|
Resveratrol
có công thức là trans 3,5,4'-trihydroxystilbene, hay
3,4',5-Stilbenetriol; hay trans-Resveratrol; hay (E)-5-(p-Hydroxystyryl)
resorcinol
là một polyphenolic
phytoalexin.
Về phương diện hóa
học, đó là chất stilbenoid, do từ chất stilbene, là nột chất không
màu, tan trong benzen, tan trong rượu: 50mg/mL, không tan trong nước hay tan
nhưng rất ít:~0.03 mg/mL , nóng chảy ở nhiệt độ cao là 124oC,
có khối lượng phân tử (molar mass): 228.25, thường dùng sản xuất thuốc
nhuộm, và làm chất tẩy trắng mà tên thương mãi gọi là
diphenylethylene, toluyene. Nhưng trong thiên nhiên, chất nầy có được là do
cây tự sản sinh với sự xúc tác của một enzyme stilbene synthase.
Thường thì chất trên
ở dưới hai dạng cis và trans. Trong tờ Journal
Agri. Food. Chem , Lamuela Raventos 1995, dùng HLPC để phân giải cis và
trans của resveratrol, thì thấy rằng khi chất resveratrol ở dạng trans
form lại gặp nhiệt, hoặc tia tử ngoại cực tím ultraviolet, thì nó
biến ra cis-form (Lamuela-Raventos,
RM.,1995).. Thật vậy, Mozzon, (2007), đã đo hàm lượng cis
resveratrol trung bình là 0.5 tới 1.9 mg/L trong rượu nho đỏ, còn trong
rượu nho trắng chúng chỉ có tối đa 0.2 mg/L mà thôi
Resveratrol được tìm thấy do nhiều cây trong thiên nhiên, mà những tính
chất dễ thấy nhất của nó là chống nấm (antifungal properties). Trong
những cây có thể cho ta nhiều chất resveratrol có được như là: nho
grapes,raspberries, mulberries và plums, peanuts, berries gồm có blueberries,
bilberries và cranberries, và còn thấy nữa trong một vài loại thông như
Scots pines và eastern white pine. Ông Jang và các cộng sự viên (1997)
nghiên cứu về tính cách chống viêm rất hữu hiệu khi trích chất
resveratrol từ cây
Peruvian
legume
Cassia
quinquangulata . Đây
là thứ thuốc được bào chế từ cây kể trên được thấy trong các sách
pharmacology.
Resveratrol được nhìn thấy nhiều nhất ở các loại nho. Các loại nho
trên resveratrol được thấy có nhiều nhất nơi vỏ và hột. Các loại nho
tươi thường cho từ 50-100 ug resveratrol cho mỗi gram. Còn loại nho gọi
là muscadine grapes, thì vỏ và hột của
chúng d̃ế nghiền nát thì cho một hàm lượng resveratrol đâm đặc nhiều
cả trăm lần. Tuy nhiên hàm lượng resveratrol lấy được nơi vỏ nho thay
đổi tùy theo giống nho, tuỳ theo thổ nhưỡng nơi trồng và còn tùy theo
tính khả năng đề khán nấm của chúng. Nghĩa là giống nho trên nếu ít
bị nấm nghĩa là hàm lượng resveratrol cao hơn loại bị nấm. Khi nho
được lên men, thì hàm lượng thời gian lên men luôn cả vỏ nho, cả hai
đều cho hàm lượng tối đa resveratrol trong nước rượu nho.

Hàm lượng
resveratrol có trong
rượu nho và được thấy trong nước giải khát
|
Beverage |
Total
resveratrol
(mg/L) |
|
Muscadine Wines |
14.1 - 40 |
|
Red Wines (Global) |
1.98 - 7.13 |
|
Red Wines
(Spanish) |
1.92 - 12.59 |
|
Red grape juice
(Spanish) |
1.14 - 8.69 |
|
Rose Wines
(Spanish) |
0.43 - 3.52 |
|
Pinot Noir |
0.40 - 2.0 |
|
White Wines
(Spanish) |
0.05 - 1.80 |
Còn trong rượu nho
Tuscan wine thì hàm lượng trans- resveratrol
tập trung trong 40 loại rượu
Tuscan wine có được từ 0.3 tới
2.1mg/L trong 32 loại nho đỏ, còn tuscan wines làm
bằng nho trắng hàm lượng trung bình trong 8 thứ
rượu
nho trắng chỏ có 0.1mg/L.
Nếu xem bảng ghi hàm
lượng resveratrol của mustadine grapes thì ta thấy rằng chính
mustadine grape wines cho một hàm lượng lớn
nhất hơn tất cả các loại nho làm rượu. Như cis resveratrol của
mustadine grape có được vào khỏang 9.2 và
31.9 mg/L, còn trans resveratrol thì trong khoảng 4.9 và 5 13.4 mg/L
(Mozzon,2007)

Như trên tôi đã nói
rằng trong peanut cũng có resveratrol, trong một ounce của raw peanuts là
146g có chứa tới 0.1-0.26 mg resveratrol, còn peanuts boiled nấu chín
nặng 180 g có chứa tới 0.32-1.28 mg revesratrol; peanut butter một ounce
nặng 258g có chứa tới 0.04- 0.13mg resveratrol. Tóm lại, trong một ounce
của peanuts thì có hàm lượng resveratrol là 79.4ug/ounce bằng phân nửa
của rượu ̣đỏ đo được 160 ug/ounce. Tuy nhiên, trong peanut có chứa hàm
lượng fatty acid là saturated fatty acid của thực vật rất cao nên peanuts
hay peanut butter đều là không tốt cho sức khoẻ nếu tiêu thụ nhiều. Thêm
nữa, khi peanuts bị nhiễm thì nấm Aspergillus flavus xâm nhập tạo thành
các bào tử làm nhiễm độc trong hột đậu, tạo thành aflatoxins. Chính
chất nầy gây ung thư cho một vài súc vật và có thể gây ra ung thư gan
cho con người ở vùng nhiệt đới, vì các nơi đó thường các ngũ cốc
được tồn kho không kiễm soát độ ẫm đúng, gây nên nhiễm độc bởi nấm
(David E.M, 2000)
Còn blueberries thì
lại chứa hai lần hàm lượng resveratrol như bilberries, nhưng cả hai có
hàm lượng resveratrol kém hơn nho là 10%
Lyons MM, et al
(2003). Lyons
et al., (2003), Frémont L., (2000)
, cho biết
nếu ta
dùng nhiệt nấu
thì hàm lượng resveratrol lại giãm đi tới phân
nửa. Còn nếu ta ăn resveratrol vào thì chúng sẽ mau biến đổi và cũng
mau được bài tiết ra ngoài.

Tóm
lại ta
được biết các tính chất
c̉ua resveratrol là chống nấm, chống viêm, chống
nhiều thứ nguy hiễm khác mà ta sẽ thấy sau, nó có nhiều trong loại
nho đỏ có tên là mustadine grape
hơn
các
loại
nho xanh
khác, và khi làm rượu thì rượu
mang tên là mustadine grape wines.
Nghiên
cứu cơ chế của resveratrol.
1-Làm sao khi insulin bị
lờn trở lại hoạt động như trước? Chìa khóa của thành công.
Trong
quyển sách được xuất bản vào tháng Octobre, (2007) là Cell Metabolism
do nhà xuất bản Cell press xuất bản, thì các nhà nghiên cứu nói rằng,
với liều lượng nhỏ c̉ua một chất hoá học được thấy có nhiều trong
vỏ của nho đỏ hay trong rượu nho đỏ có tên gọi là resveratrol, có khả
năng cải thiện kích thích tố insulin của các chú chuột được dùng vào
thí nghiệm. Chất đó cũng có tiềm lực mạnh trong việc điều trị để
ngăn ngừa hai loại tiểu đường. Các nhà nghiên cứu thấy rằng trong chất
resveratrol lại có một diếu tố enzyme gọi là SIRT1, chính enzyme nầy
có công dụng là hồi phục DNA, điều chỉnh sự tiết ra insulin, và sự
cải thiện sự nhạy cãm tốt hơn của insulin trong các chú chuột được
dùng làm thí nghiệm. Nên resveratrol lại được coi như là một enzyme
SIRT1 đầy năng động trong nhiệm vụ kể trên.
Ông
nói thêm, diabetes mellitus, là hầu như do sự rối loạn của tuyến nội
tiết, mà hiện tại có trên 170 triệu người đang mắc phải, và dự đoán
cho đến năm 2030 thì con số nầy tăng lên tới 530 triệu người. Còn trong
hai loại bịnh tiểu đường thì có hơn 90% của người mắc bịnh là do sự
lờn insulin của các tế bào của cơ thể đến sự kích thích của các
kích thích tố insulin. Insulin trong máu được gọi là tốt là vì đường
hấp thụ vào dễ dàng khi phần lớn chúng tích tụ trong các bắp thịt
của xương, các tế bào mỡ, và cũng bởi do sự ức chế do sự sản xuất
đường trong gan tiết ra. Vấn đề hiện tại là làm sao giãm bớt đi sự
ù lì hay lờn insulin là chià khoá đạt tới để điều trị hai loại
bịnh tiểu đường. Trong các cuộc nghiên cứu gần đây thì giữa SIRT1 và
chu trình biến đổi của đường glucose cùng sự tiết ra chất insulin thì
cho biết rằng chính chất SIRT1 là chất tham dự trực tiếp vào sự mẫn
cãm của insulin trở lại như trước đang đóng một vai trò lớn mà ít
nhà nghiên cứu nào biết.
Bây giờ, các nhà
nghiên cứu cho hay rằng hàm lượng chất SIRT1 nếu được gia tăng thêm thì
chính nó làm giãm đi tính chất ù lì hay lờn của insulin (insulin
resistance). Thêm nữa, gia tăng sự hoạt động của SIRT1 tức là cải thiện
sự mẫn cảm hay độ nhạy của insulin. Insulin là một hormone có nhiệm
vụ kiễm soát đường. Khi mà trong cơ thể con người khi insulin trở thành
kém nhạy, thì insulin kém nhạy đó, được gọi là insulin resistance,hay
gọi là insulin ù lì hay gọi là lờn insulin.
Và khi cơ thể trở thành mập qúa tải, hay kém nhạy cãm của insulin
đối với sự qúa tải đó sau một thời gian dài, thì insulin kém nhạy
đó được gọi là insulin resistance, là đầu mối dẫn đến hai lọai tiểu
đường. (When the body
becomes “overloaded” or less sensitive to insulin, that’s called insulin
resistance, a condition that can lead two
types of diabetes).
Còn đối với những người không bịnh, khoẻ mạnh, thì hormone insulin
kiễm soát đường trong cơ thể được coi là rất hữu hiệu.
Đó
là kết qủa được rút ra do các nhà khoa học thí nghiệm có được và
xác định resveratrol- với liều lượng là 2.5mg/kg/day-thì sẽ làm gia
tăng độ nhạy của các tế bào insulin. Hay nói một cách khác, nếu
giãm đi hàm lượng resveratrol thì có nghĩa là cũng làm giãm luôn
tính lờn của insulin trong các con thú được thí nghiệm khi cho chúng ăn
những thức ăn có nhiều mỡ (fatty acid) trong đó.
Nhà
khoa học Zaid nói, chính chất SIRT1 cải thiện sự nhạy cãm tốt hơn của
insulin, đặc biệt trong những trường hợp khi chất insulin-ù lì hay lờn
insuln. Thêm nữa, nhóm của Ông cũng nhận thất rằng chất resveratrol,
với một hàm lượng nhỏ nếu so sánh với nhiều cuộc th́i nghiệm trước,
thì cũng cải thiện sự mẫn cãm hay độ bén nhạy của insulin qua enzyme
SIRT1.
Năm
2006, vào tháng August, nhiều nhà nghiên cứu tại Boston University cũng
đã khám phá thấy rằng chính chất resveratrol làm tăng cường sự hoạt
động hữu ích của insulin trong con chuột thí nghiệm. Lý do là việc
lờn insulin đóng vai trò quan trọng trong hai bịnh tiểu đường. Còn nhóm
nghiên cứu Ấn độ cho thêm resveratrol trong thức ăn của các chú chuột
mắc ḅinh tiểu đường thì giúp cho thận chúng hoạt động tốt hơn và
làm giãm đi hàm lượng oxyt gia tăng.
Năm
2007, vào tháng July, nhóm Biotech của Sirtris Pharmaceuticals cho biết
chính chất resveratrol đã làm giãm lượng đường trong máu và đồng thời
gia tăng của sự nhạy cãm của insulin gấp nhiêu lần đối với hai bịnh
tiểu đường. Và nhóm trên xuất ra trên 60 triệu dollars trong việc bào
chế loại thuốc trị hai bịnh tiểu đường. Nhóm nầy cùng với Dr David
Sinclair, một nhà nghiên cứu tại Harward University, đã cć công tìm ra
resveratrol từ năm 2003.
Thêm
nữa, cuộc nghiên cứu do trường đại học Harward School of Public Health từ
năm 2003 đến 2007, và công bố ngày 19-April-07, cho các phụ nữ tuổi từ
25, nếu tiêu thụ mỗi ngày từ 1-tới 2 ly rượu thì có được 58% ít bị
hai loại bịnh tiểu đường hơn là những người không biết uống rượu. Các
nhà nghiên cứu đưa ra ý kiến rằng tiêu thụ rượu sẽ giúp insulin nhạy
cãm trở lại và hàm lượng đường trong máu điều độ. Cần lưu ý rằng,
trong rượu đỏ có chấ́t resveratrol, nghĩa là dùng resveratrol là tạo
insulin mẫn cãm như trước khi bị bịnh. Cũng vậy, trong tờ Annals of
Internal Medecine nhận thấy rằng đối với những người dùng rượu đỏ,
thì bịnh tim mạch lại giãm đi tới 55% thấp hơn cho những bịnh nhân bị
bịnh tiểu đường đang dùng rượu đỏ điều độ
Thêm
nữa, Ông Qiwei Zhai (2007) người Trung Hoa, trong viện Hàn Lâm khoa học ,
có đề nghị thêm rằng vì có vai trò của rượu trong việc uống rượn nho
đỏ, là vấn đề là cần quan tâm đối với sức khỏe nhiều người, nên Ông
ta đề nghị cách tốt nhất là tìm các loại thực phẫm thiên nhiên có
nhiều chất resveratrol nhất mà dùng. Ông cho ví dụ như trong ngành y
học của hai nước Trung hoa và Nhật bản thường dùng loại cây gọi là
Polygonum cuspidatum. Nghĩa là dùng
resveratrol không phải nhất thiết là phải dùng với rượu.
Nhóm
cũng đề nghị cho những ai tiêu thụ rượu đỏ với mục đích là để cải
thiện sức khỏe khi tiêu dùng chất resveratrol trong rượu thì nên nhớ là
nghĩ tai hại của rượu trước và nếu uống thì trước nhất nên uống
rượu rất ít. Từ các cuộc thí nghiệm trên các con chuột thì có thể
trả lời rằng bà con có thể uống nhiều litres rượu đỏ mỗi ngày để
có đủ hàm lượng resveratrol cần thiết cải thiện sức khoẻ. Nhưng Ông ta
cũng nói thêm, là theo sự tìm thấy của Ông thì nếu bà con uống
khoảng 3 litres red wine/ mỗi ngày th̀i trong cơ thể có được 15 mg chất
trên, gọi là có được phản ứng sinh hoá hữu ích.
Tuy
nhiên, sau một thời gian dài, lúc đó người uống có lẽ say xỉn rồi!
Theo tôi, uống như thế thì sẽ trở thành người nghiện rượu, và tiền
mua rượu cũng không kham nổi đoạn đường dài. Tiểu đường chưa hết, lại
thêm bịnh nghiện, và gan cũng sẽ bị ung thư, thì mau thấy cái lẽ sinh
bịnh và tử mà không một ai tránh khỏi. Vậy thì nên chọn một giải
pháp thích hợp nhất đối với sức khỏe của chính mình.
2-Rượu nho đỏ mang nhiều sức khỏe đến cho con người.
Chính vì vỏ nho và hột nho chứa nhiều chất là antioxidant được gọi
là flavonoids. Chính fkavonoids làm giãm LDL cholesterol xấu, gia tăng HDL
cholesterol tốt, và làm giãm đi hiện tượng máu đông cụt (blood
clotting). Ngoài ra, một chất antioxidant khác nữa, là resveratrol, trong
vỏ và hột, làm ức chế mọi bướu tumors và một vài loại ung thư
cancers. Và chúng cũng giúp trong việc ngăn ngừa các tế bào thần kinh
bị nguy hại,và giúp điều trị hai bịnh là Alzheimer’s và Parkinson’s.
Philippe M (2005) và Olson (2005) báo cáo trong Journal Biological Chemistry
và American Journal Physio Heart rằng ch́inh resveratrol giúp cho các tế
bào thần kinh kém hoạt động, hay bị tật như Alzheimer’s được phục hồi.
Báo cáo từ Northeastern Ohio Universities College of Medecine và Ohio Stae
University, do Olson et al và nhóm nghiên cứu của Ông (2005) rằng chính
resveratrol tham dự trực tiếp vào việc ức chế tác dụng của cardiac
fibroblasts và cũng ức chế sự bành trướng của cardiac fibrosis (tim bi
xơ hóa)
Năm 2006, các báo cáo của các
nhà nghiên cứu khoa học trước hết là các nhà khoa hoc̣ Pháp thì khi
thêm resveratrol vào thức ăn cho các chú chuột dùng thấy rầng sức chịu
đựng của chúng gia tăng thêm tới 100%, nếu so với các chú chuột không
dùng resveratrol. Không những thế, resveratrol lại giúp chúng không trở
thành lên cân, mập phì. Còn các nhà nghiên cứu người Mỹ tại Harvard
University thì dùng resveratrol cho vào thức ăn của các chú chuột mập
phì thì các chuột mập phì nầy kéo dài tuổi thọ lâu hơn tới 30% nếu
so với các chuột không dùng resveratrol rong thức ăn của chúng.
Năm 2007, vào tháng June, nhóm
khoa học nghiên cứu tại Mayo Clinic khi cho 30mg/day hàm lượng trong thức
uống dùng cho chuột thì thấy gene CD38 chính là gene mà các nhà khoa
học tin rằng chính hắn gia tăng sự béo phì, và cho chúng ăn thức ăn
có nhiều chất béo trong 2 tuần. Nhóm nghiên cứu kết luận: chuột uống
resveratrol thì lại giãm béo phì nếu so với chuột không dùng
resveratrol thì độ béo phì gia tăng thêm.
Còn
theo các nhà khoa học Canadian thì chất antioxidant của rượu nho đỏ
giúp cho răng và lợi gọi là bịnh nha chu (periodontal) khỏi bịnh.
Thêm
nữa, theo sự nghiên cứu của Dr Ceriollo và các công sự của Ông (2006)
thì chất flavonoids trong nho đỏ hay các thứ trái cây khác, thì chính
nó điều hòa các tế bào tăng trưởng, công dụng như chất antioxidants,
làm giãm đi sự tổn thương của cơ thể và cũng ngăn ngừa được chứng
máu đông (blood clots). Còn đối với hai loại bịnh tiểu đường, thì Dr
Ceriollo và phụ tá của Ông cho những dữ kiện cụ thể là nếu tiêu dùng
mỗi ngày từ 2 toi 5 ounce ly rượu đỏ trong bửa cơm thì 2 loại bịnh của
người tiểu đường giãm đi các thành phần nguy hại trong các phần ăn mà
họ đang nuốt vào bụng, làm giãm đi sự nguy hại của thành động mạch
do tác động của cái gọi là sự gia tăng oxýt. Cần biết là sự
oxidation của chất mỡ xấu LDL hay gọi là bad cholesterol khi chất nầy
gây nên hiện tượng mỡ xấu bám vành động mạch ( Frémont L, et al 1999)
Khi chất mỡ xấu lại gặp free radical thì radical sẽ tàn phá mỡ xấu
nhanh chóng hơn gấp 50 sự tàn phá không có mỡ xấu và đâm xuyên qua
mạch máu tạo ra chứng đứt mạch máu, vv.
3-Reveratrol cải thiện về thận tốt hơn
Trong
quyển Pharmacology, November,2005, of
the University Institute of Pharmaceutical Sciences at Panjab
University in Chandigarh, India, .có cho biết thêm là resveratrol trong nho
đ̉o hay trong rượu nho đỏ,là một hợp chất polyphenolic phytoalexin có
tính chất chống oxýt hoá (antioxidant properties), lại làm cho thận
hoạt động tốt hơn. Trong cuộc thí nghiệm kéo dài 6 tuần, trên 3 loại
chuột: một không, một bị bịnh diabetes, và một bị bịnh tiểu đường
(diabetic rats) với việc dùng resveratrol khoảng 5 và 10 mg. Sau 6 tuần
lễ, xem kết qủa so sánh về thận của loại chuột bị bịnh mà thận bất
bình thường thì nhận thấy: lượng creatinine giãm xuống và nước tiểu
trong, chất proteinuria gia tăng hơn là do chính resveratrol tạo ra hiện
tượng cơ học antioxidants (antioxidative mechanism) giúp cho thận loại
chuột bị bịnh tiểu đường thận hoạt động tốt.
Tính
chất của Resveratrol đã được xếp vào phytoalexin (“phyto” chỉ thực vật,
“alexin” chỉ những thành phần bổ (complement), mà nghĩa complement là
những thành phần khác nhau giúp vào việc đề kháng khi có sự xâm nhập
của kháng nguyên khác vào cơ thể, hay do từ cơ thể tạo ra chất khác.
Nó tham dự vào sự phân hũy, kêt tụ,ổn định của tế bào lạ. Complement
cũng còn tham dự vào miễn dịch (immunity). Nhờ miễn dịch nên cơ thể
mới chống chỏi hay đề kháng với bịnh tật (Martinez J and Moreno JJ.,
2000). Vì thế resveratrol mang đến chúng ta nhiều lợi ích cho sức khoẻ,
chẳng hạn như: chống ung thư, chống virus antiviral, neuroprotective,
anti-aging, anti-inflammatory và life prolonging, mà tất cả các bịnh trên
đều được phổ biến trên các báo chí, trên các Journal Science vv khắp
nơi trên thế giới (Cao G, and Prior RL., 2000,
Colin D, et al 2005 ).
Vai
trò của thực phẫm có chứa resveratrol đang được bán khắp nơi. Như ta
đã biết, resveratrol đươc̣ thấy trong rượn nho prapes vines (Vitis vinifera
L) , nó hiện diện trong rễ, hạt, thân cây stalks, nhưng nhiều nhất là
vỏ của trái nho và hạt của nó. Rượu nho đỏ chứa resveratrol nhiều,
còn nho trắng thì ít lắm. Sở dĩ có sự khác nhau nhiều giữa hai loại
nho về resveratrol là do cách chế biến mà ra. Rượu nho đỏ, trong chu kỳ
chế biến, võ và hạt được nghiền và tất cả đều dùng để lên men. Còn
nho trắng thì lên mem rượu do từ nước nho juice mà hạt và võ lại không
dùng nghiền nát để làm juice vì khẩu vị (taste). Trong giai đoạn lên
men, ngoài resveratrol, lại còn có polyphenols, kể cả quercetin,
catechins, gallocatechins, procyanidins và cả prodelphidins là nơi chứa
nhiều chất chát tannins, tất cả được trích ra từ võ nho trong chu
trình gọi là điều chế gọi là ngâm sau khi làm nát và để lên men
(maceration) thành rượu. Khi rảnh, tôi sẽ viết một chu trình làm rượu
đỏ nổi tiếng của Úc, kỹ thuật làm rượu của Úc không dùng đường bỏ
thêm vào, mà giá trị dinh dưởng và giá trị trị bịnh thuộc vào hạng
tốt. Đó là khác biệt về kỹ thuật giữa Úc và Pháp.
Thêm
nữa, resveratrol
cũng được coi là rất hữu dụng trong việc chống lại các tế bào trung
tâm không hoạt động đúng chức năng, và các tế bào chết và chống lại
mọi sự thoái hoá như Huntington’s disease ( Arango
et al 2005) và Alzheimer’s disease
(Phillip M, 2005, Philippe Marambaud et al., 2005)
4-Cẩn trọng trong
vịêc dùng rượu.
Hiệp Hội Tim Mạch
Mỹ ( The American Heart Association) (AHA) khuyến cáo người dân có bịnh
tiểu đường nên cẩn trọng nhìều về việc uống rượu. Nếu có uống,
dùng trong bửa ăn, nên dùng vừa phải. Nếu thái quá, ngược lại mọi
kết qủa mong đợi là rượu làm cho máu trong đường xuống thấp ở mức
độ nguy hiễm. (Otherwise, alcohol can lower blood sugar to dangerous levels).
Hội AHA đề nghị
rằng qúy Ông có dùng thì nên dùng hai lần trong ngày, còn qúy bà thì
một lần trong ngày. Mỗi lần nên uống four ounce glass mà thôi. Nếu uống
quá nhiều rượu đỏ, thì không hưởng những ích lợi gì từ rượu đỏ mang
đến trong việc ićh lợi cho sức khỏe. Còn nếu cứ li bì sai men rượu,
thì sẽ nhận nhiều vấn đề mới sẽ xãy ra rất tai hại liên quan đến
sức khỏe.
Nếu không biết uống,
thì đừng uống. If you don't drink, don't start.
Nếu đừng khởi đầu, thì ṿan sự không có xãy ra. Bởi vì hãy nghĩ đến
những trái cây và rau cải, cũng như nho đỏ, tất cả có chứa nhiều
antioxidant, chứ đâu phải tìm từ rượu đỏ. Cứ ra các market mua về và
ăn là được. Dù rằng rượu đỏ làm cho HDL tốt lên cao đấy, nhưng nếu
chúng ta năng tặp thể dục một cách điều hoà, ăn uống vừa đủ no, thức
ăn chọn lọc về phẫm dinh dưởng tốt tươi, thì kết qủa cũng như nhau.
Nếu vừa uống, vừa ăn và vừa năng tập thì tuyệt. Thay vì nghĩ về
rượu, nên quay về các phương pháp cổ điển, là kiễm soát sức nặng,
thể dục đều đặng, và ăn uống bằng những thực phẫm tốt cho sức khoẻ,
thì ít cần gặp mặt Bác sĩ làm gì, phải không qúy vị. Tại Úc, nơi
tôi đã sống, tại Nhật nơi tôi đã tới, người dân giàu của nước đó
thường dùng rau cải, trái cây tomato, ớt, cà, đậu vv trồng bằng phân
hữu cơ organic compounds, và họ ăn cá tươi bắt ở biển cả. Sức khoẻ
của họ cải thiện thấy rõ. Còn dân trung bình và nghèo tại Úc thi ăn
rau cải và trái cây bón bằng phân hóa học (chemical compounds), vừa rẽ
vừa nhiều. Còn tại Việt Nam, mọi rau cải hầu như bị nhiễm chất độc,
và nhiễm ký sinh do việc tưới tiêu, gà vịt thì nhiễm H5 N1, heo, bò
thì lỡ mồm, quay xanh vv. Cái chân lý mà mọi người phải nhận là nơi
nào chũ nghĩa Marx tới và ngụ, nơi nào chũ nghĩa Cộng sản thành
hình, thì các nước nơi đó đều trở thành địa ngục bất hạnh nhất ở
dưới trần thế nầy.
Tại Đại học
California, USA, Nhóm nhiên cứu của Ông Davis về các giống nho khác nhau
để tìm hàm lượng flavonoids có trong đó. Theo nhóm thì rượu đỏ có
nhiều nhất flavonoids hơn loại rượu trắng. Nhóm lại kết luận: rượu
nào có nhiều vị ngọt hơn thì rượu đó có hàm lượng flavonoids thấp
hơn. Còn đối với grape juice, thì các loại nước uống làm bằng nho có
màu tím purple thì có khả năng ngăn ngừa máu đóng cụt (blood clotting).
Dù, khác với rượu, nước nho cũng không làm cho LDL là cholesterol xấu
thấp hơn đi. Còn việc dùng rượu thì rượu làm hư gan, tụy tạng và tế
bào thần kinh. Và nghiên cứu cũng cho biết thêm rằng chính rượu gia
tăng thêm nhiều cơ hội cho qúy bà dễ mắc bịnh ung thư vú (breast
cancer). Còn qúy vị có những bịnh sau đây, thì không nên dùng rượu.
Những bịnh đó là: high triglycerides, viêm tụy (pancreastitis), suy gan
(liver disease), uncontrolled hypercontrolled, depression, và congestion heart
failure.
Uống nhiều rượu thì
làm gia tăng thêm hàm lượng của chất fats trong máu (triglycerides), thì
dẫn đến gia tăng mạch huyết áp, tim bị hư và cũng gia tăng nhiều năng
lượng tiêu thụ cao. Gia tăng qúa nhiều năng lượng tiêu thụ thì có nghĩa
là dẫn đến sự béo phì và có lại có nhiều rủi ro cao dẫn đến sự
phát triển bịnh tiểu đường. Uống qúa nhiều rượu dẫn đến voệc tai
biến mạch máu não. Những biến chứng nghiêm trọng khác có thể xãy ra
là có thể chết vì rượu, bịnh cơ tim, bịnh sai loạn nhịp tim và tim
ngừng chết thình lình (cardiomyopathy, cardiac arrhythmia and sudden cardiac
death)
5-Prostate cancer và
lợi ích do rượu đỏ red wine
Tại Boston, tháng
June. 2007, Harward’s Men Health Watch cho biết rằng các khoa học nghiên
cứu thấy rằng giữa prostate cancer và rượu đỏ có sự liên hệ với nhau,
là nếu uống trên 4-7 ly trung bình cho mỗi tuần thì triệu chứng bịnh
prostate cancer giãm đi tới 52%, nếu so với những người không uống rượu
đỏ. Rượu đỏ có tác dụng đặc biệt trong việc bảo vệ để chống lại
sự lớn mạnh và xâm chiếm do ung thư.
Các nhà nghiên cứu
tại Seattle tổng hợp nhiều yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến prostate
cancer của các Ông tuổi từ 40-64 tuổi, trong đó kể cả các Ông dùng
rượu hay không dùng rượu. Thì họ ngạc nhiên nhận thất rằng uống rượu
lại làm giãm đi prostate cancer, đó là khi dùng rượu đỏ hơn là rượu
trắng. Kể cả khi dùng hàm lượng gọi là ít cũng mang đến nhiều lợi
ích thiết thực, khi dùng thêm vài ly rượu đỏ mỗi tuần thì tỷ lệ
tương đối của bịnh prostate cancer lại giãm đi 6%
(Castellon EA et al ,. 2006)
Để giải thích tại
sao lại phải dùng rượu đỏ bởi vì tính chất hoá học của rượu đỏ,
như chứa flavonoids và resveratrol, mà các rượu khác không tìm có. Đó
là những tính chất antioxidants mạnh, và làm cân bằng kích thích tố
nam androgens, chất hormone của các Ông làm kích thích tuyến prostate.
Nhiều bác sĩ rất
miễn cưỡng khuyên bịnh nhân dùng rượu vì vấn đề liên quan đến sức
khoẻ vì sợ rằng đó là cái cớ đưa đến việc dùng thái qúa là không
tốt hay trở nên ghiền rất nguy hiễm. Trái lại, nếu dùng có chừng
mực, có trách nhiệm, và đều đặng thì mang đến nhiều lợi ích trong
việc như là làm giãm đi heart attack, stroke, diabetes và cardiac death
chết vì tim ngừng đập
Năm 2007, vào tháng
Sept, Các nhà nghiên cứu tại University of Alabama at Birmingham công bố
kết qủa các cuộc thí nghiệm như sau: các chuột cho dùng trong thức ăn
có chứa resveratrol, thì hơn 87% chuột bị bịnh prostate cancers dường
như kém phát triển trong khi chuột không dùng resveratrol thì prostate
cancers lại tiến nhanh và đưa đến cái chết nhanh chóng. Hơn nữa, chuột
cho ăn thức ăn có resveratrol thì hầu như việc phát triển prostate cancer
lại phá triển kém nguy hơn dưới dạng bướu kém độc và có hơn 48% hay
hơn là hầu như các bướu nầy lớn chậm và ngưng hẳn, nếu so với chuột
không dùng resveratrol trong thức ăn của chúng. Cùng tháng nầy, tại Uni
Harvard Men’s Health báp cáo cho biết các Ông dùng nhiều hàm lượng red
wine rượu đỏ, khoảng 4-7 ly mỗi tuần, thì phân nửa các Ông có bị
prostate cancer, còn trái lại, cùng thí nghiệm nhưng không dùng rượu đỏ
và kết qủa trái hẵn, tất cả đều bị prostate cancer chỉ vì chỉ dùng
rượu trẵng (white wine). Thế nên trong rượu đỏ, trong đó hợp chất của
antioxidant như resveratrol, là chất có nhiều ích lợi trong việc điều
trị và ngăn ngừa prostate cancer.
Từ năm 1991, nhóm
khoa học gia nghiên cứu tai Houston’s MD Anderson Cancer Center đã nhận
thấy rằng resveratrol có rất nhiều công dụng khác nhau giúp cho sức
khoẻ con người, trong việc chống lại nhiều loại ung thư cho con người.
Duy chỉ có một chất đơn giản như resveratrol mà trong đó có những
hormones, chính chúng có nhiều cơ chế làm chận đứng mọi phá triển
của các tế bào cancer gấp nhiều lần, và cũng có khả năng để hũy
diệt các tế bào ác tính đó. Lúc đầu, resveratrol dùng trong việc trợ
giúp tim để chống lại mọi suy thoái với chính nó. Thêm bởi tính các
tác dụng của antioxidant và chống viêm, nên resveratrol được để ý trong
việc chống ung aniticancer thư ra sao? Cuộc thị nghiệm từ năm 1990, các
nhà nghiên cứu tại University of Wisconsins tìm ra 6 yếu tố để có cho
việc chống ungthư hữu hiệu là: 1- là không để lại những ảnh hưởng
của chất độc trong các tế bào tốt. 2 -là không tạo ra những loại
ungthư khác. 3- Có thể dùng để uống . 4- được hiểu rỏ cơ
chế của tác dụng của nó. 5- Không qúa đắt đỏ. 6-được áp dụng chính
cho con người. Kết luận: Resveratrol lại hội đủ 6 điều kiện kể trên.
Tuổi tác, những hoá
chất, những phóng xạ, và những yếu tố khác có thể lấn áp mọi khả
năng của cơ thể chống lại (counteract) của các tế bào bình thường, khi
chúng bị sự tấn công của ung thư một cách âm thầm. Mọi cái không thấy
biết được của ung thư là vấn đề quan trọng. Cái tốt nhất chống lại
ung thư là việc ngăn ngừa (prevention). Bằng cách thêm vào cơ thể những
sản phẫm tự nhiên, những cơ chế tái tạo tế bào để không những ngăn
ngừa trong việc hình thành và phá hoại tức thì những tế bào ung thư.
Resveratrol là một hoá trị liệu ngăn ngừa “chemicalpreventive” phụ giúp
ngăn ngừa DNA nguy hại, và lại phá hũy mọi tế bào ung thư từ sớm
nhất cho tới giai đoạn sau cùng nhất trong con người và cả trong các
con thú dùng để làm mẫu thí nghiệm. Jang, M. et al (1997) cho biết có
một điều đáng để ý là chính resveratrol là một chất rất là độc cho
các tế bào ung thư nhưng lại không làm hư hại mọi tế bào tốt nào
khác có trong cơ thể. Thật vậy, khi duǹg resveratrol để chống lại
prostate cancer thì cũng giúp cho cơ thể trong nhiều phương diện khác là
mang đến nhiều lợi ích về cho tim mạch. Mặt khác, resveratrol trong
thiên nhiên lại có với những chất khác như polyphenols như quercetin trong
các cây nho. Vì quercetin là chất giúp cho resveratrol gia tăng nổi bật
khả năng sinh hóa của nó để tiêu diệt ung thư hữu hiệu. Nhiều loại cây
được trích ra chất indole-3- carbinole, hay 13C, có thể phối hợp với
resveratrol trong việc giết các tế bào ung thư bởi vì 13C là chất làm
ngưng sự lớn của tế bào tại một điểm trong chu kỳ của tế bào trong
khi resveratrol thì ngưng điễm khác. Nhiều nhà vật lý cùng đồng tình
trên quan điễm nầy khi phối hợp hoá học xạ trị và thuốc uống cho
bịnh nhân. Vì mỗi thứ thuốc đều làm cho các tế bào ung thư dừng lại
không lớn được tại mỗi thời điễm của chu kỳ lớn của tế bào.
Nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng lấy được chất resveratrol và quercetin trong cây nho mustadine
grapes là một tiến bộ lớn lao trong việc điều trị tế bào prostate
cancer dù cho nó mới khởi đầu gặm nhắm vào cơ thể con người. Tại
University of Colorado, các nhà nghiên cứu đồng kết luận rằng sự phối
hợp từ sự trích ra từ thiên nhiên chất giết cancer cytokine là yếu tố
làm chết bướu có thể đóng góp thêm nhiều tính chất hữu hiệu và ít
độc tố xạ trị trong bịnh viện để điều trị bịnh prostate cancer. Một
sự nghiên cứu khác cho rằng có nhiều loại tế bào prostate cancer, nhưng
resveratrol là một trong trong những polyphenols tốt nhất được công nhận
trong việc chống lại các tế bào ung thư prostate cancer.
Còn các nhà nghiên
cứu người Úc cho rằng resveratrol tác động như cơ chế của tamoxifen–like
để khoá lại các tế bào có khả năng gởi các tính hiệu đến những
phần khác của cơ thể trong con người, và resveratrol có khả năng ngăn
ngừa sự trải rộng ung thư tới xương. (Colin
D, et al 2005). Trong khi resveratrol chính nó với sức mạnh
của polyphenol, phối hợp với những chất trích từ hợp chất từ các cây
khác càng làm gia tăng độ mạnh của nó. Các nhà nghiên cứu đang phát
triển hơn bằng cách đòi hỏi ngân khoản nghiên cứu về sự phối hợp hợp
chất của quần thảo thực vật phytocompounds (Roy, H. and Lundy, S. 2005)
Prostate cancer và
chế độ ăn uống
Nhiều bằng chứng
hiển nhiên cho biết rằng chính chế độ ăn uống xác quyết rằng con
người đã có giao kèo với bịnh prostatte cancer hay sẽ khỏi phải bịnh
khi đã bị bịnh. Thực vật cung cấp thức ăn cho con người ngăn ngừa ung
thư, còn thức ăn từ động vật thì có khuynh hướng tạo thành ung thư.
Thế nên suy nghĩ hơi tiêu cực một chút đối với thức ăn do động vật để
bù lại thức ăn do thực vặt cung cấp. Những người đến trước thường
dùng trái cây, rồi sau nầy ho tiêu thụ qúa nhiều những sản phẫm có
hằng ngày, nên tỷ lệ prostate cancer cao hơn. Cuộc nghiên cứu được công
bố trong Journal Cancer rằng những người tiêu thụ từ ba ly sữa và hơn
mỗi ngày thì có tỷ lệ gấp đôi về triệu chứng prostate cancer nhiều
hơn. Những nghiên cứu khác thì cho biết rằng chính hormones của cây
trồng cung cấp cho gia súc trong việc di truyền và khoẻ mạnh thì mạnh
hơn hormone tự nhiên của con người. Tiêu thụ và bổ khuyết có thể chưa
đủ vượt qua các hoá chất được trình bày. Một điều thú vị là vitamin
D3, được đề nghị dùng trị prostate cancer, thì có tác dụng
đối nghịch với ảnh hưởng của cây trồng cho gia súc.
Tại Pháp và
Switzerland, các loại cây trồng cung cấp hormone cho gia súc đều bị cấm
dùng, thì kết qủa là bịnh liên quan đến prostate cancer lại giãm đi
tới 50% nhỏ hơn tại Mỹ, còn tại Ý và Greek, thì tỷ lệ là 75% thấp
hơn nước Mỹ. Người Ý và Greek, thường uống rượu đỏ, red wine, nguồn
resveratrol tốt nhất.
Resveratrol, có tác
dụng chống prostate cancer hữu hiệu. Nó làm ngưng sự trưởng thành của
hormone dương hay âm của ung thư, và nó có nhiều chức năng cơ học, để
làm ngưng bặt các tế bào ung thư khi chúng nhân lên để tăng trưởng, và
nó có hiệu qủa ngưng mọi phát triển ung thư lúc sớm nhất hay ở giai
đoạn sau của ung thư, nó lại che chở DNA kh̉oi bị hư hại, và nó cũng
ức chế mọi di căn (metastasis). Khi được phối hợp với quercetin và sức
mạnh chống hormone 13C, resveratrol có thể coi là phương pháp ngăn ngừa
ung thư hữu hiệu nhất cho đến ngày hôm nay.
6-Resveratrol
gia tăng tuổi thọ.
Dr David Sinclair
có công bố sự nghiên cứu của Ông trong Journal Natre (2003) rằng chính
chất resveratrol có ý nghĩa thật sự trong việc kéo dài tuổi thọ một
cách có ý nghĩa đối với loại yeast
Saccharomyces cerevisiae
, nên Ông
thấy trong Sirtris Pharmaceuticals đã nghĩ đến việc thương mãi chất
resveratrol hay những hợp chất của nó để gia tăng tuổi thọ (Horvath
Z, et al, 2005 ).
Còn đối với côn trùng, như loại sâu, gium
Caenorhabditis elegans
và
ruồi giấm
Drosophila melanogaster
(Lancon
A, et al 2005,
Bass, BM 2007), vì đây là loại ruồi được dùng làm đối tượng trong việc
di truyền. Resveratrol lại còn gia tăng tuổi thọ cho các loại cá có
tuổi thọ qúa ngắn như loài
Nothobranchius
furzeri,
tới 59%, và cho những loài cá có tuổi thọ trung bình tới 56%. Thêm
nữa, chính resveratrol gia tăng khả năng bơi , khả năng nhận thức, trở
nên tốt hơn khi khả năng thần kinh bị suy thoái. Sau cùng, báo caó do
the journal Nature from Sinclair's laboratory and the Laboratory of Experimental
Gerontology at the National Institute, 2006, thì hợp chất của resveratrol
luôn cải thiện đến sức khoẻ và sự sinh tồn của loài chuột với chế
độ dinh dưởng cao (a high calorie diet). Cơ chế về gia tăng tuổi thọ cũng
chưa được hiểu tận tường vì người ta luôn nghĩ đến hiệu qủa của ảnh
hưởng sinh hóa (biochemical) liên quan đến giới hạn năng lượng. Nghĩa
là ức chế lipase, là tuyến tụy và các tuyến trong ruột non tiết ra
có tác dụng phân hũy các chất béo thành glycerol và các loại acid
béo trong tiêu hoá, nên giãm đi mọi sự hấp thụ chất fat qua các màng
ruột. Thêm nữa, các nghiên cứu gần đây thì resveratrol
SIRT1
và sự giới hạn calories có liên quan với nhau (Sinclair D et al 2004,
Terzibasi et al, 2006). Bằng cứ hiển nhiên là do thí nghiệm của Dr
Sinclair trong the National Institude on Aging, November 2006, trên hai loại
chuột béo phì, một thì cho ăn với resveratrol th̀i tuổi thọ trung bình
tăng thêm 15% lâu hơn nếu so sánh với loài chuột ăn uống không có chất
đó. Trong trường hợp nầy người ta thấy chính trans resveratrol mà phân
tử của chúng tác dụng trên những gene di ruyền của các loài thú có
vú cái diếu tố
SIRT1
được thấy trong các ống nghiệm.
7-Resveratrol cũng
hữu ích cho các lực sĩ
Tại viện the
Institute of Genetics and Molecular and Cell Biology in Illkirch, France) tháng
12/2006 có ghi lại rằng Johan Auwerx và các cộng sự viên của Ông báo
cáo trên tờ in the journal CELL in Nove/ 2006 rằng các chú chuột cho tiêu
thụ resveratrol trong 15 tuần thì khả năng chịu đựng dẽo dai tốt hơn
nếu so với các chú chuột không có tiêu thụ resveratrol. Đó là nhờ sự
tác động của SIRT1 của resveratrol. Vì chính do resveratrol tác dụng
và cải thiện công dụng của Mitochondrial bằng cách chống lại mọi sự
biến đổi suy thoái là chính nhờ sự tác động của SIRT1 và PGC-1α
. Trong khi hàm lượng resveratrol tiêu thụ tuỳ theo
sức nặng của con người, ví dụ như nặng 80kg (176 lb) dùng 400mg/kg/day
hay lớn hơn càng tốt vì tạo nên sức dẽo dai và chịu đựng tốt. Trong
cuộc khảo sát trên 123 người Phần lan được dùng SIRT1với hàm lượng
khác nhau thì các cơ phận biến đổi trong cơ thể của họ trở nên nhanh
hơn và việc tiêu thụ năng lượng hũu hiệu hơn (. Sinclair et al, 2006).
8-Kết luận.
Resveratrol là một ân
nhân của nhân loại? Và nó được thấy nhiều nhất trong nho đỏ, có tên
là
muscadine grapes. Chất nầy
cũng có thể tìm thấy ở nơi nhiều loại thực vật khác, không nhất
thiết phải là nho. Tôi đã có ý chụp hình để cho qúy vị khỏi lầm
lẫn khi mua nho không đúng tên. Nếu mua đúng tên thì hàm lượng
resveratrol được coi là tối hảo. Tôi cũng nêu lên vấn đề tại hại của
rượu, để qúy vị tránh. Tôi nghĩ chất resveratrol tạo ra enzyme SIRT1 mà
còn có nhiều công dụng hữu ích hơn khác nữa mà khoa học chưa tìm ra
hết, và chính bài nầy tôi cũng chưa biên khảo ra hết những hữu ích
của nó để cho qúy vị biết mà dùng. Có nhiều lợi ích và lắm lý
thú của resveratrol đành để cho lần tới. Dù sao, khi insulin ù lì hay
bị lờn không còn được dùng nữa, nay Enzyme Resveratrol SIRT1 làm cho nó
khỏe lại, hoạt động lại, có tính mẫm cãm nhạy bén tốt hơn, hay
bằng như xưa và khi mà các nhà khoa học đã và đang tuyên bố tiểu
đường là bịnh bất trị, thì phải nói hơi lạc quan một chút là
resveratrol là vị cứu tinh của hơn 150 triệu người đang khổ vì nó ( 90%
của 2 loại bịnh tiểu đường do insulin resistance). Resveratrol gia tăng
tuổi thọ, sức dẽo dai bền bĩ, giúp thận tốt hơn, chống phì nộm, trị
cả bịnh nha chu vv.. Và biết bao người cũng khổ vì prostate, nhất là
các Ông vừa khổ đau vô cùng khi mặt thì đỏ kè thất thểu tưởng như
gần chết cũng vì prostate, với biết bao giọt mồ hôi đầm đầy trên
trán,làm ngập lụt hết các vết nhăn trên mặt già nua và nhấn chìm
những dấu vết chân chim ở tuổi về chiều. Nhưng chính nó lại giúp cho
các Ông chống lại căn bịnh khổ sở ấy, để vui vì đời vẫn mãi là
đời.
Ai cũng kỳ vọng vào
Resveratrol SIRT1 như vị cứu tinh! Kỳ vọng có lẽ đây là giai đoạn gọi
là duyên hợp trong giáo lý duyên khởi của nhà Phật về các bịnh bất
trị.
BUÌ THẾ
TRƯỜNG
Sydney,
20-11 my birthday
Referencees.
Arango M et al, 2005. Resveratrol rescues mutant polyglutamine cytotoxicity in
C. elegans and mammalian neurons. Nature Genetics pp:
349-50.
Bass, BM (2007). "Effects
of resveratrol on lifespan in Drosophila melanogaster and Caenorhabditis
elegans.". Mechanisms of ageing and
development.
Cao G, and Prior RL.,
2000. Red wine in moderation: Potential health
benefits independent of alcohol. Nutr Clin Care.;vol
3,pp:76-82
Castellon EA
et al ,.
2006. "Mechanisms involved in
Resveratrol-induced
apoptosis and cell cycle arrest in prostate cancer-derived cell lines".
Journal of Andrology.
Cell, December (2006). Resveratrol Improves Mitochondrial Function and Protects
against Metabolic Disease by Activating SIRT1 and PGC-1α
. In Cell, Vol 127, pp:1109–1122,
Colin D, et al 2005 " Resveratrol
as a chemopreventive agent: a promising molecule for fighting cancer".
Current Drug Targets
vol 4.
Davis E M. 2000,
Biochemistry, The chemical Reactions of Living cells, Academic Press Public.
pp: 982
Frémont L., 2000.
Biological effects of resveratrol
Life Sci.vol 66pp:663-673.
Frémont L, et al 1999.
Antioxidant activity of resveratro and alcohol-free wine polyphenols related to
LDL oxidation and polyunsaturated fatty acids. Life Sci. vol64.
pp:2511-2521
Jang, M. et al 1997. "Cancer
chemopreventive activity of resveratrol a natural product derived from grapes"
pp: 218–220
Horvath Z, et al., 2005"Antitumor
Effects of 3,3',4,4',5,5'-Hexahydroxystilbene in hl-60 Human Promyelocytic
Leukemia Cells". Nucleosides Nucleotides Nucleic Acids
25 (9).
http://www.ajevonline.org/cgi/content/abstract/47/1/57
Lancon A,
et al
2005
" Resveratrol as a chemopreventive
agent: a promising molecule for fighting cancer".
Lamuela-Raventos, RM (1995). "Direct
HPLC Analysis of cis- and trans- Resveratrol and Piceid Isomers in Spanish Red
Vitis vinifera Wines".
Journal.
Agric. Food Chem. (43)pp:
281–283. http:// www. pubs.acs.org.
LeBlanc, Mark Rene 200̃7.
Cultivar, Juice Extraction, Ultra Violet
Irradiation and Storage Influence the Stilbene Content of Muscadine Grapes
(Vitis Rotundifolia Michx.)
Lyons MM, ,
et al
(2003). " Resveratrol in raw and baked blueberries and bilberries".
Journal. Agric. Food Chem.
51 (20): 5867–5870.
Martinez J and
Moreno JJ., 2000. Effect of resveratrol, a natural polyphenolic compound, on
reactive oxygen species and prostaglandin production. Biochem Pharmacol.vol
59 pp:865-870.
Mozzon, M. (2007). "
Resveratrol content in some Tuscan wines". In
Ital.Journal. food Sci.
8 (2) pp:145–152.
Olson ER, et al 2005.
Inhibition of cardiac fibroblast proliferation and myofibroblast differentiation
by resveratrol. Americain Journal Physiol. Heart. Circ .Physiol pp 1131-1138
Philippe M. 2005 .Resveratrol
promotes
clearance of Alzheimer's disease amyloid-beta peptides. Journal of Biological
Chemistry pp:37377-82
Philippe M., 2005. Study of Alzheimers Disease and Memory Disorders. Journal of
Biological Chemistry November 11
Roy, H. and Lundy, S. 2005,
Resveratrol Pennington
Nutrition Series
Sinclair D et al 2004 .
"Sirtuin activators mimic caloric restriction and delay ageing in metazoans”
Sinclair DA. et al 2006 "
Resveratrol improves health and survival of mice on a
high-calorie diet" In Nature
Advanced publication
Sun,
C. 2007. Cell Metabolism,
vol 6: pp 307-319.
Sun et al. 2007.: "SIRT1 Improves Insulin Sensitivity under Insulin-Resistant ."
Publishing in Cell Metabolism 6,pp: 307-319.
http://www.cellmetabolism.org/
Recommended Reading:
1-
Resveratrol
prevents blood clots.
Blood Coagulation Fibrinolysis Sep 2004; 2-
Resveratrol
inhibits
kidney cancer. Cancer Biology Therapy Sep 2004;
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |