|
Hố Thẫm là phá hũy hết mọi vọng tưởng, chấm dứt mọi tưởng tượng, phá hũy hết
mọi ý niệm phân biệt, mọi quan niệm đối đãi, có có, không không, sinh, diệt,
khổ, đau, sinh và tử… Người ta thường nghĩ về vọng tưởng, về chấp trước, chấp
sau, đau khổ, sầu muộn, về có, không, sinh diệt và bám chặt vào chúng, vào
phương tiện, vào có, vào sinh, vào chết, vì tưởng rằng tất cả có thực, và bất di
bất dịch.Trung quán Luận có chủ đích phá bỏ hết mọi ý niệm, vọng tưởng, tất cả
những gì kể trên, để thấy sự hiện thực và để có niềm an lạc cho chinh mình.
Vào Hồ Thẫm cũng có nhiều lối vào và đường vào. Cũng có những cửa hay những cổng
vào nơi đó người muốn vào chỉ cần có mật mã riêng thì cửa tự mở để được vào HỐ
THẪM. Tùy theo mỗi cá nhân, tùy theo niềm tin hoặc tùy theo sự khao khát tò mò
muốn hiểu biết cái mình ao ước muốn biết, mỗi cá nhân tự chọn lối để vào, hay
đường vào.
Đường vào “SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC.”
Đường nào về HỐ THẪM cũng có những hàng cây cổ thụ mọc hai bên đường dẫn lối,lại
có những tảng đá hoa cương to lớn nằm rải rát đó đây, cộng với cái không khí
lạnh mát và đầy tỉnh mịch, lại có thêm vào những tiếng hót và chuyện trò nhỏ nhỏ
của các bầy chim nô đùa một cách thanh thản, trên những cành cây hay hàng hàng
lớp lớp các bụị bông đủ nàu đủ sắc, xen lẫn tiếng tụng kinh thanh thóat từ xa
vọng lại bài “ Bát Nhã Tâm Kinh” ( Xá Lợi Tử, Sắc tức thị không,Không tức thị
Sắc”…. (Xá lợi Tử: Sắc chẳng khác không, Không chẳng khác Sắc; nghĩa là Có là
Không, Không là Có).
1-
Tại sao Sắc tức là Không?
Lại tai sao Không tức là
Sắc? Tại sao Có tức là Không? Lại tại sao Không tức là Có? Tại sao? Và tại sao?
Bụt đã giảng dạy rằng:” Không “ là một trong ba cánh cửa của giải thóat. Thật
vây, khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy
ngủ uẩn đều không, qua hết mọi khổ ách ( Bát Nhã Tâm Kinh). Tại sao? Dĩ
nhiên phải hiểu Có không phải là cửa tốt, là cửa giải thóat. Cánh cửa giải thóat
là cánh cửa tự đông mở và đóng, khi “Không” thì mở. Và tự khép lại khi Không là
Có, nghĩa là mình chuẩn bị bước vào, bàn chân vừa nhón gót, thì cửa đã tự đóng,
vì là giai đọan của Có.
Thế nào là Không? Thế nào là Có.?
2-
Bụt lập đi lập lại cho các đệ tử của Ngài:”Quán chiếu về Không là giúp cho mình
vượt qua khỏi ưu sầu khổ ải và thóat khỏi sinh tử”. Không qủa thật là quan
trọng, người đời nên quán chiếu nó, nếu muốn vượt qua mọi khổ đau và thóat khỏi
vòng sinh tử.
Không là sao? Có là sao?
Ví
dụ như qúy vị đang ở nhà với vơ và con, nhà thì bằng gạch, hai phòng, có một con
chó giữ nhà. Ví dụ nữa là trong nhà quý vị không có bán chạp phô, cơm hay nước
uống. Quý vị thấy Có. Có cái gi? Có cái nhà gạch, hai phòng, vơ và con và một
con chó. Còn Không thấy cái gì? Là trong nhà không có bán tạp phô, cơm hay nước
uống. Rõ ràng và ai cũng đồng ý. Không và Có là thế ấy.
Nếu qúy vị và vợ con đi chơ hay đi đâu xa, lúc đó thì nhìn vào nhà lại thấy
“Không” nghĩa là không có quý vị cùng vợ con trong nhà, và nhà cũng không có
bán chạp phô, cơm hay nuớc uống. Cũng thế, lại nhìn vào nhà thì Có thấy là nhà
gạch, hai phòng, và một con chó đang giữ nhà.
Như thế ta thấy “Có” là có người ở nhà và con vật nuôi tại nhà. Thấy “Không” là
không có tình trạng buôn bán nơi nhà, hay không có người vì cả gia đình đi khỏi.
Như thế có nghĩa là gì?. Nếu ta nói Có thì có là có cái gì! Có ai ở đó? Còn nói
Không thì Không là không cái gì? Không có ai đó? Nghĩa là Không và Có phải có
OBJECT, hay đối tượng hay nói theo triết học là khách thể. Nói Có hay Không mà
không hiểu là Có cái gì? Có ai đó? Hay Không hiểu không cái gi? Hoặc không ai
đó? không có đối tượng hay khách thể, thì cả hai đều vô nghĩa. Nhưng nếu nói, có
thấy ai ở trong nhà không? Trả lời Có. Hoặc trả lời Không. Cả hai đều đúng. Vì
đối tượng được hiểu ngầm là những người trong nhà, thì Có hay Không đó mới có ý
nghĩa.
Tóm lại, Không có ai ở nhà, phải không? Nếu trả lời là Không, thì ta có Không là
Không. Nếu trả lời là Có chứ, thì là Không là Có (Không tức thị Không, Không tức
thị Sắc).
Nếu đi xa hơn, khi nghe nói “Vạn pháp là không” thì lại hiểu ra sao? Ta phải tìm
ngay đối tượng của “Không” trong vạn pháp là gi? Trong duy thức học nói cái mà
có tính chất thường tại và bất biến trong vạn pháp đó được gọi là cái “NGÔ.
“Vạn pháp không” là vạn pháp không có tính chất thường tại và bất biến, nghĩa là
vạn pháp không có “ngã” trong nó. Tại sao? Vì vạn pháp luôn biến chuyển và họai
diệt, nên được gọi là “vô thường”, vì không thường tại và bất biến, nên lại
không có ngã ở trong nó, nên gọi là vô ngã.
Tóm lại: Vạn pháp đuợc gọi là vô thường, và vạn pháp cũng được gọi là vô ngã.
Vì vô ngã, và vì không có tự ngã, nên vạn pháp được gọi là Không, hay gọi là vạn
pháp không. xxxx
Cụ
thể hơn là nhìn lại chúng ta, mỗi người đều có năm cái uẫn là: hình hài, cảm
giác, tri giác, tâm tư và nhận thức đều không có tính cách thường tại và bất
biến trong 5 cái đó, nên chúng không có tự ngã. Tại sao?
Năm uẩn đó làm nên chúng ta, Hình hài không có tự ngã, vì hình hài không thể tự
có mặt riêng biệt cho chính nó. Nó không cần 4 cái kia hiện diện, góp mặt. Như
thế Có được hay không? Hẵn là Không. Đến cảm giác cũng vây, cũng không có tự
ngã, nên nó không thể tự mình có mặt một cách riêng biệt. Trong hình hài có cảm
giác, tri giác, tâm tư và nhận thức. Trong cảm giác cũng có 3 thứ như hình hài
đã có, được kể ở trên. Ba uẩn còn lại cũng đều giống như thế. Trong ngủ uẩn,
không có uẩn nào đứng riêng biệt, chúng lại nương gá nhau mà thành hình hài. Vì
thế ta gọi 5 uẩn là không. Không có tự ngã. Ngã ở đây thường gọi là TA. Nghĩa
là 5 cái uẫn tạo ra hình hài đều không có cái TA. Ta còn không có thì làm gì có
cái CỦA TA? Trong Duy thức học gọi Ta là NGÃ, cái của ta gọi là NGÃ SỞ. Nói
theo Duy thức học là không có ngã, thì làm sao mà có ngã sở? Tóm lại, nói về
cái đối tượng Không nơi con người của ta là không có ngã, và cả ngã sở.
Tóm lược là: Có thấy gì nơi vạn pháp và nơi bản thân ta? Thấy Không có tự ngã.
Không có TA. Không có gì cả. ( Sắc tức thị Không )
3-Ngược lại Không là Có. Thường gọi là “Vạn pháp có”. Pháp là hiện tượng. Vạn
pháp là mọi hiện tượng. Chẳng hạn các pháp như: mặt trời, núi non, sông ngòi,
đất, hạt bụi, sõi đá và châu bông vv.. Vạn pháp có đó chứ tại sao lại nói là
không? Vạn pháp có mặt đấy. Vì chính mắt mình thấy, mình có thể rờ mó. Tại sao
gọi là không? Hoặc là đợi khi vạn pháp biến mất đi rồi, thì lúc đó mới gọi vạn
pháp không? Hay chờ cho nó họai diệt rồi mới gọi là không, được không? Không.
Không phải thế. Người phàm phu chờ cho họai bị diệt rồi, vứt bỏ trong thùng rát,
mới gọi là không. Còn người trí huệ, thấy không ngay khi nhìn vào các pháp. Khác
nhau giữa hai người ra là vậy.
Ví
dụ như châu đựng bông. Có cái gì trong chậu đựng bông? Người có trí huệ thấy
nhiều công nhân tham gia vào việc làm ra cái châu. Họ nhào đất sét cho nhuyễn
với nước. Ta thấy có nước làm cho đất mềm để nhào luyện. Ta thấy nhiều hơi nước
bốc hơi, làm nhìều mây trên trời, gặp lạnh tạo ra mưa, mưa đá hay sương lúc đêm.
Ta thấy lửa dùng để nung chậu, do cây trong rừng, hay do than đá lấy từ lòng
đất, hay do sức nóng bằng điện từ nhà máy thủy điện mà làm cho caí châu đất sét
được chín. Ta thấy công nhân chuyên chở chậu ra thị trường nội dịa hay xuất
ngọai. Nhiều người đến xem, chọn lựa và mua về. Rồi chọn lựa cây bông để trồng
vào.vv…. Tóm lại, theo giáo ly Hoa Nghiêm gọi là trùng trùng nhân duyên khởi
hợp lại làm nên cái châu bông. Trùng trùng duyên khởi nầy thể hiện chằng chịt
như một mạng lưới giao nhau trong một không gian nhiều chiều, không chẳng phải
là không gian hai chiều. Không có một cái nào trong trùng trùng duyên khởi đó,
đứng riêng biệt mà làm nên cái chậu bông đó. Vì không đứng riêng biệt một mình,
hay tự mình có mặt nên gọi là không có tự-ngã. Không ở vạn pháp được hiểu là
không có tự-ngã.
Thể của mọi Pháp đều là không. Và bản chất của mọi hiện tượng đều vốn là không,
vì chúng không có tự tánh riêng. Với hữu-vi, Phật nói các Pháp đều do duyên-sanh
mà nên, đều không có tự-tánh (Hữu vi pháp là nói về tam giới: Dục giới, Sắc giới
và Vô sắc giới. Xét về Dục giới, thời Dục giới rỗng không, Sắc giới thời sắc
giới rỗng không, Vô sắc giới thời vô sắc giới rỗng không, chẳng phải thường,
chẳng phải diệt. Tại sao? Vì tự tánh như vậy. Đây gọi là hữu vi không. HT Thich
tri Tinh, 1995). Mà vô-vi thì thiên về ly-ngôn, tịch-diệt, bất khả ngôn thuyết,
siêu lý-luận (Vô vi pháp là nói không tướng sanh, không tướng trụ, không tướng
diệt. Xét về Vô vi pháp thời Vô vi pháp rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng
phải diệt. Tai sao? Vì tánh tự như vậy. Đây gọi là Vô vi. HT Thich tri
Tinh.,1995.
Tóm lại: vạn pháp có. Nhưng nhìn vào vạn pháp ta thấy vạn pháp đều không có tự
ngã. Thể của nó là không. Nên nói: Có tức là không. (Sắc tức thị không).
4-
Bất sinh, bất diệt.Trong vũ trụ nầy, không có một pháp nào từ có mà trở thành
không. Từ chúng ta, đến hạt cát, bụi, cânh cây, kẻ lá, mùi hương, làn khói,
hơi sương vv… cũng không thế nào mà từ có rồi trở thành không được, mà lại trở
thành một cái khác. Đốt củi hay rơm để nấu cơm ăn. Củi hay rơm sẽ cho sức nóng,
cho nồi cơm chín. Củi hay rơm bây giờ không còn là củi hay rơm lúc chưa cháy mà
tiếp tục ở hình thái khác như lửa, sức nóng, than hay tro đen. Nếu đem tro hay
than bỏ xuống đất, nơi đó, năm sau hay sau nữa, ta thấy ví dụ như khóm trúc mọc
lên, khóm trúc là hiện thân của củi và rơm mà ta dùng nấu cơm. Rồi hơi nóng từ
lửa làm cho hơi nước trong nồi cơm bốc hơi lên trới, rồi vài ngày hay vài tuần,
hơi nước đủ lạnh và rơi thành mưa. Môt phẩn nào của mưa là hiện thân của củi và
rơm. Như thế, không có cái gì Có rồi thành không hết. Không có gì mất hết. Không
ở đây không phải là không Có mà là Có ở dưới một hình thức khác. Điều nầy dẫn ta
đến một ý niệm lạc quan hơn, tích cực hơn, an lạc hơn.
Ngược lại, cũng không có một pháp nào trên vũ trụ nầy từ không mà trở thành
có. Nầy, hãy nhìn cây lúa trước nhà bạn. Cây lúa mà nó cho ta gạo ăn, là do
các hat lúa mà ra. Nếu không có các hạt lúa thì không làm sao có cây lúa. Cây
lúa là một sự nói tiếp từ hạt lúa mà ra. Hạt lúa đã chứa sẵn cây lúa trong chính
nó, gọi là mầm. Khi đủ duyên, hạt lúa nẩy mầm và cho ta cây lúa. Cây lúa gọi là
pháp. Một pháp có sẵn thì cần gì sinh ra nữa. Vì thế, ta gọi cây lúa có tính
cách bất sinh. Đã là bất sinh thì làm sao mà bất diệt. Cây lúa được gặt để lấy
hạt lúa, hạt lúa sẽ cho lại cây lúa. Hạt lúa và cây lúa đều là pháp bất sinh
bất diệt. Chúng ta, đến hạt cát, bụi, cânh cây, kẻ lá, mùi hương, làn khói, hơi
sương, đều bất sinh bất diệt. Vạn pháp đều là bất sinh và bất diệt.
Vì
bất sinh bất diệt, mà ta hết sợ. Hết sợ là vượt qua mọi đau khổ và ưu phiền. Như
thế, trong chúng ta đều có hanh phúc, an lạc, tự do, niết bàn và cả Bụt nữa. Bạn
bình tỉnh, bạn sẽ thấy hết. Nếu bạn không tin, bạn thử làm thế nào để củi và rơm
trở thành không dùm tôi. Và làm thế nào để từ không trở thành có được. Tôi cam
đoan với bạn.
5-
Quét sạch hết những ý niệm của nhận thức. Có. Không. Giống nhau, Khác nhau.
Sinh.. Diệt. Đến, Đi vv… đều là những ý niệm đối đãi và phân biệt hay cũng chỉ
là những ý niệm của nhận thức. Những ý niệm đối đãi trên làm cho chúng ta không
thấy được đâu là hạnh phúc.
Giáo lý của Bụt, gọi là bát không, giúp ta đối nghịch với những ý niệm trên và
đạt tới niền an lạc trong bản thể của ta. Đó là: Không có, không không, không
giống nhau, không khác, Không sinh, Không diệt, Không đến, không đi
Làm sao vượt qua khỏi các ý niệm phân biệt đó?
Trong Duy Thức Học có danh từ gọi là quán chiếu và nhận thức thì
bao hàm cả chủ thề nhận thức (subject) và đối tượng nhận thức (object). Quán
chiếu và nhận thức thì cần có đối tượng. Ý thức là ý thức về cái gì? điều gì và
về ai? Quán chiếu về biển thì tâm ta là biển. Quán chiếu về mây tâm ta là mây.
Quán chiếu về không gian, và thời gian vô biên thì ta đồng nhất với không gian
và thời gian vô biên đó. Nhờ quán chiếu về các pháp, về tự tánh Không của chúng,
chúng ta vượt qua các ý niệm phân biệt để chứng nhập vào thực tại vạn hữu.
Nhưng thực tại của vạn hữu vốn là không có tất cả những ý niệm đối đãi phân biệt
trên. Thực tại vạn hữu vốn là không có, không không, không sinh, không diệt,
không thành và cũng không họai. Chẳng hạn nước ở đại dương và sóng biển. Tất cả
sóng, dù bé dù to, dù nhấp nhô hay phẳng lì đều được hiểu là chúng thuộc về thế
giới sinh diệt; trái lại, nước biển đại dương là thuộc về thế giới bất sinh bất
diệt của thế giới vạn hữu. Nếu không có nước thì làm sao thấy được sóng. Trong
Duy thức học, gọi là tương tức, tương nhập. Tương tức là cái nầy có thì cái kia
cũng có, còn tương nhập là cái nấy đi vào cái kia hay ngược lại. Như vậy sóng là
nước, và nước là sóng khi có điều kiện. Có sóng là có nước. Sóng do từ nước.
Không sóng thì không có nước. Nước làm ra sóng. Sóng trở về nước.Nước thì bất
sinh bất diệt, sóng thì cũng bất sinh bất diệt. Tất cả sóng và mọi hình thức của
sóng cũng đều là từ nước biển của đại dương.
Sóng thì có sinh có diệt, có có, không không. Con người ta có một cái sợ nhất là
chết. Thật ra không có ai chết cả ở trong vũ trỵ nầy. Đã là Có thì làm gì trở
thành Không? Đã là Không thì làm trở thành Có được? Tất cả chỉ là một sự biến
chuyển, hóa kiếp mà thôi. Như cây lúa do hạt mà thành. Đó thường gọi là vô
thường. Chắc các bạn cho tôi là quá cường điệu? Không đâu. Đức Phật đã tu muôn
kiếp rồi mới được thành Phật đó bạn. Đó là cái biết của người có trí huệ.
Sóng nên biết rằng mình cũng là nước. Sóng sẽ thóat khỏi sinh diệt. Dứt khỏi âu
lo. Hết sợ hãi. Đọan tuyệt khổ đau vì sinh diệt. Chúng ta hiểu như thế. Nên nổ
lực quán chiếu như vậy. Sẽ hết âu lo, sợ hãi. Vượt qua mọi khổ đau. Vượt qua thế
giới của sinh tử.
BÙI THẾ TRƯỜNG
(buitruong99@hotmail.com)
( Non cao Greenacre, NSW, 25/10/05)
Reference:
1-HT Thich Trí Tịnh, 1995. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tập 1,2,3. TP HCM xuất
bản
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |