1-Định
nghiã.
Phosphorous là gì? Theo tiếng Hy lạp
(Greek)
thì phos là nhẹ
(light),
còn phorous là sinh ra nhiều lợi
(bearer).
Tại sao
là
nhẹ mà sanh ra nhiều lợi? Ôi, tiếng Hy lạp sao mà chứa cả khung trời
triết lý thâm sâu qúa vậy
!.
Vậy lợi ở chỗ nào? Ta sẽ được tìm hiểu sau.
Phosphorous
dù cho là dạng hữu cơ hay vô cơ
(organic
or inorganic)
đều được phân bổ khắp châu thân
con người.
Trở về thuở xa xưa mà chúng ta có thể hay không có thể đã có mà
ngày nay được tái sinh lại nhiều kiếp được làm người hiện tại,và
phải đợi đến năm
1669 khi một
nhà hoá học người Đức là Henning Brand, qua việc điều chế từ nước
tiểu
(urine),
thì thấy rằng trong đó có một hàm lượng phosphate tan trong nước tiểu
do từ sự biến đổi bình thường mà có. Cộng tác với Brand là Hamburg,
cả hai cất nước tiểu để lấy muối (salts), bởi vì trong nước tiểu có
vị mặn, thì thấy rằng trong chu trình chưng cất trên (distill), sau
cùng có một chất màu trắng sáng chói lên trong tối và bừng cháy rực
sáng lên. Từ đó trở đi, danh từ phosphorescence lại được dùng để chỉ
những tính chất chiếu sáng trong tối mà không cần đốt cháy. Vì thiếu
tài liệu nghiên cứu về vấn đề nầy, nên tôi tạm cho rằng tất cả mọi
vấn đề liên qua đến phosphorous đối với con người bắt đầu từ đây.
Phosphorous đã có trong con ngườl từ lâu và được khám phá từ năm 1669
để tìm hiểu vai trò của nó ở trong con người như thế nào?. Và
Phosphorous có lẽ cũng đã được dùng ngoài đời từ lâu rồi trước thời
điểm trên và còn trước nữa.
2-Phosphorous ngoài đời ra sao?
Khởi đầu bằng những diêm quẹt đầu tiên làm bằng hợp chất của
phosphorous của một thuở nào đó lại được coi là nguy hiễm chết người
bởi lẽ ví chính nó mang độc chất. Những kẽ tội phạm, những người
tự tử, những tai nạn do độc chất gây ra là kết quả do việc dùng các
diêm quẹt đó. Như một bà vợ hay ngược lại để cho có sự công bằng,
tham dự vào giết chồng/hay vợ bà bằng cách cho chồng/hay vợ ăn thức
ăn có trộn lẫn chất phosphorous trắng trong đó, khi người chồng/ hay vợ
chết ngay sau khi ăn, và các thám tử khám phá ra rằng thịt hầm (stew)
lại tỏa ra ánh sáng trong chính nó. Chúnh là phosphorous. Phosphorous
độc thật. Trong thế chiến thứ I (World War I), phosphorous và mọi biến
thái từ nó, là những vủ khí được dùng trong chiến tranh được coi là
rất độc hại. Còn thế chiến thứ hai (World War II), phosphorus được dùng
làm bomb trong chiến tranh, một loại bomb không thể tự chửa khi nó cháy
và con người bị phỏng vì nó thì vết thương coi như vô cùng tai hại.
Trong thị trường thương mãi, phosphorous được dùng rộng rải hơn. Như
thuốc diệt cỏ herbicide glyphosphate mà tên thương mãi là Roundup. Còn
việc sản xuất chất phosphorous trắng nên được điều chế tại chổ nơi
nhà máy sản xuất, nếu nó được chuyên chở thì nó thuộc thể lỏng hấp
thu nhiệt. Bởi lẽ, những tai nạn do sự chuyên chở, do xe lửa trật
đường rầy (derailments) xãy ra tại Brownston, Nebraska và Miamisburg, Ohio
gây ra những đám cháy kh̉ung khiếp. Cái tai nạn khiếp đãm nhất gần đây
đã hũy hoại môi sinh to lớn là vào năm 1968 là khi phosphorous bị đổ
tràn xuống biển từ vịnh Placentia Bay, Newfoundland. Như vậy, nó không
mang đến cho nhiều lợi cho con người?- Không đâu, chính nó mang lại
nhiều lợi, làm chiến tranh mau kết thúc và tiêu diệt bọn độc tài
khát máu, xóa mọi bất công xã hội, đưa ánh sáng nhân quyền chiếu
sáng dưới qủa địa cầu nầy mà người dân sống trong các nước tự do
đang thụ hưởng cái quyền làm người cứ tạm coi là khá đầy đủ và tự
do nhất.
Trở về lãnh vực hoá học vô cơ thì nó là một thành phần hoá học có
đặc tính: (atomic number) số nguyên tử là 15, (atomic weight) khối lượng
nguyên tử là 31, ký hiệu là P, không phải là kim loại (nonmetals), các
vòng điện tử (electrons) là 2 8 5, màu sắc có tới 3 thứ: trắng, đen
và đỏ. Tỉ trọng thì cũng khác nhau: đen có tỷ trọng lớn nhất, còn
trắng:1.823g/cm-3 ,đỏ: 2,34 g/cm-3, đen: 2.69gcm-3,
vv.. Cháy dễ khi để trong không khí, thiết yếu cho đời sống, dùng làm
phân bón, cháy rực sáng trong tối, vv.
Trong thương mãi nhất là Nông nghiệp, nó là thành phần hoá học quan
trọng trong việc tạo ra sự thụ tinh hoa qủa. Ra chợ mua phân bón cây cho
nhiều trái, ta thấy NPK. Chữ P chính là hắn. Nhưng không phải là hắn
mà là hắn. Tại sao? Phosphorous ở trong trường hợp nầy là do ṃôt hợp
chất mà thành có tên là phosphates, mà chất sau cùng nầy có thấy
trong hầu hết các sinh vật sống. Hay nói theo kiểu văn chương gọi là
chúng hiện hữu trong chúng sinh hữu tình và vô tình. Nghiã là chúng
đóng một vai trò tích cực trong sự sống còn từ cây cỏ cho đến muôn
vật và chúng đem đến một nguồn năng lượng và nguồn gốc của sự di
truyền. Nếu không có nó, thì không có hoa anh đào từ hàng ngàn năm
nay, nghiã là chính nó giữ những đặc tính từ ngàn đời của giống
nó. Chúng mình cũng vậy với 4000 năm văn hiến mà có hơn 1000 bị Tàu
nô lệ, 100 năm bị Tây nô lệ, vv thì ngày nay vẫn còn là con người Việt
nam, vẫn da vàng, mũi tẹt, vẫn đứng lên, luôn luôn ngưởng cao cổ tiến
tới, không biết qùy hay bò hoặc luồn cúi (to bow), cũng không cầu cạnh
hay van xin là nhờ phosphorous làm khung của sự di truyền giồng giống
Việt bất khuất. Phosphate là thứ hữu ích cho nông nghiệp vô vùng,
dưới một cái tên mới là superphosphate. Mà superphosphate là một hợp
chất giữa calcium phosphate và sulfuric acid. Một hợp chất như vậy gồm
có hai chất calcium phosphate va calcium sulphate. Để có hình dung hợp
chất ấy, phương trình được viết ra như sau:
Calcium phosphate + sulfuric acid --à calcium phosphate +calcium
sulphate
Ca3(PO4)
2 (s) + 2H2SO4 (l) ---->
Ca(H2 PO4)
2 (s) + 2 Ca(SO) 4 (s)
Superphosphate
Còn
nếu chất calcium phosphate nầy tác dụng với phosphoric acid
H3 PO4 (aq)
sẽ cho ta không những là superphosphate
mà
ph̉an ứng nầy hữu ích hơn vì tạo nhiều phì nhiêu hơn cho đất là cho
thực vật, và ta gọi đó là phản ứng cho gấp đôi phosphate hay gấp ba
lần phosphate.
Làm
sao
có được phosphoric acid?
Cái dễ nhất là nghiền nát đá phosphate (phophate rock) hay calcium
phosphate rồi cho tác dụng với sulphuric acid, giống như cách làm tạo ra
superphosphate vừa nói ở trên, rồi sau đó sử lý sulphuric acid
bằng cách dùng thạch cao (gypsum) đ̉ể cho nó kế tủa lại (precipitation)
rồi lọc, ta được một dung dịch solution là phosphoric acid khoàng 65%.
Phosphorous là một khoáng vô cơ thiết yếu trong đất mà
ta có
thể
nghiên cứu để hiểu sâu rộng về sự bảo tồn của đất
(soil
conservation)
là
hiểu
rõ thực vật hấp thụ từ dưới đất một cách có phương pháp và nhân
hậu. Nghĩa là
cây
sẽ trả lại cho đất những gì cây đã mượn lấy. Cây
cỏ còn biết giữ nhân nghiã huống chi là con người sao lại chóng quên.
Tuy
nhiên khi chất phosphate nầy vào đất và thấm vào sâu vào lòng đất ở
mạch nước ngầm hay tự nó được cho thảy vaò sông rạch một cách vô tội
vạ, thì chính
nó làm nguy hại môi sinh
(environmental
damages)
và là một thức ăn cung cấp đặc biệt cho algae
(act
as nutrient for algae)
mà ta gọi là sự bùng phát algae?
Tại
sao gọi
là
nguy hại
cho môi sinh? Vì các algae nầy hút lấy hết oxygen trong nước, nên làm
cho mọi sinh vật sống dưới nước không thể sống nổi
(almost
impossible for all)
nên tạo ra một sự ô nhiễm quan trọng
(serious
pollution problem).
Không những
thế, hợp chất phosphore còn dùng nhiều khiá cạnh một cách rất rộng
rải như trong chất nổ, thuốc xác tr̀ung, kem đáng răng và tẩy trắng,
vv. Và ta thấy hợp chất của Phosphorous có nhiều tên khác nhau như sau:
Theo
("http://en.wikipedia.org/wiki/Phosphorus")
thì compound
của phosphorous là:
Ammonium phosphate
((NH4)3PO4),Calcium
phosphate
(Ca3(PO4)2) ,
Calcium dihydrogen phosphate
(Ca(H2PO4)2),Calcium
phosphide
(Ca3P2) ,
Iron(III) phosphate
(FePO4) ,
Iron(II) phosphate
(Fe3(PO4)2) ,
Gallium(III) phosphide
(GaP) ,
Hypophosphorous acid
(H3PO2) ,
Phosphine
(Phosphorus Trihydride PH3) ,
Phosphoric acid
(H3PO4) ,
Phosphorus pentabromide
(PBr5) ,
Phosphorus pentasulfide
(P2S5) ,
Phosphorus pentoxide
(P2O5) ,
Phosphorus sesquisulfide
(P4S3),
Phosphorus tribromide
(PBr3) ,
Phosphorus trichloride
(PCl3),
Phosphorus triiodide
(PI3) ,
Monopotassium phosphate
(KH2PO4),
Trisodium phosphate
(Na3PO4) etc...
2-1- Cách tìm phosphorous trắng.
Một câu hỏi được nêu ra là tại sao lại có phosphorous
trắng? Phải nói rằng chính thiên nhiên tạo ra nó khi có đủ 3 yếu tố:
carbon, cát và hổn hợp gọi là apatite dưới một nhiệt độ cao, như vậy
là do dung nham trong lòng đất và do núi lửa phun ra ngoài mà ta thấy
có nó. Ba chất trên tạo ra phosphorous, khí carbon monoxide và calcium
silicate.
Trong thiên nhiên hầu hết và thường thấy dạng phosphate
thuộc dạng như calcium phosphate (Ca3(PO4)2).
H2O. Muốn xử lý phosphate thì dùng silica có công thức là SiO2,
và dùng than cốc ở nhiệt độ cao, rồi sau đó ta giãm dần nhiệt độ
xuống còn 100C , ta có được chất phosphorous. Phương
trình được viết như sau:
2Ca3(PO4)2
+
6SiO2
----------->
6CaSiO3
+ P4O10 (g)
P4O10 (g) +100C
--------->
P4 (g) + 10 CO
P4 là
white phosphore là một chất rắn như sáp
(waxy
solid),
có hơi ngưng tụ gọi làm thành một chất tương đối mềm, màu trắng gọi
là phosphorous trắng. Phosphorous màu trắng nầy thường tác động ngay
với oxygen trong không khí. Nếu oxygen cung cấp vào ống nghiệm có giới
hạn thì phản ứng chánh cho ta một chất gọi là phosphorous oxide P4O6.
Nếu cho nhiều lượng oxygen dư thừa, phản ứng cho công thức P4O10.
Nhưng thay vì viết P4O10 người ta lại viết P2O5
để nhắc nhở đó là phosphorus pentoxide. Nó dùng làm khô drying hay
dùng làm chất tách nước, hay chất loại nước. Cũng cần nhớ thêm là
nếu cho một ít nước vào P4O10 thì ta có một acid
có tên là metaphosphoric acid, mà dạng chung là (HPO3) m
. Nếu thêm nhiều nước nữa sẽ cho ra pyrophosphoric acid, (H4 P2O7
) và orthophosphoric acid (H3PO4 ). Nếu phosphorous tác
dụng với alkalis như dung dịch sodium hydroxide, ở trong dụng cụ thí
nghiệm không có không khí, thì ta được một thứ gas có mùi tanh hôi,
gọi là độc chất (poisonous), mà tên là phosphine (PH3). Trong
phosphine còn có chứa diphosphone (P2H4 ) không tinh
chất, rất dễ cháy khi được tiếp xúc với không khí.
Vì phosphorous trắng dễ bị cháy ngay trong không khí, nên
muốn giữ nó thì để nó trong nước. Chất phosphorous trắng nầy thường
được dùng làm bomb cháy, napalm bomb và dùng làm thuốc giết chuột. Mà
giết chuột chết được, thì người cũng cùng chung số “đỏ” như chuột.
Còn hai chất sau: đỏ và đen thì hơi rắc rối, mặc dù ít
phản ứng hơn chất phosphorous trắng, và chỉ bị cháy khi gặp lửa và
khi có sự cọ hay ma sát, cụ thể như diêm quẹt. Cách tạo phosphorous đỏ
bằng cách đốt phosphorous trắng trong chân không ở nhiệt độ 300C,ta có:
nP4
(white phosphorous) -----> (P4) n red phosphorous
Hơn
nữa hai chất đó có thể coi như là cấm và nếu có xử
dụng phải được theo dõi và kiễm soát gắt gao tại Mỹ.
3-Phosphorous trong con người.
3-1-Tại sao con người phải cần phosphorous?
Phosphorous được coi là thành phần quan trọng thiết yếu trong hóa trình
làm thành con người. Khi nó hợp với calcium thi làm thành bộ xương và
hàm răng của chúng ta, theo tỷ lệ: 2.5 phần calcium thì cần 1 phần
phosphorous, mặc dù phosphorous thì có tỉ lệ cao hơn trong các tế bào
mềm (soft tissues) (Kirschmann, 1999).Theo Stare và McWilliam (1996) thi 1%
sức nặng cơ thể của người trưởng thành là do sự hiện diện của
phosphorous. Và hơn 90% phosphorous trong cơ thể thì được kết lại hay nói
một cách khác là hợp với calcium thành một chất không tan gọi là
insoluble phosphate như xương và răng. Phần còn lại khoảng từ 65g tới 100
gram chất phosphorous thì được thấy trong các nhân bào nucleic và trong
các bào tương cytoplasm của tất cả tế bào trong thân thể, hiện hữu và
phối hợp với những hợp chất hữu cơ khác nhau. Phosphorous là trọng tâm
căn bản cho các bắp thịt mà chúng có thể hợp nhất lại và có chức
năng quan trọng gíúp cho con người (Snedeker et al, 1985; Massry et al.,
1982)
Trong con người phosphore không những là là một thành phần của DNA và
RNA, mà lại là yếu tố quan trọng thiết yếu trong sự cấu thành mọi
tế bào trong cơ thể con người để có sự hoạt đông bình thường. Có thể
nói không có phosphorous là không có sự di truyên. Hầu hết phosphorous trong cơ thể được thấy dưới
dạng phosphate (PO4). Nên nhớ hầu hết 85% Phosphorous trong cơ
thể con người được thấy qua xương (bone),
Ta cần phosphorous vì nếu không có nó thì xương và răng
của chúng ta không hiểu có cái hình thù ra thế nào. Quan trọng hơn
nữa, nếu không có phosphorous thì không có cái khung DNA và RNA. Nghĩa
là không có cái khung của sự di truyền tế bào con khi có sự phân chia
tế bào cho DNA và cũng không có nucleic acid trong nhân và trong tế bào
tương trong nhiệm vụ tổng hợp protein, thông tin, ribosome, chuyên chở và
(translation) là phiên mã.
Theo
Smith R,
2000 trong Journal.
Goodfellow về
scientific foundation thì
thiếu
chất phosphate có thể gây nên chứng osteomalacia
(xương
mềm),
hay myopathy gọi là
(disease
of muscle)
là bịnh cơ là yếu cơ và các cơ trong tay và chân phần trên bị hao mòn,
người
không lớn và bạch cầu thiếu hoạt động. Phosphate là rất cần cho vô số
phản ứng sinh lý hóa liên quan đến phosphate vô cơ chẳng hạn như adenose
triphosphate, và toàn bộ phần của phospholipids, phosphoproteins và
phosphosugars.
Phosphorous rất cần cho con người, vì chính nó đóng vai
trò chính trong việc điều hòa các năng lượng biến đổi của tế bào
trong thân thể, chính nó giúp cho cơ thể hấp thụ đường và chuyên tải
fatty acids, và chính nó dự vào m̀ột vai trò gọi là đệm nghiã là
làm cân bằng và kiễm soát acid –base trong cơ thể.
Ngoài ra phosphorous cũng tham dự vào ngoài sự biến đổi của chất béo,
của carbohydrate và của cả protein, và nó cũng hữu ích trong việc hợp
với nhiều thành phần của nhóm vitamin B, và sau cùng nó cũng dự phần
vào việc biến đổi năng lượng (Massry et al, 1982)
Vì phoshourous chính nó có một hoạt tính rất cao, nên nó không đứng
riêng rẻ một mình hay làm một thành phần tự do của chính riêng nó
trong thiên nhiên. Nó phải hợp với các chất khác.
Qủa thật, phosphorous sanh ra nhiều lợi. Đúng là danh bất hư truyền.
3-2-Tại sao Phosphorous là thành phần thiết yếu nhất để
làm thành cuộc sống của chúng sinh?
Dưới cái dạng phosphate PO4-3 của phosphorous vô cơ,
chính phosphate nầy là trụ cột của cấu trúc làm thành cái khung để
các phân tử sinh học như DNA và RNA hình thành. DNA (xem hình) là (deoxyribonucleic
acid),
tạo thành với hai chuỗi gồm những nucleotide, chúng có hình xoắn kép
và nối với nhau bằng những
nối hydrogen hay base.
Còn RNA là (ribonucleic
acid)
được thấy trong nhân và trong các huyết tương của tế bào, dùng để
tổng hợp protein. RNA do nucleic acid tạo thành một d̃ay đơn, cũng do các
nucleotide tạo thành. Ta gọi là Nucleic acids DNA và RNA là trung tâm tồn
trử và chuyển hóa về thông tin di truyền đều do những chuỗi dài
phosphate có chứa các phân tử. Tại sao? Là nhờ những diếu tố enzymes,
những hormones và những tế bào báo hiệu (cell signaling) trợ giúp cho
sự hoạt động của phosphorylation. Trong ATP (adenosine
triphosphate)
ta thấy nào là adenine, ribose và 3 nhóm phosphate trong tế bào. Mọi
năng lượng có được đều được tạo thành đểu tùy thuộc vào hổn hợp
phosphorylated chẳng hạn như
adenosine
triphosphate
(ATP) và creatine phosphate. Những tế bào sống liên kết giữa các nhóm
với phosphate có chứa năng lượng cần thiết, cũng như năng lượng về co
cơ, năng lượng nầy phóng thích khi ATP được tách thành ADP hay AMP.
Người ta thấy rằng sự tách ra do ATP thành ADP và AMP là do sự phân
hũy carbohydrates hay các chất khác trong thực phẫm mà tạo thành năng
lượng.

Trong hình
trên
ta thấy
do sự biến đổi của oxit hóa, ATP được thành hình là do
adenosine
diphosphate
(ADP)
và ions của phosphate vô cơ
(inorganic
phosphate ions).
Sự
chuyển hoá có được từ ADP thành ATP là do năng lượng oxit hoá do thực
phẫm mà nên. Năng lượng tồn kho có được khi cần thì nó được tìm lại
bằng cách là thủy phân ATP (hydrolysis). Công thức được viết như vầy:
ATP+ H2
O -------> ADP + phosphate { energy: - 8 kcal}.
Hay những phản ứng khác mà trong đó nhóm phosphate được biến đổi từ
ATP thành phân tử khác. Vì sao? năng lượng biến đổi của ATP thành ADP
hay từ adenosine monophosphate (AMP), thì chính phosphorous –oxygen bonds là
những mối nối oxygen của phosphorous trong các phân tử nầy được coi là
những mối nối giàu năng lượng hay gọi là năng lượng cao (high energy
bonds).
3-3-Quy luật
tạo thành năng lượng.
Một trong các nhiệm vụ của phosphorous là kiễm soát và duy trì năng
lượng. Goị Adenosine diphosphate (ADP) thì chứa hai phosphate căn bản. Nếu
thêm vào một nhóm phosphate nữa thì ta có adenosine triphosphate (ATP).
Nhưng còn một hổn hợp (compound), tên là adenosine monophosphate (AMP) thì
thấy nó luôn có trong cơ thể, nhưng mà tự nó lại giới hạn sự phát
huy hơn hai compounds trên. Vai trò của ATP thì rỏ ràng và đặc biệt,
còn ADP thì cũng quan trọng lắm trong việc biến dưỡng, nên cả hai có
cùng một tính chất là có mối nối giàu năng lượng. Mà nói về năng
lượng thì phải nói đến sự tích trữ hay để dành nó khi hữu sự mà
dùng, nó giống như dollar vậy. Vậy trong hai cái ADP và ATP, thì cái
nào tạo năng lượng ra để dành, để tồn kho, khi mà cả hai mối nối tạo
năng lượng có thể bẻ gãy tuỳ theo nhu cầu năng lượng cần cho cơ thể.
Cái ATP thì tạo ra năng lượng liền để dùng, và sau đó thì chuyển hoá
hay biến đổi năng lượng đó cho ADP, trong trường hợp nầy thì một mà
thôi là mối nối của nó bị gãy để cho năng lượng. Tuy nhiên, các phản
ứng ngược lại là cho phép tạo thành ATP bằng cách thêm năng lượng cho
nó. Trong trường hợp nầy thì nhóm phosphate có vai trò hữu ích trong
việc tổng hợp năng lượng từ ADP cho ATP. Chính nhờ khả năng phosphate
tạo thành những mối nối năng lượng cao nầy lại chính là một sự
thiết yếu quan trọng trong việc thực hiện việc kiễm soát và lưu trữ
năng lượng là do phosphorous.

Qúa
trình biến đổi và tồn trử năng lượng

Thêm nữa phosphorous lại thành
phospholipids.
Mà phospholipid là gì? Là lipid trong đó phosphate là một phân tử. Là
những thành phần cấu trúc chánh để tạo thành màng tế bào cellular
membranes. Là thành phần cấu tạo các cơ quan và các mô, đặc biệt là
trong não. Phospholipid được tổng hợp trong gan và cả trong ruột non và
liên quan đến tiến trình thành hình của cơ thể. Như phosphatidyl serine
và cephalin có chứa amino acid serine, được thấy trong mô ở não bộ. Như
lecithin và plasmalogen mà plasmalogen là một loại phospholipid được
thấy trong não nhiều có cấu trúc gần giống như lecithin và caphalin.
Còn một điều khá lý thú là chính phosphorus chứa phân tử
diposphoglycerate (2,3-DPG), phân tử nầy lại kết hợp với hemoglobin trong
các hồng huyết cầu và có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc tải
oxygen đến các tế bào trong thân. Đây là một vấn đề đáng được nghiên
cứu tận tường để giúp ích cho nhân loại nhất là các đồng bào bị
bịnh tiểu đường loại 2, ở vào giai đoạn cần quan tâm. Còn muối calcium
phosphate được dùng cho động vật có mục đích là làm cứng thêm
(stiffen) xương cuả chúng.
Như vậy qủa là phosphorous đã sanh ra nhiều lợi cho chúng sanh.
Còn cái gì thêm nữa? Một người trung bình có trong cơ thể ít nhất là
1 kg phosphorous, mà trong đó ¾ kết hợp thành xương và răng thuộc nhóm
apatite, là một nhóm khoáng chất phosphate bao gồm có 10 loại khoáng
được biết có dạng 3Ca3 (PO4)2,CaX2
trong đó X biểu tượng cho F-, Cl- hay OH-.
Tuy nhiên,
phosphorous không phải bám và ở trong cơ thể con người mãi mãi, cũng
phải là loại chịu đấm ăn xôi, cũng không phải là thứ ham quyền cố
vị, vì chính phosphorous cũng hiểu rỏ cái vô thường của vũ trụ, có
sanh phải có diệt, có đến rồi phải có đi, có hợp rồi phải tan, có
rồi không, hay không rồi có.
Vì
Khoa học cho biết rằng một người trưởng thành có chế độ ăn uống tốt
và
được sống trong thế giới kỹ-nghệ
thì tiêu thụ và bài tiết ra
khoảng
1-3 gram
phosphorous mỗi ngày dưới dạng phosphate. Vì nếu phosphorous nằm lỳ
trong cơ thể mãi, thì con người lại càng mau chết. Con người nên nhìn
vào phosphorous đó mà rút ra b̀ai học cho chính mình: không có gì tồn
tại mãi đâu, độc tài nào rồi cũng phải qua, lưu manh nào cũng chỉ
nhất thời, tráo trở nào rồi cũng ló đuôi, tất cả đều thải ra ngoài
đường tiểu như phosphorous vậy.
Phosphorous với calcium tạo tành bộ xương của chúng sanh, rồi nhờ nó
mà sự di truyền mới có chúng sanh với cá tánh khác, mắt mũi khác,
tỉ tỉ người không ai giống ai và cũng không ai giống mình.


Trong
hình trên ta thấy nucleic acid là những chất trùng hợp mà trong đó
những đơn vị được lập lại chính là những phân tử đường mà những phân
tử đường nầy nối với nhau bằng những mối nối phosphate.
Ngoài ra, theo Journal of the American College of Nutrition.2000
thì
một sự nghiên cứu mới đây cho biết 11 thanh thiếu niên nếu ăn fructose
(vì fructose cho 20% tổng số năng lượng) thì kết qủa cho thấy rằng thì
nước tiểu lại gia tăng sự mất mát (to lose) phosphorous và sự cân bằng
phosphorus không có, gọi là âm hay negative. Như ta đã nói ở trên, sự
mất mát phosphorous mỗi ngày còn cao hơn là sự hấp thụ nó vào cơ
thể. Sự mất mát phosphorous trong chế độ dinh dưởng cũng kéo theo sự
yếu kém về magnesium. Cả hai đưa đến gia tăng sự ức chế của sự biến
đổi của fructose thành fructose-1-phosphate trong gan. Nói một cách khác,
gia tăng của fructose-1-phosphate trong tế bào thì không ức chế được
diếu tố enzymes, mà diếu tố nầy phân hủy fructose thành
fructose-1-phosphate (hay là glycogen thành glycogen-1- phosphate ở trong gan
hay thận. Điều trên cho thấy tại Mỹ, fructose được tiêu thụ nhiều nhất
là khi có sự gia tăng vào năm 1970, phần lớn là đường fructose làm từ
bắp (corn), thì ngược lại cũng tại Mỹ, sự tiêu thụ magnesium tự giãm
đi từ 100 năm đã qua (past century). Đây là một vấn đề liên quan giữa
fructose- phosphate và magnesium. Theo web
zealandpublishing.co.nz/phosphorousbook.html
tại New Zealand thì tỷ lệ lý tưởng giữa calcium, phosphourous và
magnesium là 4:2:1 nghĩa là 4 phần calcium; với 2 phần phosphorous và 1
phần magnesium. Ngày nay, tại New Zealand trong chế độ ăn uống có khuynh
hướng tăng phosphorous lên, và giãm calcium xuống còn 1:3:1 là 1 calcium;3
phosphorous và1 magnesium.
4-Những vấn đề cân quan tâm liên quan đến phosphorous.
4-1- Phosphorous với calcium và vitamin D ra sao?
Như ta biết khi tiêu thụ phosphorus vào cơ thể thì nó được
hấp thụ qua ruột non, còn lượng dư thừa phosphorous được hấp thụ thì
được thải ra đường thận. Sự điều hoà hàm lượng calcium và vitamin D
trong máu thì liên quan đến (interrelate) sự tác động của hormone tuyến
cận giáp (parathyroid
hormone) PTH và vitamin D. Nghĩa là khi
hormone lên cao thì gây nên một sự chuyển calcium từ xương vào máu, và
khi hormone nầy xuống thấp hay thiếu đi, thì calcium trong máu sẽ hạ
xuống và gây nên sự co giật. Hay nói một cách khác thì khi hàm lượng
calcium trong máu cao thì ta có hiện tượng gia tăng sự tiết ra hormone
của tuyến giáp. Hay nếu PTH hormone của tuyến giáp gia tăng thì có sự
gia tăng ngược lại của vitamin D làm thành calcitriol trong thận (Harland
et al., 1980, 1990; Allen., 1982)
Nói một cách khác nữa, khi có sự gia tăng hàm lượng calcitriol thì đưa
đến kết qủa là có sự gia tăng hấp thụ calcium và phosphorous. Cả hai
hormone tuyến giáp PTH và vitamin D kích thích (stimulate) xương hấp thụ
lại, vì sự mất chất khoáng của xương là calcium và phosphate vào trong
máu. Dù cho hormone tuyến giáp kích thích đưa đến sự giãm calcium tiết
ra trong nước tiểu, thì dẫn đến là gia tăng hàm lượng phosphorous bù
lại trong nước tiểu đó. Sự gia tăng hàm lượng phosphorous trong nước
tiểu thì giúp nhiều lợi hơn là khi hàm lượng calcium trong máu lên đến
mức bình thường, do bởi khi hàm lương phosphate trong máu cao thì nó
chế ngự vitamin D có nghĩa là ức chế sự hợp thành của nó trong
thận. (Deluca.1979; Bringhurst, F.R. et al. 1998).
Liên quan giữa phosphorous, calcium, vitamin D and parathyroid hormone được
nhìn dưới góc cạnh khác dễ hiểu hơn
Nên nhớ rằng, sự liên hệ giữa phosphorous, calcium, vitamin
D và hormone parathyroid tuyến cận giáp, cùng với kidney giữ một vai
trò quan trọng trong việc kiễm soát phosphorous trong máu.
Cũng thế, phosphorous và calcium tạo nên sức khoẻ cho xương
và răng. Và vai trò của kidney là làm cân bằng hai chất trên trong máu.
Kidney cũng biến đổi vitamin D thành một hormone hoạt động active hormone
calcitriol, chất hormone nầy giúp làm tăng calcium hấp thụ từ đường
ruột vào máu.
Thế nhưng khi mà một khi mà hàm lượng calcium trong máu
thấp, thì tuyến parathyroid gồm bốn tuyến nhỏ nơi cổ sẽ tạo thành
nhiều hormone parathyroid PTH. Chất hormone nầy kéo calcium từ xương trở
về trong máu. Nhưng nếu quá nhiều hormone parathyroid sẽ gây nên một trở
ngại là xương bị yếu đi và dĩ nhiên là dễ bị gẫy. Đây là bịnh do
bịnh rối loạn xương do thận là sự thay đổi trong xương do suy thận mà
ra (renal osteodystrophy).
4-2-Nếu tiêu thụ nhiều phosphorous thì thế nào?
Nếu gia tăng hàm lượng phosphorous trong chế độ ăn uống,
hay gia tăng phosphoric acid trong nước giải khát hay gia tăng phosphorous
trong chất phụ gia additives trong một số lớn thực phẫm chế biến trong
thị trường thương mãi thì sao? Cartz et al.,(1979) cho rằng vì phosphorous
thì không được dùng một cách chặt chẻ như calcium, vì serum phophate có
thể tăng khá hơn sau bửa ăn khi được ăn nhiều phosphorous. Hàm lượng
phosphate trong máu cao làm giãm đi sự thành hình của vitamin D
calcitriol trong thận,làm giãm đi calcium trong máu, và dẫn đến sự gia
tăng PTH cho gia tăng hormone tuyến giáp. Tuy nhiên, hàm lượng phosphorous
trong huyết thanh cao đưa đến sự giãm calcium tiết ra bởi đường
tiểu.(2). Gần đây, nhờ sự kiễm soát và theo dõi qúy bà tuổi còn
trẻ, thì thấy rằng không có phản ứng bất lợi (no adverse effects) về
sự tiêu thụ nhiều phosphorous (3,000mg/day) liên quan đến xương của các
bà ảnh hưởng đến những hormones và sinh hóa được thấy ghi dấu trên
xương cũng như khi quý bà tiêu thụ và duy trì mỗi ngày (2,000mg/day).
Hàm lượng trên cần xét lại, vì theo nhiều nhà khoa học cho rằng hàm
lượng nó qúa nhiều và cuộc nghiên cứu cũng không ghi rõ hàm lượng
calcium mà các bà tiêu thụ vào là bao nhiêu, cũng như những thức ăn
liên hệ có tỷ lệ h̀am lượng calcium trên phosphores là bao nhiêu nữa. Hơn
nữa cũng không thấy các bằng chứng khoa học trong việc thử máu để
biết tiêu thụ như vậy có được ở trong mức an toàn hay không?. Ngày nay
tại Mỹ cũng không có những bằng chứng hiển nhiên nào cho thấy khi tiêu
thụ nhiều hàm lượng phosphorous lại có ảnh hưởng trái ngược với tỉ
trọng chất khoáng của xương trong con người. Tuy nhiên, nếu ta thay thế
phosphate trong nước uống và những thức ăn nhiều calcium thì cũng không
có nghiã là nó tượng trưng cho một sự rủi ro quan trong liên quan đến
xương và sức khoẻ. Đây là vấn đề cần xác định lại.
4-3- Nếu tiêu thụ thiếu phosphorous thì ra sao?
Nếu tiêu thụ không đủ phosphorous thì gây ra trường hợp gọi là bất
bình thường abnormally về hàm lượng huyết thanh có chứa phosphorous
thấp (hypophosphorous).
Những hiệu qủa do hypophosphatemia có thể dẫn đến là ăn không ngon,
không thèm ăn, không ham muốn hay khao khát, bắp thịt yếu đi, đưa đến đau
xương, hay bịnh còi xương rickets cho tr̉e con, bịnh mềm xương
(osteomalacia) cho người trưởng thành (xem hình) gia tăng có thể chấp
nhận sự nhiễm trùng, hay tình trạng tê cóng (numbness ) và có cãm
giác như ngứa do kiến bò (tingling) ở những chân tay và đi đứng rất
khó.
Nếu dùng phosphorous với hàm lượng cao trong một thời gian ngắn thì gây
nên sự tiêu chảy hay đau bao tử. Nếu dùng phosphrous với hàm lượng cao
trong một thời gian dài thi hàm lượng calcium trong thân thể lại giãm
đi, điều đó có nghĩa là xương sẽ bị gãy (fracture). Đây là mối quan
tâm. Bịnh mềm xương thường xãy ra ở phụ nữ trong tuổi mang thai, do
thiếu viatmin D và do ăn uống không đầy đủ hay thiếu sáng sáng mặt
trời.

Còn thiếu quá nhiều
phosphorous (severe
hypophosphatemia)
thì có thể chết
(may
sesult in death).
Vì phosphorous đã có nhiều trong thực phẫm, vì sự thiếu dùng
phosphorous thì thường xãy ra khi chỉ có trong những trường hợp hầu
như tất cả là đói. Và trên 2,000,000 người VietNam chết đói vào năm
1945 là đói, hay là không có chút phosphorous nào cả trong máu thân của
họ hay cho cả hai?. Mỗi cá nhân với sự r̉ui ro về sự thiếu
hypophosphatemia gồm có những người bạn của thi hào Lý Bạch, nhưng
khác với thi hào là không biết làm thơ hay thi vịnh mà chỉ là chỉ
biết có một việc là “nghiện rượu” mỗi ngày không có không được, sáng
thì rượu buổi sáng, trưa buổi trưa, tối buổi tối, khuya buổi khuya,
thì hẵn là thiếu trầm trọng phosphorous, là phải giã từ vủ khí sớm
hơn; những người bịnh tiểu đường và những người bị đói ăn, hay những
người biếng ăn (anorexic) hay chế độ ăn bù mà thức ăn thì nhiều
calories mà lại kém hẵn phosphorous.
EVM review of phosphorus (pdf 45KB)
4-4.
Hàm lượng
cao phosphorous và xương bị suy thoái.
Theo
davita.com/articles/diet_nutrition/?id=478
ngày 7/6/07
thì
trong trường hợp khi yếu thận khi mà thậm không đủ sức
lọc phosphorous từ máu và tống ra ngoài (get rid) hàm lượng dư thừa
phosphorous theo nước tiểu ra ngoài, thì ta có hàm lượng phosphorous cao
trong máu, gọi danh từ chuyên môn là hyperphosphatemia, thì đây là một
vấn đề cho những người bị bịnh thận ở giai đoạn 4 hay 5, nhưng đặc
biệt nhất là ở giai đoạn 5, đó là giai đoạn cuối cùng của thận suy
hay gọi là ESRD.
Nếu hàm lượng phosphorous trong máu cao, có thể có những
vấn đề xãy ra:
-
xương và những vấn đề liên quan đến tim
có thể dẫn đến là nạn nhân có thể vào nằm bịnh viện, và trong một
vài trường hợp có thể mang đến cái chết.
-
Nếu có quá nhiều hormone của tuyến
parathyroid (hormone parathyroid) PTH được thực sự xãy ra, và xãy ra
thường hơn,thì điều đó sẽ làm xương yếu đi và làm xương dễ bị gãy
và tạo nên bịnh rối loạn xương do sự rối loạn thận mà ra (renal
osteodystrophy).
-
Nếu calcium trong máu lại thấp, thì gây
nên là calcium được rút ra từ xương để bù vào máu.
-
Sự vôi hoá calcification hay hiện tượng
những tế bào trở nên cứng khi mà hàm lượng phosphorous và hàm lượng
calcium hợp thành một sự lắng tụ cứng tại tim, các động mạch, các
khớp, da và phổi tất cả tạo ra sự đau đớn và đưa đến những vấn đề
liên quan rất quan trong đến sức khoẻ.
- Xương thì luôn đau nhức
tại những nơi đặc biệt như especially (hips bone) xương chậu, (knees)
đầu gối, (ankles) mắt cá chân và (heels)
gót chân.
-
Tạo ra bịnh ngứa dưới da bắt phải gãi hay chà mạnh,
thường xãy ra tại cá nơi như chân, tay, ngực và sau lưng (legs,
arms, chest and back,)
-
Xương dễ gãy.
-
Thường thì Bác sĩ cho toa gọi là phosphate binder
(turms,phoslo etc..). Thuốc nầy ngăn chận thức ăn sau khi ăn có phosphorous
không được vào máu. Và calcium của toa thuốc, không phải calcium trong
xương chạy vào máu, sẽ giữ phosphorous lại đừng để bị hấp thụ. Cái
binder nầy được dùng nửa giờ trong, trước hay sau bửa ăn.
4-5- Làm sao tránh xương khỏi bị thoái hóa.
Sau đây là những lời khuyên nên theo:
-
Chọn thức phẫm để ăn có ít hàm lượng
phosphorous .
-
Nên dùng đều phosphate binder trong bửa
ăn để kiễm soát phosphorous trong thực ph̃âm mà mình đã ăn.
-
Uống thêm calcium trong bửa ăn theo sự
chỉ dẫn của Bác sĩ.
Cũng cần phải nói rõ thêm là c̀ần thử máu để biết hàm
lượng phosphore và calcium ở trong giới hạn an toàn hay không rồi mới
có lời khuyên. Cũng cần biết tỷ lệ calcium /Phosphorous ra sao? Thiếu
hay dư thì phải làm gì? Ăn uống ra sao, uống thuốc thêm như thế nào?
Vv.
Sau đây là một vài thức ăn có hàm lượng phosphorous cao:
|
Yogurt |
Milk |
Sardines |
Spinach |
Cola drinks |
|
Corn
|
Nuts |
Bran |
Biscuits |
Cheese |
|
Ice Cream |
Oatmeal |
Asparagus |
Dried Beans |
Sweet Potato |
để qúy vị biết mà lo bảo vệ xương cốt cho khoẻ mà nhìn
cuộc đời đổi thay.
4-6-Buffering
là công do phosphorous.
Buffering là khả năng đệm. Mà khả năng đệm là gì? Hãy
tưởng tượng tại nơi bao tử là nơi có cường độ acid cao, nay bỗng nhiên
biến thành base, thì có lẽ là cáí chết cũng đến với người đó. Và
ngược lại tại các nơi khác trong châu thân cũng vậy. Để giải quyết
vấn nạn đó, chính là do phosphourous. Phosphorous giúp làm quân bình
balance giữa acid và base trong châu thân mà tại các nơi đó do các phản
ứng biến đổi tạo ra những điều trái nghịch. Trong giai đoạn biến đổi
như trên, thì ta tìm hiểu coi phosphorous tung ra chiêu gi? Khi biến đổi
do phản ứng hoá học xãy ra thì ion Hydrogen được phóng thích ra,thì
phosphorous tung một chưởng ngay với hydrogen để tạo thành một phản ứng
gọi là phosphoric acid. Và phosphoric acid nầy tung hỏa mù trói tay
hydrogen giải về thận và cho đi theo nước tiểu mà trôi nổi ở thế giới
khác thân. Như thế, môi trường tại nơi biến đổi đó vẫn là môi trường
đó. Ví dụ sau đây cũng làm cho ta hiểu thêm như các lactic acid tạo nên
do nhiều sự hoát động tạo đau nhức, rồi một thời gian sau dài hay
ngắn tuỳ ḅịnh, tự nhiên cãm thấy hết đau . Công đó là do phosphorous
mà người làm việc đó chính là phosphoric acid. Phosphorous là Võ Kỵ
của Kim Dung, hay Hiệp sĩ mù trong việc làm buffering vậy.
Để cho hiểu rỏ buffering là gì? nước nguyên chất ở
neutral có pH là 7.
Nếu
thêm acid vào, pH sẽ nhỏ hơn
7. Khi
đã nhỏ rồi lại thêm
base vào
thì ta có 7 hay trên số đó. Vậy dung dịch buffer (buffer
solution), hay buffers là gì? Là mọi chất lỏng trong cơ thể mình luôn
luôn giữ một pH nhất ̣định. Trung bình trong cơ thể ở khoảng 7.35-7.45.
Nếu có bất kỳ lý do có thể làm những đổi thay nào đó thì kéo theo
bịnh tật có điều kiện. Khi pH xuống còn 7.35 thì điều kiện nầy gọi
là acidosis là điều kiện nhiễm acid. Ngược lại, nếu pH trên 7.45 thì
gọi là alkalosis.
Hệ thống máu buffer gồm có acid yếu và muối của acid
yếu đó. Cũng có nhiều hệ thống buffer trong máu. Một trong các hệ
thống đó có chứa cái gọi là carbonic acid H2CO3 ,
là một acid yếu, và sodium bicarbonate NaHCO3 là muối của acid
yếu.
Bây
giờ vì một lý do nào đó có một acid như acid chlohydric HCl, vào máu.
Đương nhiên là HCl phản ứng với NaHCO3,
và một phần của buffer tùy theo phản ứng:
HCl+ NaHCO3, ---> NaCl+ H2CO3
Chính NACl tạo nên cái neutral. Nó không dùng để thủy
phân. Còn chất H2CO3
được sản xuất ra là
một phần thuộc hệ thống gốc của buffer và chỉ có phân nhỏ là ion
hóa. Trong cơ thể con người, acids còn gọi là ion hydrogen, có được do
những phản ứng khác nhau của sự biến đổi mà ra. Khi nó được vào máu
thì cũng tạo ra phản ứng y như phản ứng với những buffer khác.
Thêm nữa, hệ thống carbonate buffer laị là buffer phosphate
và nhiều hệ thống buffer hữu cơ.
Ngay chất căn bản là sodium hydroxide, (NaOH), có thể phản
ứng với carbonic acid của buffer:
NaOH + H2
CO3
---> H2
O +
NAHCO3
hợp thành nước. Một neutral không hại biến đổi bình
thường và sodium bicarbonate cũng dự vào một phần của buffer căn bản.
Thế nên, hoặc acid hay base thêm vào buffer của neutral nào đó (NaCl hay
water) thì nó hợp thành nhiều hay ít buffer (̣H2CO3
hay NaHCO3).
Nên pH của máu cũng không thay đổi.
Một phosphate buffers gồm một hổn hợp của K2HPO4
và KH2
PO4
(cũng như Na2HPO3
và NAH2PO4)
mà công dụng của nó thì lại giống như bicarbonate buffers để làm trung
hòa sự dư thừa của acid hay base
HCl + K2HPO4
----->
KH2
PO4
+ KCL
KOH + KH2
PO4 ---->
KH2
PO4
+ H2O
Và gíá trị của hemoglobin buffers cho hơn một nữa của
toàn thể hoạt động của toàn thể buffering. Có buffer hemoglobin và
cũng có buffer oxyhemoglobin.
Hemoglobin buffer Oxyhemoglobin buffer
HHb HhbO2
KHb kHbO3
Thế nên những buffers nầy, cũng như những protein khác tác
động trên dòng máu, mà nó lấy đi sự dư thưà acid hay base để giúp cho
pH trong máu ở trong giới hạn bình thường.
Nếu có những thay đổi trong về sản xuất acid trong tế
bào và nếu những acid nầy không được tiết ra đủ nhanh, thì kết qủa
là acidosis.
Acidosis có thể xãy ra trong hiều trường hợp suy thoái như
bịnh tiêu đường loại 2. Một khi ói mữa kéo lâu dài thì thì dẫn đến
kết qủa là alkalosis bởi vì sự ói lâu dài đó làm mất đi hàm lượng
acid trong bao tử.
4-5-1-Vai trò của thận trong việc kiễm soát cân bằng
Acid-Base.
Nói về buffering mà quên nói vai trò của kidney thì là
thiếu sót. Tại sao? Vì chính kidney giữ vai trò quân bình acid-base
trong máu bằng cách bài tiết hay hấp thụ phosphate vào và cũng giữ
vai trò hợp thành của ammonia. Bởi vì những thành phần acid có trong
máu hợp với các ions của ammonium cho ra muối qua kidney, như thế là
giữ vào việc gìn giữ và bảo quản hàm lượng ions sodium và potassium
trong hệ thống buffers trong cơ thể.
4-5-2-Vai trò của phổi đối với buffers ra sao?
Nói đến thận rồi mà quên nhắc đến phổi lại cũng không
được. Khi mà trong máu có qúa nhiều acid hiện diện qúa nhiều và qúa
nhanh, thì cùng lúc đó các acid carbonic sản xuất nhiều ions
bicarbonate (HCO--3)
Acid bicarbonate trở lại phân hũy thành carbon dioxide và nươc:
HCO-3+
H+
<------>
H2
CO4
<------- > H2
O +CO2
Thành phần dư thừa carbon dioxide được điều khiển nơi trung
tâm thở của não, giúp cho con người thở nhiều hơn để lấy đi carbon
dioxide trong máu tống ra ngoài thân thể. Càng tăng cường sự thở dồn
dập tiếp tục cho đến khi nào tỷ lệ bicarbonate và ion carbonic acid trở
lại bình thường mới thôi.
Đó là phổi làm balance giữa acid và base trong con người.
Tóm lại, một dung dịch buffer nầy chủ yếu nói về máu
và hệ bicarbonate lạ̀ (H2
CO3/
HCO3)
được cung cấp ngoài tế bào mà có nồng độ ion hydro được giữ gần như
không thay đổi khi được pha loảng hay thêm acid hay kiềm.
4-6-Phosphorylation là gì?
Nhóm phosphate thì có thể phảm ứng với nhiều hợp chất
hữu cơ trong cư thể hay ngược lại. Một khi có nhiều dinh dưởng đang hợp
với phosphate thì gọi là phosphorylation, thì các dinh dưởng
phosphorylation đó có thể xuyên qua các màng tế bào membranes làm bởi
fatty acid trong triglyceride và phosphate để làm thành một phospholipid,
đó là công cụ là chuyên chở fatty acid vào máu. Nếu không có phương
tiện biến thành thể sửa emulsifying của chất béo dùng vào việc chuyên
chở, thì chất béo fat có thể tách rời khỏi dung dịch lỏng nầy trong
máu mà đi rong r̉ui khắp hang cùng ngõ hẹp cùng khắp trong châu thân. Đi
như thế là họa sẽ xãy ra. Phosphate là một phần của nhiều protein và
là một phần của nhiều loại diếu tố enzymes. Thiamin, là một của B
vitamins, là một hổn hợp với phosphate để tạo và hợp thành thành một
phản ứng. Thế nên, phosphate dù rỏ ràng là nó tự độc lập chính nó
trong cơ thể và cũng như độc lập trong liên hệ với calcium, và cả hai,
calcium và phosphate đều được quan tâm cái trước cái sau (in tandem) là
chúng thường và có khuynh hướng thiên về vô cơ hơn, mặc dù những hoạt
động đ |