|
Trong các sách viết về
Đạo Phật, có cả sách Thiền, và cụ thể nhất là một Thầy từ Việt
Nam qua Úc thuyết pháp tại chùa ở Sydney-Cabramatta NSW các đây khoảng
6-7 năm, trong đó Thầy nói rằng Tâm nó giống như con vượng, luôn cḥay
nh̉ay, không bao giờ đứng yên. Diển tả thì nghe đầy lý lẻ thuyết phục
có thể đưa đến niềm tin. Nếu muốn được an tâm, Thây đề nghị nên cột
tâm nó lại, đừng cho nó chạy nhảy. Nghe thì thấy qúa cụ thể, tưởng
chừng như thực hiện dễ dàng. Nhưng làm sao cột nó? Và làm sao bắt nó
để cột? Thầy giải thích cách của Thầy tu là như vậy. Vậy đâu là chân
để theo?. Nay học về Kinh Lăng Nghiêm, chỉ một bài đầu thôi, chính Đức
Phật chỉ dạy cho Ngài A nan biết bảy cái Vọng Tâm trong Kinh nầy là
thế nào. Tại sao phải chỉ dạy bảy cái vọng tâm để làm gì? Vì
chúng sanh không phân biệt đâu là chơn, đâu là vọng. Nên chúng sinh
thường lấy vọng làm chân mà tưởng đó là chân, lấy vô thường làm
thường mà tưởng rằng đó là thường hằng, nên cứ mãi bềnh bồng trong
cỏi luân hồi trầm luân khổ ải. Khi không biết đâu là v̀ang, đâu là thau,
thì làm sao phân biệt được thiệt hay giả? Vì thế nên Đức Phật dạy cho
chúng sinh hiểu biết Vọng trước, cái sai trước, thì mới rỏ đâu là
thiệt, đâu là Chơn Tâm khi gặp. Cần hiểu được Chơn Tâm, thì việc tu
hành mới tiến đúng đường.
Lần thứ nhất viết, tôi
ghi lại những câu hỏi của Ngài A nan và lời vặn hỏi của Đức Phật,
để cho quý vị đọc và tự hiểu sâu cạn tùy theo căn cơ từng người.
Để hiểu Kinh kệ, nên
dùng Tâm mà hiểu. Nếu không dùng tâm mà lại dùng trí mà tự cho rằng
là hiểu kinh thì thật sự là chưa hiểu gì. Đó là cái đầu chứa đầy
chữ, nhưng cái tâm thì trống không. Bởi trí thức không bao giờ đạt đến
cái cái lẻ tuyệt đối của cái nguyên lý tột cùng. Tự cho hiểu Kinh
kệ qua trí não là người ngông. Kinh kệ hiểu được khi nào chính nơi
bản thân mình thực hiện được nó. Nói một các khác, hiểu đạo Phật
là khi chính bản thân mình đã thực hành được điều gi về những lờp
Đức Phật chỉ dạy. Mỗi ngày đọc Kinh, niêm Phật, lạy Phật, thực hành
rốt ráo, và nghe những tiếng chuông chùa ngân nga, mình sẽ thấm hiểu
bằng tâm thêm từng chút cái nghĩa thâm sâu của những gì mà Đức Phật
chỉ dạy. Và được như thế là cãm thấy tất cả một niềm an lạc tràn
ngập trong tâm, và nên tìm cách làm sao có được nhiều niềm an lạc
ngắn ngủi cần thiết đó trong đời.
Đức Phật kêu A Nan mà
hỏi: Trong giáo pháp của ta, Ông ngưởng mộ cái gì mà phát tâm xuất gia?
A nan thưa: Vì thấy Phật
có 32 tướng tốt lạ thường, nên sanh lòng hâm mộ mà con phát tâm xuất gia.
Phật bảo: vậy Ông lấy cái
gì để thấy và lấy cái gì để hâm mộ?
A nan thưa: Con dùng mắt
để thấy và dùng tâm để hâm mộ.
Phật bảo: Vậy Ông có biết
cái tâm và con mắt ở chổ nào không?
A nan suy nghĩ.
Hai vấn đề quan trọng
cần biết là: Cái Thấy và cái Tâm. Tại sao?
Thấy. Nhờ cái gì để
thấy? - Con mắt.
Còn Tâm? Nhờ cái gì
để khởi Tâm? Nhờ hâm mộ Phật mà có được khởi tâm? Cái nào đúng? Cái
nào sai? Tại sao?
Cái thấy thế nào?
Như vậy, vì thấy Đức
Phật có 32 tướng đẹp, thấy đó không ph̉ai là thấy mà cái thấy đó là
căn hợp với trần, là con mắt hợp với 32 tướng đep của Đức Phật,
nghĩa là cái thấy đó lại chính là do Thức. Trong trường hợp nầy,
thức ở đây được gọi là vọng tâm. Tại sao gọi là vọng tâm. Nếu nói
là nhờ hâm mộ Phật, liền tức thời thức khởi hiện ra mà ta tưởng là
Tâm, và trong trường hợp nầy, thức hay gọi là Tâm cũng đều là vọng.
Mà vọng là nguồn gốc của vô minh. Vô minh là khổ đau, là phù vân ảo
hóa. Nếu lấy vọng làm chơn và tưởng đó chính là chơn Tâm mà hâm ṃ̀ô
Phật là đi sai đường.
Đi xa hơn, thức được
hiểu là nói lên cái ngã sở, tính toán, mưu toan, lừa lọc, phê phán,
thấy toàn là lợi về cho mình, và cũng ch́inh thức lại che lấp mọi
sáng suốt trong sạch của tâm. Ch́ung sinh thường cho rằng tất cả các
thứ trên do thức biến hiện cho nó là chân, nhưng Đức Phật cho nó là
vọng tâm, là ảo vọng, là chiêm bao là không thực
Thức không có hình
thể, nên không thể nhìn thấy được. Vì chính nó không có hình thể của
chính nó, nhưng lại lấy các vật có hình sắc trong vũ trụ, do thức
biến ra mà làm thể của nó. Ví dụ như: cái nhà. Cái đó thoạt đầu,
không biết là cái gì, nhưng khi thức tham dự vào, gọi là cái nhà,
thì tên cái nhà là do thức mà ra.
Ông A nan và chúng sinh
đã và đang sống trong chiêm bao, trong mê vọng, nên mọi khởi tưởng đều
là mê vọng. Thế nên, muốn an tâm nếu cho rằng nên trói cột tâm nó lại,
thì cái nghĩ trói cột đó lại do thức mà ra, thì đó chỉ là một ảo
vọng, huyễn hoặc, hay g̣oi là vọng tâm. Mà đã là vọng thì làm sao đi
đúng đường tu học được?
Cốt lỏi của vấn đề
là gì?
Vấy thì, cốt lỏi của
vấn đề từ cái thấy là tìm cái thể tánh của cái thấy, chứ không
phải là cái tướng dụng của cái thấy. Cái thể tánh thì không thay
đổi, còn cái tướng dụng thì đổi thay luôn.
́Ông A nan hay chúng sinh
tìm chơn tâm qua cái thức biễu hiện là toàn là sự thay đổi mà lại
tưởng là chơn. Mà thức là vọng, rồi tưởng vọng là chơn, rồi lấy
vọng làm chơn thì làm sao tránh khỏi oan ương, nên phải ngụp lặn trong
biển trầm luân khổ ải trong nhiều kiếp sinh tử luân hồi.
Khi chúng sinh sống
trong vòng mê hoặc thì thường hay lấy cái đổi thay làm cứu cánh, mà
chạy mà đuổi theo nó; và khi chúng sinh được ngộ là khi thoát kh̉oi
vòng mê hoặc tìm được cái thể tánh của cái thấy làm cứu cánh là
dừng lại, thì lại khác,.
Sự khác biệt giữa ngộ
và mê.
Như Đức Phật khi đã
giác ngộ rồi, nghĩa là hết vọng rồi, thì mọi khởi tưởng đều là
giác ngộ là chơn thật như thị, như thị. Đó là sự khác biệt giữa mê
vọng và giác ngộ, giữa chúng sinh và ḅâc giác ngộ. Trong Kinh Duy Ma
cật viết rằng: khi Như Lai khởi tâm chổ nào thì hào quang bắn ra nơi
đó, vì do tự tâm của Ngài vốn đã thanh tịnh rồi, còn chúng sinh khi
khởi tâm lên thì trần lao đi trước (trần lao tiên khởi). Trần lao là gi?
Trần lao là những tính toán, mưu toan, tham lam, đầy ngã chấp, giận
dữ, lường gạt, dối trá. Chẳng hạn như, khi Cộng sản Trung Cộng thôn
tính Tây Tạng, khi đạo quân xâm lược của Trung quốc tr̀an vào Tây Tạng,
giai đoạn tiên khởi được nghe thấy từ các báo chí, đến đài phát
thanh,và các loa phóng thanh khắp cả mọi nơi rần rộ oan oan: “Trung
quốc thông báo rằng cây kim sợi chỉ của dân không được đụng tới, còn
lính Trung quốc muốn mua đồ của dân Tây Tạng thì thuận mua, đặng bán”
không được ăn giựt, ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị”. Rồi sao nữa? vì khi
Trung cộng tiến chiếm Tây tạng, khi mọi điều họ khởi lên đều là trẩn
lao là mưu toan, lừa đảo, là cướp giựt cả; chuyện nhỏ nhất là cây kim
sợi chỉ vì không đáng gía, lấy như thế lại mang tiếng nên nghiêm cấm
không được lấy, và mưu toan để lấy những cái có giá trị gấp trăm
ngàn triệu lần hơn. Nhưng sau ba hay bốn tuần, mọi của cải nhà cửa
dân chúng Tây Tạng dành dụm suốt cả nhiều đời đều bị tước đoạt sạch
sẽ, người dân Tây Tạng ra khỏi nhà bằng tay không, và không được mang
theo mình kể cả cây kim sợi chỉ đ̣ể may vá áo quần khi rách, một cây
kim cũng không lọt kh̉oi được. Đó gọi là trần lao, là mưu đồ lường
gạt cướp của giửa ban ngày của Cộng sản Trung quốc đối với dân Tây
Tạng, mà danh từ ngày nay được gọi là “đánh bọn tư sản mại bản”? Đó
là thí dụ lịch sữ cụ thể đầy tan thương không thể nguôi khuây của cả
một dân tộc Tây Tạng và cả loài người có lương tri và đưa đến một sự
lưu đày biệt xứ của một vị Phật sống Đức Đạt Lai Đạt ma, cùng hơn
nửa triệu đồng bào Tây Tạng sống lưu vong.
Một vị Phật thật sự
là vị Phật là chẳng bao giờ tự nhận mình là Phật, vì khi mọi điều
tự nhận là do thức mà ra đều là không thật.Tự cho mình là đỉnh cao
trí tuệ của loài người của thời đại nầy là do thức biến hiện cộng
với cái ngã mạng qúa cao mà ra, đó là chuyện huyễn hoặc, là không
có thật. Vì mọi sự nhận biết đều là do thức. Khi có thức tham dự
vào thì là có vọng. Mà vọng là không thật, và là nguồn gốc của vô
minh.
Thêm nữa, cuộc đời
nầy, có lẻ từ lúc có loài ngưởi cho đến ngày nay, tất cả đều do
nhị nguyên (dualism) đối đải mà thành. Và cũng từ đó, trầm luân khổ
ải sanh sôi nẩy nở không ngừng, tạo ra không biết bao nhiêu điều tranh
chấp vì mâu thuẩn: vể tâm ta thấy ngay vọng tâm và chơn tâm, vể mắt ta
thấy cái thấy và cái bị thấy, về tai ta có cái nghe và cái bị nghe,
về lòng ta thì thấy vừa thương vừa không thương, vừa cảm thấy sắp bị
lưu đày khi bắt đầu yêu thương ai, và khi miệng thì ừ mà lòng thì
không thuận , và tình yêu tha thiết đó cũng là oán thù sau đó, vì
thương nhau cho lắm lại cắn nhau đau, và ghét là bề trái của cái
thương vv..; về con người thì người mê kẻ giác, chúng sanh và Phật,
kẻ cười người khóc, đàn ông và đàn bà, về thiện chí thì có tích
cực và tiêu cực, về vũ trụ thì có ngày và đêm, sáng và tối, nóng
và lạnh, lúc mưa lúc nắng, về tôn giáo có Phật giáo và Thiên chúa,
Bà la môn, Hindu; về chính trị hiện tại có Cộng sản và Tư bản, …….
Nghiã là toàn bộ sự tồn tại được phân chia th̀anh nhị nguyên đối đãi
(dualism). Và vì có nhị nguyên đối đải nên chúng sanh luôn sống trong
phiền não và luân hồi trần lao. Ch́inh do sự đối đải cộng hưởng với
cái vọng tâm nên tạo ra một sự đổi thay kinh thiên động địa ngoài
tưởng tượng: người tu thành người tù, nhà cửa thành ngục thất, tự do
thành nô lệ, con người thành đồ chơi:
Đạo ph́ap bao trùm màn
ảm đạm
Giang san phủ kín lớp
màu tang;
Cú kêu ta bảo là oanh
hót,
Cuội gọi thì thưa: Dạ,
Bố đòi.
Cách đây vào khoảng
50-60 năm, tại Ấn độ, câu chuyện kể là, có một hiền triết rất nổi tiếng tai
Ấn độ, khi quê hương Ông đổi chủ hay đổi chế độ, Ông ra đường đứng khóc thảm
thiết nhiều ngày trông rất thảm não. Nhiều người bu lại hỏi Ông tại sao Ông
lại khóc mà lại không vui mừng khi quê hương đổi mới? Ông mới nói, đường lối
của chinh quyền mới chỉ là đối đãi của chính quyền củ. Khi còn đối đãi là còn
nhị nguyên. Bởi vì có nhị nguyên là có Họa đó và Phúc đó đi liền
nhau. Nay cười, mai khóc. Mà khóc lại nhiều hơn cười. Còn nhị nguyên là
còn đầy mẩu thuẩn. Mà những cái mâu thuẩn nầy nhiều khi chúng nó lại thảm
khóc hơn gấp trăm lần ngàn lần hơn cái chế độ trước, nên dân chúng sẽ đói
khổ hơn, tham ô và bốc lột dẫy đầy khắp nơi, dân chúng càng rách nát
tơi tả hơn, quê hương sẽ tan thương hơn bao giờ hết, nên tôi khóc cho quê
hương và đồng bào.
Trở về vấn đề của
Đức Phật. Bởi thế Đức Phật thường nhắc nhở Ông A nan: Ông từ nào cho
đến giờ, từ nhiều kiếp sanh tử luân hồi, cũng vì TÂM và MẮT. Nếu không
biết cả hai ở chổ nào, thì không bao giờ hàng phục được phiền não và trần lao.
Phật hỏi: “Tu bồ Đề,
Ông nghĩ sao, Ông có cho rằng Ông thấy được các tướng của Như Lai là
thấy được Như Lai không?
Ông Tu Bồ Đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, không thể cho rằng thấy được các tướng của Như Lai là
thấy được Như Lai. Tại sao vậy? Vì Như Lai đã dạy rằng các tướng của
Như Lai không phải thật là các tướng của Như Lai.
Phật nói tiếp: “ Bất kỳ cái gì có hình
tướng đều là gỉa. Nếu các ông hiểu rằng tắt cả mọi h̀inh tướng đều
không thật, tức là các Ông thấy được Như Lai”.
Vì muôn vật đều do tâm
thức biến hiện chỉ là có giả tướng mà thôi. Vì là giã tướng, nên
tất c̉a sự vật trong vủ tṛu nầy đều không thật. Phật bảo cái gì có
tướng là không thật. Hơn nữa thân nầy, do ngũ uẩn mà thành, nó được
coi là giả, không thật có. Mắt, tai, muĩ, lưỡi, thân đều dính vào
thân, cũng thuộc về tướng, nên cũng được coi là không thật luôn. Thế
nên chúng sanh luôn tưởng chúng là thật. Đó mới sanh ra cái khổ. Vì
tưởng chúng là thật, nên một mặt thì gìn giữ chúng, o bế bằng cách
tẩm bổ băng cao lương mỹ vị, lại còn chạy tiền lo sửa sắc đẹp cho
chúng. Mặt khác, các công năng của chúng như khi chúng thấy, nghe,
ngữi, nếm vv cũng đều cho là thật cả. Mà thật ra, bản chất của
chúng là giả rồi, nên những công năng của chúng cũng giả luôn. Giả
hết mà cứ tưởng là thật hết.
Nên Đức Phật bảo: Ông (A nan) từ nào cho
đến giờ, từ nhiều kiếp kiếp sanh tử luân hồi mãi mãi, cũng vì TÂM và MẮT.
Ông A nan là đại diện
cho chúng sanh, Ông van lại Đức Phật chỉ cho Ông thấy cái chân tâm. Đức
Phật chỉ cho Ông A nan hiểu thế nào là vọng tâm. Ch́ung ta xem sự gạn
hỏi của Ông và sự trả lời của Đức Phật, để cùng nhau học hỏi
Giai đoạn
1- Tâm trong thân.
A nan liền chỉ Tâm ở
trong thân. Và Đức Phật dùng “trong và ngoài” để chỉ dạy A nan hiểu
về tâm. Khởi đầu bằng cái thấy trước. Thấy là nhờ mắt. Còn Tâm là
ở trong thân.
A nan thưa: “Bạch thưa Đức
Thế tôn: Mắt thì ở trên mặt, còn tâm thì ở trong thân.
Phât bảo: "Ông ngồi trong
giảng đường, thì Ông thấy cái gì trước? Và nhờ đâu Ông thấy được cây cối ở ngoài
vườn."
A nan: "Bạch thế tôn,
Trong giảng đường con thấy Phật và chư tăng. Khi cửa mở, nhìn ra ngoài, con thấy
cây cối và cảnh vật bên ngoài”.
Phật hỏi: "Có ai ngồi trong
nhà, trước không thấy cảnh vật trong nhà, mà lại thấy đươc cảnh vật bên ngoài
không?"
A nan thưa: "Dạ không."
Phật bảo: "Tâm Ông cũng
thế. Nếu thật Tâm ở trong thân Ông thì ông thấy nào là tim, gan, ruột, phổi, máu
chuyển động ở các mạch bên trong, rồi sau đó mới thấy cảnh vật bên ngoài. Cũng
như người ngồi trong giảng đường, trước hết phải thấy Phật cùng chúng tăng trong
giảng đường trước hết, rối sau đó, ngó nhìn ra ngoài mới thấy sông núi cây rừng
vv..."
(Từ
cái lý luận dùng trong mà chứng minh, đưa đến kết luận là Tâm không ở
trong thân).
Phật bảo:
"Vậy, có ai thấy tim, gan, ruột, phổi ở trong thân rồi sau mới
thấy các vật ở bên ngoài không? Không.
Nến Ông nói
cái tâm ở trong thân thì vô lý."
Giai đoạn 2- Tâm ở
ngoài.
A nan sau khi bị bác,
liền cho rằng tâm ở bên ngoài. Tại sao lại ở bên ngoài? A nan ví dụ
như cây đèn để bên ngoài, thì tất cả bên ngòai đều sáng bên ngoài mà
lại không thấy bên trong.
A Nan bạch Phật: “Theo lý
luận trên con hiểu thì TÂM ở ngoài thân. Vì nếu TÂM ở trong thân thì làm sao con
thấy cảnh vật bên ngoài mà lại không thấy các vật bên trong. Vì như cái đèn đốt
ở ngoài nhà nên chẳng sáng trong nhà. Cái nghĩa nầy là đúng rồi. Vậy TÂM ở
ngoài thân.
Phật bác như sau: Nếu
cho Tâm là ở ngoài thì tại sao Ông không thấy con mắt hay cái mặt của
Ông? Nếu Tâm là ở ngoài thì có hai việc xãy ra: Khi mắt thấy, thì Tâm
Ông biết, như vậy cái Tâm ở ngoài chạy vào trong thân? Trái lại, nếu
đánh thân Ông nơi vai ph̉ai, thì Tâm Ông phải không biết, nhưng tại sao Ông
lại biết đau? Như vậy Tâm Ông không thể ở ngoài. Còn nếu, mắt Ông vưà
thấy, Tâm Ông liền phân biệt, như vậy Tâm không thể ở ngoài được. Kết
luận, Tâm không thể ở bên ngoài. Kết luận: Tâm ở ngoài là không đúng.
Giai đoạn 3: Tâm núp
trong con mắt đeo gương.
Phật hỏi Ông A nan: Ông
A nan cho Tâm núp trong con mắt, như mắt người đeo gương vậy.
Phật hỏi Ông: Nếu
người đeo gương thì nhìn thấy được cảnh vật, và cũng thấy luôn cái
gương nữa, còn Tâm của Ông sao lại không thấy được ch́inh con mắt hay
gương mặt của Ông? Nếu Tâm Ông lai thấy được con mắt Ông thì con mắt Ông
là cảnh bị thấy, thì con mắt Ông ḷai ở ngoài thân Ông. (Tại sao? Trong
Duy thức học có giải thích: Khi căn đối với trần, hay nhãn căn đối
với Sắc trần thành nhãn thức, thì con mắt là trần gọi là cái bị
thấy, cái bị thấy đó lại ở ngoài thân). Như vậy không được. Hơn nữa,
nếu Tâm Ông ở ngoài, khi Ông vừa thấy, Ông liền phân biệt, thì làm gì
có Tâm ở ngoài con mắt. Như vậy cũng không được. Thế là lại bị Phật
bác.
Giai đoạn
4: Tâm ở trong thân.
Bị bác hết, A nan liền
cho rằng Tâm ở trong thân. Tại sao cho rằng Tâm ở trong thân? Vì khi nhắm
mắt lại thấy tối.
Phật lại hỏi: Khi Ông
mở mắt có thấy Cảnh tối đó ở trước mắt Ông hay không? Nếu có thấy
cảnh tối đó trước mắt sao lại nói nó ở trong thân? Nếu cho rằng ở
trong, sao Ông không thấy ruột gan Ông? Còn mở mắt, lại nhờ các thất
huyệt hay giác quan trống mà thấy ngoàì thân? Nếu ở ngoài thân, vậy
sao Ông không thấy cái gương mặt của Ông? Nếu nó ở ngoài, khi Ông mở
mắt ra, khi Ông thấy gương mặt của Ông thì Tâm Ông liền biết, như thế
Tâm và con mắt Ông ph̉ai ở ngoài Ông. Như vậy mắt và Tâm của Phật đang
nhìn Ông lại cũng là của Ông sao? Như vậy không được. Hơn nữa, khi thân
Ông biết thì con mắt Ông phải không biết, vì Tâm nó ở ngoài thân? Còn
khi thân Ông biết thì con mắt Ông cũng phải biết, vì Tâm nó ở trong
thân? Như vậy Ông có hai cái Tâm? Và nếu tu chứng qủa thì thành hai vị
Phật? Như vậy thấy tối là thấy ở trong thân là không đúng.
Giai đoạn 5: Tâm ở
chổ h̀oa hợp.
A nan liền viện cớ, nay
không cho Tâm ở trong, ngoài, hay chặn giữa mà lại vịnh vào lời dạy
của Đức Phật, choTâm ở chỗ có hoà hợp. Cái suy nghĩ đó là tâm, được
gọi là năng suy. Phật hỏi, nếu cho rằng hòa hợp chỗ nào thì Tâm ở
ngay chỗ đó. Như vậy là tâm không có thực thể. Nếu không có thực thể
thì làm sao mà hoà mà hợp? Nếu tâm Ông có thực thể, thì có hai
việc: nếu lấy tay đánh bên mặt của Ông, Ông thấy đau, thì cái đau đó
l̀a do là do Tâm Ông ở ngoài hay ở trong chạy tới: a- Nếu ở trong, tại
sao tâm lại không thấy ruột gan của Ông? b- Nếu ngoài tại sao nó không
thấy gương mặt của Ông?
A nan chưa chịu thua,
lại biện luận: Con mắt thì dùng để thấy, còn Tâm thì để biết, vậy
sao Đ́ưc Phật nói là Tâm thấy? Phật hỏi A nan:
Khi người chết, con mắt
họ mở trao tráo, sao họ lại không thấy? Nếu họ thấy thì tại sao bảo
họ chết? Còn nếu cái tâm biết có hai trường hợp: nếu tâm là một
đồng nhầt thể, khi đánh một cái, thì cái đau đó khắp thân đều biết,
cái đau không có chổ nhất định, ví dụ như, đánh nơi đầu thì khắp cả
thân đều đau, nếu cãm thấy đầu đau hơn hết là sai, nếu cái đau đó chỉ
hiện ra nơi chổ bị đánh, thì cái tâm gọi là đồng nhất thể, ở khắp
cả thân là không ph̉ai. Còn nếu, cho Tâm Ông là nhiều thể, thì có
nhiều người, vậy người nào là Ông? Cái tâm nào là tâm của Ông? Hơn
nữa, nếu tâm Ông ở khắp thân thể, khi đánh đầu và chân cùng lúc, thì
đầu đau mà chân không đau, hay chân đau mà đầu lại không đau, đàng nầy
cả hai đều đau hết. Tại sao? khi đụng ở đâu, thì tâm chạy đến nơi mà
tạo sự phân biệt. Như vậy tâm ở chổ hoà hiệp là không đúng
Giai đoạn 6: Tâm ở
chặng giữa?
A nan lý luận: Nếu Tâm ở
trong thân, sao chẳng biết đươc vật bên trong? Lại bị bác. Còn tâm ở bên
ngoài, thì sao tâm chẳng biết mặt nhau, nên nghĩa ở ngoài cũng không đúng.
Cũng bị bác. Nay vì thân tâm biết nhau và lại cũng không thấy đươc bên trong,
nên con chắc là tâm ở chặng giữa.
Phật hỏi: Ông hãy xác
định chổ giữa la chổ nào? Ở một bên, thì không phải là ở giữa. Còn
ở chính giữa thì là ở trong. Mà ở trong thì đã bàn rồi, là sai.
Nếu ở cảnh ngoài, thì ở giữa là giữa như thế nào?
A nan bạch Phật: Con nghe
Phật cùng với Ngài Văn Thù và các vị Pháp Vương luận bàn về nghĩa “thật tướng”
(chơn tâm), Phật dạy rằng: “Tâm chẳng ở trong và cũng chẳng ở ngoài”. Theo con
suy nghĩ: Nếu Tâm ở trong thân, sao chẳng biết đươc vật bên trong? Còn tâm ở bên
ngoài, thì sao tâm chẳng biết nhau, nên nghĩa ở ngoài cũng không đúng. Nay vì
thân tâm biết nhau và lại cũng không thấy đươc bên trong, nên con chắc là tâm ở
chặng giữa.
Phật dạy: Ông nói “tâm ở
chặng giữa”, vậy cái “chặng giữa” đó ở chổ nào? Phải có nhất định rõ ràng, ở nơi
thân hay ở nơi cảnh? Nếu ở nơi thân thì ở một bên hay ở giữa? Nếu ở một bên thì
không phải ở giữa, còn ở chặng giữa thân, thì đồng với ở trong thân, như đã nói
trước. Nghĩa là: tâm phải thấy tim, gan, phèo, phổi ở bên trong trước. Còn như ở
về cảnh, thì có thể nêu (cái giữa) ra được, hay không nêu ra đươc?. Nếu không
nêu ra đươc, thì đồng như không có; còn nếu nêu ra đươc, thì không thể nhất định
chỗ nào là chặn giữa. Vì sao? Như người ta lấy cây nêu cắm ở chính giữa, nếu
người ở phía đông thì xem cây nêu ấy ở phía tây, còn người ở phái nam thì xem
cây nêu ấy ở phia bắc. Cái cây nêu đó đã không nhứt định chỗ nào là chặng giữa,
thì tâm của Ông cũng phải lộn lạo không định.
A nan thưa: Con nói”chặng
giữa” không phải hai chỗ ấy. Như Phật thường dạy: “Con mắt đối với sắc trần,
sanh ra nhãn thức”. Một bên con mắt thì có phân biệt, một bên sắc trần lại không
phân biệt, cái thức sanh chặng giữa, đó là chỗ của tâm.
Phật dạy: ông nói “Tâm
Ông sanh ở chặng giữa căn và trần” hay không gồm cả hai. Nếu gồm cả hai, thì căn
với cảnh lao lộn (căn không thành căn, cảnh không thành cảnh; vì vừa biết lại
vừa cũng không biết), song trần cảnh thì không có tri giác, còn căn thì có tri
giác, hai bên đối lập riêng khác, vậy lấy chỗ nào làm chỗ giữa. Còn như không
gồm cả căn và cảnh, thì tâm không thật thể. Vậy lấy cái gì làm chặng giữa? Thế
nên phải biết: ông nói “tâm ở chặng giữa” cũng sai.
Giai đoạn
7. Chấp cái “không trước” làm tâm.
Ông A Nan thưa, Phật có
dạy rằng: “ Cái tâm hiểu biết phân biệt, không ở trong thân, không ở
ngoài thân, không ở chặng giữa, không ở chổ nào cả; “ không dính mắc
(vô trước) tất cả” đó gọi là tâm”. Vậy con lấy cái không dính mắc đó
làm tâm. Chẳng biết có được hay không?
Phật dạy” Ông nói lấy
cái “không dính mắc tất cả” làm tâm. Vậy ta hỏi Ông, tất cả các vật
trong thế gian, nào là hư không, thế giới vv..Vậy các vật tượng ấy có
mà Ông không dính mắc hay là không có mà Ông dính mắc? Nếu các vật
ấy không có, thì cũng như lông rùa, sừng thỏ, nó đã không, thời có
gì mà dính mắc. Còn nếu có cái dính mắc” thì không thể nói rằng”
không dính mắc được. Vì cái gì không có hình thì không, còn cái gì
có hình tướng là có; nếu có hình tướng thì phải bị “dính mắc”.
Thế nên ông nói: “không dính mắc tất cả là tâm” cũng không phải.
Kết luận:
Tại sao bảy lần A nan
thưa với Đức Phật để chỉ cái chân tâm thì bảy lần đều bị bác, bảy
lần tất cả không phải là chơn mà chỉ toàn là vọng tâm. Vì Ông A nan
cũng như chúng sinh chúng ta, vì đang sống trong vọng, và vì chưa ngộ
được cái bản tánh chơn tâm thì nói bất cứ điều gì, nói bao nhiêu lần
cũng đều sai bét hết.
Trong kinh Lăng nghiêm,
Ông A nan đóng vai trò của chúng sanh, là chúng sanh thì khi khởi lên
ṃ̉ôt điều gì, thì cái khởi đó toàn là vọng tưởng. Vọng tưởng có
là do vô minh mà ra. Vô minh là đầu mối của tham sân si... Vì vô minh,
nên chúng sanh thì luôn tìm cách chạy quanh co, tráo trở, lương lẹo,
lấp liếm, gian tham, muốn vơ hết đem về mình, tất cả muôn phương bách
kế mà kết qủa rồi cũng sai.
Chuyện xãy ra tại Ấn
độ xa xưa như vầy: Tại thủ đô Ấn độ, Ông phó chủ tịch thủ đô, năm tới
là về hưu, nên năm nay Ông lương lẹo và làm gấp, nhơn cơ hội chỉnh trang
khu công viên thủ đô, Ông không lo chỉnh trang, mà lại khai quang một số
nhà dân ở hai bên nhà Ông ở trong hẽm cụt, làm nhà Ông có được hai
mặt tiền, có đường lộ thênh thang hai bên, và làm cho giá cả căn nhà
tăng gấp 2000-4000 lần giá cả thị trường thời đó. Đó là cái khởi
của chúng sanh, nghiã là mọi cái nghĩ suy đều là lương lẹo, tráo
trở.
Quan trọng ch́inh là
Tâm. Vì có tâm nên mới có sự d́inh dấp, đắm trước, dính líu, mưu toan,
tráo trở. Chỉ cỏ Tâm là nguồn gốc mọi tội lỗi. Sở dĩ Đức Phật nói
nhiều và quy lỗi là do cái tâm. Đó là vọng tâm. Khi vọng tâm dứt, thì
chơn tâm hiển lộ.
Con người với các đức
tính tốt thì sẵn có. Nhưng làm sao tiêu diệt các tham sân si vv trong
con người thì không phải là dễ và đơn giản. Đó là dụng công nhờ tu
đức để diệt trừ mọi phiền não.
Nói một cách để hiểu
rõ ràng hơn: Tâm ta gọi là nước, còn Thức ta gọi là sóng. Sóng thì
luôn thay đồi, lúc sóng ba đào, lúc sóng gợn lăng tăng, khi có gió nổi
lên. Gíó đây lại cũng được hiểu thêm là gió tham, sân, si, hỉ, nộ,
ái ,ố vv.. những thứ gió nầy hiện diện trong ta hoài hoài, từ người
dân chất phát cho đến các lãnh tụ, các thủ trưởng. Nên thức biến
thành sóng gầm thét hoài hoàì trong ta đầy sóng gió, như biển động,
thì nó được hiểu là vọng Tâm. Còn vọng tâm là còn cái phù vân ảo
hóa bao trùm chúng sanh ngụp lặn trong biển trầm luân khổ ải.
Đức Phật chỉ cho Ông A
nan về chơn tâm, thứ tự dựa vào thứ tự t́inh tình của chúng sinh diển
biến theo vọng chấp của họ. Tất cả bảy giai đoạn cật vấn về Tâm là
bảy giai đoạn làm cho Ông A nan cùng đường bí lối. Rồi Đức Phật mới
bắt đầu từ từ chỉ đâu cái chơn Tâm. Trước hết, gợi ý các giác quan
về trực gíác như tai nghe mắt thấy là tâm. Rồi khi Ông A nan hay chúng
sinh hiểu rỏ, Đức Phật nâng lên một cấp cao hơn. “ Các giác quan không
phải là vọng mà cũng không phải là chơn tâm, chúng là mặt trăng thứ
hai nhưng chưa phải là mặt trăng. Rồi Đức Phật chỉ bản thể sinh ra
giác quan, ấy thật là chơn tâm.
Nghiã là Phật dạy ta
tìm thể tánh của cái Thấy để ta thấy cái chơn Tâm của ta.
Bùi Thế Trường
Noel 25-12-06
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |