi
siêu vi đột biến tế bào cơ thể để sinh ra tế bào ung thư, tính
chất di truyền do siêu vi làm chủ đầu tiên được chứng minh rõ
nét nhất là tính chất độc bào, chứ tế bào con
người là thành phần của sự sống cơ chế đa bào. Trong trường hợp
nầy mà cho rằng sự sinh sãn rối loạn của ung thư là hoàn toàn
sai lầm.
Khi môi
trường nội tế bào mất hết sức đề kháng, ARN (ARN được biến thành
ADN như đã nói trên) hoặc ADN của siêu-vi tự do lang thang đây
đó, lọt vào đến nhân tế bào cơ thể, vì đồng tính chất, có lẻ
ADN của tế bào con người hút lấy ADN siêu vi (Hình IX, X). Hai
ADN đón nhận, ôm choàng lấy nhau, kết hợp làm một (Hình XI). Thế
rồi hai ADN được nối vào nhau (Hình XII) như trường hợp tinh
trùng và noản tử để làm thành một ADN mới. Lúc đó ADN mới sẽ bắt
đầu sinh sãn làm 2 làm 4 ngay (Hình XIII, XIV, XV). ‘ADN mới’
tạo một nhân mới có nhiễm sắc thể nhiều hơn số nhiểm sắc thể 46
của con người. Đó là một tính chất chứng minh tế bào ung thư
không còn là tế bào cơ thể.
Nhân mới
này lấy luôn toàn thể phần còn lại của tế bào cơ thể mà cấu tạo
nên tế bào mới. Như vậy toàn thể tế bào cơ thể hoàn toàn bị ADN
của siêu-vi chiếm cứ để làm nên một tính chất riêng biệt là :
Tế bào ung thư có hình dạng của tế bào do siêu vi xâm chiếm,
ví dụ tế bào vú, tế bào tử cung, tế bào gan, tế bào thần kinh
vv.
Khi ADN
của tế bào cơ thể bị mất tính chất di truyền thì tế bào cơ thể
coi như đã bị tiêu diệt phần di truyền. Siêu vi cũng biến mất
bản chất siêu vi của nó khi nó phối hợp với tế bào cơ thể sinh
ra tế bào mới. Nhưng sự phối hợp nầy cho thấy tính chất độc bào
nấm của siêu vi, nên siêu vi nắm quyền chủ động về sinh sãn
và trôi đi đây đó sinh ung thu con. Cái chết của cơ thể con
người bắt đầu từ đây.
Sự đột
biến của siêu vi, độc-vi-tế-bào-chưa-đủ (vì nó không có dịch
bào) sinh ra tế bào mới có đời sống độc lập giống nó. Như vậy
phần tính chất di truyền nấm của siêu vi làm chủ. Vậy là phần
tính chất đa tế bào thực vật di truyền của tế bào cơ thể mất
hẳn. Chỉ còn lại là phần vật chất và hình dáng của tế-bào cơ
thể được ghép vào cho siêu vi để tạo nên một tế bào mới. Đó
là sự đột biến của siêu vi trên tế bào cơ thể để sinh ra tế bào
ung thư mà trong đó siêu vi nắm quyền chủ động.
Thật
vậy, phần thân thể của tế bào cơ thể đã bị dùng để ghép vào cho
siêu-vi để nó có đủ yếu tố đột biến thành một tế bào mới. Có thể
nói rằng xác tế bào cơ thể bị thụ động theo sự sống của siêu vi.
Siêu vi chiếm tế bào cơ thể, siêu vi cấu tạo tế bào mới có hình
dáng bên ngoài nguyên vẹn của tế bào cơ thể. Vì siêu vi nắm
quyền chủ động, và vì tế bào cơ thể đã chết khi nhiễm sắc thể
không còn là 46. Và như thế tính chất nấm siêu vi cũng truyền
qua cho tế bào mới luôn.
Như vậy
là hoàn tất sự đột biến do siêu-vi chủ trương trên tế bào cơ
thể, để tạo thành một tế bào mới hoàn toàn khác lạ, có những
tính chất di truyền nấm đặc trưng mới. Tế bào nầy không còn là
một thành phần đơn vị của cơ thể, cũng không còn là siêu-vi hay
cực-siêu-vi, nó hoàn toàn là một tế bào nấm mới, độc lập.
Vậy là
việc siêu-vi đột biến chính nó và tế bào cơ thể thành tế bào nấm
mới đã hoàn thành. Đây là một hình thức ‘phối hợp’ (với tinh
trùng và noản sào thì người ta quen gọi là thụ tinh) mà trong
đó siêu-vi hoàn toàn nắm quyền thống trị (caractère dominant).
Những biến chuyển trên có thể viết theo công thức sau:
ADN
siêu-vi nấm độc bào + ADN cơ thể ---> 2 ADN đột biến
2 ADN
đột biến+Màng và dịch bào cơ thể (vật ghép) --> Tế-bào nấm
XI- Sự
hình thành tế bào ung thư nấm :
Như
chúng tôi đã chứng minh ở trên rằng siêu-vi và cực siêu-vi có
nguồn gốc thực vật, là một loại siêu-vi-nấm. Vậy khi tế bào cơ
thể biến mất vì bị chiếm ADN và dịch bào, hình hài tế bào cơ thể
lập tức bị ghép vào với siêu-vi-nấm để cho ra đời ‘tế bào mới’.
Như trên vừa chứng minh ‘tế bào nấm mới lạ’ nầy là những sinh
vật độc bào, sống ký sinh trong cơ thể con người và nó tự do, có
một môi trường thuận lợi, quá đầy đủ chất dinh dưỡng để sinh
sãn. Tế bào nấm mới lạ nầy hoàn toàn sinh sãn tự do, và sắp xếp
hổn loạn, vì mổi tế bào là một sinh vật riêng rẽ, chúng nó không
tuân theo mệnh lệnh của cơ thể con ngưới, vì nó không còn thuộc
về cơ thể.
Đó là sự
hình thành tế-bào-nấm ký sinh trong cơ thể con người chứ không
còn việc siêu vi ký sinh trong tế bào. Tế bào cơ thể coi như
hoàn toàn chết. Mà dù cho tính chất động vật của tế bào cơ thể
có còn tí nào đi chăng nữa nó cũng ở vào thể hoàn toàn bị trị,
tính chìm (récessif). Trong lúc đó tính chất nấm và độc bào di
truyền của siêu-vi hoàn toàn là những tính chất thống trị
(dominant) đặc thù rất rõ ràng. Tế bào lai căng nầy vì vậy có
một sức sống rất mãnh liệt.
Vậy tế
bào mới được sinh ra là một tế bào chẵng những hoàn toàn khác lạ
với cơ thể trong tính chất di truyền mà nó còn khác về nguồn
gốc, vì nó bị ảnh hưởng hoàn toàn vào nguồn gốc của siêu-vi nấm
độc bào. Trong việc cấu kết nầy, ADN của siêu-vi độc bào trở nên
chủ-nhân-tính của tế bào mới được sinh ra do đột biến.
Bây giờ
nếu nhìn qua kính hiển vi, bên ngoài tế bào có hình dáng của tế
bào cơ thể như tế bào gan, tế bào vú, tế bào thần kinh vv.... Vì
thế khi nhìn qua kính hiển vi nền Y-học thế giới đã lầm nó suốt
50 năm nay. Thực chất thì tế bào cơ thể đã biến trở thành sinh
vật độc bào, có nguồn gốc thực vật là nấm, vì nó phải mang tính
chất di truyền ADN nấm của siêu-vi là ADN thống trị trong tế bào
mới.
Tuy tôi
không có điều kiện nhìn ‘tế bào nấm đột biến mới’ này qua kính
hiển vi điện tử. Nhưng kính hiển vi điện tử sẽ chứng minh rằng
‘tế bào nấm mới’ mang hình thù tế bào cơ thể bên, ví dụ tế bào
vú, có một số nhiễm sắc thể hoàn toàn khác với tế bào con người.
Số nhiễm sác thể của ‘tế bào nấm mới’ không còn là 46 nữa mà là
‘46 + X’ (X là số nhiễm sắc thể của siêu vi). X thay đổi tùy
loại siêu vi .
Hiện
tượng xẩy ra đơn giản như chính siêu vi là sinh vật đột biến nhờ
mặc lấy cái xác của tế bào cơ thể: đó là sự đột biến do
siêu-vi-nấm tác động, đột biến tế bào cơ thể thành tế bào nấm.
Đây là mấu chốt quan trọng của một tế bào động vật bị siêu vi
gốc nấm đột biến để cấu tạo một tế bào độc bào ‘nấm lai căn’ hay
tế bào nấm lai tế bào động vật, tế bào thuộc giống mới.
Tuy tính
chất di-truyền trong ADN của nhân tế bào mới là một tính khác lạ
đối với cả siêu vi lẩn tế bào cơ thể, nó vẩn giống siêu-vi ở
phần di truyền là cái nguồn gốc nấm, nó cũng giống siêu vi ở
điểm đặc trưng là nó là một sinh vật độc bào. Những tế bào
mới độc bào nầy không bao giờ cấu kết với nhau để làm thành mô,
trái lại mổi một tế bào là một sinh vật riêng biệt. Điều nầy
nói lên rõ ràng tế bào độc bào mới sinh do siêu vi đột biến hoàn
toàn không còn là tế bào cơ thể nữa.
Như dã
nói trên, có thể so sánh sự ‘kết hợp’ giữa siêu-vi và tế bào cơ
thể với sự kết hợp giữa một noản tử và một tinh trùng. Chỉ khác
nhau ở chổ trong trường hợp đầu là một cuộc xâm lăng mà siêu vi
nắm quyền chủ động hoàn toàn và chỉ sinh ra những sinh-vật
độc-tế-bào, vì những tế bào được sinh ra đó phải mang tính chất
gốc nấm, tính chất độc bào của kẻ xâm lăng thắng trận là siêu
vi. Trái hẳn lại với hiện tượng trên sự kết hợp giữa noản tử và
tinh trùng là một sự bổ túc cho một sự sống của sinh vật
đa-tế-bào là con người. Vì noản tử và tinh trùng đều là sinh vật
độc bào, vậy mà lúc chúng hợp lại thì sinh ra giống vật đa bào
có tổ chức cao cấp.
Hình thể
của tế bào mới được sinh ra có thể là tế bào vú, tế bào tử cung,
tế bào gan, tế bào dạ dày, tế bào thần kinh vv. Sự đột biến của
siêu vi hoàn toàn không ảnh hưỡng đến hình dáng tế bào bên
ngoài. Vì thế người ta lầm tưỡng tế bào ung thư là tế bào cơ
thể nên đã lên án tế bào ung thư là tế loại tế bào sinh sãn bất
tuân lệnh cơ quan đầu nảo là thần kinh (prolifération cellulaire
anarchique). Nhưng khi hiểu rằng tế bào cơ thể đã biến tính
thành một sinh vật nấm độc bào (être fongique unicellulaire) thì
sự lên án nầy hoàn toàn phải bỏ đi.
Giờ đây
tế-bào-nấm mới sống ký sinh trong cơ thể con người một cách tự
do thoải mái. Nó không còn tác hại tế bào như siêu-vi. Sự sinh
sôi nẩy nở của nó nhiều mãi ra làm thành những chướng ngại vật
để đè bẹp, lấn lướt, phá tan các mô và cơ-quan trong toàn cơ thể
con người. Như vậy, kết quả của sự đột biến của siêu-vi là sự
sinh sôi nẩy nở lan tràn của tế bào nấm trong cơ thể, làm cho cơ
thể tràn ngập hàng hà sa số sinh vật nấm sống ký sinh, kết chặt
với nhau thành những khối cứng lớn nhỏ khắp cơ thể không chừa
nơi đâu.
Trong
việc đột biến của siêu-vi và tế bào cơ thể, siêu-vi bị tiêu diệt
phần hình thức hạ đẳng của nó, nhưng nó giữ lại phần căn bản
thiên nhiên nấm và độc bào thống trị. Tế-bào cơ thể thì bị tiêu
diệt phần bản chất di truyền động vật nhưng lại giữ phần hình
thức bên ngoài của tế bào. Đó là sự hình thành của một tế bào
ung thư gốc nấm đầu tiên (hình XII, XIII, XIV, XV). Sự hình
thành trên có thể viết ra:
Tế-bào
mới + Tính chất nấm chủ động của siêu vi ----> Tế bào nấm mới
Độc bào
nấm mới + Sinh sãn tự do trong môi trường tốt ----> Nhóm
tế-bào nấm
XII- Sự
hình thành ung thư và di căn :
Chỉ là
vật ký-sinh trong cơ thể con người, độc-bào-nấm có một đời sống
hoàn toàn độc lập đối với cơ thể. Nó bắt đầu sống cuộc đời
tế-bào-nấm-mới bằng cách sinh sãn thật mau chóng. Hơn Y-học xa,
cơ thể biết ‘tế bào nấm mới’ là một vật lạ đối với cơ thể. Cơ
thể phản ứng ngay, bằng cách tổng động binh các mô, bạch huyết
cầu đến bao vây để tiêu diệt ‘tế bào nấm mới’ lạ kia. Trường hợp
cơ thể thất bại, TBNM sinh sãn nhiều ra làm thành bứu hiền, rồi
từ bứu hiền trở thành bứu dữ tức là ung thư.
Y-học
hiện đại nói rằng tế bào ung thư tiết ra một chất đặc biệt làm
phát sinh nhiều tia máu để nuôi dưỡng tế bào ung thư (Biologie
moléculaire de la Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian
Lewis, Martin Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8/1990, trang
965). Y-học chấp nhận nghiên cứu thí nghiệm bằng cách ghép một
mẩu nhỏ ung thư vào mắt (Hình XVI), ung thư phát triển nhanh
chóng (hình XVII); đồng thời các tia máu trong mắt cũng mọc lên
ào ạt bao vây ung thư (Hình XVIII). Y-học chấp nhận giãi thích
hiện tượng các tia máu như sau : rằng là một vật lạ được ghép
vào cơ thể tiết ra một chất đặc biệt để kêu gọi các tia máu mọc
đầy lên hầu nuôi dưỡng vật lạ đó tức là ung thư (Biologie
moléculaire de la Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian
Lewis, Martin Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8/1990, trang
965).
Tại Đại
học Havard Mỹ người ta cũng đã nghiên cứu thứ thuốc hóa chất độc
để chận đứng sự sinh sãn những tia máu bao vây quanh ung thư,
với mục đích giảm chất nuôi dưỡng ung thư để nó không có chất
nuôi béo bổ, hầu làm chậm lại sự phát triển của ung thư. Việc
nghiên cứu nầy đã được cấp Bằng Phát Minh số : 5,512,591
của Hoa-Kỳ.
Lý luận
như trong bằng phát minh số 5,512,591 của Hoa-Kỳ là một điều lầm
lẩn. Lý luận như vậy thật là oan cho cơ thể, vì cơ thể làm sao
tuân lệnh tế bào ung thư nấm ký sinh để sinh nhiều mạch máu nuôi
nó dễ dàng như vậy được. Theo chúng tôi, rõ ràng sức đề kháng
trước vật lạ xâm chiếm cơ thể chính là những tia máu mọc nhiều
vô số kể bao vây ung thư. Chúng tôi khẳng định rằng những
tia máu được mọc lên tới tấp để đem những bạch huyết cầu đền tấn
công vật lạ và sự sinh sôi nầy nở của nó trong cơ thể chứ không
thể dể nuôi vật lạ. Nhưng tiếc thay, sức đề kháng thất bại, nên
khí giới dùng để giết kẻ thù trở thành chiến lợi phẩm của kẻ
thù.
Nhưng
những tia máu mọc lên rườm rà đó không phải lúc nào cũng thất
bại đâu. Đây chúng ta hãy nhìn, những mụt ruồi xanh, đỏ, nâu,
đen là những cụm tế bào ung thư sống tiềm sinh trong ốc đảo. Sở
dĩ chúng bị nhốt trong ốc đảo sống tiềm sinh như vậy là nhờ có
một lực lượng quân đội tia máu mang đầy bạch huyết cầu đến
trường kỳ kháng chiến bao vây chúng mãnh liệt (Hình XIX, cấu
trúc của mụt ruồi) : -1- các tia máu sinh sãn giàu mạnh bao vây
tế bào ung thư tiềm sinh; -2- tế bào ung thư tiềm sinh; -3- lớp
biểu bì; -4- lớp chân bì; -4- lớp mở dưới chân bì). Những tia
máu nầy đóng nguyên chổ mãi mãi suốt đời người để canh gác,
không cho những tế bào ung thư tiềm sinh trong mụt ruồi phát
triển vào trong cơ thể. Nhưng nếu cơ thể yếu các tế bào ung thư
thắng, những tế bào ung thư nấm đen thức dậy, đánh tháo vòng vậy
chạy ngay vào cơ thể. Chúng lập tức sinh ra ung thư màu đen cứng
giống mụt ruồi, gọi là Mélanome, loại ung thư nầy rất mạnh, tiêu
diệt nó thật chua cay.
Là sinh
vật mới, sống trong môi trường bổ dưỡng, mổi tế bào ung thư đều
tự lực cánh sinh, sinh sãn rất nhanh. Chúng có đời sống độc bào
riêng rẻ sống bám víu vào nhau, nên tế bào nấm có nhiều hình
dáng lớn nhỏ méo mó không đều. Nhân tế bào ung thư sinh sãn, tế
bào chia cắt quá nhanh nên nhiều tế bào có nhiều nhân, chen chúc
lấn lướt nhau đeo cứng lấy nhau làm thành một khối cứng lởm
chởm, sần sùi không có màng bọc ngoài nhu bứu hiền. Mổi tế bào
nầy đều có một đời sống riêng rẻ, hoàn toàn không liên hệ với
nhau, nhưng chúng kết tụ thành đủ loại hình tùy theo môi trường.
Các tế bào bên ngoài mọc tự do hơn thành dây mọc rể bấu vào các
tế bào cơ thể và chui vào các mô và cơ quan xung quanh khiến cho
cục bứu dính chặt vào các mô xung quang, hoặc rơi rụng theo dòng
máu hay bạch huyết di chuyển di khắp nơi, đó là sự hình thành
ung thư (Hình XXII, XXIII, XXIV).
Những
tế bào ung thư nào kết chặc lỏng lẻo với khối ung thư thì dễ rơi
rụng vào máu và bạch huyết rồi được dẩn đi khắp nơi (Hình XXII,
42, 43). Nơi nào một tế-bào-nấm ung thư bị giữ lại, phổi, gan,
ruột, nảo bộ vv... lập tức nó sinh sôi nẩy nở thành những khối
ung-thư-con hay di-căn lớn nhỏ khác nhau. Đó là sự hình thành
những ung-thư-con-di-căn (métastases). Thường các tế bào ung-thư
di căn phổi rất dễ biết nhờ triệu chứng ho và X-quang, chúng
phát triển rất nhanh nhờ nguồn dưỡng khí phong phú trong phổi để
rồi phá hoại cơ quan thiết yếu sinh tử của cơ thể.
Các
hạch-bạch-huyết bắt giữ lại những tế bào ung thư nấm trôi dạt
theo dòng bạch huyết để tiêu diệt. Nhưng các bạch huyết cầu
trong hạch-bạch-huyết hoàn toàn bất lực trong việc tiêu diệt tế
bào ung thư nấm. Do đó tế bào ung thư nấm sinh sôi nẩy nở thành
di-căn ngay trong hạch bạch-huyết làm cho các hạch phồng to lên
rất nhanh (ví dụ hạch cổ, hạch ngực, hạch nách trong ung hư vú
vv.). Đây là thí dụ về sự thành hình những ung thư cấp 2, hay
di-căn do các các tế bào ung thư nấm lan ra hoặc trôi dạt đi xa
gây nên. Chỉ một thời gian ngắn, tế bào ung thư theo máu và bạch
huyết mọc khắp cùng cơ thể.
Cục ung
thư cấu kết như trên làm nên một khối có một bề mặt bên ngoài gồ
ghề lởm chởm sần sùi và có độ cứng rất cao, đặc tính của loài
thảo mộc. Cũng chính nhờ vào tính chất cứng và sần sùi đó mà khi
sờ tay vào các bác sĩ khẳng định ngay là ung thư.
Chúng ta
có thể ví von ung thư trong cơ thể như một cái ‘cây cách điệu’
hay ‘cây chấm phá’ (Hình XXV) do ung thu mẹ và vô số ung thư con
nắm rãi các khắp nơi trong cơ thể. Chúng tượng trương cho "cây
ung thư cách điệu" có gốc có nhành có nhánh chắc cứng, cây được
tạo thành bởi những khối nhỏ rời rạc khắp nơi, chứ không có một
cấu trúc thực vật đa tế bào. Đó là một cây nấm ‘cách điệu’
(stylisé) nằm lan tràn nhiều ít khắp nơi trong cơ thể. Mổi tế
bào của cây nấm đó hoàn toàn có một đời sống độc lập và có khả
năng sinh sãn riêng tư không ngừng. Cây nấm vô hình đó được cấu
tạo bởi những tế bào nấm rời rạc nhờ sự sinh sôi nầy nở và lan
tràn mau chóng và nhờ yếu tố máu và bạch huyết dẩn đi liên tiếp
mãi. Chính cái cây nấm ‘cách điệu’ ung thư không liên tục nầy,
sinh ra và lớn lên không ngừng đã choán hết chổ sống và sinh
hoạt của tế bào, mô và cơ quan gây nên sự tiêu diệt bất khả
kháng của cơ thể con người. Nhìn những con nấm người ta nuôi để
ăn trong bình thủy-tinh, liên kết với nhau thành một mảng lớn,
khi lấy riêng ra một tí nhỏ, chỉ cần vài tế bào nấm đem cấy nơi
khác, ít lâu sau những tế bào nấm sẽ mọc nhiều ra, liên kết với
nhau thành những con tảng nấm khác.
Sự hình
hành ung thư và di căn trên có thể viết ra như sau:
Tế-bào
nấm ký sinh + Sinh sãn tự do và kết bứu---> ung-thư
Ung thư
+ máu, bạch huyết đưa ung thư đi + sinh sãn-----> di căn
Ung thư
mẹ +di căn khắp cơ thể ---> cây nấm ‘cách điệu’
XIII -
Những đặc tính của tế bào ung thư nấm :
Theo lý
luận của chúng tôi, số nhiểm sắc thể ADN trong tế bào ung thư là
tổng số của hai nhóm ADN của siêu-vi và của tế bào cơ thể. Chúng
tôi chỉ suy luận mà chứng minh như vậy. Các phòng thí nghiệm có
kính hiển vi điển tử chỉ cần điếm số nhiễm sắc thể trong nhân
của tế bào ung thư sẽ thấy ngay số nhiễm sắc thể nầy lớn hơn số
46 là số nhiễm sắc thể của tế bào loài người.
Cuộc
sống của mổi một tế bào ung thư riêng biệt, không lệ thuộc và
cũng không giống một sự sống của tế bào ung thư nào khác, kể cả
tế bào ung thư mẹ. Rỏ ràng mổi tế bào ung thư là một sinh vật
độc bào. Cục bứu ung thư chỉ là sự kết chùm, đóng cứng, chen lấn
của hàng tỉ tỉ tỉ tế bào ung thư nấm.
Như đã
nói trên tế bào ung thư rất mỏng manh, thường sinh ra những tế
bào có hình dáng bất thường, tật nguyền, tế bào đa nhân lớn nhỏ
không đều vv. Cũng rất tự nhiên vì nó là một giống tế bào mới
được cấu tạo đột xuất. Tế bào ung-thư không dính liền nhau để
sinh ra một loại mô nào, không theo một hình dạng nào. Vì lý do
đó mặt ngoài của những cục bứu ung thư thường có dáng lởm chởm,
sần sùi, rời rạc, bên trong thì chen chúc keo chặc đặc cứng.
Sự kết
cấu tế bào nấm ung thư nầy hoàn toàn tùy thuộc môi trường sống.
Ung thư thường có hình dài ở những nơi có hình ống như phế quản,
thực quản hoặc ruột già (Hình XXIII). Những nơi được mọc tự do
ung thư biến thành những ụ lởm chởm giống như mụn trùn đất hay
hình thạch nhủ (stalactite) (Hình XXIV: 55, ung thư vú ). Đó là
nhưng di-căn ở mặt sau xương sườn lồng ngực trong ung thư vú
(Hình XXIV). Ung thư thường có hình tròn trong các mô mềm như
ung thư vú.

Không
chổ nào trên cơ thể mà tế bào ung thư không có dịp đóng lại và
sinh sôi nẩy nở ngay vào những thời kỳ hoạt động sớm nhất của
ung thư. Y-khoa thế giới chưa có cách nào để có thể chẩn đoán
những ung thư li ti khắp nơi trên cơ thể con người. Mà dầu có
nhìn thấy thì tuyệt đối việc giải phẩu là vô phương, và điều trị
bằng X-quang và hóa học trị liệu cũng chỉ là một việc làm tạm bợ
vì chẵng những không gtiết được tế bào ung thư mà giết tế bào cơ
thể trước vì mọi thuốc hóa chất chống ung thư đều quá độc, độc
cho tế bào cơ thể hơn là độc cho tế bào ung thư.
Như vậy
bệnh ung thư là một bệnh có tính cách nội khoa, tổng quát chứ
không phải là bệnh cục bộ có thể khoanh lại một vùng mà trị. Vì
thế việc giải phẩu dầu là rất sớm cũng chỉ có tính cách chữa tạm
thời, kéo dài sự sống mà thôi.
Sự hiện
diện một số vừa phải của những tế bào nấm ung thư ký-sinh trong
cơ thể hoàn toàn không gây một triệu chứng nào. Tại sao ?. Từ
đầu những tia máu bao vây ung thư đả thất bại, ung thư đã thành
công chiếm cơ thể và cơ thể đã quen chịu đựng chúng rồi, nên còn
phản ứng gì nữa. Vả lại từ đầu siêu-vi nấm đã lấy mọi chất liệu
cần thiết từ tế bào cơ thể để đột biến thành tế bào ung thư nấm.
Như vậy ngoại trừ ADN (ADN tế bào ung thư > ADN tế bào cơ thể)
phần còn lai của tế bào ung thư không khác gì tế bào cơ thể. Nó
có tình bà con gần, có cùng bản chất thực vật (état
soma-végétatif) với tế bào cơ thể, nên cơ thể dần dần quen
thuôc, chấp nhận sự sống ký sinh của những tế bào ung thư nấm
một cách dễ dàng, không gây phản ứng lắm và không cảm thấy khó
chịu khi tế bào ung thư chưa làm phiền đến sinh hoạt sự sống của
cơ thể.
Do đó sự
phát triển của những tế bào ung thư nấm ký sinh tương đối yên
lặng, không sinh các hiện tượng đối kháng của cơ thể, như lên
cơn sốt, sưng đỏ, đau nhức, không có hiện tượng dị ứng, số bạch
huyết cầu không gia tăng ầm y, mãi cho đế khi cục bứu unh thư to
lớn đè nén tế bào cơ thể và phá hại chức năng các mô cơ quan....
Khi sự lan tràn của tế-bào ung-thư-nấm xâm chiếm các mô một cách
quá đáng, rồi lại xâm chiếm các cơ-quan, chèn ép đến phá hoại sự
hoạt động của các mô và cơ quan mới gây khó chịu cho cơ thể thì
ôi thôi ! quá trể. Chèn ép đến đụng độ, tiêu hủy các tế-bào thần
kinh mới làm cho cơ thể đau đớn.
Những
triệu chứng bệnh lý xẩy ra tùy cơ quan bị xâm chiếm. Nếu tế bào
thần kinh bị xâm chiếm thì sinh ra các triệu chứng thần kinh và
tâm thần. Khi tế bào phế quản, phổi bị xâm chiếm thì sinh ra
triệu chứng ho, nghẹt thở. Khi tế bào ruột bị xâm chiếm sinh ra
táo bón, đi cầu ra máu vv. thì ung thư đã lan tràn đầy khắp
trong cơ thể không chừa một nơi nào.
XIV- Sự
hình thành bứu hiền :
Không
người nào trong chúng ta từ lúc sinh ra cho đến lớn mà không có
bứu hiền trong người. Những bứu ấy thường có kích thước từ nhỏ
bằng hột tấm, hột tiêu đến lớn bằng quả bóng bàn đó là trường
hợp những mụt ruồi nhỏ đến những bứu mở dưới da (lipome) và bứu
tử cung tử cung.

Điểm đặc
biệt của bứu không độc là chúng thường có hình dạng tròn, được
bao bọc dày đặc bằng những lớp mô không dính cứng vào cơ quan
nào, không có tia máu bao vây ồ ạt bên ngoài.
Trạng
thái của bứu không độc thường mềm, mền vì đó là chất liệu động
vật của cơ thể. Nó không sưng đỏ, không làm mủ, không gây đau
nhức.
Những
bứu không độc nầy có khi tự dộng tiêu đi, có khi phát triển đến
một độ nào đó rồi ngưng. nó chỉ làm cho người có bứu khó chịu vì
cấn cái mà thôi. Để chữa trị, các giải phẩu gia cắt nó đi dẽ
dàng, không có một lời giải đáp nào về nguyên nhân hay hậu quả.
Thường khi người ta cũng thử nghiệm tìm tế bào ung thư trong bứu
hiền.
XV- Bứu
hiền phát triển thành ung thư:
Người ta
thường gặp những trường hợp loại bứu hiền biến tính, trở thành
bứu độc, tức là biến thành ung thư. Chúng ta thữ tìm hiểu tại
sao đột nhiên cơ thể sinh ra một cục bứu tuy là bứu hiền như
vậy?. Chúng ta cũng tìm hiểu xem tại sao bứu hiền lại biến thành
ung thư ?
Trên kia
chúng tôi có nói rằng cơ thể chấp nhận những tế bào ung thư sống
ký sinh không phản ứng. Đó là sự bất đắc dĩ, cơ thể phải tự làm
quen dần với sự sống chung với ung thư khi cơ thể không chống
được. Trên thực tế, ngay tự ban đầu khi tế bào ung thư hình
thành, cơ thể đã cố hết sức kháng cự để tiêu hủy những tế bào
ung thư đầu tiên. Đây là trường hợp tương tự phương pháp giải
trừ phản ứng của cơ thể đối với những chất dị ứng.
Khi có
một tế bào đột biến thành tế bào ung thư trong cơ thể, hệ thần
kinh của cơ thể mạnh khỏe cảm nhận ngay. Cơ thể liền phản ứng
bằng cách sinh ra những tế bào của các mô, mô sợi, mô liên kết,
mô mở, các bạch huyết cầu, các thực bào (tissu épithélial, tissu
conjonctif, les cellules macrophages ...) tới tấp dồn tới bao
vây tế bào ung thư để tiêu diệt. Tế bào ung thư càng vùng vẫy
sinh sãn, tế bào và các mô càng phát triển kháng cự mạnh làm cho
bứu càng lớn để xiết chặc vòng vây và ức chế sự phát triển của
tế bào ung thư. Cơ thể phản ứng liên tục không ngừng bằng cách
sinh ra các mô ngày càng dày đặc để bao vây các tế bào ung thư.
Đó là sự hình thành bứu hiền (Hình XX).
Vì thế,
theo chúng tôi, sự hình thành bứu bứu hiến của cơ thể là một
phương cách đề kháng mãnh liệt và hiệu quả của cơ thể mạnh khỏe
và nhạy cảm khi có sự xuất hiện tế bào ung thư. Vậy cơ thể huy
động các mô bao vây chống lại sự phát triển của những tế bào ung
thư đầu tiên sinh ra trong cơ thể bằng sự cấu tạo nên bứu hiền.
Đây là phản ứng đề kháng của cơ thể mạnh mẻ và nhạy cảm. Phản
ứng đầu tiên có mục đích giết tế bào ung thư sơ khởi.
Những tế
bào các mô của cơ thể bao vây chặc chẻ tế bào ung thư là những
tế bào gốc động vật của cơ thể hoàn toàn. Chúng vâng lệnh hệ
thần kinh để cứu cơ thể sinh tồn. Những tế bào của các mô nầy
cấu kết với nhau làm thành một mô bình thường khác hẳn với hình
dạng tế bào ung thư rời rạc và chèn ép hổn độn lẩn lộn với nhau.
Vì thế chúng ta thấy bứu hiền có hình các mô liên kết với nhau
hài hòa thành một bức tường thành có màng bao bọc (Hình XX, 37,
39). Bức tường thành nầy hoàn toàn không phá hoại các mô lân
cận. Nhìn qua hiển vi chúng ta sẽ nhận rõ sự liên kết các mô
trong bứu hiền khác xa với hình dạng các tế bào rời rạc trong
bứu dữ tức ung thư (Hình XXII). Sự cách biệt xa xuôi như vậy nên
ung thư chỉ đáng gọi là ung thư (cancer) mà thôi, không nên gọi
là bứu dữ (tumeur maligne), vì không cùng thể chất với bứu hiền,
có thể gọi là bứu nấm.
Trở lại
cuộc bao vây của cơ thể quyết đấu tranh chống các tế bào ung thư
đầu tiên trong bứu hiền (Hình XX, 38). Cuộc đấu tranh nầy cũng
thật là cam go. Nếu cơ thể mạnh, thắng, những tế bào ung thư bị
tiêu diệt hoàn toàn. Sau khi tế bào ung thư bị giết hết, các mô
bao vây hết trách nhiệm sẽ dần dần tan biến, và khối bứu biến
mất. Đó là hoàn cảnh may mắn nhất. Tuy nhiên rất là hiếm hoi.
Chúng ta có thể quan sát hiện tượng nầy sự kiện mụt ruồi (grain
de beauté) biến mất ở người lớn. Nhưng thường thì các tế bào ung
thư mạnh, quyết trường kỳ kháng chiến, không thắng được, chúng
tạo nên một cuộc sồng tiềm sinh trong ốc đảo của chúng và chờ
đợi. Trong trường hợp nầy cuộc bao vây của cơ thể cũng trường kỳ
kháng chiến. Bứu hiền vẩn cứ tồn tại mãi.
Tất cả
những hiện tượng trên là những phương cách đặc thù của cơ thể
nhằm mục đích phòng vệ, chống cự sự phát triển của cực-siêu-vi,
sự đột biến của siêu vi và các tế bào ung thư. Những bứu mở bám
vào thành động mạch sẽ nói đến sau đây, cũng như sự dày ra của
thành tĩnh mạch cũng chỉ là những hình thức sinh bứu giúp cơ thể
ngăn chặn sự phát triển tai hai cho cơ thể. Vì thế trị liệu bằng
cách nông rộng mạch máu bị nghẻn mà thôi, hoặc lấy chất mở đóng
trên thành động mạch, và cắt đi những tĩnh mạch bị sưng lớn và
dài ra thì chỉ là việc làm tiêu cực bất đắc dỉ.
Nhưng
nếu vì một lý do nào đó, sức đề kháng của thể sút kém, sức phòng
vệ của các mô suy yếu không giữ nổi vòng vây, không ức chế sự
tăng trưỡng của tế bào ung thư được, tế bào ung thư bèn trổi dậy
phát triển mạnh mẻ, tiêu diệt những mô bao vây nó dần dần (Hình
XXI). Thế là tế bào ung thư thắng. Chúng biến ngay bứu hiền
thành ung thư (Hình XXII). Đó là hiện tượng ung-thư-hóa
(phénomène cancérigène ou phénomène néoplasiant) của những bứu
hiền thành ung thư. Vì thế để đề phòng người ta cắt bỏ bứu-hiền
càng sớm càng tốt.
4
giai đoạn: Từ bứu hiền đến ung thu tổng quát
XVI-
Những bệnh siêu vi :
Cho đến
ngày nay, Y khoa chính thống thế giới đã tìm ra và trị lành hẳn
hay không lành một số lớn bệnh siêu vi, từ bệnh Đậu mùa, bệnh
Sưởi, bệnh Thủy đậu (Zona), bệnh Trái dâu (Herpès), bệnh Liệt
kháng, bệnh Viêm gan A, B, C, D, E vv... Với một luận cứ táo bạo
đặt căn bản trên những kinh nghiệm lâm sàng chúng tôi đưa ra
bước đầu ra đây, rằng hầu hềt những căn bệnh nan trị mà Y-khoa
chính thống thế giới từ trước đến nay vẩn gọi là những bệnh
‘không biết nguyên nhân’, ‘không biết trị liệu’, kể cả ‘không
biết đề phòng’ đều có nguồn gốc siêu vi.
Có thể
kể bệnh Cao huyết áp, bệnh Việm tĩnh mạch, bệnh Tim, bệnh Dạ
dày, bệnh Suyễn, bệnh Dị ứng, bệnh Tiểu đường, bệnh Việm động
mạch chân, bệnh Vở hay Nghẻn động mạch nảo, bệnh Viêm thận mãn
tính, bệnh Viêm khớp, bệnh Xơ nảo (sclérose en plaque), bệnh
Rổng tủy sống (maladie de Charcot), các bệnh mắt như Viêm mí mắt
mãn tính (Blépharite), bịnh Đục thủy tinh thế mắt (nhản cầu
mắt), bệnh Cao áp xuất mắt (Glaucome) bệnh Thần kinh (Sclérose
en plaque), bệnh Tâm thần vv...
Vì với
quan niệm rằng không có gì xẩy ra bất thường mà không có nguyên
do của nó. Không thể tự dưng sinh những triệu chứng bệnh hoạn,
phải có nguyên nhân. Tất cả mọi sinh vật từ thực vật và động vật
hạ cấp nhất đến loài người, được sinh ra lớn lên rồi suy tàn
bằng những triệu chứng gọi là bệnh mà đặc biệt là bệnh nan trị.
Nguyên nhân nào đã sinh ra những bệnh như vậy. Đó là sự khấy
phá của hàng tỉ tỉ tỉ vô tận giống siêu vi, càng ngày càng nẩy
nở sinh ra thêm. Chúng phá nát phần tử nào của cơ thể yếu nhất
để sinh ra bệnh của cơ thể ấy. Những chứng bệnh nầy khởi đầu
âm thầm, không sưng đỏ, không đau nhức, không triệu chứng, đặc
biệt những trườg hợp mãn tính, thực sự đó là những bệnh có nguồn
gốc siêu vi.
Ví dụ
bệnh Cao huyết áp, đang cười nói vui vẻ, ăn uống ngon lành, ngã
ra chết hay bán thân bất toại, câm điếc đui què. Vì thế Y-khoa
thế giới khẳng định rằng bệnh Cao huyết áp là một tên sát nhân
âm thầm vô hình dáng, đi trong bóng tối để giết người nhanh
chóng còn độc địa hơn nọc độc nhất của rắn rít, và dã man hơn
bom nguyên tử, nó giết người đang mạnh khỏe một cách bất ngờ
không rớt ra một giọt máu. Những bệnh viêm không sưng nung mủ,
không đau nhức buộc chúng ta nghĩ đến nguồn gốc siêu vi, nguồn
gốc nấm.
Chúng ta
thữ nói về tính cách sinh lý của vài bệnh Cao huyết áp. Bình
thường lượng máu trong huyết quản thay đổi luôn đối với tất cả
mọi người, tất cả mọi lứa tuổi. Khi đói khát, xa bửa ăn huyết áp
hạ xuống, lúc ăn uống no nê, huyết áp tăng lê |