|
Bài 1.
PLAN
A.
khái niệm và định nghĩa.
B.
Kiến thức hoa học liên quan
đến diabetes.
Bức tường thành BBB là
gi? Não bộ cần nguồn năng lượng gì?
Sự hấp thụ và bài tiết
của não bộ của người trưởng thành.
Các chất kích tố dự vào
làm điều hòa đường trong máu.
·
Gan
·
Epinephrine và norepinephrine.
·
Glucose
cùng tính chất và sự trao đổi.
·
Công dụng
của glucose.
·
Nguyên tắc
biến đổi glucose-6-phosphate là gì?.
·
Quá trình
của glycosis.
·
Glycogenesis là gì?.
·
Quá trình
của glycogenolysis.
·
Glucagon.
- Sự khác biệt tác-động
giữa insulin và glucagon
- Insulin và các tuyến
nội tiết họat động ra sao?
C. Có hai loại diabetes.
* Sự khác biệt giữa 2 loại diabetes đó.
* Ketone (Acetone) bodies
* Ketosis.
*lipogenesis
D. Pharmacology và diabetes.
E. Nutrition và diabetes
* Carbohydrate dành cho bịnh tiểu đường.
* Chế độ ăn uống dành cho bịnh tiểu
đường.
* Điều trị bịnh bằng cách hiểu biết về dinh dưởng.
F- Pathology về diabetes.
* Não bộ
* Tụy tạng
* Thận
G. Kiến thức khoa học thực tiển áp dụng cho người ÚC bị bịnh tiểu đường.
H. Kết luận.
A. Khái-niệm và định-nghĩa.
1.
Khái niệm. Diabetes được hiểu như thế nào? Đó là một sự xáo trộn mà nguyên do
là có quá nhiều đường trong máu. Tại sao như vậy? Là vì các tuyến nội tiết
(endocrine) có nhiệm vụ tiết ra một chất kích thích tố (hormone) quan trọng được
gọi là insulin, nay lại không còn họat động nữa hay họat động quá yếu nên không
đủ sức cung cấp chất insulin, nên hàm lượng đường trong máu trở thành cao. Sự
việc chỉ có thế nhưng lại lắm điều rối rắm.
Về
chữ nghĩa thì diabetes là gì? Đó là từ do tiếng Greek mà ra, diabetes là “to
pass hay to flow through” nghĩa là qua hay trôi qua, còn mellitus là sweet hay
honey là ngọt. Vậy có thề hiểu là chất ngọt là đường theo máu mà lưu chuyển đi
trong châu thân. Máu đi đâu thì đường theo tới đó. Còn insulin là gì? Là kích
thích tố do tụy tạng tiết ra thích ứng với lượng đường có trong máu, lượng đường
nhiều thì tiết ra nhiếu, ít thì tiết ra ít. Tiết ra để làm chi? Để dẫn lượng
đường lang thang đây đó qua các màng tế bào mà lưu giữ lại trong gan chẳng hạn,
để khi cần thì cho vào máu hoặc làm nguồn dự trử năng lượng. Nếu không có
insulin thì đường không thề nào qua các màng lọc được của tế bào (cell membrane)
để vào kho dự trử; nói một cách khác đường không thể xâm nhập lậu vào biên giới
được. Insulin có thể hiểu như Visa hay Passport vây, mà đường có nhiệm vụ trình
cho các trạm gát nơi các màng lọc (cell membrane) đây là giấy passport “insulin”
chứng nhận đây, để được vào nghỉ ngơi trong gan, làm “lữ đoàn trừ bị” tác chiến.
Nếu đường không thể qua các tế bào (cells) nơi gan một cách bình thường, thì
được coi là bịnh, là có đường trong máu cao, mà danh từ chuyên môn gọi là
hyperglycemia hay (..caemia ).
Đo
lượng đường trong máu lại thay đổi “scale” tùy theo mỗi nước. Tại Úc, tỷ lệ
đừơng trong máu được tính làm 2 phần: lúc chưa ăn và lúc sau khi ăn. Lúc chưa
ăn, đường ở vào khỏang an toàn là 3.0-5.5; còn sau khi ăn, đường có vào khỏang
3.3-7.8. Trong 2 giới hạn, lượng đường như vậy gọi là thiết yếu và an tòan cho
sức khỏe. Nhiều hơn thì sinh ra bịnh tiểu đường. It đường hơn, thì tay chân run
rẩy, đói cào, mồ hôi tóat ra. Sau khi ăn thì lượng đường cao hơn khi chưa ăn là
vì do thức ăn được biến thành ra đường. Đi khám BS lấy máu để đo lượng đường,
thường lấy vào lúc chưa ăn, để biết lượng đường một cách rõ ràng hơn lúc sau khi
ăn, vì không ai biết mình đã ăn thứ gì vào bao tử mà đường lại cao như thế.
2-Chu
kỳ di chuyển của đường.
Đường
trong máu khi qua thận sẽ được lọc đi và được tái hấp thụ lại (reabsorbed) qua
các ống tiểu quản (tubule) của thận. Tuy nhiên , vì đường trong máu quá nhiều do
bởi tiểu đường mà ra nên khả năng tái hấp thụ đường của thận quá tải, nên không
hấp thu lại hết, nên lượng đường theo nước tiểu mà ra ngoài. Vì thế, người ta
gọi là glycosuria, nghĩa là có một số lớn đường bất thường trong nước
tiểu, vì có một số lớn đường trong nước tiểu, nên có cái hiện tượng là đi tiểu
với một thể tích lớn, gọi là polyuria. Tại sao? Hiện tượng trên có thể
hiểu qua sự thẩm lọc của nước tiểu (osmotic diuretic). Trong hỗn hợp nước
và đường chẳng hạn, nước được thẩm thấu qua màng trước tích tụ nơi bọng đái và
được tiểu ra ngoài, thì cơ thể sẽ mất nước gọi là dehydrate. Khi cơ thể
mất nước, thì lượng đường sẽ tăng lên, khi lượng đường tăng lên trong hỗn hợp
nước và đường thì nước bị đẩy xuyên qua màng lọc để tống ra ngoài nơi bọng đái.
Vì thế nên cơ thể thiếu nước, vì thiếu nước nên khát goi là polydipsia.
Vì khát nên cần nhiều nước để uống, và uống nước vào với một số lượng lớn. Vì sự
hấp thụ lại về đường của thân lại quá tải, nên đường cũng theo nước tiểu mà
thóat ra ngoài. Vì thế tiểu nhiều với số lượng nước tiểu cũng nhiều và trong
nước tiểu lại có đường.
Tóm
lại, diabetes được thấy rõ ràng là uống nhiều nước và đi tiểu nhiều
lần mà mỗi lần đi với một số lượng nước tiểu lại cũng nhiều
Còn rắc rối thêm nữa. Chưa hết. Khi trạng thái mất nước trong cơ thể hiện ra,
liền kéo theo lượng đường trong máu tăng lên, làm tăng thêm hiện tượng thẩm
thấu. Vì lượng đường trong máu qúa nhiều, mà thận không tái giữ lại qua sự tái
hấp thu, nên đường theo nước tiểu liền được tống ra ngoài. Vì bị tống ra ngoài,
nên đường bị mất mà cơ thể cần năng lượng để họat động, để đốt cháy, nên cần nhu
cầu là ăn để có nguồn năng lượng, thế nên luôn cảm thấy đói liên tục gọi là
polyphagia.
Vi
thế, bị bịnh tiểu đường cần được chăm sóc chuyên biệt về số lượng đường tháo ra
ngoài theo nước tiểu (glucosuria) và thêm cả ba thứ gọi là three
polys: polyuria (tiểu với lượng nuớc tiểu nhiều), polydipsia (khát) và
polyphagia (đói liên tục).
3-
Định nghĩa insulin.
Insulin là một protein
tiết ra bởi tế bào beta của tiểu đảo Langerhans trong tụy tạng, có vai trò quan
trọng trong viêc điều hòa đường trong máu. Nồng độ đường trong máu khi lên cao
sẽ kich thích sự phân phối và tiết ra chất insulin. Tế bào nầy tiết ra ngoài
insulin lại còn tiết ra glucagon nữa vào máu. Chất insulin nầy khi được tách ra
và được kết tinh lại thì thấy rằng nó chứa nhiều phần tử nhỏ là kẽm zinc
mà zinc thì đươc thấy rất nhiều trong các tế bào của tụy tạng. Ngoài ra cũng
thấy một số ít chất chromium, chất nầy lại cũng cần thiết cho sự tổng hợp
của insulin. Người ta thấy rằng hàm lượng của chromium trong cơ tể con người lại
giãm đi theo tuổi thọ. Càng già thì chromium càng ít. Mà protein thì gồm có
nhiều amino acid liên kết lại với nhau nên có tên gọi là peptide linkage hay
peptide bond.
-
Khi mà 2
amino acids hợp lại thì gọi là dipeptide. Khi 3 amino acids hợp lại thì gọi là
tripeptide. Khi 4 hay nhiều hơn nữa amino acids hợp lại thì được gọi là
polypeptide.
-
Bây giờ
lấy 2 amino acids hợp thành mà coi thế nào? Nó gồm glycyl và alanine.
Trường hợp nầy có hai cách hợp thành khi thì glycyl-analine hay alanyl-glycine.
Để ý rằng vế đầu của sự hợp lại đó có gốc OH là acid mà ra.
-
Còn như
xét 3 lọai amino acid khác nhau như glycine, alanine và valine thì sự hợp
thành của chúng có từ 3 đến 6 cách hợp thành như sau:
1-
Glycyl-alanyl-valine
(gly-ala-val)
2-
Glycyl- valyl-alanine
(gly-val-ala)
3-
Alanyl- glycyl-valine
(ala-gly-val)
4-
Alanyl- valyl-glycine
(ala-val-gly)
5-
Valyl-glycyl-alanine
(val-gly-ala)
6-
Valyl-alanyl-glycine
(val-ala-gly)
Protein gồm có một số chuỗi peptide nối với nhau và một số có thể hợp thành lại
gồm nhiều loại amino acids để thành protein tùy theo tên gọi. Ví dụ như insulin
do chuỗi peptides nối lại với nhau. Nó có hai chuỗi: Chuỗi A có 32 amino acids
và chuỗi B có 30 amino acids. Hai chuỗi nầy nối với nhau bằng hai cầu nối
sulphide S-S (xem hinh). Lại nữa, khi bị thủy phân (hydrolysed) bởi acid, base
hay enzyme (diếu tố) thì nó cắt dứt ra nhiều phần nhỏ, nhiều đơn vị nhỏ, cho đến
đơn vị đầu là amino acids. Cũng thế khi chúng hợp lại, dười sự ảnh hưởng của
enzyme nào đó, đầu tiên hợp thành dipeptide, đến tripeptide, rồi đến polypeptide
và tiếp tục cho đến khi nào nó thành hình một protein mà một phân tử của nó gồm
có một số lớn trọng lượng phân tử (molecular weight) mà thành. (xem hình)

(Ghi chú: Cấu trúc insulin của con người. Ghi nhận rằng nó nối nhau bằng
disulfide bridges (S-S) giữa 2 cys nhóm. Nếu chặt đứt disulfide nầy đi thì
insulin nầy không còn nữa.
Insulin nối
bằng nối disulfide (S-S)

(Source: Lubert Stryer, 2004)

(Sự thủy phân của
protein)
Insulin là một protein vi thế nó không thể nào tiêu thụ qua ngả miệng vì bị tiêu
hóa khi khỏi cửa đó. Vì mọi thứ protein đều bị tan biến một phần nơi bao tử do
hydrochloric acid và pepsin. Tại nơi tá tràng (duodenum) là một phần ba ruột
non, mà nó nhận mật từ túi mật và dịch tụy từ tụy tạng, mà trong thành của tá
tràng co rất nhiều tuyến kể cả tuyến Brunner tiết ra dich tràng, ta thấy có
những thứ như trypsin, chymotrypsin và carboxypeptidase do pancrease tiết ra và
một phần là do sự hủy họai của protein cho ra polypeptides, dipeptides va amino
acids. Tất cả các phân tử trên đều vào hồi tràng (ileum) là phần thấp nhất của 3
đọan ruột non, và không tràng (jejunum) là một phần ruột non, chiếm khỏang 2/5
chiều dài ruột non, nối liền tá tràng và hồi tràng, để được đồng hóa
(assimilaton). Thế nên insulin nên được chích dưới da mà thôi. Người bị bịnh có
thể chích insulin 2-3 lần trong ngày. Tuy nhiên insulin nếu hợp với prolamine
(cũng là một protein) được gọi là prolamine–zinc insulin thì nó được hấp
thụ chậm và có hiệu lực trong 24 hrs. Nên nó đươc chích 1 lân trong ngày. Thêm
nữa, một kich thích tố khác là somatostatin được dùng với insulin hay
dùng chính nó thôi thì công dụng là ngăn chận sự phóng thích glucagon, một kich
thích tố mà nó giữ cho đường trong máu được cao.
Vấn đề đặt ra là cấu trúc insulin của những loài động vật có vú (mammalian
species) khác với cấu trúc insulin của lòai người ở chổ nào? Điều đó cũng giải
thích là ta ít dùng insulin của các động vật có vú dùng thay cho người đươc (W.F
Ganong, 2004). Sự khác nhau, nếu so sánh với insulin của con người, được nhìn
thấy sau theo bản dưới đây. Nói chung thì 40% giống nhau, còn khác nhau ở các vị
trí 8,9,10 và 30 và tên của các amino acids (Katzung, 2000)
Sự thay đổi chuổi cấu trúc amino acid của con
người.
|
Chủng lọai |
Chuổi A các vi
trí
8 9 10 |
Chuổi B các vi
trí
30 |
|
Heo,chó,tinh dịch
cá voi
Thỏ
Gia súc(trâu, bò
ngựa, dê
Trừu
Ngựa
Sei whale |
Thr-Ser-Lie
Thr-Ser-Lie
Ala-Ser- Val
Ala-Gly- Val
Thr-Gly-Lie
Ala-Ser-Thr |
Ala
Ser
Ala
Ala
Ala
Ala |
(Source W.F ganong, 2004)
Theo W.F Ganong, (2004) thì hơn 80% insulin được tiết ra từ thân và gan đều là
insulin bị thoái hóa. Nửa chu kỳ sống của insulin mà sự luân chuyển trong con
người khoảng 3-5 phút phù du ngắn ngủi. Chúng bị hủy trong các endosomes rồi hợp
lại nhờ tiến trình gọi là endocyotic. Cái enzyme chính yếu trong sự hợp thành
nầy là insulin protease, mà enzyme nầy có trên các màng các tế bào đóng vai trò
chủ lưc của insulin. Còn enzyme thụ thể (receptor) là các enzyme phản ứng ngay
khi có sự thay đổi trong môi trường và gây nên các xung lực trong hệ thần kinh
cảm giác, được thấy trên nhìều tế bào của cơ thể mà trong đó các kích thích tố
làm tăng thêm lượng glucose nhân vào. Nên hầu hết các tế bào trong châu thân đều
được trao đổi insulin.
Theo Lubert Stryer,
(2004) thì sự tiết ra insulin là do tế bào beta của tụy tạng (xem h) khi nó được
kích thích bởi sự hiện diện của glucose và do hệ thống thần kinh giao cảm. Nói
một cách khác, insulin cho tín hiệu của trạng thái cần được cung cấp thức ăn cho
cơ thể, bằng cách kích thích nguồn năng lượng tồn kho và sự tổng hợp của protein
dưới nhiều phương cách khác nhau. Cái hormone làm tăng tiến loại phosphore là
chìa khóa cho các enzymes trao đổi lẫn nhau. Một kết quả hiển nhiên là nó kích
thích sự tổng hợp của glycogen cho cả hai: bắp thịt và gan, và ức chế đè nén
gluconeogenesis do gan.
 |
 |
| Cấu trúc
Không gian 3 chiều của insulin |
Insulin
trong beta tế bào của tụy tạng |
Insulin còn tàm tăng
thêm glycolysis trong gan, và chất nầy đóng vai trò làm tăng sự tổng hợp của
acid béo. Đưa glucose vào các bắp thịt và kích thích tế bào của chất béo đều là
do insulin tác-động. Sở dĩ có nhiều chất acid béo và glucose trong tế bào chất
béo mà kết quả là do sự tổng hợp và tồn trử triacylglycerols mà ra. Và insulin
còn tác động luôn cả amino acid và sự biến đổi của protein. Insulin thăng tiến
tác động lên nhánh của chuổi amino acids như (valine, leucine và isoleucine) nơi
các bắp thịt và làm nở nang bằng cách xây đấp protein của bắp thịt. Thật vậy,
insulin còn kích thích hiệu quả tác dụng của sự tổng hợp của protein. Thêm nữa,
nó còn ức chế sự suy thoái protein trong các nội bào (intracellular degradation
of protein)
Katzung, (2000) thêm rằng trong tế bào B (B cells) của tụy tạng dùng để dự trử
insulin thì có một tinh thể trong đó có 2 nguyên tử zinc và 6 phân tử insulin.
Tòan bộ tụy tạng trong cơ thể con người cò tới 8 mg insulin và nó đại diện cho
trên 200 đơn vị sinh học.
Trong cơ thể thì thận và gan là 2 cơ quan thu nhận insulin vào trong vòng luân
chuyển của nó. Gan, trươc hết, thu nhận hết insulin từ tụy tạng vào gan khoảng
60%, còn kidney thì hấp thụ khoảng 35-40% kich thích tố nôị tại.
B. Kiến thức hóa học liên quan đến diabetes.
1.
Bức tường thành bảo vệ não
bộ? Nguồn năng lượng gì mà não bộ cần?
Một câu hỏi khá nhức đầu. Tai sao trong máu lại có đường ở trong các giới hạn an
tòan đó? Đường trong máu như thế đó để làm gì hay để mần răng rứa? Hơn 90% là
dành cho não bộ. Đường có trong máu dùng để cung cấp bộ óc của con người một
nguồn năng lượng để họat động, điều khiển, suy nghĩ, tính tóan, mưu toan, đào
thóat, dọa nạt, chèn ép, ăn cắp tiền bạc, kể cả tiền viện trợ của Quốc tế, bán
người để kiếm huê hồng, trăm trăm ngàn kế.. Tốt đẹp nhất con người là quán niệm
về Bát Nhã để hiểu cái không, Tánh không, và Chơn như, vì cuộc đời nầy chỉ là vô
thường, con người sống trong vọng tưởng, mà vọng tưởng có là do vô minh, mà vô
minh là đầu mối của trăm nghìn khổ đau chồng chất, không phải một kiếp mà muôn
kiếp. Còn Oxy là nguồn cung cấp cho các tế bào não bộ sống và phát triển. Nói
đến não bộ là nói đến nguồn cung cấp năng lượng hay lương thưc cho não bộ họat
động là phải nghĩ ngay cái tường thành ngăn chận mọi sự xâm nhập vào não, và bảo
vệ não một cách một cách rất nghiêm túc, không chạy chọt, đút lót: những cái nào
được vào não và những cái khác không được léo hánh tới. Theo Thibodeau and
Patton, (2005) thì bức tường thành đó tên gọi là three BBB (Blood Brain
Barrier) giúp để bảo vệ bộ não được an toàn, để não bộ được họat động một cách
bình thường. BBB có một bức tường mao mạch (capillary wall) là các mạch máu vô
cùng nhỏ có đường kính vào khoảng 5-20 µm. Mao mạch nầy tạo thành một mạng lưới
trong hầu hết các mô, nó được cung cấp máu từ các động mạch nhỏ và được chảy đến
các tỉnh mạch nhỏ. Còn thành mạch thì có một tế bào có chiều dầy mà nó được trao
đổi: nước, oxygen, carbon dioxide và glucose được phép qua một cách dễ
dàng. Oxygen mang oxy vào để cho các tế bào sống và phát triển và thải
Carbon dioxide ra. Glucose là nguồn năng lượng cho óc họat động bất tân. Điều
nầy cũng giải thích khi người bị bịnh tiểu đường lúc lượng đường xuống thấp,
nghĩa là lúc tay chân run rẩy, mồ hôi toát ra vì đói, thì nên kiếm nhai vài cục
kẹo vào là sau đó cảm thấy dễ chịu ngay. Tuy nhiên rất ít và hiếm, các molecules
chất béo hòa tan như alcohol thì lan tràn qua màn chận nầy dễ dàng. Có lẽ các
lính gát nơi tường thành bị say sưa nên chúng vượt biên vào được? Còn các ions
như sodium Na+ hay potassium K- mà sự hiện diện của nó
có thể phá vở hết sự truyền đi của hoạt động điện trong màng một nơ ron gọi là
xung lực thần kinh (disrupt the transmission of nerves impulses). Đó là lý do
tai sao bịnh tiểu đường nên cử ăn mặn vì lý do nầy. Còn lý do khác là tension
hay high blood pressure thì sẽ hiểu sau.
Tuy nhiên, Ganong, (2004) đã tính tóan kỹ hơn cho biết: oxygen tiêu thụ vào não
trung bình +3.5 ml/100g bộ óc hay trung binh 49 ml/ cho toàn thể bộ não. Còn
carbon dioxide thải ra -3.5 ml/100g bộ óc hay trung bình là -49ml/ cho toàn thể
bộ não (xem table). Trong não có nhiều hạch (ganglia) là một tập hợp té bào thần
kinh, nên tiệu thụ oxygen cao nhất và nhiều nhất. Còn thalamus (đồi não) và ụ
não (colliculus) thì rất ảnh hưởng mạnh khi mô bi hư (hypoxic damage) vì thiếu
oxy.
Blood Brain Barrier
(BBB)

(source:G.A. Thibodeau and K.T. Patton, 2005)
Chỉ có: nước, Oxygen, CO2 và glucose là vào và ra nảo bộ. Còn
Dopamine dùng trị bịnh Parkinson, thì cũng không được qua BBB, dù cho chich hay
uông đều không hiệu quả. Tuy nhiên levodopa (l-dopa) là hóa chất trong cây cỏ và
động vật, lại qua được BBB và biến thành dopamine, mà hiệu quả thì kém hẳn đi
chất dopamine)
Thế nên, có những bịnh do não mà ra, nên việc uống thuốc có liên quan đến não
phải chứng minh rằng thuốc đó vượt qua bức tường thành như trường hợp hợp
Parkinson. Nếu không thì đó cũng chỉ là một mơ tưởng hay chỉ điều ba hoa rổng
tuếch. Thuở trước, một thời rằng “xuyên tâm liên”, trị bá bịnh nào là trụ sinh
giết mọi vi trùng như: lao, lậu, giang mai vv, nào là trị đau nhức, nào lở lóet,
nào ung thư, còn chuyên cảm cúm, sổ mũi nhức đầu, chóng mặt là nghề tay trái của
nó. Trị cả bịnh liên quan về nảo bộ thì tuyệt cú mèo, là nghề tay mặt. Cả nước
bỏ tiền trồng khắp nơi, khắp nước. Ai dám nói đó “toàn là “đồ” tào lao” là có
vấn đề liền. Gớm.!
2-Sự hấp thụ và bài tiết não bộ của người trưởng thành
Ganong, (2004) đo và lập bảng về sự hấp thụ và bài tiết của nảo bộ. Ông nói não
bô cần glutamate (Glu) và thải ra glutamine (Gln). Vì glutamate (Glu) là không
phải thuộc nhóm chính của amino acid, và nhóm amide thay chổ carboxylate cho
glutamine (Gln). Có 2 nhóm amino acids trong người: nhóm chính (essential) và
nhóm không phải là chính (non essential) gồm có:
Nhóm chính và không chính amino acids nơi con người.
|
amino acids
chính |
amino acids không
chính |
|
Arginine
Histidine
Isoleucine
Leucine
Lycine
Methionine
Phenylalanine
Threonine
Trytophan
Valine |
Alanine
Asparagine
Asparate
Cysteine
Glutamate
Glatamine
Glycine
Proline
Serine
Tyrosine |
(Source: D. Voet and J. Voet, 2000 Biochemistry)
Asparagine và glutamate là một một tổng hợp tuần tự từ aspartate và glutamate do
bởi tính nhận lấy amine. Còn tổng hợp glutamine thì khác là do phản ứng của NH3
trong nhóm amino acids cho
(donor) và ATP được thủy phân (hydrolysed) cho ADP và Pi qua trung gian
gamma-glutamylphosphate.
Sau đây là bảng kết quả mà não đã tiêu thụ và bài tiết Oxy, glucose, glutamate
và glutamine và carbodioxide
|
Substance |
Nhậnvào (+)Thải
ra(-)
/100 g bộ
não.phút |
Tổng cộng/ phút |
|
Substance utiized
Oxygen
Glucose
Glutamate ( Glu)
Substance
produced
Carbon dioxide
Glutamine ( Gln) |
+3.5 mL
+5.5 mL
+0.4 mg
-3.5 mL
-0.6mg |
+49mL
+ 77 mg
+5.6 mg
-49mL
-8.4 mg
|
(Source: Ganong, 2004. review of Medical Physiology, pp 560).
Lubert Stryer, 2004, cho biết thêm rằng từ khi mà não bộ cạn nguồn nguyên liệu,
thì nó cần nguồn nguyên liệu là đường tiếp tế được tính phỏng chừng là 120 g
đường cho mỗi ngày và với năng lượng trên sẽ tạo nên một năng lượng là 420 kcal.
Bộ não cần vào khỏang 60% năng lượng đường của tòan thân khi con người ở trạng
thái nghỉ. Khi cơ thể không đủ insulin dùng, thì phản ứng tự nhiên trong cơ thể
biến chất fat thành nguồn năng lượng dùng thay vì là đường. Nó cung cấp cho máu
để họat động và dư thừa thì tống ra ngả nước tiểu. Sự hiện diện ketone bodies
trong máu gọi là ketosis, còn sự hiện diện ketone bodies trong nước tiểu gọi là
ketonuria. Khi đói, thì ketone bodies mà một phần của nó biến thành đường
như là nguồn năng lượng cho não bộ. Acetoacetate được tác động và chuyển
hóa biến thành CoA do từ succinyl CoA để thành
acetoacetyl CoA (xem h). Thêm nữa, sự chia thiolase và kết
quả là 2 phân tử của acetyl CoA mà nó đi vào chu kỳ gọi là citric
acid cycle. Còn fatty acids thì không thể dùng như là nguồn năng luợng trong
não bộ đươc vì ở trong ranh giới albumin trong huyết tương nên không lọt qua bức
màng che chở não bộ (blood brain barrier) (Lubert Stryer, 2004).

(source: Lubert Stryer, 2004).
2.
Các chất kích tố nào dự phần vào làm điều hòa đường trong máu?
Có
3 lọai kích thich tố được biết như sau: Gan, Epinephrine và Glucagon. Sau đây là
chu kỳ họat động và biến dưỡng của chúng.
a- Gan (Liver).
Sự
biến đổi đường nơi gan được coi là thiết yếu vì nó cung cấp cho não bộ, bắp thịt
và các cơ quan ngọai biên (peripheral organs). Lubert Stryer, (2004) cho rằng
phần lớn từ nơi gan mà ra, là vì tất cả mọi hấp thu từ ruột non đều qua gan, rồi
từ đó nó được biến đồi cho máu. Vì gan thu nhận một số lớn glucose và lại biến
nó thành glucogen. Gan có thể chứa cả 400 kcal năng lượng để dành. Gan cho
glucose vào máu bằng cách bẻ gảy glycogen chứa sẳn trong gan và được mang đi ra
đưới tên gọi là gluconeogenesis. Glucose mang đến cho bắp thịt dưới tên là
lactate hay alanine, và tên gọi là glycerol từ các mô mở của các tế bào mở
(adipose tissue) và glucogenic amino acids từ chế độ ăn uống.
Lubert Stryer, (2004)
nói thêm là gan không những là kho dự trử mà còn là trung tâm chế biến các chất
béo ra dưới dạng mà tỉ trọng rất thấp gọi là lipoprotein (very low desity
lipoprotein=VLDL). Chất VLDL nầy là nguồn dự trử của mọi acid chất béo do các tế
bào tổng hợp mọi triacylglycerols. Khi đói, thì gan biến ngược chất acid béo
thành ketone bodies. Vai trò nhận và biến đổi các acid béo nhờ
mitochrondrial matrix, đó là một nơi sản xuất năng lượng do tế bào mà ra. Các
mitochrondria nầy có chứa ATP và các enzyme liên quan đến họat động chuyển hóa.
Sự chuyển hóa qua màng lọc của mito cho ra esterified carnitine. Một phần
carnitne nầy xuyên qua màng lọc của mito và cho ra ketone bodies. Phần khác thì
nó bi ưc chế bởi malonyl CoA, ở ngoài màng mito để tổng hợp các acid
béo.
Nói một cách cụ thể là gan đóng một vai trò sống còn trong việc điều hòa đường
trong máu được ở mức bình thường bằng cách làm kho dự trử và chế biến, nếu đường
quá nhiều trong máu cho vào gan trú đóng và cho đường trong gan trở lại vào máu
khi đường trong máu kém hay ít. Vai trò của gan ngoài việc điều chỉnh mức độ của
đường lại còn một nhiệm vụ khác nữa là kiểm sóat vài lọai kích kich tố
(hormone). Đó là insulin, epinephrine và glucagon. Hormone của tuyến nôi tiết
chỉ đạo (pituitary gland) tiết ra chất kích thích tuyến giáp trạng như
gonadotrophin giúp cho sự tăng trưởng, như prolactin, lipotrophin
vv..tuyến adrenal cortex hay adrenal glands (tuyến nang thượng thận) tiết
ra 3 lọai kích thích tố của corticosteroid là: Cortisone (tác động
đến sự biến dưỡng của các carbohydrate), như aldoterone (chuyển hóa các
điện giải) và oestrogen và androgen (liên quan đến hệ sinh dục).
Và tuyến thyroid gland liên quan đến việc điều hòa tốc độ chuyển hóa bẳng
cách tiết ra hormone tuyến giáp, đó là dung dịch keo như sửa có chứa các hoặc
chất do tuyến giáp tiết ra. Tất cả đều tham dự vào một cách hữu hiệu trên sự
biến dưỡng của các carbohydrates.
b- Epinephrine và norepinephrine.
Theo Lubert Stryer, (2004) thì cho rằng catecholamines là nhóm gồm các chất như:
adrenaline, noadranaline và dopamine trong chức năng của hệ thần kinh
trương và hệ giao cảm. Về phương diện hóa học các chất nầy đều có một vòng
benzene và một nhóm hydroxyl ở bên cạnh và một nhóm amine ở chuổi phụ.

Chất catecholamines hormone do hạch bạch huyết não tủy (adrenal modulla)
tiết ra và có hệ thống thần kinh thích ứng báo trước khi hàm lượng trong máu
thấp. Giống như Glucagon, tuyến trên kích thích sự hoat động của glycogen và
triacylglycerols do cAMP làm trung gian (cAMP-mediated). Nhưng nó lại khác với
glucagon trong vai trò hủy glycogenolytic trong bắp thịt hơn là trong
gan. Thêm nữa, chất catecholamine hormone còn ức chế bắp thịt nhận glucose vào,
mà thay vào đó bằng những acid béo làm nhẹ bớt các tế bào mở trong người bằng
cách dùng như là một nguồn năng lượng. Epinephrine cũng kich thích sự
tiết ra glucagon và cũng ức chế sự tiết ra của insulin.
Theo Lubert Stryer, (2004) kết luận rằng catecholamines làm tăng lượng
glucose vào máu và đồng thời làm giãm thiểu sự dùng glucose nơi bắp thịt.
Epinephrine và norepinephrine là chất có được từ hormone tiết ra do tuyến nang
thượng thận (adrenal glands). Đó là hai tuyến hình tam giác phủ vào mặt trên của
mỗi qủa thận. Khi được kích thích tố ACTH nó cho lọai kich thích tố
corticosteroid. Tác động trên sự biến dưỡng của carbohydrate do cortisone,
chuyển hóa chất điện giải do (aldosterone), ảnh hưởng đến tuyến sinh dục do
(oestrogen và androgen).
Nó có được do sự hợp
thành của glucose từ glucogen trong gan mà ra gọi là glycogenolysis, và
công dụng của nó thì ngược lại công dụng của insulin. Insulin thì lấy glucose
từ máu vào gan, còn epinephrine thì tăng thêm lượng glucose vào máu. Một khi
mình âu lo (stress) hay giân dữ hoặc sơ sệt, thì epinephrine tiết vào mạch máu
chất glycogenolysis mà nó có từ gan. Vì thế nó giúp cho máu cho hàm lượng
glucose khi cơ thể cần thiết hay trong trường hợp khẩn cấp. Thế nên hàm lượng
glucose tiết ra quá thừa (hyperglycemia), nên trong nước tiểu lại có
đường. Đường trong trường hợp nầy là do lịnh từ epinephrine cho ra đường, chứ
không phải lo diabetes. Thế nên, quá âu lo, quá stress, quá sợ hãi, quá đủ thứ,
quá sức và quá mức, tham ô quá tải, thì tiểu lại có đường, nhưng không gọi là
tiểu đường. Đường như thế gọi là “đường âu lo”. Khi đấu tố địa chủ, như chôn
sống, ném đá cho chết, sỉ nhục, con tố cha, cháu tố ông nội, ông ngọai, vợ tố
chồng trò tố thầy, hay ngược lại và bạn bè tố nhau, xong rồi người bị tố lại bị
bắn bị giết, bằng súng, bằng mã tấu, bằng ném đá, bằng chôn sống, thì hầu hết
trong nước tiểu của họ đều có đường do stress, gọi nôm na là “đường luân thường
đảo ngược”. Trong giai đoạn đánh tư sản, dân chúng bị trắng tay, dân chúng đều
bị bịnh tiểu đường, thứ đường nầy gọi là “đường lo âu cho tương lai đen tối
….……”.
c- Glucose cùng tính chất và sự
trao đổi?
Tôi dùng chữ glucose thế cho chử đường viết bằng tiếng Việt, được truy nguyên do
từ carbohydrate mà ra. Vì carbohydrate theo định nghĩa là polyhydroxyl aldehydes
và ketones. Carbohydrtate đơn giản là glucose cũng gọi là monosaccharides. Nếu 2
monosaccharides nối bởi glycosidic nối ta có disaccharides. Nhiều hơn 2 thì nối
bởi glycosidic bond thành polysaccharides. Nếu mình tiêu thụ carbohydrates
nghĩa là gồm monosaccharides như glucose, fructose, maltose. Nếu tiêu thụ
disaccharides như là sucrose, lactose và maltose. Và polysaccharides gồm có
starch. Trong ruột con người có các enzymes nó biến đổi disaccharides và
polysaccharides thành monosaccharides.
c-1- Công dụng của glucose
là gì?
Về
sinh hóa, nó là cung cấp năng lượng cho cuộc sống còn của cả chúng sanh. Nói một
cách khác là ATP (Adenosine triphosphate) là năng lượng cho tất cả vũ trụ, là do
nguồn của sự biến đổi sinh học mà ra. Oxy hóa Glucose là do bởi glycolytic và
con đường tricarboxylic acid là nguồn cơ bản của năng lượng cho sinh học tổng
hợp của ATP. Phương trình sau đây giải thich tại sao mình có năng lượng và nhiệt
lượng trong cơ thể để hoạt động và tồn tại làm kiếp nhân sinh. Con người hay mọi
sinh vật tiêu thụ Oygen và thải ra carbon dioxide, hơi nươc và tạo ra một nhiệt
lượng.
C6 H12 O6
+ 6 O2 ……………>6 CO2 + 6 H2 O + Heat
(180g) (6x22.4l) (6x22.4l) (6x18g) 2.78 MJ
Năng lương cần thiết để oxit hóa 1gram đường là (2780/180) =15.4kJ
Và đồng thời mỗi
litre oxygen tiêu thụ vào cho ra một nhiệt lượng tương đương là (2780/22.4)
=20.7kJ.
Cùng một cách tính
như thế cho các starch, fat, protein vv..
Sau đây là kết quả có đươc như sau:
Những giá trị do oxy hóa (oxidation) của những dinh dưỡng chính.
|
Nutrient O2
CO2 RQ**
Energy Energy
Consumed produced* released
released
(1/g) (1/g) (kJ/g) (kJ/l
O2 ) |
|
Starch
0.829 0.824 0.994 17.49 21.10
Glucose
0.746 0.742 0.995 15.44 20.70
Fat
1.975 1.402 0.710 39.12 19.81
Protein
0.962 0.775 0.806 18.52 19.25
Alcohol
1.429 0.966 0.663 29.75 20.40
|
(source: Brockway JM. 1987 in Clinical Nutrition 41C:463-471)
*CO2 có 1
mole tại STP chiếm 22.26 không phải là 2.4 litre
** RQ (respiration quotient) Thương số hô hấp là tỉ số của phân tử
(moles) của carbon dioxide phóng thich ra để nhận các phân tử (moles) oxygen thu
nhận vào để oxy hóa (oxidation) các chất dinh dưởng có đươc. Kết quả RQ thường
thấy là 0.7 cho fat và 1.0 cho carbohydrate, còn protein thì trị giá ở giữa hai
trị số trên.
c-2-Nguyên tắc biến đổi
glucose-6-phosphate là gì?
Đây
là vấn đề cần được hiểu biết trước hết: Là trong các tế bào khi có sự biến đổi
thì glucose biến thành glucose-6 phosphate (G 6P) là một chất quan trọng làm
trung gian của mọi sự biến đổi. Muốn biến đổi thì cần có cái gọi là enzyme (diếu
tố) làm chất xúc tác thì phản ứng mới thành. Cái enzyme xúc tác cho
phosphorylation của glucose là hexokinase hay gọi là glucokinase có sẵn trong
gan và trong các tế bào beta (beta cells) trong tụy tạng. Glucokinase giữ vai
trò quan trọng trong sự điều hòa của glucose trong tiến trình sinh lý học bên
trong cơ thể (homeostasis) như huyết áp, thân nhiệt, cân bằng acid kiềm, bất kể
mọi thay đổi bên ngòai; và giữ biên độ của glucose trong tế bào gan
(hepatocytes) là tế bào lớn trong gan mà nhiệm vụ là chuyển hóa, tổng hợp, tồn
trử, khử độc và sản xụất mật.
Trong
hình sau đây ta thấy Glucose-6-phosphate (G 6P) là khởi điểm của 5 sự biến đổi.
Glucose-6-phosphate (G 6P) biến đổi ngược lại bởi glycolysis cho pyruvate, là
một chất được dùng sau nầy trong việc biến đổi tricarboxylic acid với carbon
dioxide và nước. Glucose-6-phosphate (G 6P) lại được oxit bởi ống dẫn (shunt)
hexose monophosphate với ribose và carbon dioxide, rồi biến đổi ngược lại bởi
nhờ đường uronic acid cho ra glucuronic acid, rồi lại kết hợp vào glycogen do
nhờ bởi glycogenesis.

c-3- Quá trình của
Glycolysis ?
Việc chia glycogen ra để cung cấp nguồn năng lượng cho bắp thịt khi vận động co
thắt, cần có nhiều bước thực hiện và mỗi bước cần có mỗi một enzyme thích hợp
riêng biệt.
Việc chia nhỏ glycogen ra thành lactic acid, được gọi là Embden-Meyerhof, là
bước đầu trong việc khi bắp thịt co thắt lại. cái tiến trình nầy gọi là
glycolysis và tiến trình nầy xãy ra trong yếm khí
(anaerobic process) có nghĩa là tiến trình xãy ra không cần oxygen. Khi đó thì
glycolysis cung cấp ATP cho bắp thịt vận động co thắt lại.
Quá trình trên có thể tóm lược như sau:
Glucose 6-P (từ glycogen hay từ glucose) +3 ADP -----à
2lactic acid+3ATP
Chất ATP hợp thành như thế thì được hữu dụng ngay cho bắp thịt vận động. Bởi lẻ,
khi ATP được dùng thì nó biến đổi thành ADP và rồi nó được tái sinh trở lại.
Việc tái sinh nầy có thể hoàn tất như trên hay là có thể dùng một chuỗi yếm khí
khác mà ra:
Creatine phosphate +ADP ------à
creatine + ATP.
Để
ý rằng một phần của lactic acid thì lại trở về glycogen trong bắp thịt. Còn phần
còn lại của lactic acid theo máu vào gan nơi đó nó được biến đổi ra glycogen
trong gan.
Khi mà có sự oxit hóa của một vài lactic acid, trong môi trường ái khí nghĩa là
có oxygen, thì nó cho ra một số lớn nguồn năng lượng. Sự oxít hóa lactic acid
của các phân tử nó biến đổi 18 phân tử của ADP thành ATP.
Sau khi bắp thị co giản và nghỉ mệt, thì ta thấy năng lượng glycogen bị mất mát
đi do sự họat động của bắp thịt. Sự thiếu hụt của glycogen do trên có thể bổ
xung lại là nhờ đường trong máu
(blood glucose) dẫn đến glycogen bắp thịt (muscle glycogenesis)
Sự
biến đổi glycogen thành lactic acid và một phần của nó biến ngược lại thành
glycogen. Glycolysis biến ngược lại từ 6 phân tử carbon của glucose thành 2 phân
tử của 3 carbon chung gọi là pyruvic acid. Một khía cạnh quan trọng của
glycolysis là sự hợp thành pyruvic acid. Trong môi trường đầy khí, glycolysis,
pyruvate sẽ biến đổi bằng cách tricarboxylic acid cycle. Và cái chu kỳ lactic
acid nầy được thấy dưới hình sau đây:

C-4-- Glycogenesis
là gì?
Glycogenesis là sự hợp
thành glycogen do glucose mà ra. Phản ứng hợp thành xảy ra trong gan và trong
bắp thịt. Trong gan thấy rằng có tới 5% glycogen sau bửa ăn dùng nhiều
carbohydrates, và sau 18 giờ không ăn, thì glycogen cũng biến mất.
Quá trình phản ứng trên
không quá giản đơn đâu. Mỗi một phản ứng đều cần có mỗi một chất xúc tác thích
nghi. Nhiêu khê cũng lắm lắm.
Glycogenesis thực hiện
gồm có:
* Biến glucose thành
glycogen hay ngươc lại
nC6H12O6
<glycogenesis/glycogenolysis >(C6H10O5)n
+ nH2 O
glucose glucogen
* Biến đổi glucose
thành glucose-6-phosphate (glucose 6-P), là phosphate ester của glucose.
* Adenosine
triphosphate (ATP) trong gan dùng làm nguồn phosphate cung cấp cho phản ứng. Khi
mà một phosphate group nầy mất đi, thì cho ta một ADP hiện ra. Phản ứng nầy có
được là nhờ enzyme glucokinase mà thành. Insulin tham dự vào việc phosphoryl hóa
nhờ enzyme xúc tác trên do một phân tử hữu cơ là glucose. Chất phosphorylase nầy
đươc thấy trong gan và thận.
glucose + ATP
glucokinase/insulin > glucose 6-P +ADP
Glucose 6-P được sấp
xếp lại thế nên nhóm phosphate trong gan, chuyển từ vị trí số 6 thànhvị trí số
1, cho ra glucose-1- phosphate, khi có enzyme là phosphoglucomutase
Glucose 6-P
phophoglucomulase > glucose 1-P
Glucose 1-P phản ứng
với uridine triphosphate (UTP) làm thành uridine diphosphate glucose (UDPG) khi
có sự hiện diện của enzyme là UDPG pyrophosphorylase.
Glucose-1-P +UTP
UDPG pyrophosphorylase > UDPG+pyrophosphate
Sau đó phân tử trong
UDPG (tác động trên phân tử glucose) rồi hợp lại với nhau thành glycogen. Khi có
sự hiện diện của enzyme gọi là blanching enzyme và glycogen synthese. Chính
enzyme cuối nầy lại
điêu chỉnh cho cả hai là
insulin và cyclic AMP.
UDPG glycogen synthese/branching enzyme
>glycogen+UDP
Khi UDP hợp thành rồi nó lại phản ứng với
ATP cho ra UTP
UDP+ ATP >UTP+ADP.
Phản ứng của Glycogenesis

Glycogenesis
C-5- Quá trình của
Glycogenolysis như sau:
- Glycogenolysis
đều có phản ứng ngược lại hầu hết, duy chỉ có glucokinase thì nó không có phản
ứng ngược lại.
- Các phản ứng ngược
của glucogenolysis (xem hinh) như sau:
* với enzyme
phosphorylase a thì glycogen biến thành glucose-1-phosphate, và
* với enzyme
phosphoglucomutase thì phản ứng ngược lại trở thành
glucose-6-phosphate.
*
Glucose-6-phosphate nó biến thành glucose nhờ enzyme glucose
-6-phosphatase, enzyme nầy có trong gan và trong các bắp thịt (muscle). Tuy
nhiên muscle glycogen nầy không thể nào trở thành nguồn cung cấp đường trong máu
được.
* Cyclic–AMP (c-AMP)
dấn thân vào để biến đổi glycogen thành glucose-6-phosphate cho cả trong
gan và trong bắp thịt. Khi mà cơ thể bị stress thì sản sinh chất gọi là
epiphedrine. Chất nầy được đưa bằng máu vào trong các tế bào ở trong gan, và
khi có sự kích thích của enzyme adenyl cyclase, thì sản sinh ra
chất cyclic-AMP do từ chất ATP.
* Chất cyclic–AMP tác
động trên protein kinase, chất nầy tác động ngược lại trên
phosphorylase-b-kinase. Chất phosphorylase b kinase nầy lại tác động trên
phorylase a, khơi mào cho sự biến đổi ngược của chất glycogen thành
glucose.
* Cùng chung phản ứng
như thế nó biến đổi ngược lại chất glycogen trong bắp thịt thành ra chất
glucose-6-phosphate.
* Sự sản xuất chất
epinephrine là do sự âu lo, sợ hải, gọi chung là căng thẳng. Sự sản xuất quá
liều của epinephrine thì tạo nên đường trong máu quá tải, nên đường được tống
theo nước tiểu ra ngoài. Khi mà sự âu lo sơ hải chấm dứt thì hiện tượng trên
cũng chấm dứt.
Bảng tóm lược
glycogenesis và glycogenolysis

d- Glucagon.
Glucagon là một kích
thích tố do tế bào alpha của tiểu đảo Langerhans của tụy tạng tạo ra.
Theo Lubert Stryer, (2004) thì glucagon là 3.5-kd polypeptide hormone do tiểu
đảo chứa tế bào alpha (alpha cells) của tụy tạng mà nó thích ứng với hàm lượng
đường trong máu thấp khi không ăn. Vai trò chính họat động của glucagon là do
gan mà có. Glucagon kích thích và chặt đứt glycogen và đồng thời lại ức chế luôn
sự tổng hợp glycogen nhờ sự trung gian của cAMP-mediated mà phosphore hóa
phosphorylase và glycogen tổng hợp mà nên. Chất phosphorylase được thấy trong
gan và thận mà ở đó enzyme liên quan đến việc phân hủy glycogen mà thành
glucose-1-phosphate. Chất Glucagon nầy lại ức chế sự tổng hợp của acid béo
(fatty acids) bằng cách làm bớt lại sự sản xuất của pyruvate và làm sự họat động
thấp hơn của chất acetyl CoA carboxylase. Còn nữa, glucagon kích
thích gluconeogenesis và ngăn chận glycosis ở hàm lượng thấp hơn trước.
Tất cả hóa trình của glucagon được biết là do sự trung gian của protein kinases
mà nó được tác động dưới chu trình gọi là AMP.
Có một điều thú vị là
cái khi mà người ta không biết rõ là các tính chất nguyên của insulin mà nó ảnh
hưởng đến hyperglycemic thì được gọi là nhân tố hyperglycemic-glycogenolytic
hay HGF. Cái nhân tố nầy nay được biết là glucagon. Glucagon khi được tách
riêng ra và được kết tinh lại thì đó là một polypeptide chứa đến 29 amino
acids trong một chuổi dài thẳng.
Lubert Stryer, (2004)
kết luận là vai trò glucagon là làm tăng hàm lượng glucose tai gan. Nói một cách
khác, glucagon làm tăng thêm các tế bào mô mở tại chu kỳ AMP, và chính chu kỳ
trên lại tác động trên lipase và kích động trên triacygylcerols
Thêm nữa, glucagon có
tác dụng ngược với insulin trong vai trò liên quan với đường trong máu. Glucagon
làm tăng đường trong máu bằng cách kích thich sự họat động của diếu tố (enzyme)
phosphorylase trong gan, và từ đó chất glycogen được biến đổi thành
glucose. Phản ứng trên được diển tả như sau:
Glycogen+ phosphate
phosphorylase > glucose-1-phosphate
Glucose-1-phosphate
phosphoglucomutase> glucose-1-phosphate
Glucose-1-phosphate
phosphatase > glucose + phosphate
Sự họat động của
phosphorylase lại tùy thuộc vào chất cyclic-AMP, và lại làm tăng thêm sự
hợp thành cyclic-AMP, rồi chất nầy trở lại tác-dụng phosphorylase và cũng làm
tăng thêm lượng glucose chứa trong máu, gây nên hiện tượng gọi là hyperglycemia.
Glucagon được dùng để
trị ảnh hưởng của hypoglycaemic bởi vì dùng quá liều lượng ấn-định của insulin
hay hoặc là sau khi làm giãm đi cú sóc (shock) trong việc điều trị về bịnh nhân
bịnh tâm thần (psychiatric patients).
Chất Glucagon còn làm
tăng chất gluconeogenesis từ amino acid và cũng từ lactic acid. Glycagon
thì không có ảnh hưởng chi trên chất phosphorylation trong các bắp thịt.
d-1- Sư khác biệt
tác động giữa insulin và glucagon.
Glucagon có sự sắp xếp
các amino acids khác hẳn hơn insulin. Insulin thì có disulfide làm nhịp cầu nối
kết, còn glucagon thì tuyệt nhiên không. Glucagon có chứa methionine và
trytophan trong chuổi amino acids, ngược lại insulin thì chẳng có thấy. Tuy
nhiên insulin có cystine, proline và isoleucine, trong khi ngược lại glucagon
thì không có 3 thứ vừa kể.
Kaplan và Pesce (2002)
còn nói thêm nữa là insulin ức chế nào là proteolysis, lipolysis,
gluconeogenesis, và glycogenolysis và kích thích sự tổng hợp của lipid và
glycogenesis trong gan, và cũng làm tăng thêm sự tổng hợp của protein trong bắp
thịt, và gia tăng sự tổng hợp của triglycerides trong tế bào chất béo. Insulin
còn là một tác nhân làm cho hàm lượng đường thấp (hypoglycaemic) trong cơ thể.
Ngược lại, glucagon thì kich thích như: lipolysis, ketogenesis, gluconeogenesis
và glycogenolysis. Một khi trong bửa ăn mà dùng nhiều carbohydrate thì đem lại
sự giảm insulin tiết ra, và ngăn chận sự phóng thich ra glucagon. Hypoglycemia
kích thích sự giảm bớt của glycagon. Tóm lại, insulin và glucagon là 2 thái cực
của động tác: insulin cổ vủ cho nguồn năng lượng tồn kho thì glucagon thì cổ vủ
cho bớt nguồn năng lượng tồn kho.
Họat động biến đổi của insulin.__________________
Các Tế bào
Gan Chất béo Bắp thịt
Glycogenolysis lypolysis Protein bị cắt nhỏ
Gluconeogenesis Amino acid giảm bớt
Chế ngự: Ketogenesis
--------------------------------------------------------------------------------
Đồng hóa: Tổng hợp
giữa Tổng hợp Nhận glucose vào và
Glycogen
và glycerol và trao đổi biến hóa
fatty acid fatty acid Nhận amino acid.
Tổng hợp
protein
Glycogenesis
-------------------------------------------------------------------------------
(Source: Kaplan và
Pesce 2002. Clinical Chemistry, p 621)
C- Có mấy lọai
diabetes?
Diabetes có hai loại:
Loại diabetes 1 gọi là juvenile-onset diabetes hay
insulin-dependent diabetes mellitus. Loai nầy thường thấy phần lớn các bịnh nhân
là các ngừơi trẻ, bởi lẻ các pancreas của họ tiết ra chất insulin không đủ hay
quá ít, vì thế họ cần chích insulin vào cơ thể. Mà nguyên do tại làm sao mà có?
Người ta cũng chưa rõ. Vì lọai nầy tùy thuộc vào insulin nên được gọi tắt là
(IDDM: insulin-dependent diabetes mellitus). Theo Katzung, (2000) thì do sự xáo
trộn của sự biến đổi nên sự xuất hiện insulin lúc có lúc không, còn beta cells
của pancreatic islet thi hư không đáp ứng insulin đúng lúc. Tai Mỹ, ước chừng có
8.3 million người bị binh diabetes, mà 600,000 thuộc lọai IDDM.
Và
loại diabetes 2 gọi là maturity onset diabetes or
non insulin dependent diabtes mellitus; Lọai nầy được thấy nơi những người bị
bịnh mà phần lớn trên 40 tuổi, hay phần lớn họ có dư thừa calories và nặng quá
tải (overweight), laị không tùy thuộc vào insulin gọi tắt là NIDDM. Đàn bà lúc
mang thai thường mắc phải bịnh nầy tỷ lệ khoảng 8%. Nguyên do là các tuyến nội
tíết xáo trộn và tụy tạng suy nhược. Tại Mỹ, gần 7.5 million người mắc bịnh nầy
(Katzung, 2000). Tuyến nội tiết là các tuyến là tuyến sản xuất hormone thẳng vào
máu. Còn tụy tạng thì tiết ra dịch tụy có chứa
chất enzyme liên quan đến bộ phận tiêu hóa. Trong tuyến nang có rãi rác các tiểu
đảo Langerhans là một số nhóm các tế bào đơn độc tiết ra các hormone insuline và
glucagon vào máu.
C-1. Sự khác nhau giữa 2
loại diabetes:
Theo
Lange, (1994) trong quyển Current Medical Diagnosis & treatment có phân biệt rõ
trong lâm sang 2 lọai diabetes mellitus như sau (p:980). Nếu muốn phân biệt giữa
2 loại I va II thì nên đi thử tuyến giáp TFT, auto immune…
|
|
Diabetes type I
( IDDM) |
Diabetes type II
( NIDDM) |
|
Tiểu nhiều và
khát
(Polyuria and
thrist)
Yếu hay mệt mỏi
( Weakness or
fatigue)
Ăn nhiều và xuống
cân
(Polyphagia and
weight loss)
Viêc nhìn thấy
thường bị mờ lòa.
(Recurrent
blurred vision)
Viêm âm hộ hay
ngứa âm đạo
(Vulvovaginitus
or pruritus)
Hệ thần kinh
ngọai biên
(Peripheral
neuropathy)
Chứng tiểu đêm,
đái dầm
(Nocturnal
enuresis)
Thường không
triệu chứng cho bất cứ bịnh nào (Often asymptomatic)
|
++
++ | |