ĐƯỜNG VÀO HỐ THẪM

 (Thân tặng GS Phạm Công Thiện, Dr Ng-Phan-Khuê)

 


 

Bùi Thế Trường

06 tháng 10 năm 2005

 

 

 Hố Thẫm là phá hũy hết mọi vọng tưởng, chấm dứt mọi tưởng tượng, phá hũy hết mọi ý niệm phân biệt, mọi quan niệm đối đãi, có có, không không, sinh, diệt, khổ, đau, sinh và tử… Người ta thường nghĩ về vọng tưởng, về chấp trước, chấp sau, đau khổ, sầu muộn, về có, không, sinh diệt và bám chặt vào chúng, vào phương tiện, vào có, vào sinh, vào chết, vì tưởng rằng tất cả có thực, và bất di bất dịch.Trung quán Luận có chủ đích phá bỏ hết mọi ý niệm, vọng tưởng, tất cả những gì kể trên, để thấy sự hiện thực và để có niềm an lạc cho chinh mình.

 

Vào Hồ Thẫm cũng có nhiều lối vào và đường vào. Cũng có những cửa hay những cổng vào nơi đó người muốn vào chỉ cần có mật mã riêng thì cửa tự mở để được vào HỐ THẪM. Tùy theo mỗi cá nhân, tùy theo niềm tin hoặc tùy theo sự khao khát tò mò muốn hiểu biết cái mình ao ước muốn biết, mỗi cá nhân tự chọn lối để vào, hay đường vào.

 

Đường vào “SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC.”

 

Đường nào về HỐ THẪM cũng có những hàng cây cổ thụ mọc hai bên đường dẫn lối,lại có những tảng đá hoa cương to lớn nằm rải rát đó đây, cộng với cái không khí lạnh mát và đầy tỉnh mịch, lại có thêm vào những tiếng hót và chuyện trò nhỏ nhỏ của các bầy chim nô đùa một cách thanh thản, trên những cành cây hay hàng hàng lớp lớp các bụị bông đủ nàu đủ sắc, xen lẫn tiếng tụng kinh thanh thóat từ xa vọng lại bài “ Bát Nhã Tâm Kinh” ( Xá Lợi Tử, Sắc tức thị không,Không tức thị Sắc”….  (Xá lợi Tử: Sắc chẳng khác không, Không chẳng khác Sắc; nghĩa là Có là Không, Không là Có).

 

1-       Tại sao Sắc tức là Không? Lại tai sao Không tức là

Sắc?  Tại sao Có tức là Không? Lại tại sao Không tức là Có? Tại sao? Và tại sao? Bụt đã giảng dạy rằng:” Không “ là một trong ba cánh cửa của giải thóat. Thật vây, khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy ngủ uẩn đều không, qua hết mọi khổ ách ( Bát Nhã Tâm Kinh). Tại sao?  Dĩ nhiên phải hiểu Có không phải là cửa tốt, là cửa giải thóat. Cánh cửa giải thóat là cánh cửa tự đông mở và đóng, khi “Không” thì mở. Và tự khép lại khi Không là Có, nghĩa là mình chuẩn bị bước vào, bàn chân vừa nhón gót, thì cửa đã tự đóng, vì là giai đọan của Có.

 

Thế nào là Không?  Thế nào là Có.?

 

2- Bụt lập đi lập lại cho các đệ tử của Ngài:”Quán chiếu về Không là giúp cho mình vượt qua khỏi ưu sầu khổ ải và thóat khỏi sinh tử”. Không qủa thật là quan trọng, người đời nên quán chiếu nó, nếu muốn vượt qua mọi khổ đau và thóat khỏi vòng sinh tử.

 

Không là sao? Có là sao?

 

Ví dụ như qúy vị đang ở nhà với vơ và con, nhà thì bằng gạch, hai phòng, có một con chó giữ nhà.  Ví dụ nữa là trong nhà quý vị không có bán chạp phô, cơm hay nước uống. Quý vị thấy Có. Có cái gi? Có cái nhà gạch, hai phòng, vơ và con và một con chó. Còn Không thấy cái gì? Là trong nhà không có bán tạp phô, cơm hay nước uống. Rõ ràng và ai cũng đồng ý. Không và Có là thế ấy.

 

Nếu qúy vị và vợ con đi chơ hay đi đâu xa, lúc đó thì nhìn vào nhà lại thấy “Không”  nghĩa là không có quý vị cùng vợ con trong nhà, và nhà cũng không có bán chạp phô, cơm hay nuớc uống. Cũng thế, lại nhìn vào nhà thì Có thấy là nhà gạch, hai phòng, và một con chó đang giữ nhà.

 

Như thế ta thấy “Có” là có người ở nhà và con vật nuôi tại nhà. Thấy “Không” là không có tình trạng buôn bán nơi nhà, hay không có người vì cả gia đình đi khỏi.

 

Như thế có nghĩa là gì?. Nếu ta nói Có thì có là có cái gì! Có ai ở đó? Còn nói Không thì Không là không cái gì? Không có ai đó? Nghĩa là Không và Có phải có OBJECT, hay đối tượng hay nói theo triết học là khách thể. Nói Có hay Không mà không hiểu là Có cái gì? Có ai đó?  Hay Không hiểu không cái gi? Hoặc không ai đó? không có đối tượng hay khách thể, thì cả hai đều vô nghĩa. Nhưng nếu nói, có thấy ai ở trong nhà không? Trả lời Có. Hoặc trả lời Không. Cả hai đều đúng. Vì đối tượng được hiểu ngầm là những người trong nhà, thì Có hay Không đó mới có ý nghĩa.

 

Tóm lại, Không có ai ở nhà, phải không? Nếu trả lời là Không, thì ta có Không là Không. Nếu trả lời là Có chứ, thì là Không là Có (Không tức thị Không, Không tức thị Sắc).

 

Nếu đi xa hơn, khi nghe nói “Vạn pháp là không” thì lại hiểu ra sao? Ta phải tìm ngay đối tượng của “Không” trong vạn pháp là gi? Trong duy thức học nói cái mà có tính chất thường tại và bất biến trong vạn pháp đó được gọi là cái “NGÔ.  “Vạn pháp không” là vạn pháp không có tính chất thường tại và bất biến, nghĩa là vạn pháp không có “ngã” trong nó. Tại sao? Vì vạn pháp luôn biến chuyển và họai diệt, nên được gọi là “vô thường”, vì không thường tại và bất biến, nên lại không có ngã ở trong nó, nên gọi là vô ngã.

 

Tóm lại:  Vạn pháp đuợc gọi là vô thường, và vạn pháp cũng được gọi là vô ngã. Vì vô ngã, và vì không có tự ngã, nên vạn pháp được gọi là Không, hay gọi là vạn pháp không.  xxxx

 

Cụ thể hơn là nhìn lại chúng ta, mỗi người đều có năm cái uẫn là: hình hài, cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức đều không có tính cách thường tại và bất biến trong 5 cái đó, nên chúng không có tự ngã. Tại sao?

 

Năm uẩn đó làm nên chúng ta, Hình hài không có tự ngã, vì hình hài không thể tự có mặt riêng biệt cho chính nó. Nó không cần 4 cái kia hiện diện, góp mặt. Như thế Có được hay không? Hẵn là Không.  Đến cảm giác cũng vây, cũng không có tự ngã, nên nó không thể tự mình có mặt một cách riêng biệt. Trong hình hài có cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức. Trong cảm giác cũng có 3 thứ như hình hài đã có, được kể ở trên. Ba uẩn còn lại cũng đều giống như thế. Trong ngủ uẩn, không có uẩn nào đứng riêng biệt, chúng lại nương gá nhau mà thành hình hài. Vì thế ta gọi 5 uẩn là không.  Không có tự ngã. Ngã ở đây thường gọi là TA. Nghĩa là 5 cái uẫn tạo ra hình hài đều không có cái TA. Ta còn không có thì làm gì có cái CỦA TA? Trong Duy thức học gọi Ta là NGÃ, cái của ta gọi là NGÃ SỞ.  Nói theo Duy thức học là  không có ngã, thì làm sao mà có ngã sở?  Tóm lại, nói về cái đối tượng Không nơi con người của ta là không có ngã, và cả ngã sở.

 

Tóm lược là: Có thấy gì nơi vạn pháp và nơi bản thân ta? Thấy Không có tự ngã. Không có TA. Không có gì cả. ( Sắc tức thị Không )

 

3-Ngược lại Không là Có. Thường gọi là “Vạn pháp có”. Pháp là hiện tượng. Vạn pháp là mọi hiện tượng.  Chẳng hạn các pháp như: mặt trời, núi non, sông ngòi, đất, hạt bụi, sõi đá và châu bông vv.. Vạn pháp có đó chứ tại sao lại nói là không? Vạn pháp có mặt đấy. Vì chính mắt mình thấy, mình có thể rờ mó. Tại sao gọi là không? Hoặc là đợi khi vạn pháp biến mất đi rồi, thì lúc đó mới gọi vạn pháp không? Hay chờ cho nó họai diệt rồi mới gọi là không, được không? Không. Không phải thế. Người phàm phu chờ cho họai bị diệt rồi, vứt bỏ trong thùng rát, mới gọi là không. Còn người trí huệ, thấy không ngay khi nhìn vào các pháp. Khác nhau giữa hai người ra là vậy. 

 

Ví dụ như châu đựng bông. Có cái gì trong chậu đựng bông? Người có trí huệ thấy nhiều công nhân tham gia vào việc làm ra cái châu. Họ nhào đất sét cho nhuyễn với nước. Ta thấy có nước làm cho đất mềm để nhào luyện. Ta thấy nhiều hơi nước bốc hơi, làm nhìều mây trên trời, gặp lạnh tạo ra mưa, mưa đá hay sương lúc đêm. Ta thấy lửa dùng để nung chậu, do cây trong rừng, hay do than đá lấy từ lòng đất, hay do sức nóng bằng điện từ nhà máy thủy điện mà làm cho caí châu đất sét được chín. Ta thấy công nhân chuyên chở chậu ra thị trường nội dịa hay xuất ngọai. Nhiều người đến xem, chọn lựa và mua về. Rồi chọn lựa cây bông để trồng vào.vv….  Tóm lại, theo giáo ly Hoa Nghiêm gọi là trùng trùng nhân duyên khởi hợp lại làm nên cái châu bông. Trùng trùng duyên khởi nầy thể hiện chằng chịt như một mạng lưới giao nhau trong một không gian nhiều chiều, không chẳng phải là không gian hai chiều. Không có một cái nào trong trùng trùng duyên khởi đó, đứng riêng biệt mà làm nên cái chậu bông đó. Vì không đứng riêng biệt một mình, hay tự mình có mặt nên gọi là không có tự-ngã. Không ở vạn pháp được hiểu là không có tự-ngã.

 

Thể của mọi Pháp đều là không. Và bản chất của mọi hiện tượng đều vốn là không, vì chúng không có tự tánh riêng. Với hữu-vi, Phật nói các Pháp đều do duyên-sanh mà nên, đều không có tự-tánh (Hữu vi pháp là nói về tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Xét về Dục giới, thời Dục giới rỗng không, Sắc giới thời sắc giới rỗng không, Vô sắc giới thời vô sắc giới rỗng không, chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tại sao? Vì tự tánh như vậy. Đây gọi là hữu vi không. HT Thich tri Tinh, 1995).  Mà vô-vi thì thiên về ly-ngôn, tịch-diệt, bất khả ngôn thuyết, siêu lý-luận (Vô vi pháp là nói không tướng sanh, không tướng trụ, không tướng diệt. Xét về Vô vi pháp thời Vô vi pháp rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tai sao? Vì tánh tự như vậy. Đây gọi là Vô vi. HT Thich tri Tinh.,1995.

 

Tóm lại: vạn pháp có. Nhưng nhìn vào vạn pháp ta thấy vạn pháp đều không có tự ngã. Thể của nó là không. Nên nói: Có tức là không. (Sắc tức thị không).

 

 

4- Bất sinh, bất diệt.Trong vũ trụ nầy, không có một pháp nào từ có mà trở thành không. Từ chúng ta, đến hạt cát, bụi, cânh cây, kẻ lá, mùi hương, làn khói, hơi sương vv… cũng không thế nào mà từ có rồi trở thành không được, mà lại trở thành một cái khác. Đốt củi hay rơm để nấu cơm ăn.  Củi hay rơm sẽ cho sức nóng, cho nồi cơm chín. Củi hay rơm bây giờ không còn là củi hay rơm lúc chưa cháy mà tiếp tục ở hình thái khác như lửa, sức nóng, than hay tro đen. Nếu đem tro hay than bỏ xuống đất, nơi đó, năm sau hay sau nữa, ta thấy ví dụ như khóm trúc mọc lên, khóm trúc là hiện thân của củi và rơm mà ta dùng nấu cơm. Rồi hơi nóng từ lửa làm cho hơi nước trong nồi cơm bốc hơi lên trới, rồi vài ngày hay vài tuần, hơi nước đủ lạnh và rơi thành mưa. Môt phẩn nào của mưa là hiện thân của củi và rơm. Như thế, không có cái gì Có rồi thành không hết. Không có gì mất hết. Không ở đây không phải là không Có mà là Có ở dưới một hình thức khác. Điều nầy dẫn ta đến một ý niệm lạc quan hơn, tích cực hơn, an lạc hơn.

 

Ngược lại, cũng không có một pháp nào trên vũ trụ nầy từ không mà trở thành có. Nầy, hãy nhìn cây lúa trước nhà bạn.  Cây lúa mà nó cho ta gạo ăn, là do các hat lúa mà ra. Nếu không có các hạt lúa thì không làm sao có cây lúa. Cây lúa là một sự nói tiếp từ hạt lúa mà ra. Hạt lúa đã chứa sẵn cây lúa trong chính nó, gọi là mầm. Khi đủ duyên, hạt lúa nẩy mầm và cho ta cây lúa. Cây lúa gọi là pháp. Một pháp có sẵn thì cần gì sinh ra nữa. Vì thế, ta gọi cây lúa có tính cách bất sinh. Đã là bất sinh thì làm sao mà bất diệt. Cây lúa được gặt để lấy hạt lúa, hạt lúa sẽ cho lại cây lúa.  Hạt lúa và cây lúa đều là pháp bất sinh bất diệt. Chúng ta, đến hạt cát, bụi, cânh cây, kẻ lá, mùi hương, làn khói, hơi sương, đều bất sinh bất diệt. Vạn pháp đều là bất sinh và bất diệt.

 

Vì bất sinh bất diệt, mà ta hết sợ. Hết sợ là vượt qua mọi đau khổ và ưu phiền. Như thế, trong chúng ta đều có hanh phúc, an lạc, tự do, niết bàn và cả Bụt nữa. Bạn bình tỉnh, bạn sẽ thấy hết. Nếu bạn không tin, bạn thử làm thế nào để củi và rơm trở thành không dùm tôi. Và làm thế nào để từ không trở thành có được. Tôi cam đoan với bạn.

 

5- Quét sạch hết những ý niệm của nhận thức.  Có. Không. Giống nhau, Khác nhau. Sinh.. Diệt. Đến, Đi vv… đều là những ý niệm đối đãi và phân biệt hay cũng chỉ là những ý niệm của nhận thức. Những ý niệm đối đãi trên làm cho chúng ta không thấy được đâu là hạnh phúc.

Giáo lý của Bụt, gọi là bát không, giúp ta đối nghịch với những ý niệm trên và đạt tới niền an lạc trong bản thể của ta. Đó là: Không có, không không, không giống nhau, không khác, Không sinh, Không diệt, Không đến, không đi

 

Làm sao vượt qua khỏi các ý niệm phân biệt đó?

 

Trong Duy Thức Học có danh từ gọi là quán chiếunhận thức thì bao hàm cả chủ thề nhận thức (subject) và đối tượng nhận thức (object). Quán chiếu và nhận thức thì cần có đối tượng. Ý thức là ý thức về cái gì? điều gì và về ai?  Quán chiếu về biển thì tâm ta là biển. Quán chiếu về mây tâm ta là mây. Quán chiếu về không gian, và thời gian vô biên thì ta đồng nhất với không gian và thời gian vô biên đó. Nhờ quán chiếu về các pháp, về tự tánh Không của chúng, chúng ta vượt qua các ý niệm phân biệt để chứng nhập vào thực tại vạn hữu.

 

Nhưng thực tại của vạn hữu vốn là không có tất cả những ý niệm đối đãi phân biệt trên. Thực tại vạn hữu vốn là không có, không không, không sinh, không diệt, không thành và cũng không họai. Chẳng hạn nước ở đại dương và sóng biển. Tất cả sóng, dù bé dù to, dù nhấp nhô hay phẳng lì đều được hiểu là chúng thuộc về thế giới sinh diệt; trái lại, nước biển đại dương là thuộc về thế giới bất sinh bất diệt của thế giới vạn hữu. Nếu không có nước thì làm sao thấy được sóng. Trong Duy thức học, gọi là tương tức, tương nhập. Tương tức là cái nầy có thì cái kia cũng có, còn tương nhập là cái nấy đi vào cái kia hay ngược lại. Như vậy sóng là nước, và nước là sóng khi có điều kiện. Có sóng là có nước. Sóng do từ nước. Không sóng thì không có nước. Nước làm ra sóng. Sóng trở về nước.Nước thì bất sinh bất diệt, sóng thì cũng bất sinh bất diệt. Tất cả sóng và mọi hình thức của sóng cũng đều là từ nước biển của đại dương.

 

Sóng thì có sinh có diệt, có có, không không. Con người ta có một cái sợ nhất là chết. Thật ra không có ai chết cả ở trong vũ trỵ nầy. Đã là Có thì làm gì trở thành Không? Đã là Không thì làm trở thành Có được?  Tất cả chỉ là một sự biến chuyển, hóa kiếp mà thôi. Như cây lúa do hạt mà thành. Đó thường gọi là vô thường. Chắc các bạn cho tôi là quá cường điệu? Không đâu. Đức Phật đã tu muôn kiếp rồi mới được thành Phật đó bạn. Đó là cái biết của người có trí huệ.

 

Sóng nên biết rằng mình cũng là nước.  Sóng sẽ thóat khỏi sinh diệt. Dứt khỏi âu lo. Hết sợ hãi. Đọan tuyệt khổ đau vì sinh diệt. Chúng ta hiểu như thế. Nên nổ lực quán chiếu như vậy. Sẽ hết âu lo, sợ hãi. Vượt qua mọi khổ đau. Vượt qua thế giới của sinh tử.

                                                            BÙI THẾ TRƯỜNG

                                                       (buitruong99@hotmail.com)

                                             ( Non cao Greenacre, NSW, 25/10/05)

 

 

 

Reference:

1-HT Thich Trí Tịnh, 1995. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tập 1,2,3. TP HCM xuất bản

 

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : buithetruong@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính