|
1-Dẫn nhập.
Mọi
sự hư thối thực phẫn đều do bị nhiễm trùng, nhưng không phải tất cả
mọi nhiễn trùng đều làm hư thối thực phẫm,mà sự hư thối lại do
những nguyên nhân khác.
Tại
sao lại có sự hư thối khi mà thực phẫm chế biến đạt được tiêu chuẩn
về kỹ thuật? Việc hư thối nầy làm các nhà khoa học phải nhọc công
tìm hiểu sau thời gian lâu mới khám phá ra được nguyên nhân. Nguyên nhân
khác làm hư thối đó chính là halogenated phenols hay gọi là halophenols
và những chất liên quan như anisoles (như chất organohalogens) là chính
những hoá chất dùng để bảo quản gổ, sơn bảo vệ gổ hay các ván
sàn,để đóng ao bì lớn hay nhỏ, đều tham dự trực tiếp hay gián tiếp
trong việc làm hỏng phẫm chất trong kỹ nghệ chế biến thực phẫm trên
thế giới và làm phiền hà rất nhiều cho các nhà kỹ nghệ và cho
người tiêu thụ. Chất Anisole có công thức là (CH3OC6H5)
chất không màu, tan trong rượu và eter, không tan trong nước, có độ sôi
ở 1550C, hơi của nó rất độc, được dùng làm dung môi.
Sự
hư thực phẫm do đâu mà biết? vì sự hư thối đó làm thay đổi hẵn mùi
vị của các thưc phẫm và thực phẫm chế biến nghiã là mùi vị nguyên
thủy bị mất hay thay đổi xấu hơn, lại khi chính sự thay đổi đó, với
sự tác dụng của vài lọai nấm xâm nhập làm biến thể mọi phẫm chất
và làm hư hại mọi thành phần có trong thực phẫm hay thực phẫm chế
biến.
2-Organohalogens là gì?
Những chất chính của organohalogen gồm có các chất thấy trong các
chất hữu cơ có chứa chlorine, bromine hay iodine được quan tâm trong kỹ
nghệ chế biến nhất là những halophenols v̀a haloanisoles, mà cấu trúc
của chúng gồm hai dạng thông dụng nhất được thấy trong (hình1) dưới
đây:
Figure 1: cấu trúc hai dạng thông dụng nhất
trong hợp chất organohalogen
Nhưng trước hết, nhơn dịp viết bài nầy,chúng ta cần tìm
hiểu những tính chất của cũng như các ph̉an ứng hoá học của ba chất
chlorine, bromine và iodine để có được một vài khái niệm đáng cần ghi
nhớ về chúng.
2-1-Chlorine là gì?
Chlorine là khí có màu xanh vàng, mà tiếng Hylạp gọi là
greenish-yellow. Chlorine là chất rất hoạt tính và khó thấy nó ở dạng
nguyên thủy trong thiên nhiên. Sự hoạt tính càng cao khi có sự hiện
diện của nhiệt độ, và lại có phản ứng dữ dội hơn khi có ẩm độ.
Đặc biệt khi phản ứng với các hữu cơ, nó tạo ra chất nổ. Thế nên,
chất chlorine cần giữ ở nơi khô và trong điều kiện lạnh.
a- Điều chế chlorine-
Muốn
có khí chlorine thì nên dùng hydrochloric acid đậm đặc và potassium
permanganate kết tinh, ta có khí chlorine ở tụ dưới đáy bình vì
chlorine nặng hơn không khí, nếu lấy hết không khí phần trên bình đi ta
được khí chlorine.
16
HCl(aq)
+ 2KMnO4 (s) --->
5Cl2(g)+
8H2O(l)+ 2MnCl2(aq)+ KCl(aq)
Sự
chuyên chở chlorine rất là nguy hiễm, nếu có tai nạn thì chlorine thoát
ra ngoài không khí, người nào hít phải nó thì phổi họ bị tổn thương
và có thể chết. Nên chlorine ít dùng để chuyên chở.
b- Chlorine trong
chiến tranh.
*
khí Chlorine trong trận chiến.
Trong
thế chiến thứ nhất, người Đức dùng chất độc chlorine tai Belgium, và
cũng trong trận chiến hiện tại gọi là nội chiến tại Iraque về các
phe phái ṭai họ dùng chlorine tại quê hương của họ, làm cho con người
hít vào thì các tế bào cuống họng, miệng, phổi bị hư hại, vì tạ
các nơi đó làm nước ra, như chảy vào phổi và chảy trong cơ thể và
tạo ra sự nguy hiễm chết người một cách nhanh chóng.
**
khí chlorine hợp với cyanide.
Nguy
hiễm hơn nữa, khi khí chlorine hợp với cyanide, tạo ra một loại khí
cực độc hơn, nguy hiễm hơn, vì khi phải hít nó vào thì hổn hợp nầy
ngăn chận máu đỏ không mang carbon dioxide trong cơ thể ra ngoài, thì cái
chết đến nhanh chíng hơn khi người hít nghĩ là và tưởng là mình có
thể sống để chạy khỏi, nhưng không chạy kịp.
***
khí mustard và carbonyl chloride
(
COCl2).
Riêng
về COCl2 là chấtkhí không màu, rất độc; còn mustard có công
thức là HS(CH2ClCH2) 2S gọi là 2-2’
dichlorodiethyl sulfide, có độ sôi 2150C, được dùng trong
chiến tranh hóa học, mà cả hai khí nầy đều có chung chất chlorine. Đó
là một hổn hợp khí độc, khi nó tác dụng vào da hay mắt, hay khi phải
hít nó vào phổi. Khí nầy có tác dụng hiệu qủa hơn khi gặp phải hơi
nước, vì nó bốc hơi rất chậm nên nó coi như độc chất vẫn tồn tại
rất nhiều tuần. Trong trận thế chiến thứ nhất, tại miền Bắc nứơc
Pháp, vào ngày 1st-7-1916, trong chiến tranh đã xữ dụng khí
mustard, thì có tới 94,000 binh sĩ phải tữ nạn, đầy khủng khiếp.
****
Lựu đạn cay.
Có
tác dụng làm chảy nước mắt, làm ngứa cuốn họng, và phổi và tạo ra
chất nước. Lựu đạn cay dùng để giải tán đám đông. Trong lựu đạn cay
có chlorine, và một phần quan trọng hơn hết là chloroacetophenone gọi
tắt là khí CN, và một phần khí khác có tên là
chlorobenzyllidenemalononitrile gọi tắt là khí CS, khí nầy tác dụng
nhanh hơn nhưng lại tồn tại lâu dài hơn khi CN. Khi hít hay đụng phải nó
thì mắt xé cay và nắm nghiền lại, nước mặt dầy dụa, và mất hết
cãm giác. Tuy nhiên, chạy ra khỏi khí đó, gặp khí trong lành, sau đó
5-10 phút thì mọi việc sẽ khỏi.
c- Chlorine dùng trong
việc tẩy trắng-
*
Chlorine được dùng để tẩy trắng giấy và vải sợi (bleach). Cần hiểu
thế nào là tẩy trắng. Có hai cách tẩy trắng: hoặc là oxít hóa
(oxidising agent) hoặc là chất khử (reducing agent). Cái đầu thì lấy
điện tử của một chất A nào đó, còn cái sau thì một chất nào đó cho
điện tử của nó cho một chất nào khác, để tổng số điện tử vòng
ngoai của nó-của cái đầu hay cái sau- được đủ. Trong việc nội trợ,
nếu cần tẩy trắng, thì làm sau đây: cho khí chlorine thổi qua calcium
khô để oxít nó, thì ta được calcium chlorate. Bột calcium chlorate, nếu
thêm nước vào, thì dung dịch chất sodium chlorate dùng để tẩy trắng.
Nước tẩy trắng nầy rất mạnh để tẩy mọi vải sợi, như cotton, linen,
sợi tổng hợp, nhưng không nên dùng cho wool, silk,vv..
Chỉ
cần 5% dung dịch sodium hypochloride cho tổng khối lượng vải, sợi, quần
và áo muốn giặt tẩy trắng là qúa đủ. Tuy nhiên, trên thực tế, người
ta thường dùng bình xịt spray xịt dung dích đó vào nơi chổ dơ và giặt
bằng bột là đạt mục đích. Dung dịch hypochloride nầy do phản ứng giữa
khí chlorine với dung dịch lạnh sodium chloride, được viết ra phương
trình sau đây để dễ thấy:
Chloride +sodium hydroxideà
sodium chlorate+water+ sodium chloride
Cl2(g)
+ 2NaOH (aq) --->
NaCl (aq) + NaClO (aq) + H2O (l)
Giả
thích việc tẩy trắng ra sao? Nên có cái nhìn để thấy rằng màu sắc
thiên nhiên mà có là do chính bởi nối đôi do nhiều tổng hợp của các
nguyên tử carbon khi chúng liên kết nhau. Màu sắc có được chính là tùy
thuộc vào những hợp chất của carbon. Tính chất hoá học của màu sắc,
là chúng có thể hắp thu những phần của tia sáng và phản chiếu với
những cái khác để cho ra màu. Khi tẩy trắng màu là chất tẩy trắng
đó bẻ gẩy nói đôi giữa hai carbon, thành nối đơn, thì những nguyên
liệu mới nầy không thể hấp thụ ánh sáng nên không phản chiếu với
những nguyên vật liệu khác kể cả nguyên vật liệu của màu vì thế
chúng không ra màu, nên không có màu sắc.
Tóm
lại: Chính nối đôi giữa hai Carbon nầy mà tạo ra màu. Hiệu quả của
việc oxit hóa của chlorine là bẻ gẫy nối đôi và cho kết qủa là tẩy
trắng
**
Dry cleaning là gì?
Chlorine hay những halogen khác khi tác dụng với hydrocarbon thì dễ dàng
phóng thích mọi chất hữu cơ như mở, dầu, mọi chất béo dính vào áo
quần, trong khi nước, là một dung môi thông dụng nhất, nhưng không thể
phóng thích những chất hữu cơ ra được. Một cách thông dụng nhất gọi
là “dry cleaning” nghĩa là không dùng nước mà dùng một dung môi lỏng,
đó là hợp chất chlorinated hydrocarbons là chất trichloroethene. Trong chu
trình làm sạch, dung môi được trộn thêm chất detergent gọi là để tẩy.
Dung môi sau khi làm sạch áo quần lại được tái sử dụng.
***
Việc làm sà-bông
Sa
bông (soap) là phản ứng giữa sodium hydroxide (NaOH) với chất mỡ động
vậ hay dầu thực vật. Ngoài ra còn sodium hydroxide được dùng trong
việc làm lưu thông nước chảy khi hệ thống ch̉ay bị ứ động bởi do dầu
hay mỡ làm nghẻn ứ lối. Người ta dùng sodium hydroxide crystals đổ vào
với nước đổ theo, thì dung dịch trên gọi là dung dịch kiềm, tự nó
tạo thành một nhiệt độ cao, làm cho mỡ dầu chảy ra và sự tắt nghẻn
được giải quyết. . Phản ứng trên gọi là phản ứng phát nhiệt. Công
thức được viết như sau:
Sodium hydroxide+
waterà
dilute sodium hydroxide
NaOH
(s) + H2O (l)
--->
NaOH ( aq)
Nhiệt độ
tỏa ra ngoài
Còn
đứng về phương diện hóa học, sodium hydroxide khi gặp chất mở hay dầu,
thì phản ứng của nó liền cắt đứt các phân tử dài chủa chúng thành
ra những phân tử nhỏ và dễ bị tống đi chổ khác. Phản ứng trong
trường hợp sau được viết như sau:
Sodium hydroxide+ Fat- ---> soap
+ glycerol
3NaOH(aq)+ (C17H35CO2)
3C3H7(s)
---> 3(C17H35CO2)Na(aq)
+ C3H7(OH)3(aq)
Tḥât
vậy khi mà sabông được làm sạch các chất mỡ, thì cần sự chà xát
trên chất mỡ đó, thì savon được chia nhỏ ra thành những phân tử có
nhiều hình dáng như que kẹo. Những que nầy có hai đầu: một đầu thì
hút nước, còn đầu kia thì đẩy nước hay không hấp thụ nước hay ghét
nước (water hating) (hydrophonic). Và cũng chính cái đầu ghét nước nầy
lại có sức hấp dẫn, thu hút mãnh liệt trên mọi mặt của mọi đối
tượng, bởi vì nó kềm giữ dầu hay mỡ thoát khỏi mọi đối tượng mà
chúng bám vào. Nghĩa là gì? Khi các phân tử của sabông tiếp xúc
những phần dơ, thì phần ghét nước lại bám vào những thành phần dơ
nầy. Nếu ta chà những phần dơ đó với sabông, thì toàn thể những phần
dơ đều tiếp xúc với các phân tử cuả phần ghét nước của sabông. Kết
qủa là các phân tử sabông bao quanh các phần dơ, và không cho các phần
dơ đó dính trở lại vào mặt mà ta muốn làm sạch chúng. Mặt khác,
các phân tử của phần ái nước hay hút nước thì rất thu hút mãnh liệt
với nước. Khi có nước vào, thì mọi thứ dơ chà sát bởi sabông hoàn
toàn được rửa sạch.

Thế
nên, muốn cho việc xữ dụng savon hiệu qủa thì cần chà xát savon nơi
bị dơ, để cho phần kỵ nước bao quanh các phân tử dơ và dễ tách nó ra
khỏi nơi nó bám. Đó cũng giải thích tại sao các máy rửa chén phải
dùng sự run động như bằng những tia nước mạnh, nước nóng để dễ lấy
mọi chất dơ ra khỏi ch́en bát trước, rồi tới tác dụng c̉a savon.
Làm savon theo lối cổ truyền
Cách
đây trên 2000 năm, người ta đã biết cách làm savon rồi. Họ dùng mỡ
động vật và nước tro than củi. Mở động vật thì giàu chất glycerol
triesters,còn tro than củi thì giàu chất potassium carbonate. Hổn hợp
trên khi nấu chung,tạo thành savon mà có những chuỗi dài carboxylic
acids do muối từ tro than củi mà thành, nên còn gọi là fatty acids. Công
thức được viết như sau:

d-Việc
cung cắp nước sạch được xử lý ra sao?
Trong
hồ nước chứa để xử lý có nhiều hoá chất hoà tan trong đó sau một
chu trình lưu chuyển dài tới hồ chứa, lại cũng có những hạt chất
rắn đủ cở đủ kích nước, và tất cả kể các loại sinh học như vi
trùng và các loại tảo. Vậy trước hết ph̉ai lọc bỏ các chất rắn đi
hay các thứ có kích thước lớn hơn kích thước của lưới lọc, còn các
chất hóa học đã tan trong nước thì dùng hóa chất sẽ trung hòa để
chúng tích tụ dưới đáy hồ. Xong bỏ chlorine vào để xử lý gọi là
khử trùng nghĩa là giết vi trùng và những vi sinh vật. Trong trường
hợp nầy chlorine oxit hoá những thành phần hữu cơ còn lại trong hồ.
Chlorine dùng để khử trùng làm sạch nước trong các hồ tắm. Khi
chlorine tan trong nước, cho ta phản ứng sau đây:
Chlorine + Water --->
hypochlorous acid + hydrochloric acid
Cl2
(g)
+ H2 O (l) ---> HClO (aq)
+
HCl (aq)
Chính ion ClO-- mới đích thật là tiêu diệt vi trùng bằng
cách oxít hóa mọi thành phần chống đở trong chúng và tiêu diệt các
loại tảo algae.
Bỏ
nhiều chlorine vào trong nước thì nước có độ acid tăng lên, độ acid tăng
thêm thì có tác dụng hư hại khác như làm nhức mắt và đỏ mắt khi bơi
lội .Nên trung hoà môi trường acid bằng cách thêm sodium carbonate để có
pH l̀a 7 thì mọi chuyên không có gì xãy ra. Thế nên, khi vào nơi hồ tắm
thì ngửi mùi chlorine, nhưng đó không phải là chlorine mà là mùi
ammonia gọi là amo-niác, do phản ứng hoá học mà có của chlorine trên
các chất hữu cơ hiện diện trong hồ.
Nên
nhớ rằng, vào năm 1848, một bịnh dịch tả cholera đã tiêu diệt trên
25,000 người, nên dùng chlorine để khử trùng trong nước là một vấn đề
thiết yếu cho nhân loại. Sự khử trùng bằng chlorine cũng được áp dụng
bằng cách rửa tay bằng nước có nồng độ chlorine trước khi giải phẩu,
và kết qủa cho thấy vô số bịnh tử vong vì giải phẩu cẩu thả đã
giãm đi một cách kỳ diệu.
Sản xuất chlorine?
Cũng
có nhiều cách sản xuất chlorine. Nhưng tôi muốn nói đến cách dùng
diaphragm cell sau đây: Trong thùng chứa sodium ions và hydroxide ions trong
nước làm thành sodium hydroxide. Cực dương (anode) là cực dùng titanium
có bọc bởi platinium, còn cathode thì dùng graphite. Diaphragm: là một
màng lọc làm bằng chất asbestos lúc xưa, nay dùng polymer mà nơi đó
sodium ions được đi qua khi có dòng diện đi qua. Dòng điện có cường độ
tới 300, 000 amps- khoảng 6000 lần cường độ dòng điện nhà đang dùng.
Khi dòng điện qua dung dịch muối, thì dung dịch phóng thích chlorine
ions được lưu lại cực dương(anode), tại đây các chloride ions phản ứng
lại cho ra khí chloride (CL2) phóng thích ra ngoài; nơi cực âm
(cathode) thì các ions hydrogen tác ḍung làm thành phân tử kh́i hydrogen
H2, còn sodium hydroxide có nồng độ cao và nhiều thì được
phóng thích ra ngoài cũng nơi cực âm..
Phương trình điệm giải muối như sau:
Sodium chlorise + water --> sodium hydroxide + chlorine +
hydrogen
2NaCl (aq)+ 2H2O(l)
--->
2NaOH (aq) + Cl2 (g) + H 2 ( g)
Electrical energy
e-Màu
vàng da cam và dioxin là gì?
Agent
Orange (màu vàng da cam) được dùng để diệt cỏ có công thức được viết
là 2,4,5-trichlorophenoxyacetic acid, được gọi gọn lại là 2,4,5-T, chất
nầy có được là do phản ứng của muối sodium 2,4,5-trichlorophenol with
chloroacetic acid. Đươc viết dưới dạng phương trình như:
sodium 2,4,5-trichlorophenol + chloroacetic acid --->
2,4,5-T + Na Cl
+
NaCl
Trước
hết muốn có chất 2,4,5-trichlorophenol thì
cần xử lý chất 1,2,4,5- tetrachlorobenzene với
một dung dịch base. Ph̉an ứng của công thức Nucleophilic aromatic được
thay thế Chlorine bằng cách làm giãm tác dụng cơ học để cho ta chất
2,4,5-trichlorophenol.

Trong
hóa trình thực hiện ra chất 2,4,5-trichlorophenol, thì hầu hết đều có
nhiều tạp chất dơ bẩn; nếu công thức trên có chứa một vài hay nhiều
tạp-chất (certain impurities) kể cả những hợp chất nhiễm độc của
chlorine hay gọi là Dioxins mà công thức là 2,3,7,8
–tetrachlorodibenzo-p-dioxin. Dioxins là mộp chất cực độc, không tan
(insoluble) và bám vào trong đất (cling), làm cho đất không còn hữu
dụng cho nhiều thập niên (for decades). Dioxin được công chúng quan tâm vì
khi thử nghiệm trên các động vật thì chúng bị nghiễm độc cực kỳ
nghiêu và nguy hiễm,dù rằng bị nhiễm với một chú ít dioxin mà thôi.

Tóm
lại, màu vàng da cam có chất 2,4,5-T làm căn bản và có chứa tới 2 ppm
chất dioxin. Còn dioxin thì cũng chứa chất 2,4,5-T với hàm lượng rất
nhỏ. Carey, (1992) có viết về hai độc hất
trên như sau:Thử nghiệm trên loài chuột thấy chúng bị nhiễn dioxin gấp
2000 lần hơn độc chất strychnine, và 150,000 lần hơn độc chất sodium
cyanide. Dioxin tác động trên cơ thể phải chờ một hời gian gọi là lâu
dài. Hiện tượng do tác động thất được trên da và làm da bị xáo
trộn, gọi là chloracne. Còn chuyện liên quan đến ung thư
thì sao? cuộc khảo sát vào năm 1991, được thực hiện trên 5,000 người
làm việc trong điều kiện bị nhiễm dioxin thì ung thư của họ lại không
khác với ung thư của những người không bị nhiễm dùng để làm chứng và
so sánh. Cần nói thên nữa là nên xem nhóm công nhân bị nhiễm trên, sau
thời gian 20 năm, thì da của họ có bị ung thư hay không?
d-
Chlorine trong việc diệt cỏ.
Chlorine hợp thành một
nhóm gọi là organochlorides, được dùng như một chất diệt cỏ weedkiller,
và nếu dùng để tiêu diệt cỏ trong phạm vi rộng lớn, khi cỏ chết,
nước mưa làm nó trôi xuống sông , mọi sinh vật như cá, tôm, tép, cua, vv
cũng không còn sống. Và chất organochlorides còn có một tên khác là
PCBs (polychlorinated biphenyls) được dùng để chế những dụng cụ trong kỹ
nghệ điện. Điều nầy nói lên điều gì? Một điều cần nhứ là khi hoả
hoạn, hay lúc đốt dây ̣iện lấy đồng đem bán, thì kh́oi bốc ra, trong
kh́oi bốc ra mịt trời đó có dioxin. Vì thế nên các lính cứu hỏa cần
cẩn thận trong việc chửa lửa vì phải đương đầu với chất độc dioxin
trong khói mà Carey và Atkins trong quyển sách Chemistry của Ông ta nhắc
nhở cho nhớ điều đó.

Thuốc diệt cỏ.
e- Chlorine trong việc diệt côn tr̀ung.
Chlorinated methanes, chẳng hạn như carbon tetrachloride và chloroform lại
là hữu ích trong dung môi hoà tan các hữu cơ. Dùng một hàm lượng lớn
hơn về chlorine thì có công dụng làm tiêu diệt côn trùng, như DDT (dichlorodiphenyltrichloroethane)
chẳng hạn. Tuy nhiên, trên quan điễm bảo vệ môi sinh, thì việc dùng một
hàm lượng chlorine lớn đều bị cấm, nhất là tại Mỹ.
DDT dichlorodiphenyltrichloroethane
Thuốc DDT
f- Chlorine trong việc sản xuất ra
plastic.
Ngoài ra Chlorine là một trong họ halogen được dùng nhiều nhất để sả
xuất ra plastic. Một cách đơn giản nhất là tác dụng chlorine với những
khí từ sự lọc dầu, như khí ethylene tác dụng với chlorine hay fluorine.
Nếu khí ethylene và chlorine hợp với nhau thì một nguyên tử atom của
khí hydrogen được thay thế bằng một nguyên tử của khí chlorine, và khí
các phân tử trên liên kết nhau (polynerised) để cho ra polychloroethene hay
vinyl, cũng còn gọi polyvinyl chloride hay gọn hơn là PVC. Chất nầy được
dùng làm các khung cửa bằng plastics, ống vòi nước bằng plastics,
những thùng chứa nước, những tấm plastics không thấm nước vv.. Tương
tự, gọi là polyvinyl fluoride hay polyfluoroethene hay PVF có được là do
khí fluorine tác động trên khí ethene. Trong đó, một nguyên tử của khí
fluorine được thay thế bằng một nguyên tử hydrogen của khí ethene.
Công thức của vinyl hay PVC là:
Khí ethene +khí chlorine --->
khí chloroethene + hydrogen chloride
CH2=CH2
(g) + CL2 (g) --->
CH2 = CHCl(g) +HCl (g)
g- Chlorine với chất béo tạo 3 MCPD và
1,3-DCP trong việc nấu nước tương bằng hóa chất.
3-MCPD (3-monochloropropane-1,2–diol) và 1,3–DCP (1,3-dichloro-2-propanol) cả
hai đều thuộc nhóm chloropropanols. Nhóm nầy thường hiện diện trong
việc dùng chất hoá học để chế biến thức ăn. Trong việc chế biến
thức ăn nầy có tên là xì dầu hay nước tương l̀am bằng chất hoá học.
Nghĩa là khi dùng acid chlohydric để thủy phân protein trong thực vật
thường được gọi với cái tên là HVP (acid-hydrolysed vegetable protein).
Trong phản ứng thủy phân, khi chất chloride hợp với chất béo lipids nói
chung dưới nhiệt độ cao, sẽ tạo thành nhóm chloropropanols. Chất nầy,
được European Commission’s Scientific Committee of Food SCF xếp vào loại gây
ra ung thư cho con người, nên được cấm dùng nếu cao hơn hàm lượng ấn
định, vì chính nó làm hư hại cấu trúc di truyền DNA, gây ra ung thư,
hoặc tạo nhiều tế bào lạ ảnh hưởng đến cấu trúc di truyền từ đời
cha cho đến nhiềi đời sau. Muốn biết chi tiết về vấn đề nầy,bà con
nên xem bài 3 MCPD và 1,3-DCP là gì ? trong
khoahọc.net, cùng một tác gỉa là tôi.
h-CFCs
(Chloroflourocarbon)
là gì?
́*
Ozone là gì?
Ozone
là sự hợp thành của oxygen mà phân tử của nó chứa đựng 3 nguyên tử
oxygen. Ozone được xem như là một chất khí hữu ích cho bầu khí quyển
vì khí nầy khi ở trên cao và ngăn chận các tia tử ngoại xuyên qua qủa
đất. Ozone được coi là khí nguy hiễm khi hít phải vào phổi, khi ozone ở độ thấp thì nó tạo ra như là một phần khói sương
cũng được coi là sự hợp thành của sự ô nhiễm. Tầng ozone là tầng cao
nhất của tầng bình lưu (stratosphere) đó là tầng khí quyển của qủa
địa cầu mà nó ở trên cao hơn hết nơi đó hơi nước bốc lên và hợp
thành mây không thể đến đó được. Ozone ở vào khoảng 12km- 50km đối với
qủa đất.
́́**
Sự hợp thành CFCs.
Trong
kỹ nghệ lạnh có ba chất khí được dùng làm lạnh là chlorine, flourine
và carbon, gọi là chloroflourocarbon hay gọi vắn tắt là CFCs. CFCs nầy
được dùng rất nhiều trong một số lớn kỹ nghệ. Nó là loại khí không
độc, cũng không bắt lửa, tuy nhiên chính nó lại hấp thụ một số lớn
sức nóng và vì thế nó có thể biến đổi một chất từ thể lỏng sang
thể khí nên thích hợp trong việc xữ dụng trong máy lạnh. Nó cũng khó
tác dụng với các chất hoá học khác, thế nên được dùng nhiều trong
các kỹ nghệ làm bao bì các thức ăn fast food. Ozone được phát hiện
vào năm 1930, vào thời đó, được coi là an toàn. Mãi cho đấn năm 1970
thì CFCs được coi là nguồn bất an cho qủa địa cầu của chúng ta đang
sống. Vì nó đang được dùng trong kỹ nghệ, và chính nó đang leo thang
huỹ hoại một cách rộng lớn tần ozone trên thượng tầng khí quyển. Thế
nên, ngày nay CFCs được thay thế bằng khí khác trong kỹ nghệ lạnh.
*** Phản ứng của CFCs với ozone.
Khí
CFCs được gió đưa vào stratosphere thì liền gặp tia tử ngoại cắt chúng
ra hai, và cho nguyên tử chlorine ra đời. Thế nên nguyên tử chlorine nầy
liền tấn công phân tử của ozone. Một nguyên tử chlorine có thể sống
trên tầng statosphere tồn tại từ 4 đến 10 năm, và trong thời gian dài
đăng đẳng ấy nó huỹ hoại vô số kể biết bao là phân tử của ozone. Xin
coi ba giai đoạn của phương trình huỹ diệt ozone trên như sau:

2-2-Bromine là gì?
Bromide là chất lỏng có màu đỏ đậm. Tiếng Hylạp Bromine là “stench”
là “hôi” . Nó cũng không phải là chất đơn l̉e, nhưng có hoạt tính rất
mạnh, hiện diện trong nước biển như những ions, và thường tạo thành
những sản phẫm phụ của liên quan với muối được tinh chế. Nó có nhiều
trong cơ thể của vài loài vật sống dưới biển. Những loài ốc sên dưới
biển có nhiều màu sắc khác nhau, là do hợp chất của bromine trong cơ
thể chúng mà ra. Thuở xa xưa, con người dùng thức uống có một hộp
chất bromine để giúp họ dễ ngủ.
Nước
biển có chứa 1x10- 3 M Br--; và đó cũng là nguồn nguyên liệu
chính của bromine. Cần tới 22,000 tấn nước biển mới thu được 1tấn
bromine. Trong sự chế biến để có bromine có trong nước biển, thì
chlorine thường thay thế hợp chất của bromine. Phương trình được viết
sau đây:
Chlorine gas +bromine ions in water --->
bromine +chloride ions in water
Cl2(̣g) +
2Br --(aq)
--->
Br2(g) + 2
Cl--(aq)
Nói
chung thì mọi chất hữu cơ dưới biển hầu hết cũng đều là nguồn của
bromine cả. Về phương diện hoá học thì Bromine được điều chế ra
ethylene dibromine (BrCH2CH2Br) chất nầy dùng làm
thuốc diệt côn trùng và dùng lọc sạch chì (lead) nghiã là hòa hợp
với chì trong dầu hỏa rồi lọc. Những nghiên cứu gần đây thì cho thấy
rằng ethylene dibromine thì rất là có hiệu lực với carcinogen (potent
carcinogen). Bromine hợp trực tiếp với silver cho ra chất silver bromine
(AgBr) chất nầy dùng để làm tráng film ảnh. Đó là một một hợp chất
giữa silver bromine và silver iodine với gelatin. Gelatin không những giữ
những hạt mà còn làm cho những hạt đó to lớn hơn khi tăng lên sự nhạy
cãm khi có ánh sáng. Một khi ánh sáng chiếu vào các nguyên vật liệu
nầy, thì chính chất bạc silver làm tăng thêm độ nhạy cãm của các phân
tử trong đó. Tất cả các hạt đó hợp thành các hình ảnh mà ta thấy
được.
Công
thức của silver bromine và phim ảnh như sau:
Sodium thiosulphate
+silver bromide ---> silver complex + sodium bromine
(photographers’hypo)
2Na2S2O3
(aq) + AgBr(s) --->
Na3Ag(S2O3) 2 (aq) + Na Br (aq)
Bromine cũng dùng như thuốc để xác tr̀ung
gọi là BCI. Thuốc x́ac trùng mới nhất có tên là
1-bromo-3-chloro-4,4,5,5-tetramethyl-2-imidazolidinine,
hay BCI) , là một chật không màu, không mùi vị, và tồn tại trong miệng
cũng khá lâu khi dùng giữa hai lần để trị bịnh trong miệng. Lý do là
khi chlorine có effects khác khi nó ion hoá của nước và phản ứng với
các hữu cơ dọi là dơ bẩn. Còn nhóm methyl trong việc khử trùng mới
nầy làm ngưng lại những hợp chất đã tách rời một cách nhanh chóng.
Và khi bromine thì không làm vỡ mà thực hiện việc xác trùng một cách
nhanh chóng, trong khi những phân tử còn lại thì có chứa chlorine, các
phân tử nầy tiếp tục việc xác trùng một cách lâu dài hơn.
Bromine còn dùng làm chất ngăn chận ngọn lửa. Với hợp chất hữu cơ
của bromine dùng để tẩy lớp sơn nhẹ bên ngoài khi muốn sơn lại. Bromine
cũng được dùng như là một dung môi hữu ích.
2-3-Iodine là gi?
Khí
potassium iodine + chlorine gas --->
potassium chloride + iodine
2KI (aq) + Cl2
(g) --->
2KCl (aq) + I2(s)
Trong
họ halogen, iodine thì được dùng một cách rộng rãi nhất.
Màu của
nó tím, hay màu nâu đen (dark
brown) ít tan trong nước,
mặc dù hỗn hợp của nó là chất tan, nhưng
lại tan trong alcohol. Nếu nồng độ đậm đặc cao thì chính là một chất
độc. Nó dùng để khử- trùng antiseptic và tẩy uế disinfectant Hơn 50%
về tổng số khộ́i lượng của dung dịch alcohol và iodine, với cái tên
thương mãi là tinture of iodine, là chất thuốc sát tr̀ung được dùng
trong y-học. Iodine có một cấu trúc chánh liên quan với thyroid hormone
thyroxine:

Sự
thiếu iodine trong thức ăn đưa đến tuyến thyroid to lớn hơn nơi người,
được gọi là bịnh bướu cổ (goiter). Tại Mỹ, các viên muối iodine chứa
0.01 % KI hay NaI, với hàm lượng đó phải dùng nhiều hơn mới đủ hàm
lượng là 1mg cho tuần để cho cơ thể đáp ứng đủ lượng thyroxine cần
thiết. Thiếu iodine thì hoạt động thân thể chậm chạp, như lù khù và
không phát triển cao lớn. Iodine có nhiều, đặc biệt là dưới biển trong
đó có sea weeds hay sea plants tích tụ nhiều iodine trong nó.
Một
hợp chất iodine cũng cần quan tâm là silver iodide, AgI. Đó là một chất
rắn có màu vàng nhợt mà màu nầy rở thành màu sậm khi nó được đặt
trong ánh sáng. Nó cũng giống như chất silver bromide vậy.
Silver iodine dùng làm mưa vì tính chất hút nước của nó nên nó tạo
thânh nhân đông đặc, và nhiều nhân như vậy hợp thành những giọt nước
lớn hơn nên mới có mưa rơi xuống.

Chính phi cơ trên trời tạo nhân để cho mây tích tụ
lại thảnh hạt nhỏ và nhiều hạt nhỏ gom
lại thành mưa
2-3-1-Cloud seeding:
Mây
là do hơi nước bốc hơi tụ lại rất mịn (fine water droplets). Điều kiện
để cho các hạt nước nhỏ và mịn đó tích tụ lại và thành mưa, là
cần nhân (nuclei),-- nhân là những thành phần nhỏ xíu mà các phân tử
nước có thể hợp lại—nhân nầy cần có trên những đám mây. Trên nguyên
tắc thì nước đông do các nhân kết tụ lại ở nhiệt độ O0C.
Nếu quá lạnh (supercooling) chúng không thể phát triển gì thêm trừ khi
nhiệt độ ở mức -100C thì sự phát triển mới thích hợp. Để
tạo thành tinh thể đông (ice crystal) trên mây,thì cần một lượng tạo
mầm (seeding) cho vào dung dịch quá bảo hoà hay một tinh thể cần thiết
nào đó vào dung dịch của chất đó để tạo sự kết tinh thể đông. Đó
là nhờ các tinh thể carbon dioxide ở tinh thể đá khô gọi là dry ice do
phi cơ phóng thích và hòa lẫn lộn trong những đám mây. Các carbon
dioxide nầy thăng hoa (sublime), nghĩa là chúng biến đổi từ trạng thái
rắn sang trạng thái chất khí mà không qua trạng thái lỏng. Khi ở
trạng thái khí, nó cần nhiệt để hấp thu xung quanh đám mây, nên nhiệt
độ của đám mây vì thế mà giãm đi cho thích hợp với nhiệt độ của
nước đá kết tinh vào khoảng -100 C. Thế nên, vì sự hiện diện
của tinh thể đá khô nầy thường gây nên những đám mưa nhỏ rơi xuống.

Hiện tượng kết tinh thành hạt của mây
(clound seeding).

Hình nầy giải thích khi có đủ nhân trên
mây thì
sẽ có mưa.
Bây
giờ chúng ta trở về tìm hiểu vì sao và sự khám phá ra sao trong việc
đi tìm nguyên nhân tạo nên hư thối.
3-Halophenols là gì?
Halophenols là một hợp chất quan trọng trong kỹ nghệ được dùng như là
một hoá chất làm trung gian để cho sản phẫm sau cùng. Có tất cả tới
19 sản phẫm đồng loại của chlorophenols, từ mono-chloro mà được biết
rõ như pentachlorophenol (PCP) được dùng trong kỹ nghệ chống nấm mốc
gọi là (anti-blue agent) trong kỹ nghệ bảo vệ gổ. Chất Tribromophenols
(TBP) và những dạng khác của nó mà được biết là ch́ung làm chất ngăn
chận bắt lửa, và làm bảo-vệ gổ khỏi bị mốc, bảo vệ da, sợi, sơn,
plastic, giấy và những chất bột giấy được nghiền nhão. Công cuộc khảo
sát mới đây tại Úc về chất bromophenols do cho thấy rằng nhiều sản
phẫm nhập cảng như những tấm ván bằng những sợi ép, tự chính nó
lại chứa rất nhiều chất TBP có nồng độ cao.
Có
nhiều trường hợp mà sự nhiễm trùng là do sự hiện diện của một hàm
lượng rất nhỏ cái gọi là halophenols. Cái nhỏ của nó đến đổi mình
không thể nào dùng khứu giác mà biết được, mà nếu đo để xếp loại
thì được tính bằng ppb (par per billion) or ppt (par per trillion).
Ví
dụ để hình dung: một ppt thì chỉ bằng một hạt gạo hay lúa mì trong
một khối lượng là 100,000 tonnes. Nếu có 100 xe lửa, mà mỗi chiếc xe
lửa với 25 toa xe thì đủ chuyên chở hết 100,000 tấn lúa mì.
-một ppt thì bằng 0.4mm
(bằng độ dầy của th̉e credit card)
-một ppt thì tương đương với 1 giây
(second) trong 31,797 years
4-Haloanisoles là gì?
Chloroanisoles và bromoanisoles là sản phẫm do nấm gây ra thuộc họ
halophenols khi điều kiện đủ ẫm độ và nhiệt độ (loại nấm khô đòi hỏi
hàm lượng ẫm độ khỏang từ 12-16% và nhiệt độ khỏang giữa 25-350C
là mới đủ điều kiên phát triển. Hiện tượng giữa mốc và meo mốc đối
với thực phẫm có được với nồng độ cực kỳ rất thấp. (Xem bảng dưới)
Sefton và Simpson (2005) cho rằng haloanisoles thường tạo mốc nơi nút chai
bằng bấc của rượu và rio flavour trong ca-phê do hai nhóm nghiên cứu
sau:(Spadone et al 1990; Czerny và Grosch, 2000)
Thường những người tiêu thụ thường khiếu nại về khẩu vị hơn là mùi
vị. Nếm thường dùng lươĩ để xác định sự quan trọng của organohalogens
đã làm mất mùi vị thức ăn. Xác định tính chất của sự nếm nầy do
việc chọn lựa một vài loại organohalogens tiêu biểu để có hàm lượng
sau đây được tính bằng ppb hay ppt:
Khảo
sát những đặc tính của organohalogen được lựa chọn:
|
Organohalogen |
Khứu
giác (OlfactorySensation) |
Mùi (Odour
ug/L (ppb) |
Vị
(Taste)
ug/L (ppb) |
|
2-CP:2 Chlorophenol
4-Cp:4-Chlorophenol
2,4DCP:2,4
Dichlorophenol
2,6DCP:2,6
Dichlorophenol
2,4,6-TCP:2,4,6 Trichlorophenol
2,4,6-TCA:2,4,6
Trichloroanisole
2-BP: 2 Bromophenol
4-BP: 4-Bromophenol
2,4 DBP:
2,4-Dibromophenol
2,6-DBP: 2,6-
Dibromophenol
PCP
Pentachlorophenol
ND not determined |
Iodine/medicinal
Iodine/medicinal
Iodine/medicinal
Iodine/medicinal
Iodine/medicinal
Earthy/musty
Phenolic, Iodine
Phenolic
Iodoform
Phenolic
Phenolic
Phenolic |
0.36 a
, 2b
20a
, 60b
0.4b
, 29a
3.5b
300e
9x10-4a
0.1b
4b
0.5b
0.1b
23a
, 1600e
31a
, 4000e
|
0.1e,
0.14a
39a
0.1e,
0.98a
0.0062a,0.2e
2e
, >12a
0.02d,0.025a
0.03c
23c
4c
5x10-4c
8a,
30e
<2a
,300e
|
a: Young et al
1996; b: Hofer 1998; c: Whitfield 1988; d: Whitfield et al 1987;
e:
Dietz and Traud 1978
5-Những
khám phá về organohalogens ra sao?
Chúng ta theo dõi từng bước trên đường đi khám pháorganohalogens.
5-a-Chất organohalogens do thiên nhiên
mà có:
Có
nhiều hơn 3200 thứ mà ta được biết là những hợp chất của
organohalogens trong thiên nhiên mà ra, thì trong số đó có hơn 1600 thứ do
hợp chất chứa bromine rồi. Organobromines có được do từ nước biển,
các cây trồng trên đất, những động vật dưới biển, vi khuẩn, nấm, gồm
vài động vật cao hơn: động vật có vú kể cả con người. Ví dụ như:
methyl bromide (bromomethane) được sản xuất với một hàm lượng vừa đủ do
thiên nhiên trích được từ đất có chất bromide là do bởi các cây trồng
như mustard, bắp cải cabbage, broccoli, turnip củ cải, và radish củ cải
đỏ, mà theo sự nghiên cứu của Gribble, (1990) thì chính những thứ nầy
hấp thu khí trời có khí methyl bromide rồi chuyển chất methyl bromide
đó xuống đất, và từ đất mà người ta trích ra được nó
Vào
khoảng 1980s, các nhà nghiên cứu Miyazaki et al, (1981) Watanabe et al
(1983) báo cáo sự hiện diện của hợp chất polybrominated anisoles và
organochloride được tìm thấy nơi các động vật dưới biển cùng những
trầm tích dưới biển của nước Nhật. Chất 2,4,6-TBA (tribromoanisole)
được tìm thấy trong vài mẫu có hàm lượng tối đa tới 5.4 ppb, mà sự
hiện diện đó có được là do bởi sự giải thích theo hai cách sau đây:
chlorination của nước có sự hiện diện của bromine và chất 2,4,6-TBP như
là một sự ức chế sự cháy chậm và do bởi các vi trùng biến đổi làm
chất TBP đang thành ra TBA, còn 2,4,6-TBA lại được dùng như là một chất
ức chế sự cháy chậm trong chất gọi là nhựa eposy (eposy resins) được
dùng làm chất polyurethanes, plastics, giấy paper, textiles và những sản
phẫm khác từ chất nhựa. Nó cũng được dùng làm chất trung gian cho
những sản phẫm ức chế sự cháy chậm trong thị trường và dụng cụ dập
tắt lửa, và nó cũng được dùng trong kỹ nghệ sát tr̀ung. Chất TBP
thành hình là do hai chất chlorination có trong nước có chứa chất
phenol và bromide (Sweetman và Simmons, (1980). Còn chất bromophenols, một
cách tổng quát là nó có độ nhậy về giác quan rất là thấp hơn chất
chlorophenols hay nói một cách khác là chúng khó phân biệt khi quan
sát, và vì thế nên nó lại là tiềm năng làm hư thối cao nhất (Adam và
others, 1999)
5-b-Chất organohalogens do con người
tạo ra: gổ tẫm thuốc, bao bì, đóng gói,. Có tẫm thuốc chống mốc.
Công
tr̀inh nghiên cứu của Engel và others (1960s), cho biết rằng những sự
nghiên cứu tại Netherlands được xác định chính chất chloroanisoles là
tác nhân chính tạo ra chất hư thúi do nấm mốc như mốc th́ui trong
trứng, trong các vĩ nướng thịt, các nguồn hư thối do các hộp bằng gỗ
được bào bóng láng rồi được đánh bóng bằng dung dịch có chứa chất
chlorophenicoles
Cũng
vào năm ấy, những hiện tượng thúi vì do mốc xãy ra, phần lớn là do
các hộp nh̉o đựng thức ăn bằng gỗ lát mỏng, mà loại gỗ nầy được
khử bằng chất pentachlrorophenicol PCP trong đó có chứa một hàm lượng
đáng kể về chất tetrachlorophenol TeCP và chất trichlorophenol cả hai
dùng để trị và ngăn ngừa nấm mốc, như các loại nấm xanh/ tím hay tiá
(blue/purple) hiện trên gỗ. Ngày nay việc dùng PCP đang được cấm hầu
hết nhiều nước trên thế giới.
Dr
Frank Whitfield và các cộng sự viên của Ông, nghiên cứu tại CSIRO các
phòng thí nghiệm về thực phẫm tại North Ryde- Sydney Australia, có khảo
cứu về hợp chất của organohalogen trên 30 năm nay và đã công bố trên
các Journals về organohalogen đã làm hư thối thực phẫm và cũng nghiên
cứu các nguyên vật liệu bao bì là nguyên do cũng đưa đến sự ung thối
thực phẫm nữa, cũng như nghiên cứu về chất bromophenols do các chất
hữu cơ dưới biển mà ra, chính nó làm biến mất tất cả mùi vị trong
thực phẫm.
Whitfield et al (1984) báo cáo rằng Organohalogen đã tìm thấy qua hàng
lọat những nguyên vật liệu làm bao bì tại Úc. Bột Cocoa nhập được
gói kín bởi nhiều giấy bao bì mà các giấy đó được tẫm các hóa
chất chlorophenols và chloroanisoles. Hai chất trên,lại tìm thấy nơi
những loại giấy bao bì mà cội nguồn dùng để tẩy trắng các bột gổ
làm giấy bao bì kể trên. Ngoài ra có nhiều loại nấm mốc, do Tidale et
al., (1989) nghiên cứu và báo cáo rằng chính nơi các thùng cartons, các
giấy bao bì, dây dùng để buộc bằng sợi đay dùng để gói bao bì thực
phẫm đều có thể cho ra 2,4,6-TCA từ 2,4,6-TCP. Còn Tindale and Whitfield
(1989) cũng báo cáo rằng chính chlorophenol thành hình được là do tác
động của con người khi xịt chất phenols có chứa chlorine trên những tấm
sơ ép để làm những bao bì và những tấm gổ để làm thùng chứa đựng
hàng hóa, nên sau một thời gian do các vi sinh biến đổi chất
chlorophenols để cho ra chất chloroanisoles, với chất nầy làm hư mốc
thúi trên trái cây xấy khô.
Các
thùng dùng để chứa các hàng hoá chuyên chở dưới tàu gọi là
containers chính là thủ phạm gây ra tai nạn làm thực phẫm hư thối mà
do nhóm Whitfield et al (1994) đã khẳng định như vậy. Nhóm Whitfield et
al (1989) sau khi phân chất bằng cách lấy ngẩu nhiên các thùng chứa
containers của các tầng trong tàu chuyên chở ta thấy 7 trong 16 tầng đều
chứa hàm lượng tập trung của TCP và TeCP >15 g/kg (ppb) (par per
billion). Còn chlorophenols có được là do các thùng hàng chứa các da
thuộc, hay là sàn gổ được xử lý trước với loại hoá học bảo quản
có chứa chlorophenols. Một cách khác, nếu dùng chất hóa học khác
được thay thế để xử lý gổ bằng cách dùng 5% dung dịch sodium
hypochloride, sau đó thì ta sẽ đo hàm lượng tính bằng ppm (par per
million) của chất trichlorophenols sau khi thành hình.
Nhóm
nghiên cứu Simpson et al (1990) lại cho rằng các nút bần (corks) dùng
làm nấp đậy của các chai rượu champagne được để trong hộp làm bằng
chất polyethylene rồi để trong các thùng chứa làm bằng những tấm sơ
ép (fibreboard) đặt trong các thùng chứa hàng hóa do tàu chuyên chở qua
Úc thi tất cả bị nhiễm trong thời gian di chuyển. Hàm lượng tập trung
của 2,4,6-TCA trên các nút bần trên các chai rượu champagne là >1-8 ppb
(par per billion), còn trên các thùng làm bằng các tấm sơ ép thì tới
>25 ppb (par per billion). Đó là không kể đến các sàn của các thùng
chuyên chở chứa hàng h́oa trong tàu thủy thì được xử lỹ với thuốc
chống mốc 2,4,6-TCP cũng ảnh hưởng lên nó.
Riêng
về chất chloroanisole gây ra nấm mốc khi dùng để đóng bao bì chứa đựng
các trái cây khô xuất cảng do Úc thực hiện, thì nhận thấy rằng do sự
chuyển biến của chất chloroanisoles từ nguyên thủy để tái xữ-dụng làm
những tấm ván bằng sơ ép để làm các thùng chứa hàng hóa chuyên chở
thì sự tập trung của các nấm nầy càng tăng cao theo chiều thuận của
sự gia tăng ẫm độ có trong thùng chứa. Từ những bột giấy nguyên sơ để
làm các tấm ván sơ ép đều có chứa một hàm lượng chloroanisoles đến
66 ppb, trong khi những tấm ván sơ ép được tái sinh (recycled) từ những
miếng giấy má bỏ đi có chứa tới 1475 ppb (par per billion) mà công
trình nầy đều do nhóm Whitfield et al, (1991) khảo sát và đo lường cho
kết quả như trên vậy.
Sự
mốc meo mọc lên trên các trái cây xấy khô là vấn nạn ưu tiên trong thời
buổi đó cách đây 30 năm
và hối thúc đưa đến việc tìm ra các nguyên nhân tại sao như vậy? Nguyên
nhân đó chính là các thùng chứa hàng trên các tàu th̉uy đã sản sinh
ra một sự thay đổi lớn về ẫm độ có nơi các thùng chứa hàng hóa.
Cộng thêm nữa là nguyên do chính của chất chlorophenols hiện ra là do
các giấy in ấn hay giấy báo phế bỏ được chất thành đóng để chuẩn
bị cho việc tái chế biến. Điều nầy thêm một lần do nhóm Whitfield
(1986) tái xác nhận.
Vào
năm 1994, CSIRO tại Úc,
nghiên cứu và phân tách các sàng của sáu cái kiện đựng hàng dưới
tàu mà được nghi là chính chúng là thủ phạm tạo ra các mốc th́ui cho
thực phẫm ḅi nhiễm chất 2,4,6-TPC.
Kết qủa xét nghiệm cho thấy chúng đều bị nhiễm bởi chất 2,4,6-TPC,
2,3,4,6- tetrachlorophenols và PCP, và tất cả đều liên quan đế một chất
anisoles. Về các loại nấm mốc, có tất cả 38 thứ nấm mốc được cách
ly ra, thì có tới 19 thứ được biết là do biomethylate chlorophenols là
xuất phát từ gổ và các ván do các bột giấy tạo thành ra các sản
phẫm bằng gổ, và chỉ còn có 3 loại là do nấm sinh sản trong các
thùng hàng hoá chuyên chở mà thôi.
5-c- Vai trò của nấm
Paecilomyces variotii trong việc làm hư hại thực phẫm
Nhóm
nghiên cứu Whitfield et al, (1997) sau khi nghiên cứu đã cho biết nấm
Paecilomyces variotii biến đổi
thuốc diệt nấm 2,4,6-TBP thành một thứ có mùi mốc là chất 2,4,6-TBA
trên những tấm sơ ép làm bao bì. Một vài ví dụ về các tấm sơ ép
gây nên nấm mốc do các xí nghiệp làm ván đóng thùng hay các sàng
thùng tại Úc làm do từ các nguyên liệu nhập cảng từ các tàu chở
hàng, được thấy là chúng được tẫm với hàm lượng cao do chất TBP.
Chất TBP nầy sản sinh ra một thứ mốc làm hôi th́ui có trong các loại
bao bì có chứa sẵn chất polyethylene trong đó, rồi các bao bì đó để
trong kho với sự hiện diện của các tấm sơ ép để làm bao bì sau nầy
đương nhiên bị nhiễm và có chứa TBA
Còn
nhóm nhiên cứu của Lambert et al, (1993) cho rằng các yếu tố làm cho
các lon bia bị hư thối do nhiều loại nấm mốc xuất hiện taị Úc trong
các hảng rược bia (beer), thì được biết là vì nấm mốc được hấp thụ
chất TCA tại các phần sơn phía trong của các lon beer có tráng nhôm
aluminium, vì các men tráng nhôm nầy do sự di chuyển từ các nhà máy
sản xuất ra lon bia tới các hãng rượu. Chúng được chuyên chở trên các
con tàu có nhiều thùng chứa đựng hàng hóa chuyên chở có tẫm hóa
chất. Do đó, chính các lon bia được chuyên chở và nhiễm chất TCA trong
thời gian dài ở trên tàu lúc di chuyên và cũng được coi như là môi
trường thích hợp nhất cho sự hấp thụ chất TCA và sau cùng chúng được
hàn kín sự hấp thụ thuộc phần trong các lon bia
5-d- Giải pháp khắc phục khó khăn.
Để
ngăn ngừa các tai nạn do sự nhiễm của TCA vào các lon bia (beer), các
xí nghiệp làm lon bia nên dùng một lần các sàn gỗ lót mà thôi còn
phần trên của các containers thì để những lon bia trống không; các
thùng chứa hàng hóa nên có các lá kim loại lát mỏng bao quanh tứ
phía; và cuối cùng thì trước khi đóng gói bao bì để chuyên chở di
chuyển thì các miếng kim loại lát mỏng làm vách ngăn và bảo vệ hữu
hiệu các sản phẫm. Nhóm nghiên cứu Lambert et al, (1993) còn đề nghị
thêm rằng các xí nghiệp làm các nguyên vật kiệu làm lon bia trên thế
giới nên áp dụng cách thức tương tự như thế trong sự chuyên chở các
lon bia có tráng nhôm mỏng, và cũng cần lưu ý rằng dù cho những giá
thành của sản phẫm có tăng lên, nhưng chúng vẫn giữ được phẫm và
lượng của chính rượu bia được chuyên chở, nếu không thì các công ty
sản xuất sẽ bị mất một số lượng lớn kể cả phí tổn chuyên chỡ do
các lon bia bị nhiễm trùng cần phải huỹ bỏ…. (Còn tiếp)
6- Kết luận:
Không
phải mọi sự hư thối nơi thực phẫm đều do sự nhiễm trùng, những thuốc
chống mốc, chống nấm trên các thùng chứa, bao bì lớn nhỏ, sàn lót,
kệ hàng, vv..vv vừa là thuốc chống và diệt mố, mà cũng lại là
nguyên nhân tạo ra nấm và mốc và làm hư hại thực phẫm khôn lường, một
cách rất tinh vi mà khoa học phải điên đầu nghiên cứu ròng rã trên gần
nửa thế kỷ. Nghĩ lại mà nực cười, là thuốc chống mốc tẫm trên gổ
và bao bì, thì chính nó tạo ra mốc trong các sản phẫm làm bằng bao
bì đựng trong các hộp, các chai, các lon để trong các bao bì lớn để
dễ chuyên chở; hay các sãn phẫm sẽ chuẩn bị để làm bao bì chỉ để
trên các sàn lót có tẫm thuốc chống mốc để dễ chuyên chở, lại ngỡ
tưởng là an toàn, thì chính nơi chúng tưởng là an toàn lại bị các
loại mốc đó xâm nhập, để trở thành cái thứ nằm vũng mà phá hoại
các sản phẫm để bên trong.
Ôi,
chỉ có Trời mới thấy trước việc nầy.
BÙI THẾ TRƯỜNG
Sydney 20-3- 07
REFERENCEES.
Adam JB et al, 1999.
Bromophenol formation as a potential cause of
Disinfectant taint in food. Food Chemistry
Catey A.Francis, 1992. Organic Chemistry, Department of Chemistry Uni. Of
Virginia. International edition: McGraw-Hill,Inc
Czerny M và
Grosch W, 2000. Potent odorants of raw Arabita coffee. Their changes during
roasting. J. Agric. Food. Chem vol 48:1255-62
Engel C et al 1966.
Tetrachloroanisole: a source of musty taint in eggs
And broilers. Scince vol 154: pp270-71
Gribble, GW
.,1990. The diversity of naturally occurring organo- bromine compounds. Chem.
Soc. Rev vol 28, pp 335-46
Lambert, DE
et al, 1993 Lacquered aluminium
cans as an indirect source of 2,4,6-trichloroanisole. Chem. Ind. 461-62.
Miyazaki T et al
1981 Identification of polyhalogenated anisoles and phenols in oysters collected
from Tokyo Bay, Bull. Environ. Contam.
Toxicol. Vol 26, pp 577-84
Sefton MA
và SimpsonRF .,2005. Compounds
causing taint and the factor affecting their transfer from natural cork closure
to wine Aust. Journal. Grape Wine Res. Vol 11, pp11-18
Simpson RF
et al
.,1990. The microbiology and taint of cork and oak. In proceeding 9th
International Oenological symposium 24-26. Cascais Portugal.
Spadone JC
et al 1990 Analytical
investigationm of Rio off flavour in green coffee. J. Adri. Food. Chem. Vol: 38.
pp 226-30
Tidale, CR
et al.,
1989. Fungi isolated from packaging materials: their role in the
production of 2,4,6-trichloroanisole. J. Sci. Food. Agric Vol 49, pp:437-47
Tindale CR
and Whitfield
FB.,1989. Production of chlorophenols by reaction of fireboard and timber with
chlorine based cleaning agents. Chem. Ind. 853-836
Watanabe I et al
1983. Polybrominated anisoles in marine fish, shelfish and sediments in Japan.
Arch Environ. Contam. Toxicol. Vol 12, pp437-47.
Whitfield ,FB
et al
.,1984. Contamination of cocoa powder by
chlorophenols and chloroanisoles adsorbed from packaging materials. Chem. Ind.
Pp 772-74
Whitfield, FB
1986. Food off Flavours: cause and effect. Development in food Flavours.
Elsevier Applied Science, London. Chapter 15
Whitfield, FB
et al.,
1987.Flavour perception of chloroanisoles in
water and selected processed foods. J. Sci. . Food Agri. Vol 40, pp29-42
Whitfield,FB
et al.,1989.Shipping
containers floors sources of chlorophenol contamination in non hermetically
sealed foods. Chem. Ind. 458-59
Whitfield ,FB et
al., 1991 Effect and relative humidity and chloroanisoles in fibreboard cartons
containing dried fruits. J. Sci. Food. Agric. Vol 54, pp: 595-604
Whitfield, FB
et al
.,1994.
Freight containers: major sources of chloroanisoles and chlorophenols in food
stuff. Elsevier Science publishers, Amsterdam, pp 401-407.
Whitfield FB
et al.,
1997. 2,4,6-Tribromoanisoles: a potential cause on mustiness in packaged food.
J. Agri. Food Chem. Vol 45, pp 331-40
Young
WF, et al
.,1996. Taste and odeur threshold concentrations of potential
potable water contaminants. Wat. Res vol 30, pp 331-40
Hofer T., 1998. Tainting of seafood and marine pollution. Wat Res vol:32, pp
3502-12
Whitfield FB .,1988. Chemistry and off flavours in marine organisms. Wat Res
Tech vol 20, pp:63-74
Dietz F and Traud J .,1978. Geruchs-und Geschmacks-Schwellen
Kozentrationene von Phenolkorpern. Gas-u. Wassfach. Wass
Abwass 119; pp 318-25.
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |