|
A.
Khái-niệm và định-nghĩa.
1. Khái niệm.
Diabetes được hiểu như thế nào? Đó là một sự xáo trộn mà
nguyên do là có quá nhiều đường trong máu. Tại sao như vậy? Là vì các tuyến nội
tiết (endocrine) có nhiệm vụ tiết ra một chất kích thích tố (hormone) quan trọng
được gọi là insulin, nay lại không còn họat động nữa hay họat động quá yếu nên
không đủ sức cung cấp chất insulin, nên hàm lượng đường trong máu trở thành cao.
Sự việc chỉ có thế nhưng lại lắm điều rối rắm.
Về chử nghĩa thì diabetes là gi? Đó là từ do tiếng Greek mà ra,
diabetes là “to pass hay to flow through” nghĩa là qua hay
lưu lượng
trôi qua, còn
mellitus là sweet hay honey là ngọt. Vậy có thề hiểu là chất ngọt là đường theo
máu mà lưu chuyển đi trong châu thân. Máu đi đâu thì đường theo tới đó.
Còn cái nghĩa thứ hai
là khi đi tiểu mang theo một số đường tống xuất ra ngoài mà người
mình thường gọi là kiến bu. Còn insulin là gì? Là kích thích tố do tụy tạng
tiết ra thích ứng với lượng đường có trong máu, lượng đường nhiều thì tiết ra
nhiếu, ít thì tiết ra ít. Tiết ra để làm chi? Để dẫn lượng đường lang thang đây
đó qua các màng tế bào mà lưu giữ lại trong gan chẳng hạn, để khi cần thì cho
vào máu hoặc làm nguồn dự trử năng lượng. Nếu không có insulin thì đường không
thề nào qua các màng lọc được của tế bào (cell membrane) để vào kho dự trử; nói
một cách khác đường không thể xâm nhập lâu vào biên giới được. Insulin có thể
hiểu như Visa hay Passport vây, mà đường có nhiệm vụ trình cho các trạm gát nơi
các màng lọc (cell membrane) đây là giấy passport “insulin” chứng nhận đây, để
được vào nghỉ ngơi trong gan, làm “lữ đoàn trừ bị” tác chiến.
Nếu đường
không thể qua các tế bào (cells) nơi gan một cách bình thường, thì được coi là
bịnh, là có đường trong máu cao, mà danh từ chuyên môn gọi là
hyperglycemia or hyperglycaemia
(e hay ae).
Đo lượng đường trong máu lại thay đổi “scale” tùy theo mỗi nước.
Tại Úc, tỷ lệ đừơng trong máu được tính làm 2 phần: lúc chưa ăn và lúc sau khi
ăn. Lúc chưa ăn, đường ở vào khỏang an toàn là 4.0-6.0 còn sau khi ăn, đường có
vào khỏang 4.0-7.7. Trong 2 giới hạn, lượng đường như vậy gọi là thiết yếu và an
tòan cho sức khỏe. Nhiều hơn thì sinh ra bịnh tiểu đường. It đường hơn, thì tay
chân run rẩy, đói cào, mồ hôi tóat ra. Sau khi ăn thì lượng đường cao hơn khi
chưa ăn là vì do thức ăn được biến thành ra đường. Đi khám BS lấy máu để đo
lượng đường, thường lấy vào lúc chưa ăn, để biết lượng đường một cách rõ
ràng hơn lúc sau khi ăn, vì không ai biết mình đã ăn thứ gì vào bao tử mà đường
lại cao như thế.
2-Chu kỳ di chuyển của đường.
Đường trong máu khi qua thận sẽ được lọc đi và được tái hấp thụ
lại (reabsorbed) qua các ồng tiểu quản (tubule) của thận. Tuy nhiên , vì đường
trong máu quá nhiều do bởi tiểu đường mà ra nên khả năng tái hấp thụ đường của
thận quá tải, nên không hấp thu lại hết, nên lượng đường theo nước tiểu mà ra
ngoài. Vì thế, người ta gọi là glycosuria, nghĩa là có một số lớn đường
bất thường trong nước tiểu, vì có một số lớn đường trong nước tiểu, nên có cái
hiện tượng là đi tiểu với một thể tích lớn, gọi là polyuria. Tại sao?
Hiện tượng trên có thể hiểu qua sự thẩm lọc của nước tiểu (osmotic diuretic).
Trong hổn hợp nước và đường chẳng hạn, nước được thẩm thấu qua màng trước tích
tụ nơi bọng đái và được tiểu ra ngoài, thì cơ thể sẽ mất nước gọi là
dehydrate. Khi cơ thể mất nước, thì lượng đường sẽ tăng lên, khi lượng đường
tăng lên trong hổn hợp nước và đường thì nước bị đẩy xuyên qua màng lọc để tống
ra ngoài nơi bọng đái. Vì thế nên cơ thể thiếu nước, vì thiếu nước nên khát goi
là polydipsia. Vì khát nên cần nhiều nước để uống, và uống nước vào với
một số lượng lớn. Vì sự hấp thụ lại về đường của thân lại quá tải, nên đường
cũng theo nước tiểu mà thóat ra ngòai. Vì thế tiểu nhiều với số lượng nước tiểu
cũng nhiều và trong nước tiểu lại có đường.
Tóm lại, diabetes được thấy rõ ràng là
uống nhiều nước và đi tiểu nhiều lần mà mỗi lần đi với một số lượng nước tiểu
lại cũng nhiều
Còn rắc rối thêm nữa. Chưa hết. Khi trạng thái mất nước trong cơ
thể hiện ra, liền kéo theo lượng đường trong máu tăng lên, làm tăng thêm hiện
tượng thẩm thấu. Vì lượng đường trong máu qúa nhiều, mà thận không tái giữ lại
qua sự tái hấp thu, nên đường theo nước tiểu liền được tống ra ngoài. Vì bị tống
ra ngoài, nên đường bị mất mà cơ thể cần năng lượng để họat động, để đốt cháy,
nên cần nhu cầu là ăn để có nguồn năng lượng, thế nên luôn cảm thấy đói liên tục
gọi là polyphagia.
Vì thế, bị bịnh tiểu đường cần được chăm sóc chuyên biệt về số
lượng đường tháo ra ngoài theo nước tiểu (glucosuria) và thêm cả ba thứ
gọi là three polys:
polyuria (tiểu
nhiều
lần)
mà mỗi lần
với
lượng nuớc tiểu nhiều), polydipsia (khát)
nên
uống nước rất nhiều
và
polyphagia (đói liên tục)
nên ăn cũng rất nhiều.
3- Định nghĩa insulin.
Insulin
là một protein tiết ra bởi tế bào beta của tiểu đảo Langerhans trong tụy tạng,
có vai trò quan trọng trong viêc điều hòa đường trong máu. Nồng độ đường trong
máu khi lên cao sẽ kich thích sự phân phối và tiết ra chất insulin. Tế bào nầy
tiết ra ngoài insulin lại còn tiết ra glucagon nữa vào máu. Chất insulin nầy
khi được tách ra và được kết tinh lại thì thấy rằng nó chứa nhiều phần tử nhỏ là
kẽm zinc mà zinc thì đươc thấy rất nhiều trong các tế bào của tụy tạng.
Ngoài ra cũng thấy một số ít chất chromium, chất nầy lại cũng cần thiết
cho sự tổng hợp của insulin. Người ta thấy rằng hàm lượng của chromium trong cơ
tể con người lại giãm đi theo tuổi thọ. Càng già thì chromium càng ít. Mà
protein thì gồm có nhiều amino acid liên kết lại với nhau nên có tên gọi là
peptide linkage hay peptide bond.
-
Khi mà 2 amino acids hợp lại thì gọi là dipeptide. Khi 3 amino
acids hợp lại thì gọi là tripeptide. Khi 4 hay nhiều hơn nữa amino acids hợp lại
thì được gọi là polypeptide.
-
Bây giờ lấy 2 amino acids hợp thành mà coi thế nào? Nó gồm
glycyl và alanine. Trường hợp nầy có hai cách hợp thành khi thì
glycyl-analine hay alanyl-glycine. Để ý rằng vế đầu của sự hợp lại đó có
gốc OH là acid mà ra.
-
Còn như xét 3 lọai amino acid khác nhau như glycine, alanine
và valine thì sự hợp thành của chúng có từ 3 đến 6 cách hợp thành như sau:
1-
Glycyl-alanyl-valine (gly-ala-val)
2-
Glycyl- valyl-alanine (gly-val-ala)
3-
Alanyl- glycyl-valine (ala-gly-val)
4-
Alanyl- valyl-glycine (ala-val-gly)
5-
Valyl-glycyl-alanine (val-gly-ala)
6-
Valyl-alanyl-glycine (val-ala-gly)
Proteins gồm có một số chuỗi peptide nối với nhau và một số có
thể hợp thành lại gồm nhiều loại amino acids để thành protein tùy theo tên gọi.
Ví dụ như insulin do chuỗi peptides nối lại với nhau. Nó có hai chuỗi: Chuỗi A
có 32 amino acids và chuỗi B có 30 amino acids. Hai chuỗi nầy nối với nhau bằng
hai cầu nối sulphide S-S (xem hinh). Lại nữa, khi bị thủy phân (hydrolyse) bởi
acid, base hay enzyme (diếu tố) thì nó cắt dứt ra nhiều phần nhỏ, nhiều đơn vị
nhỏ, cho đến đơn vị đầu là amino acids. Cũng thế khi chúng hợp lại, dười sự ảnh
hưởng của enzyme nào đó, đầu tiên hợp thành dipeptide, đến tripeptide, rồi đến
polypeptide và so on cho đến khi nào nó thành hình một protein mà một phân tử
của nó gồm có một số lớn trọng lượng phân tử (molecular weight) mà thành. (xem
h)

(Ghi chú: Cấu trúc insulin của con người. Ghi nhận rằng nó nối
nhau bằng disulfide bridges (S-S) giữa 2 cys nhóm. Nếu chặt đứt disulfide nầy đi
thì insulin nầy không còn nữa.
|
Insulin
nối bằng nối disulfide (S-S) |
|
 |
|
(Source: Lubert Stryer, 2004) |
 |
|
(Sự
thủy phân của protein) |
Insulin là một protein vi thế nó không thể nào tiêu thụ qua ngả
miệng vì bị tiêu hóa khi khỏi cửa đó. Vì mọi thứ protein đều bị tan biến một
phần nơi bao tử do hydrochloric acid và pepsin. Tại nơi tá tràng (duodenum) là
một phần ba ruột non, mà nó nhận mật từ túi mật và dịch tụy từ tụy tạng, mà
trong thành của tá tràng co rất nhiều tuyến kể cả tuyến Brunner tiết ra dich
tràng, ta thấy có những thứ như trypsin, chymotrypsin và carboxypeptidase do
pancrease tiết ra và một phần là do sự hủy họai của protein cho ra polypeptides,
dipeptides va amino acids. Tất cả các phân tử trên đều vào hồi tràng (ileum) là
phần thấp nhất của 3 đọan ruột non, và không tràng (jejunum) là một phần ruột
non, chiếm khỏang 2/5 chiều dài ruột non, nối liền tá tràng và hồi tràng, để
được đồng hóa (assimilaton). Thế nên insulin nên được chích dưới da mà thôi.
Người bị bịnh có thể chích insulin 2-3 lần trong ngày. Tuy nhiên insulin nếu hợp
với prolamine (cũng là một protein) được gọi là prolamine–zinc insulin
thì nó được hấp thụ chậm và có hiệu lực trong 24 hrs. Nên nó đươc chích 1 lân
trong ngày. Thêm nữa, một kich thích tố khác là somatostatin được dùng
với insulin hay dùng chính nó thôi thì công dụng là ngăn chận sự phóng thích
glucagon, một kich thích tố mà nó giữ cho đường trong máu được cao.
Vấn đề đặt ra là cấ trúc insulin của những loài động vật có vú
(mammalian species) khác với cấu trúc insulin của lòai người ở chổ nào? Điều đó
cũng giải thích là ta ít dùng insulin của các động vật có vú dùng thay cho người
đươc (W.F Ganong, 2004). Sự khác nhau, nếu so sánh với insulin của con người,
được nhìn thấy sau theo bản dưới đây. Nói chung thì 40% giống nhau, còn khác
nhau ở các vị trí 8,9,10 và 30 và tên của các amino acids (Katzung, 2000)
Sự thay đổi chuổi cấu trúc amino acid của
con người.
|
Chủng lọai |
Chuổi A các vi
trí
8 9 10 |
Chuổi B các vi
trí
30 |
|
Heo,chó,tinh dịch
cá voi
Thỏ
Gia súc(trâu, bò
ngựa, dê
Trừu
Ngựa
Sei whale |
Thr-Ser-Lie
Thr-Ser-Lie
Ala-Ser- Val
Ala-Gly- Val
Thr-Gly-Lie
Ala-Ser-Thr |
Ala
Ser
Ala
Ala
Ala
Ala |
(Source W.F
ganong, 2004)
Theo W.F Ganong, (2004) thì hơn 80% insulin được tiết ra từ thân
và gan đều là insulin bị thoái hóa. Nửa chu kỳ sống của insulin mà sự luân
chuyển trong con người khoảng 3-5 phút phù du ngắn ngủi. Chúng bị hủy trong các
endosomes rồi hợp lại nhờ tiến trình gọi là endocyotic. Cái enzyme chính yếu
trong sự hợp thành nây lá insulin protease, mà enzyme nầy có trên các màng các
tế bào đóng vai trò chủ lưc của insulin. Còn enzyme thụ thể (receptor) là các
enzyme phản ứng ngay khi có sự thay đổi trong môi trường và gây nên các xung lực
trong hệ thần kinh cảm giác, được thấy trên nhìều tế bào của cơ thể mà trong đó
các kích thích tố làm tăng thêm lượng glucose nhân vào. Nên hầu hết các tế bào
trong châu thân đều được trao đổi insulin.
Theo
Lubert Stryer, (2004) thì sự tiết ra insulin là do tế bào beta của tụy tạng (xem
h) khi nó được kích thích bởi sự hiện diện của glucose và do hệ thống thần kinh
giao cảm. Nói một cách khác, insulin cho tín hiệu của trạng thái cần được cung
cấp thức ăn cho cơ thể, bằng cách kích thích nguồn năng lượng tồn kho và sự tổng
hợp của protein dưới nhiều phương cách khác nhau. Cái hormone làm tăng tiến loại
phosphore là chìa khóa cho các enzymes trao đổi lẫn nhau. Một kết quả hiển nhiên
là nó kích thích sự tổng hợp của glycogen cho cả hai: bắp thịt và gan, và ức chế
đè nén gluconeogenesis do gan.
|
Cấu trúc
Không gian 3 chiều của insulin |
Insulin
trong beta tế bào của tụy tạng |
Insulin
còn tàm tăng thêm glycolysis trong gan, và chất nầy đóng vai trò làm tăng sự
tổng hợp của acid béo. Đưa glucose vào các bắp thịt và kích thích tế bào của
chất béo đều là do insulin tác-động. Sở dĩ có nhiều chất acid béo và glucose
trong tế bào chất béo mà kết quả là do sự tổng hợp và tồn trử triacylglycerols
mà ra. Và insulin còn tác động luôn cả amino acid và sự biến đổi của protein.
Insulin thăng tiến tác động lên nhánh của chuổi amino acids như (valine, leucine
và isoleucine) nơi các bắp thịt và làm nở nang bằng cách xây đấp protein của bắp
thịt. Thật vậy, insulin còn kich thich hiệu quả tác dụng của sự tổng hợp của
protein. Thêm nữa, nó còn ức chế sự suy thoái protein trong các nội bào
(intracellular degradation of protein
Katzung, (2000) thêm rằng trong tế bào B (B cells) của tụy tạng
dùng để dự trử insulin thì có một tinh thể trong đó có 2 nguyên tử zinc và 6
phân tử insulin. Tòan bộ tụy tạng trong cơ thể con người cò tới 8 mg insulin và
nó đại diện cho trên 200 đơn vị sinh học.
Trong cơ thể thì thận và gan là 2 cơ quan thu nhận insulin vào
trong vòng luân chuyển của nó. Gan, trươc hết, thu nhận hết insulin từ tụy tạng
vào gan khoảng 60%, còn kidney thì hấp thụ khoảng 35-40% kich thích tố nôị tại.
B- Tại sao cần phải có đường trong máu?
Một câu hỏi khá nhức đầu. Tai sao trong máu lại có đường ở trong
các giới hạn an tòan đó? Đường trong máu như thế đó để làm gí?
Hơn 90% là dành cho não bộ. Đường có trong máu dùng để cung cấp
bộ óc của con người một nguồn năng lượng để họat động, điều khiển, suy nghĩ,
tính tóan, mưu toan, đào thóat, dọa nạt, chèn ép, ăn cắp tiền bạc, kể cả tiền
viện trợ của Quốc tế, bán người để kiếm huê hồng, trăm trăm ngàn kế.. và tốt đẹp
nhất là quán niệm về Bát Nhã để hiểu cái không, tánh không, và Chơn như, cho
suốt cả một kiếp người. Còn Oxy là nguồn cung cấp cho các tế bào nõa bộ sống và
phát triển. Nói đến não bộ là nói đến nguồn cung cấp năng lượng hay lương thưc
cho não bộ họat động là phải nghĩ ngay cái tường thành ngăn chận mọi sự xâm nhập
vào não, và bảo vệ não một cách một cách rất nghiêm túc: những cái nào được vào
não và những cái khác không được léo hánh tới. Theo Thibodeau and Patton, (2005)
thì bức tường thành đó gọi là three BBB (Blood Brain Barrier) giúp để bảo vệ bộ
não được an toàn, để não bộ được họat động một cách bình thường. BBB có một bức
tường mao mạch (capillary wall) là các mạch máu vô cùng nhỏ có đường kính vào
khoảng 5-20 µm. Mao mạch nầy tạo thành một mạng lưới trong hầu hết các mô, nó
được cung cấp máu từ các động mạch nhỏ và được chảy đến các tỉnh mạch nhỏ. Còn
thành mach thì có một tế bào có chiều dầy mà nó được trao đổi: nước, oxygen,
carbon dioxide và glucose được phép qua một cách dễ dàng. Oxygen mang
oxy vào để cho các tế bào sống và phát triển và thải Carbon dioxide ra. Glucose
là nguồn năng lượng cho óc họat động bất tân. Điều nầy cũng giải thích khi người
bị bịnh tiểu đường lúc lượng đường xuống thấp, nghĩa là lúc tay chân run rẩy, mồ
hôi tóat ra vì đói, thì nên kiếm nhai vai cục kẹo vào là sau đó cảm thấy dễ chịu
ngay. Tuy nhiên rất ít và hiếm, các molecules chất béo hòa tan như alcohol thì
lan tràn qua màn chận nầy dễ dàng. Có lẽ các lính gát nơi tường thành bị say sưa
nên chúng vượt biên vào được? Còn các ions như sodium Na+ hay
potassium K- mà sự hiện diện của nó có thể phá vở hết sự truyền đi
của hoạt động điện trong màng một nơ ron gọi là xung lực thần kinh (disrupt the
transmission of nerves impulses). Đó là lý do tai sao bịnh tiểu đường nên cử ăn
mặn vì lý do nầy.
Còn lý do
khác là tension hay high blood pressure thì sẽ hiểu sau.
Tuy nhiên, Ganong, (2004) đã tính tóan kỹ hơn cho biết: oxygen
tiêu thụ vào não trung bình +3.5 ml/100g bộ óc hay trung binh 49 ml/ cho toan
thể bộ não. Còn carbon dioxide thải ra -3.5 ml/100g bộ óc hay trung bình là
-49ml/ cho toàn thể bộ não (xem table). Trong não có nhiều hạch (ganglia) là một
tập hợp té bào thần kinh, nên tiệu thụ oxygen cao nhất và nhiều nhất. Hiện tượng
gọi là Pakinson’s là bịnh giãm hay thiếu oxy trong mô
kinh niên (chronic hypoxia). Còn thalamus (đồi não) và ụ não (colliculus)
thì rất ảnh hưởng mạnh khi mô bi hư (hypoxic damage) vì thiếu oxy.
|
Blood
Brain Barrier (BBB) |
 |
|
(source:G.A. Thibodeau and K.T. Patton, 2005)
|
Chỉ có: nước, Oxygen, CO2 và glucose là vào và ra nảo
bộ. Còn Dopamine dùng trị bịnh Pakinson, thì cũng không được qua BBB, dù cho
chich hay uông đều không hiệu quả. Tuy nhien levodopa (l-dopa) thì qua được BBB,
và biến thành dopamine, mà hiệu quả thì kém hẳn đi chất dopamine)
Thế nên, có những bịnh do não mà ra, nên việc uống thuốc có liên
quan đến não phải chứng minh rằng thuốc đó vượt qua bức tường thành. Nếu không
thì đó cũng chỉ là một mơ tưởng hay chỉ nói lên điều ba hoa rổng tuếch, của kẻ
có quyền. Thuở trước, một thời tai Vietnam, rằng “xuyên tâm liên” nguồn gốc từ
Tàu, nó trị bá bịnh nào là trụ sinh giết mọi vi trùng như: lao, lậu, giang mai
vv, nào là trị đau nhức, nào lở lóet, nào ung thư, còn chuyên cảm cúm, sổ mủi
nhức đầu, chóng mặt là nghề tay trái của nó. Trị cả bịnh liên quan về nảo bộ thì
tuyệt cú mèo, là nghề tay mặt. Cả nước và cả chính phủ bỏ tiền trồng khắp nơi,
khắp nước. Ai dám nói đó “toàn là “đồ” tào lao” là
có vấn đề.
Gớm thật!
C-
Chẩn đoán để trị bịnh
(Medical diagnosis treatment)
Trong bài
1, nói về nhưng triệu chứng mà hầu hết người bịnh tiểu đường nhận thấy không cái
nầy thì cũng cái nọ nơi chính họ, lúc ít lúc nhiều.
Khi đươc
lấy máu trong các ống nghiệm đem đi thử thì những mẫu máu đó nên được để trong
tủ lạnh (refrigerated) sau khi những mẫu máu đã đem về phòng thí nghiệm, được
phân ra trong 1 giờ sau đó.
Người
mình thường nghĩ tiểu đường là đái tháo đường, hoặc thấy kiến bu nước tiểu khi
tiểu xong khoảng vài tiếng đồng hồ sau. Như ở Úc, mỗi năm có nhờ toán pest
control đến nhà một hoăc 2 lần, để diệt con dán, nhện, kiến, vv . Còn việc tiểu
tiện đều có quy củ, khi xong bấm nút nước tuôn chảy để tống khứ hết. Nên khó
thấy kiến tìm nước tiểu đường mà bu. Việc nhận xét đó là ý kiến của nhân gian,
cũng không phải là sai, nhưng khoa học thì phải có những dữ kiện và hàm lượng
xác thực có được do kết quả thí nghiệm
để xác định có hay không có bị bịnh tiểu đường. Tuy nhiên, khi
gặp BS đẻ trình bày bịnh trạng, BS thường cho binh nhận thử glucose tolerance
test, để xác định rõ ràng là có phải bị bịnh tiểu đường hay không? Nếu kết quả
là có thì bịnh nhân sẽ được điều trị tùy theo loại.
1-Phải chuẩn bị ra sao khi thử diabetes?.
a- Trước
khi thử glucose tolerance test .
-
Trước khi đến để phòng thí nghiệm lấy máu mà thử thì bịnh nhân
tránh những thuốc dùng ảnh hưởng đến đường như diuretics, thuốc tránh thụ thai,
glucocorticoids, nicotinic acid và phenytoin (Lang, 2000, pp 981).
-
Nhưng 3 ngày trước khi test, bịnh nhân đươc yêu cầu ăn thức ăn có
chứa nhiều carbohydrate. Nhưng đặc biệt trong lúc xét nghiệm nên dùng thêm chế
độ thức ăn đươc đề nghị sau đây trong 3 ngày:
-
Dùng điểm tâm nên có cereal (ngũ cốc), cháo đặc (porridge) hay
spaghetti (loại mì ống).
-
Và dùng 3 lát bánh hay 3 miếng bánh mì nướng hay ½ ổ bánh mì nhỏ
(bread rolls).
-
Và dùng 3 phần rau cải (tươi)
-
Và 3 loại trái cây (tươi)
-
Và 1 củ khoai tây trung bình hay 1 phần cơm.
-
Đối với trẻ em thì lượng dùng trên ít hơn tùy theo khả năng của
các em,
-
Theo Lang (2000) đề nghị ăn từ 150-200 gram với high carbohyhrate
mỗi ngày cho cả 3 ngày. Thế thôi.
Nếu dùng
như thế thì trong 3 ngày khi tiêu thụ nhiều carbohydrtate, có thể bịnh nhân
không khoái khẩu, nhưng kết quả chắc là xuống cân, cãm thấy buồn ngủ, khát nước
nhiều lắm, và lại đi tiểu với một số lượng nhiều. Nếu vậy thì nên gặp BS ngay
tức khắc.
+ Không
đươc ăn hay uống chi cả trong vòng 12 giờ đồng hồ
(ngoại
trừ uống nước lạnh thì được) trước khi bắt đầu thử coi có bịnh tiểu đường hay
không
+ Không
đươc hút thuốc trong ngày đi thử tiểu đường cho đến khi nào việc thử đó đã hoàn
tất.
b-Trong
lúc thử.
+ Sáng
sớm hôm sau đến phòng test, đến nơi bịnh nhân đươc lấy máu, trước khi lấy máu
bịnh nhân, bịnh nhân cũng đươc hỏi lại lần cuối là có theo đúng tất cả những
điều đòi hỏi đã ghi ở giai đoạn chỉ dẫn trươc khi test không?
Nếu trả
lời không đúng, nghĩa là tôi lỡ uống hay ăn… thì phải hẹn kỳ sau và làm lại từ
đầu.
Nếu trả
lới là theo đúng, thì tiếp theo bước kế tiếp:
+ Sau đó,
bịnh nhân đươc cho uống 75g glucose đươc pha trong 300 ml nước cho người lớn.
Trẻ em thì 1.75g/kg cho mỗi trọng lượng thân thể.
+ Sau
1/2 và 2 tiếng đồng hồ, bịnh nhân đươc lấy máu để thử sau khi uống nước đường.
++ Nơi
phòng glucose tolerance test có đề nghị bịnh nhân đem sách theo đọc cho thời
gian qua mau. Trẻ em thì đem game theo bấm chơi. Khi thủ tục test glucose xong,
thì bịnh nhân luôn luôn được mời dùng trà hay coffee với cái bánh để cho tươi
tỉnh trở lại trước khi rời khỏi phòng thí nghiệm tại Úc.
c-Kết
quả:
Hệ thống
của Mỹ dùng mg/dL, với scale như sau:
|
Ngay/giờ/tháng |
Glucose trong máu khi đói
mg/dL |
Glucose
an-toàn
mg/dL |
Có thể bị
bịnh diabetes
mg/dL |
|
|
115mg/dL > |
115-140mg/dL |
> 140mg/dL |
|
|
|
|
|
còn Úc
dùng mmol/L,với scale tại Úc như sau:
Glucose tolerance test trong lúc đói
|
Ngày/giờ/tháng |
Glucose trong máu khi đói
mmol/L |
Glucose
an-toàn mmol/L |
Có thể bị
bịnh diabetes
mmol/L |
|
|
4.0 > |
4 -6.0 |
> 6.0 |
|
|
|
|
|
(Source: Peter Harris et al 2004)
d- Quyền
quyết định của BS.
Khi có
kết quả đươc gởi về BS ngay hôm sau thì BS quyết định cho bịnh nhân dùng thuốc
hay không dùng thuốc. Nếu lượng đường test có kết quả cao, thường BS khuyên bạn
nên tập thể dục và kiên cử ăn uống. Thức ăn nào cần ăn, Thức uống nào không nên
uống. Bánh kẹo nào nên tránh. Thể dục bao nhiêu lần trong ngày. Bạn sẽ được
đưa
một tờ giấy ghi rõ những điều trên.
Rồi BS
cho bịnh nhân một sổ nhật ký, trong đó bịnh nhân đo đường trước khi bửa ăn,
khoảng ½ tiếng, và sau khi ăn khoảng 1/2 tiếng hay 2 tiếng. Cần ghi nếu mình ăn
những thức ăn khá đặc biệt khác với thoái quen mỗi ngày thường dùng, nên xem
thức ăn như thế đường trong máu ảnh hưởng như thế nào.
Lấy máu
thử ½
tiếng sau khi ăn là thử lúc no để biết hàm lượng đường là bao nhiêu?
Nếu lỡ qúa ½ tiếng, thì dùng cách sau đây: muốn cho chắc ăn, thì chờ đúng
2 tiếng đồng hồ sau khi ăn, đề thử đường, coi như ở vào lúc đói. Nếu kết quả
trên >6 là có vấn đề. Dưới <4 cũng có vấn đề.
Cả hai
đều liên quan đến glucose.
|
Ngày/giờ
Gluocse |
Lúc đói,trươc
Khi ăn
mmol/L |
Ngày /giờ
đo glucose |
Lúc no, sau
khi ăn
mmol/L |
Ghi lại dùng
thức ăn
gì |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Với việc
theo dõi và kiễm soát như thế, thường bịnh nhân không dùng thuốc, và kiễm soát
được sự hiện diện đúng của glucose trong máu. Công thêm việc năng tập thể dục
hằng ngày, bịnh nhân cãm thấy như người khỏe mạnh. Tuy nhiên, sau một thời gian,
3-5 năm hay lâu hơn, tuổi già đến, và cộng thêm việc lười tập thể dục hay quên
tập, nội tạng suy nhược yếu dần, diabetes lại hiện rỏ nguyên hình. Lúc nầy binh
nhân đươc BS khuyên dùng thuốc để kiểm soát lượng đường trong máu.
e- Khi
bịnh nhân được cho dùng thuốc uống liền sau khi ăn.
Thuốc
dùng cho bịnh tiểu đường thì được uống ngay liền sau khi ăn. Rồi bịnh nhân tự đo
lượng đường bằng một cái máy và ghi vào sổ nhật ký. Nhật ký nầy đươc dùng cho
diabetes có dùng thuốc. Ghi ngày, tên thuốc dùng để uống, rồi ghi độ glucose ½
giờ trước khi ăn. Khi ăn xong liền uống thuốc chống diabetes, ½ hay 2 tiếng đồng
hồ sau, đo glucose và ghi vào nhật ký. Việc ghi nầy giúp cho bịnh nhân biết hàm
lượng glucose trong máu và đồng thời cho biết ảnh hưởng của thuốc uống hay chích
có kết quả ra sao đề BS quyết định thêm, bớt hay đổi thuốc.
|
Ngày/giờ
Gluocse |
Lúc đói,trươc
Khi ăn
mmol/L |
Ngày /giờ
đo glucose |
Lúc no, sau
khi ăn và uống thuốc
mmol/L |
Ghi lại dùng
thức ăn gì
và dùng thuốc
uống tên gì? |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
f-Máy đo
glucose có bán tại Úc.
Và kết
quả khi dùng máy xét nghiệm có được sau 5 giây đồng hồ. Giá thị trường từ 50
dollars Uc trở lên. Cái máy như thế chỉ có 10 kim lấy máu và 10 glucose test
strips mà thôi. Bịnh nhân phải mua thêm kim và strips. Nếu cộng thêm nào kim thử
lấy máu $12 dollars, và glucose test strips, thì
tổng cộng gần $100 đô Uc.
2-
Glucose tolerance test.

(source:
Peter Harris et al. 2004)
Kinh
nghiệm thực tế để dễ nhớ:
Nhưng
trên thực tế, BS muốn cho chắc ăn, thường chọn một con số thôi để dễ nhớ mà kết
quả thì cũng chính xác. Nghĩa là thử đường sau ½ giờ dùng cơm xong là lúc ăn no,
hoặc là thử sau khi ăn 2 tiếng tương với lúc đói. Đó là 6 và 7.8
1-* Hàm
lượng đường khi đói hay sau 2 giờ khi ăn xong.
Dưới
<6 là tốt.
Trên>6 nghi binh tiểu đường.
2* Hàm
lương đường lúc ăn cơm xong sau ½ giờ: vi du:7.8.
Dưới
<7.8 là tốt.
Trên
>7.8 là có vấn đề liên quan đến tiểu đường
3-
Bảng tóm tắt việc kiễm soát đường.
Dựa vào
kết qủa của tolerance test, ta có nhiều hàm lượng đường khác nhau, mà
mỗi hàm lượng đều nhắc ta quan tâm ḍúng mức việc trị liệu một cách
tích cực.
|
Trước khi ăn
đường trong máu mmol/L |
Sau khi ăn (postprandial)
đường trong máu
mmol/L |
Nhận xét |
|
4- 6.0 |
4.0 - 7.7 |
Đường bình thường
Rất ít thuộc loại diabetes 1. |
|
6.1- 6.9 |
7.8 - 11.0 |
Nên giãm thiểu những vấn đề
liên quan tiểu mạch |
|
≥ 7.0 |
≥ 11.1 |
Nhiều cơ hội kết hợp biến chứng giữa tiểu và đại động
mạch.
Nên điều trị tích cực hơn nữa. |
|
> 10 |
> 20 |
Luôn luôn điều trị tích cực hơn nữa.
|
(Source: Source: Peter Harris et al.
2004)
D- Máy
thử đường do trời ban cho nơi mỗi người.
Nhất là tại các nước Cộng sản như Bắc Triều
Tiên, Cuba hay Trung quốc trước khi mở cửa, dân chúng đói không có cơm
ăn, dùng rau cỏ thay cơm, có chết thì cũng bỏ không ai lo cho, mà chết
thỉ còn sướng hơn sống, nên chuyện lo thuốc trị tiểu đường cho dân
cùng đinh, ở miền xa xôi, là việc khó như
mơ
ước lên cung trăng bằng phi thuyền. Các bịnh như nhức đầu, cãm cúm thì
có xuyên tâm liên. Uống vào không hết bịnh nầy cũng hết bịnh khác chỉ
có trời mà biết. Còn bịnh tiểu đường.. thì để trời lo. Thế nên, Ông
trời cũng thương người, nên Ông cho mổi người một cái máy thử bịnh
tiểu đường mang theo mình mà dùng. Dựa vâo khoa học đã kiễm chứng,
cái máy của trời cho được báo trước các hiện tượng như sau:
Đối với đàn
ông bị bịnh tiểu đường, vấn đề cương (erectile problems) do khả năng cương hay
dây cương của dương vật chỉ đạt tới mức 50% mà thôi (Peter Harris et al 2004).
Điều nầy gây nên sự đau khổ cho quý Ông thôi, vì khi ra trận thấy địch như
con gà mắc dây thun, chạy không nổi, sợ đến nổi không biết làm sao bóp
cò súng, chưa xung phong, khi hô tiến... là ngã qụy rồi, không chết là
may, trận giặc bị đánh tơi tả, ta thua, địch thắng, bên ta lại bị bắt
làm tù binh lao động khổ sai suốt đời. Tại sao lại như vậy? Điều đó xãy
ra khi đường trong máu ở trong trạng thaí xấu (quá khỏi mức an toàn) lại xuất
hiện hay bị bịnh mãn tính. Như thế, “thằng nhỏ” cũng là một dụng cụ để đo đường
trong máu (blood glucose) của trời ban cho mỗi người. Như lực sĩ tập tạ,
các bấp thịt: Cương thì không bị binh, Nếu cương chỉ 50% thì bị bịnh tiểu
đường. Trong 50% lại có 40%, 20% tùy theo cơ thể khoẻ hay yếu lúc bị
bịnh nặng hay nhẹ. Khoa học tìm hiểu sự thất bại lúc tác chiến là không
được tiếp tục cương cứng là vì do những nguyên do tâm lý, do đại động mạch suy
thoái, hay thần kinh tự động của xương chậu có vấn đề. Cũng là do nhiều biến
chứng từ tiểu và đại động mạch mà ra. Hơn nữa, tiểu đường cũng còn gây nguy
hại cho thần kinh. Khi các ông bị bịnh diabetes khi ở trang thái xấu hay nặng,
nghĩa là đường trong máu gọi là tệ, xấu và quá xấu thì các bà thấy mặt đặt tên
mới cho người bạn của mình là: “Ngài, Ông hay Anh “Chung vô diệm” “Hello
Mr. Chung vô diệm”. Chung vô diệm khi được nói lái lại là “Chim vô dụng”. Vậy
muốn phất cờ khởi nghĩa thì phải tìm sự chỉ dẫn hẳn hoi từ việc ăn
uống, tập thể dục,...vv
Còn quý bà
thì sao? Quý bà bị bịnh tiểu đường thì không cãm thấy đau khổ ngư quý vị đàn
ông. Quý bà thì than phiền là không có sự đáp ứng cao với kích thích do cơn hứng
cảm nên âm hộ thiếu vắng chất nhờn (Peter Harris et al 2004)..Thiếu chất nhờn
thì nên mua dầu nhờn (lubricants) ở Pharmacy mà dùng khoảng 6-8 dollars gì
đó. Mua chất đó thì có nhưng lại mất đi cái cãm kích cao độ như thuở
nào thì không còn nữa mà lại không mua được. Đó là cái lẻ vô thường
của kiếp người. Có đó rồi mất đó. Thành trụ hoại diệt lẻ nào.
Đó là cái
máy thử đường mà trời ban cho. Ông bà nảo bị bịnh tiểu đường, nên
check cái máy của mình lại, coi có đúng bịnh lý như những điều đã
nói trên không, có hoàn toàn chính xác không ?. Máy không có quá date
đâu, dù đã củ trên
50-60-70 năm,
vẫn ngon như thường. Biết rằng mình bịnh để mà tự lo liệu như lo ăn
uống, tật thể dục, hay đi gặp bác sĩ.
Viết
lại
ngày
24/10/06
BÙÌ
THẾ TRƯỜNG
Peter Harris et al 2004..Diabetes
management in general pratice,pub Diabtes Australia Publication NP
1055
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |