Gởi Hương theo Gió:

Triết-học Tánh-không và Thiền


 

Cái biết của Phật là cái biết tự ý thức, giác ngộ theo định luật nhân duyên và vượt lên trên Tuyệt đối vô điều kiện. Tự do là một điều kiện thiết yếu và tất yếu trong tư tưởng Phật giáo. Nhờ tự do, nên mới có được vô ̣(= không) chấp. Có vô chấp là có thấy được sự giải thoát. Ngược lại vô chấp là chấp. Còn chấp là còn vô minh, còn ở trong ngục tù. Còn vô minh là còn luân hồi khổ aỉ.

 

Triết lý Tánh không là phá chấp và luôn vượt lên không ngừng. Đạo Phật với đặc tính là thế đó. Theo “thập nhị nhân duyên” th̀i  mọi vật không có tự tính độc lập và luôn luôn liên hệ hổ tương ràng buộc với nhau do bởi nhân duyên. Vì có liên hệ hổ tương, nên mọi quan niệm cố chấp cho rằng mọi vật có tự tính là không đúng, là hoàn toàn bị phủ định bởi Tánh không.

 

Phủ định cái g̀ì?  Phủ định tất c̉a những cái mà tinh thần đã quan niệm qua ý thức danh lý cũng như qua hình ảnh trong mộng. Chứ không phủ định chính thực tại và tinh thần đàng sau ý thức danh lý hay trong cảnh ngủ say (Nguyễn đăng Thục,1967). Xin nhớ rõ điều nầy.

 

Ông Nguyễn đăng Thục (1967) viết: “Triết học Trung quán của Long thọ Bồ Tát theo kinh Lăng gìà và Bát nhã là chỉ phê phán các quan điểm và hệ thống kh́ai niệm suy luận của lý trí. Lý trí giải thích khái niệm thế giới sự vật qua kh́ai niệm danh lý nhưng không ̣đưa đến chân lý. Biện chứng Trung quán muốn chữa cái bịnh tranh biện danh từ suông ấy. Đó là một khoa phê phán lý thuyết với ̣đầy ý nghĩa “không”. Không lý thuyết, không suy luận, không hệ thống, không “isme” mà lại đạt được sự giác ngộ Bát Nhã.

 

Bởi thế, các học giả Âu Tây họ không hiểu tại sao một quan niệm hoàn toàn ph̉u định tiêu cực gọi là “không” như thế lại có một sức mạnh vô cùng, khi đi đến đâu, bất cứ chổ nào, cũng mang ̣đến một k̉êt qủa rực rở đầy sáng tạo. Họ cho rằng triết học Tánh không là một triết lý nội tâm, một triết lý phủ ̣định, một ph̉an thuyết cẩn trọng, hợp lý và mạch lạc đối với tất cả các quan điểm triết học đương thời tại Ấn độ. Đối tượng của Tánh không là thực-nghiệm nội tâm, là phủ định những ý niệm vể thực tại chớ không phải là thực tại, ph̉u định mọi quan điểm chớ không phải người tạo ra quan điểm ấy, ph̉u định mọi ph́ap để đưa các ph́ap về thực tại với chính nó. Nội dung của Tánh không là không phải ngoài việc phủ định trên mà nhằm ở chổ thiền quán về thực tại g̣oi là hành thâm khi công việc phủ định đã xong xuôi để đạt cái tuyệt đối thâm sâu hơn. Vì thực tại thiền quán, là thực hiện tại tâm mình là chính, chớ không phải tìm một chổ nào trong không gian hay một một mốc nào trong thời gian, hay nói rõ hơn là tránh ṃoi dính chấp trói buộc. Nhờ thế mà, khi đọc các câu sau đây ta mới hiểu rỏ nghĩa thâm sâu như: vốn không có chổ sinh ra nó, không chổ nào để tiêu nó ̣(bản vô sinh xứ, diệc vô diệt xứ), hay vô khứ vô lai ̣(không đi đâu, kh̀ông  ở đâu đến), và như thế, như thế (như thị như tḥi).

 

Tất cả các câu trên ta thấy rất nhiều trong các kinh kệ của Phật gíáo là cái đồng nhất của chủ thể và kh́ach thể, là con đường do kinh nghiệm thực tại do thiền định mà có chứ không qua ng̀ôn ngử hay cãm nghĩ hay lời nói mà ra. Mà thiền không phải là tập trung tư tưởng,nhưng là niềm vui lớn, là an nhiên tự tại, là tu theo Đạo lý thanh tịnh. Khi vào cửa thiền, mỗi phút thiền là mỗi phút đã làm Phật, mỗi phút đều thấy Phật tánh hiện ta, trong từng niệm một. Khi vào cửa thiền là buông bỏ tự ngã. Mà tự ngã là  đương thể của ý thức về sinh mệnh của chính mình, là đường phân chia giữa có và không, giữa niết bàn và sinh tử, giữa ta và kẻ khác, giữa hiện tại và tương lai. Còn tự ngã là còn phân chia, là còn tư tưởng kỳ thị, là một trở ngại lớn trên con đường tu thiền. Buông bỏ tự ngã là thấy vũ trụ là mình. Thật là kỳ diệu thay khi buông bỏ tự ngã.

 

Bước vào cửa Phật là phải nhớ điều nầy: Học cách quên bỏ cái tự ngã để đạt cái gọi là vô ngã. Khi đạt cái vô ngã là ngộ nhập muôn vàn pháp. Ngộ muôn vàn pháp là tự giải thoát thâm tâm của mình. Giải thoát thâm tâm mình tức là  mang đến cho những người khác mọi điều an ḷac.Nói một cách khác, quên tự ngã là trở về với chân ngã. Trở về chân ngã là trở về bản giác minh diệu của Phật tánh. Hồng Dương Nguyễn văn Hai trong Bài Đạo lý hữu thời có viết: “Quên tự ngã tức không còn quan niện chủ quan gắn liền với cái tôi, với bối cảnh và tri kiến của cái tôi. Tức trở về kinh nghiệm nội ṭai không cần tới đối tượng, vượt khỏi giới hạn của tự và tha, của chủ và khách, của không gian và thời gian. Đây là cảnh giới vi ẩn thâm sâu của bậc th́anh, chẳng phải cảnh giới do ý thức phân biệt suy tưởng được. Cho nên bậc trí thâm thông đạt tâm thần diệu vợi nơi vô cùng. Và sự vô cùng ấy không vật nào  làm chướng ngại được. Mà ở sự nghe thấy cùng tột của tai mắt, chẳng phải sức mạnh c̉ua thanh sắc có thể hạn chế được. Bởi vì tánh thể của vạn vật tự không nên vạn vật, chẳng thể làm lao nhọc cái tâm thần diệu quang minh được”

 

Quên tự ngã tức là ngộ nhập muôn vàn pháp. Ngộ nhập muôn vàn pháp là giảỉ thoát tâm thân mình và tâm thân người. Đó là đạt cái gọi là “Tất hữu Phật tánh”. Tất hữu Phật Tánh không phải nghĩa đen là có Phật tánh, mà nghĩa bóng là “vô Phật tánh” là do sự tỉnh thức giác quan nội tại vốn là Bát Nhã hay Tánh không.

 

Trong Thiền Tông, giai thoại sau đây thường được kể laị là “Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu”, nghĩa là Đức Phật đưa cành hoa, và Ca Diếp mĩm cười. Do đó là khởi điểm của đạo Thiền.  Ta thấy tâm của Phật muốn chúng sanh tự thể nghiệm, là tự chứng, là vào thực tại thay vì bàn suông về phương diện pháp hoặc khái niệm. Vì các triết lý ấy mà Ngài gọi là kiến chấp hoặc ngôn thuyết, vì chúng không đ̣i đến đâu cũng không đem đến kết qủa thực tiển nào cho sinh hoạt tâm linh. Đức Phật không thỏa mãn, nên Ngài tự tu và chứng qủa Bồ đề, là đạt được chân lý mà bản chất tuyệt đối, thâm u và hiển nhiên quá đổi đến Ngài không còn ngờ vực được cái gía trị thâm sâu tuyệt đối của chúng.

(Suzuki, 2001).

 

Trong Tu tập công án, Suzuki (2001) viết: Đối với Bồ tát cũng vậy,không phải chỉ có nghe, tư duy và huệ gỉải mà có thể chứng nhập hết thảy pháp môn. Này thiện nam thiện nữ, sa mạc là chỉ cho sinh tử; người khách từ phương Tây chỉ cho các loài hữu t̀inh; nóng bức là tất cả sự tướng mê hoặc; khát tức là tham ái; gã đàn ông từ pgương ̣ông đến và biết rõ đường lối đi là Phật hay Bồ tát:giải trừ khát cháy và thoát khỏi nóng bức nhờ uống dòng suối mát là chỉ cho chứng ngộ chân lý bởi chính mình. Chân lý tự chứng không phải là một, không phải là hai, giống như mọi vật đều sinh trưởng từ lòng đất. Tánh của nó không phải hữu hay vô tướng, thể của nó như hư không, vượt ra ngoài tri kiến liễu giải: pháp ấy vi diệu, khó lấy văn tự mà diễn nói.

 

Nguyễn đăng Thục (1967) viết: Đó là ngộ cái thế giới nguyên thủy bản sơ không khái niệm, không có lời mô tả được và con người không làm cho nó mờ tối với các ý niện có hay không, thiện hay ác, quá khứ hay vị lai, ở đây hay ở kia, động hay tỉnh, trường tồn hay không trường tồn, với mọi ngôn từ của đối đãi. Còn Alan  W. Watta thì cho rằng, bản tính chân thật nguyên thủy gọi là “Phật tính” là thường dùng để chỉ cho thực tại ban sơ chứ không phải chỉ cho người đã giác ngộ.

 

Khi đạt được Phật tính tại tâm tức là “tâm tức Phật. Phật tức tâm”. Mà điều kiện để có được như thế là ở chổ phải giả quyết không phải t̀im nơi cầu mong, suy tưởng, chạy lo khắp nơi, mà ở chổ phá chấp ở tinh thần, cởi bỏ mọi ràng buộc, để đạt được cái Tánh không ở tâm hồn, cũng còn được gọi là “minh tâm kiến tánh”. Như vậy Tánh không mang lại nhiều sự thành công rốt ráo trong tâm để giải quyết tất cả vấn đề quan yếu của Phật gíáo để giúp ích một cách tích cực nhất trên lộ trình đi tìm giác ngộ.

Mà ngộ là gì? Ngộ là toàn thể của Thiền. Không có Ngộ, là không có Thiền. Thiền bắt đầu từ ngộ và chấm dứt ở đó. Ngộ là thước đo của Thiền. Ngộ không phải là một trạng thái an tĩnh, mà cũng không phải là một trạng thái thanh thản, mà lại là một kinh nghiệm nội tâm không có mọi dấu vết của trí thức. Mà ở đây, toàn bộ kiến trúc tâm thức tr̉ai qua một cuộc thay đổi toàn diện.  Một số thiền sư khác cho rằng Ng̣̀ô chỉ được dựng lên một cách giả tạm. Vì Thiền thật sự không liên quan gì đến sự thèm kh́at rườm r̀a cho dưỡng chất tự nhiên của nó. Chỉ cần yên lặng là đủ. Kẻ làm rùm ben lên chuyện ngộ, không phải là đồ đệ chân thật của Bồ đế đạt ma ̣(Suzuki 2001)

 

Như vậy thiền còn nghĩa gì nữa?  Thiền không có nghiã là chỉ sống một cách chơn chất mà lại còn có nghiã thâm sâu hơn là hoà tâm mình vào với bản thể vô ngã của vạn pháp. Và con người thiền là không phải là chỉ sống trong hang động rừng sâu hay lênh đênh trên biển cả, mà là người tu hành trong trạng thái thanh tịnh bản nhiên, là thoát khỏi các tạo tác nhị nguyên, không dính ḿắc vào bất cứ khía cạnh chấp ngã nào.

 

Trong Đại Nam thiền quyển tập lục, có ghi lại khi Tì Ni Đa Lưu Chi gặp Sư Pháp Hiền tại chùa Pháp Vân, thì nhìn thẳng vào mắt Sư mà hỏi:

-         Ngươi họ là gì?

Pháp Hiền đáp:

-         Hòa Thượng họ gi?

Tì Ni lại hỏi:

-         Thế người không có họ à?

Pháp Hiền đáp:

-         Không phải là không có họ, Hòa Thượng làm thế nào biết?

Tì Ni đáp:

-         Biết để làm gì?

Pháp Hiền hốt nhiên tự tỉnh.

 

Ý nghĩa khác thường được thấy qua Thiền là gi? Một nghệ thuật không theo một giáo điều,hay khuôn mẩu để diển tả. Mà lại theo trực giác, cãm ứng riêng mà đối phó, mà ra chiêu. Lúc thì la hét, lúc thì lấy cây đánh vào người đối diện, lúc thì tr̉a lời tưởng chừng như hay hoàn toàn lạc đề, hỏi một đàng trả lời một nẻo, toàn là chuyện trời mây, chuyện của vũ trụ, chuyện thú vật như trong lục xúc tranh công, chuyện con cò mà đi ăn đêm,    vv. Còn nữa, khi trả lời người nghe tưởng chừng như mát dây, như người mới vừa xuất viện ở nhà thương Biên hòa, Chợ quán hay mới vừa thoát khỏi các trại học tập cải tạo của Cộng s̉an, hay vừa ra từ phòng mạch BS tâm thần. Toàn là những gì không giống ai, không một ai giống mình, m̀inh cũng không giống mình. Thiền thì đối nghịch cực đoan, độc tài,  mọi mệnh lệnh đúng hay sai, có không. Thiền cũng không dựa vào đảng hay phe nhóm. Thiền c̃ung  không thích mọi suy luận do lý trí, hay lý trí cực đoan, hay mọi ngôn ngử giáo điều.Tựu trung đều không không bị ràng buộc, bị d́inh chấp vào các cực đoan của người đời, thưa dạ, bẩm Cụ con không, nào báo cáo Cụ rằng con thì.... Không bám chặt, không chấp ngã, là thấy sự thênh thang, là trống không, là tự do, là thấy ánh sáng tự do công bằng, là hít và thở khí trời tự do. Bởi vì không được hít thở khí trời tự do thì làm sao thấy được chim đại bàng cất cánh bay cao để gặp.. triết lý Tánh Không. Tánh không là gi? Là thênh thang bao la như bầu trời của hàng tỉ ngân hà. Nếu không có cái v̀ô tận của bầu trời mênh mông thì làm gì có được vô số ngân hà hiện hữu mà một phần nhỏ tí xíu xiú là qủa đất nầy, nơi chúng ta đang sống. Nhờ cái không đó, mà cũng là đặc tính của Thiền lại giúp con người mau giác ngộ khi thấy được cái trực giác toàn diện đầy linh động.

 

Thiền và Tánh không ra sao? Thiền và Tánh không là hai cái thể của một vấn ̣đề. Như sóng và nước. Thiền là cái thể, còn Tánh không là cái tính. Nếu không có một cái Tính siêu việt của tánh không thì Thiền khó mà đốn ngộ được. Tánh không nhìn sự vật như cái tự tính của chúng, cái gọi là “như thị như thị”. Nghĩa là biết sự vật bởi do chân tướng của chúng. Muốn đạt được cái chân tướng đó thì phải biết để thay đổi cái nhìn. Đó là  cái biết tự ý thức, là cái biết giác ngộ nhận thức của thế giới qua định luật nhân duyên và vượt lên trên Tuyệt đối vô điều kiện. Đó là triết học Tánh kh̉ông, đó là Bát Nhã, đó là Trung quán luận.

 

 

Tại sao ph̉ai hỏi tên họ là gì? - Ngươi họ là gì?

Pháp Hiền đáp:

        - Hòa Thượng họ gi?

 

Tất c̉a tên gọi, danh hiệu đều là trong vòng nhân duyên mê vọng đối đãi “vì đối vọng duyên giả lập danh nhĩ” ở trong thế giới của tục đế. Còn mê vọng là còn chấp ngã, còn vô minh còn khổ đau,  còn trong vòng sanh tử luân hồi. Vượt trên tục đế, đạt đến Chân đế, cái “như thị, như thị” là cái “ấy” là cái bao hàm chủ thể lẫn khách thể là một, là cãm nhận, là do trí giác trực tiếp có được, là g̣ât đầu, không lời.

 

Nguyễn đăng Thục (1967) viết về cái như thị như sau: Là cái thế giới đúng như vậy, như vậy, không che đậy, không phân tách, không tô vẽ bằng những phù hiệu hay bằng những giới thuyết của tư tưởng. Nó biền biệt hiện thực và cụ thể, khác hẵn với quan niệm trưù tượng. Nó đạt đến cái khái niệm ban sơ, không khái niệm, không làm cho nó thay đổi do có, không, thiện ác, quá khứ hay vị lai, chổ này chổ kia, tỉnh hay động, trường tồn hay đoạn diệt.

 

Đạt được cái nguyên thuỷ như thế là Như Lai, là Phật tính tại tâm

“tâm tức Phật, Phật tức tâm”. Làm sao để đạt được cái yếu tính như thế? Là phải phá chấp, ph̉ai cởi bỏ mọi ràng buộc, và quét sạch mọi che phủ mờ đi cái tâm, nghĩa là phải dùng triết lý Tánh không để soi sáng để quét sạch mọi thứ làm can trở tâm, để “minh tâm kiến tánh”.

 

Ti Ni hỏi Pháp Hiền ngươi họ là gì là hỏi Pháp Hiền xem cái tr̀inh độ bỏ ngã chậ́p đạt đến mức độ nào? Chấp vào danh sắc, sắc tướng, chấp vào cái ngã phân biệt, coi Pháp Hiền có thoát kh̉oi phạm trù tục đế hay chưa?

 

Ngược lại, Pháp Hiền hỏi lại, Hoà Thượng tên họ gi? Thì đây là cuộc thi đố tranh tài giữa hai người? Ai thắng ai? Đến đây Ti Ni đà Ni và Pháp Hiền, vẫn cân bằng sức lực, một bên tám lạng, một bên nửa cân.

 

Tì Ni lại hỏi:

-         Thế người không có họ à?

Pháp Hiền đáp:

-         Không phải là không có họ, Hòa Thượng làm thế nào biết?

 

Đến đây ta thấy sự giằng co đối đáp giữa hai người, ở trong trạng thái xem ai thoát kh̉oi cái tục đế, cái chắp ngã, cái vùng vẫy giữa thực và mộng, để vươn tới cái tự do thênh thang.

 

Rồi Ti Ni phán một câu:

   - Biết để làm gì?

 

Và chính câu nầy làm cho Pháp Hiền tỉnh táo, vụt bỏ tục đế, chạy đến góc trời thênh thang bao la, để thấy được như thị như thị, trên bình diện chân đế. Nơi đó không còn trói buộc, chấp ng̃a. Chấp ng̃a cái gì?

“sắc tức thị không” là mọi sự vật trên đời, hình danh sắc tướng, tên gọi và mọi cái biết từ trí, đều là gỉa tạo, tương đối, chúng có là do duyên hợp nhau mà nên có, chúng sẽ mất đi khi hết duyên, nên nó là ảo ảnh, phù du trong thế giới tục đế. Biết để làm gì?  Đó không phải là lời giải thích phân trần, kèo cưa, cù đưa cù đầy, ba hoa chí-chóe, giải thích vòng vo, mà vạch một đường cho trực gíác. Tại sao? Chân lý không phải do lý trí suy luận mà có, vì do suy luận là nói đến ngã, vì tất cả những gì xuất phát từ lý trí hay từ ngã, cũng đều mang đến những phù du ảo hóa, cũng đều mang đến nhiều chia lià, đau thương. Chân lý phải xuất ph́at do trực giác nơi tâm, gọi là như thị như thị, nơi cái gọi là uyên uyên hay Như lai tạng.

 

Trong kinh Lăng già có dạy:

                        Các tính không có tự tính.

                        Cũng không có lời tả.

Sâu thẳm nghĩa không không.

Hạng ngu không hiểu được.

 

Trong Kinh Kim Cương cũng noí: “tướng, tướng, phi tướng” nghĩa là tướng thật của tướng chẳng phải là tướng”

 

Vô niệm là gì đối với Thiền?

 

Là đặc tính của Thiền, mà đặc sắc của sự đốn ngộ do từ vô niệm. Đó là một trong ba môn giải thoát là: không ̣(sỹnyatà) vô tướng (animitta) và vô tác (apranihita).  Đối với thiền, chứng vô niệm là chứng giải thoát.  Ngài Huệ Năng giải thích: giáo pháp Thiền từ trước đến nay, dù Đốn hay Tiệm, đều lập Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc. Vậy Vô tướng là gì? Là lià mọi tướng. Vô niệm là gì? Là lìa mọi niệm là không niệm. Vô trụ là gì? Là bản tánh của niệm. Lại nói là Vô, vậy thì Vô cái gì?  Niệm là niệm cái gì? Vô là lià kh̉oi hai tướng, các trần lao. Niệm là khởi lên từ Chân như; Chân như là thể của Niệm. Niệm là dụng của Chân như. Niệm khởi từ Chân như, dù tuy nghe thấy nhớ hiểu, mà Chân như thì không nhiễm vạn cảnh, thường thường tự tại ̣(Suzuki, 2001)

 

Từ triết lý Tánh không, Vô niệm và Thiền liên quan ra sao? Tánh không v Thiền đối với vô niệm là hai cái thể của một vấn đề của Thiền. Niệm là Thể của Thiền. Vô niệm là Tánh không của Thiền. Nhờ Tánh không mà niệm-vô-niệm mới thành tựu. Nhờ Tánh không là thấy mọi ph́ap mà không chấp trước pháp nào; hiện diện khắp nơi mà không trước nơi nào, tự tính thường tịnh; không lìa, không nhiễm; đi và đến tự do. Nhờ thế mà Thiền mới đạt.

 

Ai mà ngộ Vô niệm là thấu suốt hết thảy vạn pháp, thấy được cảnh giới của chư Phật, là đi đến qủa vị của Phật. Để đạt được như thế chính là nhờ triết lý Tánh không.

 

                                                           Ngày 30-8-06 

                                                           BÙI THẾ TRƯỜNG

 

References:

 

D. Suzuki 2001  Thiền luận. Quyển thượng, trung , hạ, nxb tpHCM

 

Hống Dương Nguyễn văn Hai. Đạo lý hưũ thời.

 

Nguyễn đăng Thục,1967   Thiền học Việt Nam. Nxb Labối

 

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : buithetruong@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính