Tìm hiểu VIỆC GHI CHÉP  BIÊN-BẢN BUỔI HỌP xưa và nay..??


  Ngày nay, sau khi có một cuộc họp, hay các Đại hội, thường có một biên bản để ghi chép về cuộc họp hay đại hội đó. Trong biên bản thường nêu ra những điểm như: ṃuc đích buổi hợp, thời gian xãy ra, diễn giả, nơi họp? tại đâu? thành phần và số người tham dự, nội dung diển tiến cuộc họp hay đại hội và kết thúc cùng đề nghị.

 

Thế nên, thông thường với kiến thức hiện tại của mỗi cá nhân chúng ta, chúng ta nghĩ việc ghi chép biên bản ắt hẵn đã có từ xưa, rất lâu? Nhưng nếu xác định thời gian chính xác thì quả là hơi khó. Nhưng nếu nói rằng việc ghi chép biên bản đã có từ 2600 năm về trước hay xa hơn và rất xa, như 10.000 hay 50.000 năm hay 1.000.000 năm về trước, vv... làm chúng ta ngỡ ngàng và nhức đầu không ít.

 

Nay căn cứ vào lịch sử của Phật giáo, thì việc ghi chép biên bản đã có từ khi Đức Phật ra đời. Tại sao? Khi Đức Phật sắp sửa nhập Niết bàn, Ông A Nan mới thỉnh ý Đức Phật về việc ghi chép lại những kinh điển mà Đức Phật đã dạy chúng sanh trong 49 năm trời, thì ghi làm sao? Đức Phật đáp: “ Đầu các quyển Kinh ghi là Như thị ngã văn”. Như thế  Đức Phật đã dạy cách ghi chép kết nạp Kinh điển cho Ông A nan, nghiã là việc ghi chép biên bản các cuộc họp hay ̣đại hội như thế có tể hiểu là đã có từ lâu và có trước xa hơn thời gian của Đức Phật nữa.

 

“Như thị ngã văn” nghiã là gì? Là “Tôi nghe như thế nầy” hay “tôi nghe như vầy”. Tại sao gọi là tôi nghe như vầy? Tại sao chỉ có nghe không thôi? Trong cái nghe đó có đủ cả cái thấy đầy đủ hết. Vì sao lại có cái thấy nữa ? Vì những gì Đức Phật thuyết pháp đều có mặt Ông A nan, Tôn gỉa Đại Ca diếp, Tôn giả Xá Lợi Phất,Tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn gỉa Tu bồ Đề, Phú nâu  Na,  La hầu La,  Ưu ba Ni vv, có cả ngàn bậc La Hán, những bậc Tam hiền còn đang tu học, có cả Chư thiên, có các tám vị Long Vương, bốn Càn Thát Bà, bốn A Tu La, bốn Khẩn Na La, bốn Ca Lầu La, cùng nhiều quyến thuộc tham dự. Lại có sự tham dự các vua như vua A xà Thế vv.. Bởi vì việc ghi chép lại lời Đức Phật thuyết pháp, để kết nạp Kinh điển lại, nên phải nói tôi nghe như vầy khi mở đầu các bài Kinh vv..

 

Trong cái tôi nghe như thế nầy, trong đó gồm có đủ 6 yếu tố gọi là: “ Lục chủng chứng tín” hay “ lục chủng thành tựu”.Giả thích: Lục là sáu, chủng là thứ, chứng là bằng chứng, tín là tin hay được chấp nhận, còn thành là hoàn tất, tựu là kết qủa. Nghĩa là có sáu yếu tố để làm bằng chứng, hay có sáu yếu tố để hoàn tất việc nghe đó được gọi là đầy đủ.

 

Ví dụ sau đây: Bổn môn Pháp Liên Hoa Phẩm tựa thứ nhất

của Hoà Thượng Thích Trí Quảng, Phật Đản 2546-2002 có ghi lại lục chủng chứng tín hay lục chủng thành tựu, còn được gọi là tựa chung như sau:

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ, Đức Phật ở núi Kỳ xà Quật, nơi thành Vương xá, cùng  chúng tỳ kheo một muôn hai ngàn, gồm cả La Hán và bậc Tam Hiền còn đang tu học. Tám vạn Bồ Tát chuyển được ph́ap luân bất thối, tâm từ trải khắp trong các coĩ nước, được Phật khen ngợi vì họ đã từng cứu độ vô số chúng sanh thoát khỏi khổ não. Lại có chư Thiên hơn bảy mươi ngàn, từ Trời Tứ Thiên cho đến Hữu Đảnh cũng đều có mặt. Tám vị Long Vương, bốn Càn Thát Bà, bốn A Tu La, bốn Khẩn Na La, bốn Ca Lầu La cùng nhiều quyến thuộc tham dự pháp hội. Vua A Xà Thế cùng với quần thần, những người hộ đạo qúy trọng chánh pháp, thành kính đảnh lễ cúng dường Như Lai. Đức Phật cũng vì các người phát tâm Đại thừa mà nói kinh Vô lượng nghĩa dạy cho Bồ Tát những pháp bí yếu của các Như lai...

 

1-“Tôi nghe là ngã văn” là văn thành tựu.

2-“Như thị là thế nầy” là pháp thành tựu, nghĩa là bài thuyết pháp của Đức Phật.

3- một thuở nọ là thời thành tựu. Tại sao không ghi rỏ năm tháng? Vì vào thời đó, lịch của mỗi Quốc gia đều có ngày tháng khác nhau, nên không xác định thời gian. Còn ngày nay, tất cả thế giới, đều dùng chung một dương lịch, nên thời gian đều được xác định.

4- Phật chủ tọa thuyết Kinh: Chủ thành tựu

5- Nơi thành Vương Xá:  Xứ thành tựu

6- Một muôn hai ngàn vv.. Chúng thành tựu.

 

 

Hay trong Kinh Lăng nghiêm của Tâm Minh Lê đình Thám (1973), được ghi về lục chủng chứng tín hay thành tựu như sau:

Như vầy, tôi được nghe trong một thời, Phật ở tinh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt,  cùng với chúng tỳ khưu một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là vô lậu Đại A La Hán. Các vị Phật tử trụ trì , khéo vượt trên chư hữu, ở các quốc độ đầy đủ uy nghi, theo Phật chuyển pháp luân, có khả năng thực hiện lời di chúc nhiệm mầu của Phật, nghiêm giữ giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô  số, cứu vớt chúng sinh, tột –đời vị lai, khỏi các trần -lụy. Các vị tên là: Đại trí Xá Lợi Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa, La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Bà Ni Sa Đà làm Thượng chủ.

 

Lại vô số các vị Bích Chi vô học và sơ tâm đềng đến chỗ Phật giảng đạo.

 

Nhằm ngày các Tỳ Khưu mãn hạ tự tứ, các vị Bồ tát từ mười phương đến, xin Phật giảii quyết nghi hoặc, kính vãng đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật.

 

Đức Như Lai giải pháp tọa, ngồi khoan thai,  vì cả trong Hội tỏ bày nghĩa sâu. Chúng hội thanh tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hoà nhã như tiếng chim ca lăng tần già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ Tát đều đến đạo trường, có Ngài Văn Thù Sư Lợi làm Thượng thủ.

 

Hai thí dụ trên là diển tả đủ lục chủng chứng tín hay lục chủng thành tựu. Cả hai còn gọi là tựa chung của mỗi bài Kinh. Còn tựa riêng thì nói về nguyên nhân vì sao lại có kinh nầy ra đời, hay vì sao Kinh nầy lại được Đức Phật thuyết pháp. Kế đó là chánh phần còn gọi là thân bài và lưu thông phần là kết luận.

Nhưng trong bài nầy chỉ bàn đến tựa chung và tựa riêng mà thôi.

 

Ví dụ trong Kinh Thủ lăng nghiêm của cụ Lê đình Thám (1973), và Hoà Thượng Thích Thiện Hoa (1965) viết về tựa riêng hay duyên khởi của Kinh nghĩa là giải thích nguyên do vì sao có được kinh nầy, như sau:

 

Nội dung được hiểu như thế nầy: Theo thông lệ, mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, là ngày mãn hạ, chư Tăng cùng làm lễ tự tứ, để rửa sạch những hành vi lỗi lầm và những tư tưởng không tốt, cho giới thể được thanh tịnh. Vì trong ba tháng kiết hạ an cư, chư Tăng đều kiẽm soát thân tâm, trau giồi giới hạnh, tích công bồi đức, nên đến ngày mãh hạ, các hàng Phật tử đều đua nhau sắm đủ các món trai diên, thỉnh chư tăng đến cúng dường, để gieo trồng cội phúc. (Hoà Thượng Thích Thiện Hoa .1965)

 

Hôm ấy, nhằm ngày rằm húy nhật của Tiên Hoàng, khi ấy vua Ba Tư nặc, mở tiệc chay mời Đức Phật thụ trai nơi cung cấm; Vua sắm đủ các móm ăn qúy báu, rồi thân đến rước Phật và các Đại Bồ Tát. Trong thành lại có các trưởng giả cư sĩ đồng thời cùng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến Ngài Văn Thù chia lãnh các vị Bồ Tát và A La Hán đi đến các nhà trai chủ. (Lê đình Thám 1973),

 

Duy có Ông A Nan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng nơi cung cấm.  Lúc bấy giờ Ông cầm bình bát vào trong một thành, oai nghi tề chỉnh qua từng nhà một để khất thực; Với tâm bình đẳng, muốn làm phước điền cho tất cả mọi người, không kể sang hèn, phát tâm làm sao cho tất cả chúng sanh được viên thành vô lượng công đức. Ông A Nan đã biết Đức Phật Thế Tôn quở Ông Tu Bồ Đề và Ông Đại Ca Diếp là A La Hán mà tâm không công bằng. Ônh chỉ mong gặpnhững người chưa từng biết làm phước, hôm nay lại phát tâm cúng dường, để họ có dịp ươm trồng hạt giống lành, ngày sau được hưởng qủa tốt. (Lê đình Thám 1973),

 

Trong khi khất thực, Ông A nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Gìa, bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng chú Tiên Phạm Thiên đạo Sa Tỳ Ca La bắt vào phòng riêng, dựa kề vuốt ve làm cho Ông A Nan gần phá giới thể.

(Lê đình Thám.,1973),

 

Ông A Nan bị nạn , hết sức buồn rầu, hướng về Đức Thế Tôn cầu cứu.   Đức Như Lao biết A nan bị nạn, nên khi thọ trai xong, và lại khác với lệ thường, Ngài liền đứng dậy và đẫn đại chúng đi về ngay tịnh xá. Vua và Đại thần, các Trưởng giả, cư sĩ đều theo Phật, mong được nghe Pháp quan trọng. Khi ấy trên đỉnh của Đức Thế Tôn phóng hào quang bách baỏ vô úy; trong hào quang hiện ra toà sen báu nghìn cánh, có hoá thân của Phật kiết già ngồi trên, tuyên đọc thần chú, khiến Ngài Văn Thù đem chú nầy đến giúp đở, tiêu diệt tà chú của Ma Lăng Gìa, đưa Ông A Nan cùng Nàng Ma Đăng Gìa về chỗ Phật ở.

(Hoà Thượng Thích Thiện Hoa .1965; Lê đình Thám.,1973),

 

Ông A Nan về tới tịnh xá và thấy Phật, đảnh lễ khóc lóc, giận mình từ vô thuỷ đến nay, một bễ học nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực, tha thiết cầu xin Phật dạy cho những phép xa ma tha, tam ma, thiền ma, là những phương tiện tu hành đầu tiên để thành đạo Bồ Đề của thập phương Như Lai. Lúc ấy lại có hằng sa số Bồ Tát, Đại La Hán, và Bích chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lĩnh thụ thánh chỉ của Phật (Lê đình Thám.,1973).

 

Tóm lại, người học kinh Phật phải nắm vững tựa chung và tựa riêng. Tựa chung phải hội đủ : “ Lục chủng chứng tín” hay “ lục chủng thành tựu”. Nghĩa là có sáu yếu tố làm bằng chứng về sự tin cậy khả tín của Kinh được chép hay là sáu yếu tố cần có và đủ để quyển Kinh được hoàn tất và được đọc tụng như vừa  được kể ở trên.

 

Thế nên, tất cả Kinh Phật của hai thừa: Tiểu thừa và Đại Thừa được kết tập lại với đầy đủ lục chủng chứng tín mà phẫm và lượng thì nhiều và cao như núi. Ngay việc biên chép biên bản các buổi kết nạp kinh Phật cách đây 2600 năm, rất đầy đũ, rõ ràng hết sức khoa học, như các biên bản hiện tại trên thế giợi của năm 2007 ngày nay. Điều đó cũng nói  thêm rằng, không những tất cả các nội dung Kinh điển,  hay những lời chỉ dạy của Đức Phật dạy làm sao thoát khỏi khổ đau cho tất cả chúng sanh trên cỏi đời nầy, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, tìm cho tâm an-lạc vv... là những lời dạy hết sức cụ thể, rõ ràng và thiết thực cụ thể như cách ghi kết nạp kinh điển được kể ở trên giống y như hiện tại bây giờ. Thế mà có một vài chủ thuyết cho rằng Đạo Phật là mê t́in, ru ngủ con người, rồi triệt hạ các chùa và trù diệt các Thầy, các Sư, đó là điềm báo hiệu rằng phong tục, đạo đức, văn hoá, tâm linh, hạnh phúc và những nổi bất an của dân tộc đó đang ở dưới vực thẳm.

 

Xin hãy thương dùm cho các dân tộc đó! Và cầu mong sao mọi người mau sớm tỉnh thức.

                                                  

                                                                           BUI THE TRUONG

Sydney, ngày 26-02-07

 

References:

 

Tâm Minh Lê đình Thám, 1973. Kinh Thủ Lăng nghiêm, PL 2517, nxb Tâm Minh pp 32-42.

 

Hoà Thượng Thích Trí Quảng, 2002. Bổn Môn PHÁP HOA KINH, PL 2546 Phật tử Sydney ấn tống Mùa Phật Đảng.

 

Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, 1965. Kinh Lăng Nghiêm.

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : buithetruong@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính