|
Người
ta gọi LYCOPENE là một new CAROTENOID được trích lấy ra từ quả red Tomato (cà
chua đỏ). Mà khoa học đã tìm được những những bằng chứng xác tính rằng chính
chất carotenoids đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể của con người có nhiệm
vụ:
1- chống lại những
oxidation (oxyt hóa) nguy hại,
2- kháng tố mutagens có
công hiệu chống lại tác nhân gây đột biến cho các tế bào của các sinh vật,
3-và kháng carcinogens
(chống lại bất cứ chất nào khi tiếp xúc mô sống có thể tạo thành một carcinoma,
carcinoma là tiếp đầu ngữ chỉ ung thư, nghĩa là sự phát triển từ biểu bì, mà
biểu bì là mô tạo lớp da và cũng là mô tạo các cơ quan nội tạng trong cơ thề. Vì
thế muốn biết các bướu là nhìn qua sự phát triển của các tế bào lạ khác thường
của các cơ quan đó. Trong cơ thể có các cơ quan chứa các tế bào khác thường
không những là một carcinoma mà lại hai hay nhiều hơn. Như trong tử cung, có một
carcinoma tuyến và một carcinoma vẩy. Trong việc trị liệu, vì các dạng tế bào
gây bướu khác nhau nên phải dùng với nhiều lọai thuốc khác nhau để trị liệu.
Carotenoids hiện diện
cao nhất trong huyết tương của con người, nhất là người Tây phương. Vì sao? Vì
họ tiêu thụ nhiều cà chua đỏ, nên lượng lycopene cao, được gọi là lycopene là
thành phần chánh của carotenoid trong huyết tương của con ngươi (lycopene is the
major carotenoid in human plasma), lượng cao nầy cũng thùy theo mùa gặt hái,
cũng tùy thói quen tiêu dùng mỗi ngày mỗi người. Gần 10 năm trở lại đây, sự
nghiên cứu và phát triển và nhất là sự phát triển về nông học là làm sao cho
giàu chất lycopene hơn trong nhiều lọai cà chua là điều đáng được quan tâm. Kết
quả khích lệ là họ kết tinh được chất lycopene tinh chế trong cà chua có hàm
lượng từ 5% đến 12% được tiêu thụ nơi thị trường. Đứng về mặt chế biến thực phẫm
nhiều dụng cụ tinh chế và trích ra chất lycopene được thiết lập, đưa vào kỹ nghệ
sản xuất. Trong kỹ nghệ chế biến gọi là Lyc-O-Red nghĩa là sản phẩm làm từ
lycopene và trong kỹ thuật nhuận màu thiên nhiên Tomat–O-Red nghĩa là màu nhuận
bởi chất lycopene được lấy từ tomato mà ra. Chất lycopene được tiêu dùng khắp
thế giới, là một chất giúp ích cho sức khỏe, sản phẫm thiên nhiên, một chất phụ
gia có màu tự nhiên từ màu vàng qua cam đến đỏ (yellow through
orange-to-red-range).
LYCOPENE lại được khảo
sát?
A-
Ba nhóm khoa hoc sau đây
nghiên cứu về lycopene trong huyết tương, gồm có.
Lycopene và
beta-carotene là những thành phần carotenoids có nhiều nhất trong máu và các tế
bào của con người. Lycopene trong huyết tương tăng và tỉ lệ thuận với sự tiêu
thụ bằng thức uống sinh tố cà chua. Sau khi tiêu thụ cà chua vào cơ thể, thời
cao điểm mà lycopene có trong huyết tương cao nhất ở thời điểm vào khoảng 24-48
h (J Nutr. 1992)
1-Nhóm Van Eenwyk, et
al (1991), trong Int Journal Cancer, mà sự nghiên cứu của họ nhắm đến những
người tiêu dùng phần lớn trong chế độ ăn uống của họ (diet) là tomato và serum
carotenoids được tóm tắt trong bảng sau đây:
Hàm lượng huyết tương của họ gồm có:
|
µg/100 ml |
|
Lycopene 29.3 ± 16.3
alpha-Carotene
4.8 ± 3.7
ß-Carotene
19.0 ± 13.6
Lutein Zeaxanthin 15.7± 7.7
ß-Cryptoxanthin
9.5 ± 7.2 |
(Source: Van Fenwyk
et al.,1991)
(± x : gọi là SD: standard variation)
Nhóm khác gồm có Rock CL
et al (1992) khảo sát những người ít thiêu thụ Carotenoid trong chế độ ăn uống
của họ, cũng đươc tóm tắt trong bảng như sau:
Hàm lượng huyết tương của họ gồm có;
|
µM |
|
Lycopene 0.76 ± 0.05
alphaCarotene
0.13 ± 0.03
ß -Carotene
0.35 ± 0.05
Lutein Zeaxanthin 0.22±0.04
ß-Cryptoxanthin
0.76±0.05 |
(Source: Rock CL et al, 1992)
Nhóm thứ ba Micozzi MS
et al (1992) dựa vào những người ăn uống có lựa chọn và họ dùng
ß- carotene
bổ sung được khảo sát và được đăng trong Am Journal Clin Nutr như sau:
Hàm lượng huyết tương của họ gồm có:
|
µM |
|
Lycopene 0.89 ± 0.33
alpha-Carotene
0.08± 0.05
ß-Carotene
0.30 ± 0.15
Lutein+Zeaxanthin 0.41±0.13
|
( source: Micozzi MS et al 1992)
B-Lycopene là gì và ra
sao? .
Về công thức của lycopene
là một chuổi dài cấu trúc phân tử (molecular structure), gồm có 13 nối đôi
(double bonds), nhiều hơn tất cả các carotenoids nào khác. Về hình dạng với
nhiều nối đôi như thế, lycopene được kiễm nghiệm là rất hữu hiệu trong việc ngăn
chận các free radicals và các oxygen đơn trong cơ thể của con người, một cách
rất có hiệu quả. (Free radical là một phân tử hay nguyên tử (a molecular or
atomic) nào đó mà nó có một hoặc nhiều cặp điện tử không cặp đôi
(unpaired electrons), và những nguyên tử
thiếu đó rất dễ phản ứng rất mạnh, và kết quả là gây nên nhiều hư hại các màng
tế bào mỏng manh của các phân tử xung quanh trong cơ thể con người). Còn hiệu
quả của lycopene trong nhiều việc ngăn ngừa, còn hơn cả
betacarotene
và còn hơn cả những carotenoid nào khác. Vì cấu trúc phân tử của nó và vì có
nhiều nối đôi (13 nối đôi) nên được 3 nhóm khoa học gia:-
1- nhóm thứ nhất gồm
DiMascio et al (1989) nghiên cứu và cho rằng lycopene trong việc ngăn chận oxy
đơn rất hiệu quả (Lycogene is the most efficient biological carotenoid singlet
oxygen quencher).
2- nhóm kế gồm có Conn
et al (1992) nghiên cứu về những tương tác giữa carotene và radical oxygen
(Carotene oxygene radical interactions).
3- và nhóm cuối Bohn et
al (1995) cho biết carotenoids bảo vệ chống lai các màn tế bào bị nguy hại do
các radical từ nitrogen dioxide (NOO- ) gây nên (protect against
cell membrane damaged by the nitrogen dioxide radical).

Lycopene trong việc
bảo vệ sức khỏe con người?
Rất nhiều các khoa hoc gia cho rằng càng
tiêu thụ nhiều cà chua thì đồng thời làm giãm đi nhiều thứ ung thư (cancer
types) trong cơ thể, vì cà chua có antioxidant (chất cống oxýt hóa), và lycopene
được coi là những yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe. Các cuộc thí
nghiệm và kết luận về lycopene trong việc ngăn ngừa các lọai ung thư (cancer)
lại được các nhóm khoa hoc gia cho rằng chính lycopene trong việc ngăn ngừa và
ức chế các lọai bướu (lành hay dữ) có hiệu quả cao nhất hơn các lọai
alphaà ß-carotenoids
nào khác.
1- Ba nhóm khoa hoc gia gồm có Levy et
al,(1995); Sharoni et al(1994) and Sharoni Y and LevyJ (1996) đã thí nghiệm về
hiệu quả của Lycopene trong việc ngăn ngừa ung thư so với việc ngăn ngừa ung
thư của alpha và beta-carotene
trong về các mô ung thư của con người được cấy ra để thí nghiệm. Kết quả là: 1-
lycopene ức chế về các tế bào ung thư của màng nhầy lót trong tử cung
(endometrial) rất là hiệu quả. 2- Còn các tế bào ung thư phổi (NCL-H 226) thì
lycopene vẫn ức chế mãnh liệt hiệu quả hơn cả
alphavà beta-carotene.
3- Đối với tế bào ung thư tuyến vú (MCF-7) thì lycopene vẫn ức chế mãnh liệt và
hiệu quả hơn hết nếu so sanh với alpha và
ß-carotene.
Xem hình sau đây:


(Source: Levy et al, 1995)
Ghi chú: lycopene ức chế tế bào ung thư
rất hiệu quả các tế bào ung thư thuộc mành nhầy lót trong tử cung Ishikawa, làm
ung thư không phát triển và có tỷ lệ thấp nhất, nếu so với
alpha và
ß-carotene
thì nó có tỷ lệ cao nhất.


(Source: Sharoni et
al 1994)
Ghi chú: lycopene ức chế tế bào ung thư
phổi NCL-H226 rất hiệu quả, làm ung thư không phát triển và có tỷ lệ thấp nhất,
nếu so với alpha và
ß-carotene
có tỷ lệ cao nhất.


(Source: Sharoni Y and Levy J 1996)
Ghi chú: lycopene ức chế tế bào ung thư
tuyến vú, làm ung thư không phát triển và có tỷ lệ thấp nhất, nếu so với
và-bß-carotene.
2- Hai nhóm khoa học
Franceschi S et al,(1994) và Ocké (1996), nghiên cứu về lycopene cuả quả cà
chua đỏ (red tomato) và cho rằng nếu tiêu thụ nhiều quả cà chua tươi thì có
trong cơ thể có rất cao lycopene nhưng rất nghèo về beta carotene. Vì thế các tỉ
lệ về ung thư phần trên và dưới phần ruột gồm có thực quản (esophagus), dạ dầy
(stomach), kết tràng phần chính của ruột già (colon) và trực tràng (rectum) được
khảo sát tại Ý và ung thư tuyến tụy (pancreatic cancer) tai Netherlands đều nhờ
lycopene trong cà chua một cách rất hiệu quả. Nghiên cứu ung thư tại trường Y
khoa Harward (Harward Medical School), Boston, USA , (2004) có công bố về sự
nghiên cứu liên quan đến lycopene trong việc ngăn ngừa sự suy thóai tim mạch,
ung thư tiền tuyến liệt và bao tử đến đường ruột đều nhờ tính chất sinh học hữu
hiêu của lycopene.
3- Đối với ung thư tiền
tuyến liệt (Prostate cancer), hội nghiêu cứu ung thư của người MỸ (1999) (the
American Association for Cancer Research), cho rằng càng tiêu thụ nhiều lycopene
chừng nào thì tỉ lệ ung thư tiền tiến liệt càng giãm đi chừng nấy (Lower
Prostate Cancer risk in men with elevated plasma lycopene levels). Đồng thời
lycopene còn là một antioxidant tốt (antioxidant là chống lại oxýt hóa) lại cũng
bảo vệ hữu hiệu về prostate cancer nữa. Công việc bảo vệ prostate cancer được
kể, ngoài lycopene gồm có vitamine E, Selenium, calcium and vitamin D, soybean,
green tea được cho là rất có hiệu quả ( J. Nat Cancer Inst., 2002). Chất
lycopene và chất đồng vị của nó đều được đo bằng spectrography và chromatography
(HPLC) (quang phổ kế và sắc ký).
|
"...
Rất nhiều các khoa hoc gia cho rằng càng tiêu thụ nhiều cà chua thì đồng
thời làm giãm đi nhiều thứ ung thư (cancer types) trong cơ thể, vì cà
chua có antioxidant (chất cống oxýt hóa), và lycopene được coi là những
yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe. Các cuộc thí nghiệm và kết
luận về lycopene trong việc ngăn ngừa các lọai ung thư (cancer) lại được
các nhóm khoa hoc gia cho rằng chính lycopene trong việc ngăn ngừa và ức
chế các lọai bướu (lành hay dữ) có hiệu quả cao nhất ..." |
Thêm nữa, trong các quả
tomato, có một lọai nấm thiên nhiên tự có trong tomato gọi là Lycopersicon
pimpinellifolium, chính loại nầy làm cho quả cà chua tăng thêm phẩm chất của nó,
khi nó chín và đồng thời nó bảo vệ các nhiễm sắc thể của quả cà chua của chính
nó. Còn TakeoKa et al, (2001) cho rằng các quả cà chua khi được nấu hay hấp (hot
break scalder) thì hàm lượng lycopene lại giảm đi từ 9-28%, vì thế người ta đề
nghị cần thêm lycopene và polyphenols vào sản phẫm sau khi nấu hoặc hấp. Tờ
Journal of the National Cancer Institute, 2001, báo cáo rằng nếu các quí Ông
tiêu thụ thường tomato sauce (sauce cà chua) thì tỉ lệ oxy hóa làm hư các cấu
trúc sinh hóa của DNA và làm hư hại các tế bào prostate lại giảm xuống thấp nhất
rất rõ rệt.
Thêm nữa, Henkel (1995)
lại cho rằng áp dụng kỹ thuật về sản phẫm của tomato mà được gọi là vine-ripened
nghĩa là dựa vào sự quan sát của những trái nho chín được hái và để khô trong
môi trường tự nhiên trong thời gian lâu dài thì vẫn còn dùng rất tốt, đầy đủ
phẫm vị và mùi thơm, thì các quả cà chua đỏ sau khi hái cũng để như những trái
nho trên, kèm theo một điều kiện, trong thời gian lâu, rồi lại được tiêu thụ.
Phương pháp nầy là dùng một loại gọi là antisense gene, lại được FDA (the Food
& Drug Administration) USA chấp nhận, là dùng antisene gene nầy để làm giãm hay
tiêu diệt đi mọi diếu tố (enzymes) có nơi qủa cà chua. Vì chính diếu tố nầy làm
cho qụả cà chua trở thành thối rữa, đồng thời antisense gene trên giữ cho quả cà
chua ở trong trạng thái chín (stay ripe), nhưng không thối rữa (but not rot),
trong môi trương tự nhiên trong 10 ngày không cần làm lạnh (for up 10 days
without refrigeration). Sau đó cà chua được tiêu dùng. Phương pháp nầy được công
chúng thích vì nó cải thiện được phẫm chất của tomato và các chất dinh dưởng
trong đó được giữ lâu hơn và cao hơn các dinh dưởng của chính nó có. Còn
lycopene lại nhiều hơn.
C-Lycopene lại chào
thua tế bào sợi trong cơ thể (human fibroblast)
Ngược hẵn lại, đối với
các tế bào sợi trong cơ thể của con người (human fibroblast) thì lycopene kém
hẵn hiệu quả và không chế ngự được gì cả các bịnh liên quan với các lọai tế bào
nầy. Tế bào sợi nầy là một lọai tế bào rộng phân bố trong các mô liên kết sản
xuất collagen, mà collagen đựơc thấy trong da, xương sụn, dây chằng, có sức chịu
đựng cao nhưng ít đàn hồi.
KẾT LUẬN.
Lycopene có trong các
quả cà chua màu đỏ (red tomato), là một lợi ích rất thiết thực cho sức khỏe, là
một vị thuốc trị bịnh kể cả ung thư, được nghiên cứu và phổ biến rông rãi, mà đề
tài nghiên cứu về nó lên đến vài trăm được đăng tải trên journals (Med, Chem,
Agri, Food, Nutr,vv.. ), ở khắp thế giới từ trước cho tời bây giờ. Hàm lượng
lycopene trong cà chua không đều, tùy thuộc vào giống, nơi trồng, và tùy thuộc
vào sự cải tiến trong nông học để tạo nhiều lycopene có hàm lượng cao trong quả
cà chua đã thực hiện thành công lâu rồi, nên chúng ta tìm xem nơi nào có bán các
quả đó để mà mua dùng. Các nghiên cứu của các nhà khoa học trên cho rằng chính
nó giúp ức chế không cho phát triển nhiều các lọai ung thư trong cơ thể của
chúng ta. Dầu sao, nên ăn cà chua, dầu có ít lycopene thì vẫn tốt hơn là không
có lycopene nào cả nếu ta không dùng nó.
Biết và hiểu đúng những
lơi ích từ thức ăn mà dùng cũng là một cách biết để bảo vệ sức khỏe, là khi ta
ăn thức ăn đồng nghĩa là ta đang dùng thuốc để trị bịnh, ngăn ngừa bịnh hay bồi
dưởng ngũ tạng. Còn vấn đề trích và tinh chế hàm lượng lycopene thuộc về lãnh
vực khoa học thực phẫm chế biến (food science), nếu có thời giờ tôi sẽ trở lại
vấn đề nầy.
BUÌ THẾ TRƯỜNG
(01-01-06)
References:
American Association
for Cancer Research, 1999, March 15, vol 59, pp 1225-30
Bohn F, Tinkler JU and
Truscott TG.,1995 Carotenoids protect against cell membrane damage by the
nitrogen dioxide radical. Nat. Med vol1(2)
Conn PF, Lambert C,
Lund EJ, Schutch W, Truscott TG., 1992. Carotene oxygen radical interactions.
Free radical Res Commum. Vol 16 (6), 401-408.
Franceschi S, Bidoli E,
La Vecchia C, Talamini R, D’Avanzo, Negri E., 1994 . Tomatoes and risk of
digestive-tract cancers . Int J Cancer vol 59, 181-184
Henkel J 1995. Genetic
engineering fast forwarding to future foods. FDA Consum April, pp 6-11
Jounal of the National
Cancer Institute 2002, vol 94, pp 391-198
Harward Medical School,
Boston, USA 2004: Lycopene: chemistry, biology and implication for human health
and disease.
Journal of the National
Cancer Institue 2001, vol 93, no:24
Journal of Nutr., 1992.
Institute fur Physiologische Chemie I, Universitat Dusseldorf, Germany, Vo. 122
(11): 2161-6.
Levy J, Bosin E,
Feldman B, Giat Y, Minister A, Danilenko M, Sharoni Y., 1995. Lycopene is a
more potent inhibitor of human cancer cell proliferation Cancer Congress.
Chapter 1, pp 641-645.
Micozzi MS, Brown ED,
Edwards BK, Bieri JG. Taylor PR, Khachik F, Beecher GR and Smith JC., 1992
Plasma carotenoid response to chronic intake of selected foods and beta
–carotene supplements in men. Am J Chem Nutr 55: 1120-1125
Ocké MC., 1996
Assessment of vegetable, fruit, and antioxidant vitamin intake in cancer
epidemiology. Thesis, Wageningen Agriculture University, Wageningen, The
Netherlands
Rock CL, Swendseid ME,
Jacob RA, McKee RW., 1992 Plasma Carotenoid Levels in Human Subjects Fed a Low
carotenoid Diet. Human and Clinical Nutrition 96.
Takeo Ka GR, Dao L,
Flessa S, Gillespie DM, Jewell WT, Huebner B, Bectow D, Ebeler SE., 2001.
Processing effects on lycopene content and antioxidant activity of tomato.
California USA. Vol 49 (8) pp 3713-7.
Sharoni Y and Levy
J.,1994 Lycopene, the major tomato carotenoid inhibits endometrial and lung
cancer growth. In: Proceedings of the 16th international cancer
congress. Chap 1, pp 641-645
Sharoni Y and Levy J.,
1996 Anticarcinogenic properties of lycopene. In
Proceedings of the
international conference on quality and safety of food and nutrition. Royal
Society of Chemistry, Thomas Graham House, Cambridge (press)
Van Eenwyk, e Davis FG,
Bowen PE., 1991. Dietary and serum carotenoids and cervical intraepithelial
Neoplasia. Int J Cancer vol 48, pp 34-38.
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |