LÀM SAO BIẾT MÌNH BỊ TIỂU ĐƯỜNG


26

A. Khái-niệm và định-nghĩa.

1. Khái niệm. 

 Diabetes được hiểu như thế nào? Đó là một sự xáo trộn mà nguyên do là có quá nhiều đường trong máu. Tại sao như vậy? Là vì các tuyến nội tiết (endocrine) có nhiệm vụ tiết ra một chất kích thích tố (hormone) quan trọng được gọi là insulin, nay lại không còn họat động nữa hay họat động quá yếu nên không đủ sức cung cấp chất insulin, nên hàm lượng đường trong máu trở thành cao. Sự việc chỉ có thế nhưng lại lắm điều rối rắm.

Về chử nghĩa thì diabetes là gi? Đó là từ do tiếng Greek mà ra, diabetes là “to pass hay to flow through” nghĩa là qua hay lưu lượng trôi qua, còn mellitus là sweet hay honey là ngọt. Vậy có thề hiểu là chất ngọt là đường theo máu mà lưu chuyển đi trong châu thân. Máu đi đâu thì đường theo tới đó. Còn cái nghĩa thứ hai là khi đi tiểu mang theo một số đường tống xuất ra ngoài mà người mình thường gọi là kiến bu. Còn insulin là gì? Là kích thích tố do tụy tạng tiết ra thích ứng với lượng đường có trong máu, lượng đường nhiều thì tiết ra nhiếu, ít thì tiết ra ít. Tiết ra để làm chi?  Để dẫn lượng đường lang thang đây đó qua các màng tế bào mà lưu giữ lại trong gan chẳng hạn, để khi cần thì cho vào máu hoặc làm nguồn dự trử năng lượng. Nếu không có insulin thì đường không thề nào qua các màng lọc được của tế bào (cell membrane) để vào kho dự trử; nói một cách khác đường không thể xâm nhập lâu vào biên giới được. Insulin có thể hiểu như Visa hay Passport vây, mà đường có nhiệm vụ trình cho các trạm gát nơi các màng lọc (cell membrane) đây là giấy passport “insulin” chứng nhận đây, để được vào nghỉ ngơi trong gan, làm “lữ đoàn trừ bị” tác chiến. Nếu đường không thể qua các tế bào (cells) nơi gan một cách bình thường, thì được coi là bịnh, là có đường trong máu cao, mà danh từ chuyên môn gọi là hyperglycemia or hyperglycaemia (e hay ae).

Đo lượng đường trong máu lại thay đổi “scale” tùy theo mỗi nước. Tại Úc, tỷ lệ đừơng trong máu được tính làm 2 phần: lúc chưa ăn và lúc sau khi ăn. Lúc chưa ăn, đường ở vào khỏang an toàn là 4.0-6.0 còn sau khi ăn, đường có vào khỏang 4.0-7.7. Trong 2 giới hạn, lượng đường như vậy gọi là thiết yếu và an tòan cho sức khỏe.  Nhiều hơn thì sinh ra bịnh tiểu đường. It đường hơn, thì tay chân run rẩy, đói cào, mồ hôi tóat ra. Sau khi ăn thì lượng đường cao hơn khi chưa ăn là vì do thức ăn được biến thành ra đường. Đi khám BS lấy máu để đo lượng đường, thường lấy vào lúc chưa ăn, để biết lượng đường một cách rõ ràng hơn lúc sau khi ăn, vì không ai biết mình đã ăn thứ gì vào bao tử mà đường lại cao như thế.

 

2-Chu kỳ di chuyển của đường.

Đường trong máu khi qua thận sẽ được lọc đi và được tái hấp thụ lại (reabsorbed) qua các ồng tiểu quản (tubule) của thận. Tuy nhiên , vì đường trong máu quá nhiều do bởi tiểu đường mà ra nên khả năng tái hấp thụ đường của thận quá tải, nên không hấp thu lại hết, nên lượng đường theo nước tiểu mà ra ngoài. Vì thế, người ta gọi là glycosuria, nghĩa là có một số lớn đường bất thường trong nước tiểu, vì có một số lớn đường trong nước tiểu, nên có cái hiện tượng là đi tiểu với một thể tích lớn, gọi là polyuria. Tại sao? Hiện tượng trên có thể hiểu qua sự thẩm lọc của nước tiểu (osmotic diuretic). Trong hổn hợp nước và đường chẳng hạn, nước được thẩm thấu qua màng trước tích tụ nơi bọng đái và được tiểu ra ngoài, thì cơ thể sẽ mất nước gọi là dehydrate. Khi cơ thể mất nước, thì lượng đường sẽ tăng lên, khi lượng đường tăng lên trong hổn hợp nước và đường thì nước bị đẩy xuyên qua màng lọc để tống ra ngoài nơi bọng đái. Vì thế nên cơ thể thiếu nước, vì thiếu nước nên khát goi là polydipsia. Vì khát nên cần nhiều nước để uống, và uống nước vào với một số lượng lớn. Vì sự hấp thụ lại về đường của thân lại quá tải, nên đường cũng theo nước tiểu mà thóat ra ngòai. Vì thế tiểu nhiều với số lượng nước tiểu cũng nhiều và trong nước tiểu lại có đường.

Tóm lại, diabetes được thấy rõ ràng là uống nhiều nước và đi tiểu nhiều lần mà mỗi lần đi với một số lượng nước tiểu lại cũng nhiều

Còn rắc rối thêm nữa. Chưa hết. Khi trạng thái mất nước trong cơ thể hiện ra, liền kéo theo lượng đường trong máu tăng lên, làm tăng thêm hiện tượng thẩm thấu. Vì lượng đường trong máu qúa nhiều, mà thận không tái giữ lại qua sự tái hấp thu, nên đường theo nước tiểu liền được tống ra ngoài. Vì bị tống ra ngoài, nên đường bị mất mà cơ thể cần năng lượng để họat động, để đốt cháy, nên cần nhu cầu là ăn để có nguồn năng lượng, thế nên luôn cảm thấy đói liên tục gọi là polyphagia.

Vì thế, bị bịnh tiểu đường cần được chăm sóc chuyên biệt về số lượng đường tháo ra ngoài theo nước tiểu (glucosuria) và thêm cả ba thứ gọi là three polys: polyuria (tiểu nhiều lần) mà mỗi lần với lượng nuớc tiểu nhiều), polydipsia (khát) nên uống nước rất nhiều và polyphagia (đói liên tục) nên ăn cũng rất nhiều.

3- Định nghĩa insulin.

Insulin là một protein tiết ra bởi tế bào beta của tiểu đảo Langerhans trong tụy tạng, có vai trò quan trọng trong viêc điều hòa đường trong máu. Nồng độ đường trong máu khi lên cao sẽ kich thích sự phân phối và tiết ra chất insulin. Tế bào nầy tiết ra ngoài insulin lại còn tiết ra glucagon nữa vào máu.  Chất insulin nầy khi được tách ra và được kết tinh lại thì thấy rằng nó chứa nhiều phần tử nhỏ là kẽm zinc mà zinc thì đươc thấy rất nhiều trong các tế bào của tụy tạng. Ngoài ra cũng thấy một số ít chất chromium, chất nầy lại cũng cần thiết cho sự tổng hợp của insulin. Người ta thấy rằng hàm lượng của chromium trong cơ tể con người lại giãm đi theo tuổi thọ. Càng già thì chromium càng ít. Mà protein thì gồm có nhiều amino acid liên kết lại với nhau nên có tên gọi là peptide linkage hay peptide bond.

-         Khi mà 2 amino acids hợp lại thì gọi là dipeptide. Khi 3 amino acids hợp lại thì gọi là tripeptide. Khi 4 hay nhiều hơn nữa amino acids hợp lại thì được gọi là polypeptide.

-          Bây giờ lấy 2 amino acids hợp thành mà coi thế nào? Nó gồm glycyl và alanine. Trường hợp nầy có hai cách hợp thành khi thì glycyl-analine hay alanyl-glycine. Để ý rằng vế đầu của sự hợp lại đó có gốc OH là acid mà ra. 

-         Còn như xét 3 lọai amino acid khác nhau như glycine, alanine và valine thì sự hợp thành của chúng có từ 3 đến 6 cách hợp thành như sau:

1-               Glycyl-alanyl-valine (gly-ala-val)

2-               Glycyl- valyl-alanine (gly-val-ala)

3-               Alanyl- glycyl-valine (ala-gly-val)

4-               Alanyl- valyl-glycine (ala-val-gly)

5-               Valyl-glycyl-alanine (val-gly-ala)

6-               Valyl-alanyl-glycine (val-ala-gly)

 

Proteins gồm có một số chuỗi peptide nối với nhau và một số có thể  hợp thành lại gồm nhiều loại amino acids để thành protein tùy theo tên gọi. Ví dụ như insulin do chuỗi peptides nối lại với nhau. Nó có hai chuỗi: Chuỗi A có 32 amino acids và chuỗi B có 30 amino acids. Hai chuỗi nầy nối với nhau bằng hai cầu nối sulphide S-S (xem hinh). Lại nữa, khi bị thủy phân (hydrolyse) bởi acid, base hay enzyme (diếu tố) thì nó cắt dứt ra nhiều phần nhỏ, nhiều đơn vị nhỏ, cho đến đơn vị đầu là amino acids.  Cũng thế khi chúng hợp lại, dười sự ảnh hưởng của enzyme nào đó, đầu tiên hợp thành dipeptide, đến tripeptide, rồi đến polypeptide và so on cho đến khi nào nó thành hình một protein mà một phân tử của nó gồm có một số lớn trọng lượng phân tử (molecular weight) mà thành. (xem h)

 

 

(Ghi chú: Cấu trúc insulin của con người. Ghi nhận rằng nó nối nhau bằng disulfide bridges (S-S) giữa 2 cys nhóm. Nếu chặt đứt disulfide nầy đi thì insulin nầy không còn nữa.

 

 Insulin nối bằng nối disulfide (S-S)

(Source: Lubert Stryer, 2004)

                    

 (Sự thủy phân của protein)

                  

Insulin là một protein vi thế nó không thể nào tiêu thụ qua ngả miệng vì bị tiêu hóa khi khỏi cửa đó. Vì mọi thứ protein đều bị tan biến một phần nơi bao tử do hydrochloric acid và pepsin. Tại nơi tá tràng (duodenum) là một phần ba ruột non, mà nó nhận mật từ túi mật và dịch tụy từ tụy tạng, mà trong thành của tá tràng co rất nhiều tuyến kể cả tuyến Brunner tiết ra dich tràng, ta thấy có những thứ như trypsin, chymotrypsin và carboxypeptidase do pancrease tiết ra và một phần là do sự hủy họai của protein cho ra polypeptides, dipeptides va amino acids. Tất cả các phân tử trên đều vào hồi tràng (ileum) là phần thấp nhất của 3 đọan ruột non, và không tràng (jejunum) là một phần ruột non, chiếm khỏang 2/5 chiều dài ruột non, nối liền tá tràng và hồi tràng, để được đồng hóa (assimilaton). Thế nên insulin nên được chích dưới da mà thôi.  Người bị bịnh có thể chích insulin 2-3 lần trong ngày. Tuy nhiên insulin nếu hợp với prolamine (cũng là một protein) được gọi là prolamine–zinc insulin thì nó được hấp thụ chậm và có hiệu lực trong 24 hrs. Nên nó đươc chích 1 lân trong ngày. Thêm nữa, một kich thích tố khác là somatostatin được dùng với insulin hay dùng chính nó thôi thì công dụng là ngăn chận sự phóng thích glucagon, một kich thích tố mà nó giữ cho đường trong máu được cao.

 

Vấn đề đặt ra là cấ trúc insulin của những loài động vật có vú (mammalian species) khác với cấu trúc insulin của lòai người ở chổ nào? Điều đó cũng giải thích là ta ít dùng insulin của các động vật có vú dùng thay cho người đươc (W.F Ganong, 2004). Sự khác nhau, nếu so sánh với insulin của con người, được nhìn thấy sau theo bản dưới đây. Nói chung thì 40% giống nhau, còn khác nhau ở các vị trí 8,9,10 và 30 và tên của các amino acids (Katzung, 2000)

 

                       Sự thay đổi chuổi cấu trúc amino acid của con người.

 Chủng lọai

Chuổi A các vi trí

  8   9  10

Chuổi B các vi trí

      30

Heo,chó,tinh dịch cá voi

Thỏ

Gia súc(trâu, bò ngựa, dê

Trừu

Ngựa

Sei whale

 Thr-Ser-Lie

 Thr-Ser-Lie

  Ala-Ser- Val

  Ala-Gly- Val

  Thr-Gly-Lie

  Ala-Ser-Thr

      Ala

      Ser

      Ala

      Ala

      Ala

      Ala

                                               (Source W.F ganong, 2004)

 

Theo W.F Ganong, (2004) thì hơn 80% insulin được tiết ra từ thân và gan đều là insulin bị thoái hóa. Nửa chu kỳ sống của insulin mà sự luân chuyển trong con người khoảng 3-5 phút phù du ngắn ngủi. Chúng bị hủy trong các endosomes rồi hợp lại nhờ tiến trình gọi là endocyotic.  Cái enzyme chính yếu trong sự hợp thành nây lá insulin protease, mà enzyme nầy có trên các màng các tế bào đóng vai trò chủ lưc của insulin.  Còn enzyme thụ thể (receptor) là các enzyme phản ứng ngay khi có sự thay đổi trong môi trường và gây nên các xung lực trong hệ thần kinh cảm giác, được thấy trên nhìều tế bào của cơ thể mà trong đó các kích thích tố làm tăng thêm lượng glucose nhân vào. Nên hầu hết các tế bào trong châu thân đều được trao đổi insulin.

 

Theo Lubert Stryer, (2004) thì sự tiết ra insulin là do tế bào beta của tụy tạng (xem h) khi nó được kích thích bởi sự hiện diện của glucose và do hệ thống thần kinh giao cảm. Nói một cách khác, insulin cho tín hiệu của trạng thái cần được cung cấp thức ăn cho cơ thể, bằng cách kích thích nguồn năng lượng tồn kho và sự tổng hợp của protein dưới nhiều phương cách khác nhau. Cái hormone làm tăng tiến loại phosphore là chìa khóa cho các enzymes trao đổi lẫn nhau. Một kết quả hiển nhiên là nó kích thích sự tổng hợp của glycogen cho cả hai: bắp thịt và gan, và ức chế đè nén gluconeogenesis do gan.

 

Cấu trúc Không gian 3 chiều của insulin

Insulin trong beta tế bào của tụy tạng

 

             

Insulin còn tàm tăng thêm glycolysis trong gan, và chất nầy đóng vai trò làm tăng sự tổng hợp của acid béo. Đưa glucose vào các bắp thịt và kích thích tế bào của chất béo đều là do insulin tác-động. Sở dĩ có nhiều chất acid béo và glucose trong tế bào chất béo mà kết quả là do sự tổng hợp và tồn trử triacylglycerols mà ra.  Và insulin còn tác động luôn cả amino acid và sự biến đổi của protein.  Insulin thăng tiến tác động lên nhánh của chuổi amino acids như (valine, leucine và isoleucine) nơi các bắp thịt và làm nở nang bằng cách xây đấp protein của bắp thịt. Thật vậy, insulin còn kich thich hiệu quả tác dụng của sự tổng hợp của protein. Thêm nữa, nó còn ức chế sự suy thoái protein trong các nội bào (intracellular degradation of protein

 

Katzung, (2000) thêm rằng trong tế bào B (B cells) của tụy tạng dùng để dự trử insulin thì có một tinh thể trong đó có 2 nguyên tử zinc và 6 phân tử insulin. Tòan bộ tụy tạng trong cơ thể con người cò tới 8 mg insulin và nó đại diện cho trên 200 đơn vị sinh học.

Trong cơ thể thì thận và gan là 2 cơ quan thu nhận insulin vào trong vòng luân chuyển của nó. Gan, trươc hết, thu nhận hết insulin từ tụy tạng vào gan khoảng 60%, còn kidney thì hấp thụ khoảng 35-40% kich thích tố nôị tại.

 

B- Tại sao cần phải có đường trong máu?

 

Một câu hỏi khá nhức đầu. Tai sao trong máu lại có đường ở trong các giới hạn an tòan đó? Đường trong máu như thế đó để làm gí?

Hơn 90% là dành cho não bộ. Đường có trong máu dùng để cung cấp bộ óc của con người một nguồn năng lượng để họat động, điều khiển, suy nghĩ, tính tóan, mưu toan, đào thóat, dọa nạt, chèn ép, ăn cắp tiền bạc, kể cả tiền viện trợ của Quốc tế, bán người để kiếm huê hồng, trăm trăm ngàn kế.. và tốt đẹp nhất là quán niệm về Bát Nhã để hiểu cái không, tánh không, và Chơn như,  cho suốt cả một kiếp người. Còn Oxy là nguồn cung cấp cho các tế bào nõa bộ sống và phát triển. Nói đến não bộ là nói đến nguồn cung cấp năng lượng hay lương thưc cho não bộ họat động là phải nghĩ ngay cái tường thành ngăn chận mọi sự xâm nhập vào não, và bảo vệ não một cách một cách rất nghiêm túc: những cái nào được vào não và những cái khác không được léo hánh tới. Theo Thibodeau and Patton, (2005) thì bức tường thành đó gọi là three BBB (Blood Brain Barrier) giúp để bảo vệ bộ não được an toàn, để não bộ được họat động một cách bình thường. BBB có một bức tường mao mạch (capillary wall) là các mạch máu vô cùng nhỏ có đường kính vào khoảng 5-20 µm. Mao mạch nầy tạo thành một mạng lưới trong hầu hết các mô, nó được cung cấp máu từ các động mạch nhỏ và được chảy đến các tỉnh mạch nhỏ. Còn thành mach thì có một tế bào có chiều dầy mà nó được trao đổi: nước, oxygen, carbon dioxide và glucose được phép qua một cách dễ dàng. Oxygen mang oxy vào để cho các tế bào sống và phát triển và thải Carbon dioxide ra. Glucose là nguồn năng lượng cho óc họat động bất tân. Điều nầy cũng giải thích khi người bị bịnh tiểu đường lúc lượng đường xuống thấp, nghĩa là lúc tay chân run rẩy, mồ hôi tóat ra vì đói, thì nên kiếm nhai vai cục kẹo vào là sau đó cảm thấy dễ chịu ngay. Tuy nhiên rất ít và hiếm, các molecules chất béo hòa tan như alcohol thì lan tràn qua màn chận nầy dễ dàng. Có lẽ các lính gát nơi tường thành bị say sưa nên chúng vượt biên vào được? Còn các ions như sodium Na+ hay potassium  Kmà sự hiện diện của nó có thể phá vở hết sự truyền đi của hoạt động điện trong màng một nơ ron gọi là xung lực thần kinh (disrupt the transmission of nerves impulses). Đó là lý do tai sao bịnh tiểu đường nên cử ăn mặn vì lý do nầy. Còn lý do khác là tension hay high blood pressure thì sẽ hiểu sau.

 

Tuy nhiên, Ganong, (2004) đã tính tóan kỹ hơn cho biết: oxygen tiêu thụ vào não trung bình +3.5 ml/100g bộ óc hay trung binh 49 ml/ cho toan thể bộ não. Còn carbon dioxide thải ra -3.5 ml/100g bộ óc hay trung bình là -49ml/ cho toàn thể bộ não (xem table). Trong não có nhiều hạch (ganglia) là một tập hợp té bào thần kinh, nên tiệu thụ oxygen cao nhất và nhiều nhất. Hiện tượng gọi là Pakinson’s là bịnh giãm hay thiếu oxy trong mô kinh niên (chronic hypoxia). Còn thalamus (đồi não) và ụ não (colliculus) thì rất ảnh hưởng mạnh khi mô bi hư (hypoxic damage) vì thiếu oxy.

 

Blood Brain Barrier (BBB)

   (source:G.A. Thibodeau and K.T. Patton, 2005)

                                                    

Chỉ có: nước, Oxygen, CO2 và glucose là vào và ra nảo bộ. Còn Dopamine dùng trị bịnh Pakinson, thì cũng không được qua BBB, dù cho chich hay uông đều không hiệu quả. Tuy nhien levodopa (l-dopa) thì qua được BBB, và biến thành dopamine, mà hiệu quả thì kém hẳn đi chất dopamine)

 

Thế nên, có những bịnh do não mà ra, nên việc uống thuốc có liên quan đến não phải chứng minh rằng thuốc đó vượt qua bức tường thành. Nếu không thì đó cũng chỉ là một mơ tưởng hay chỉ nói lên điều ba hoa rổng tuếch, của kẻ có quyền. Thuở trước, một thời tai Vietnam, rằng “xuyên tâm liên” nguồn gốc từ Tàu, nó trị bá bịnh nào là trụ sinh giết mọi vi trùng như: lao, lậu, giang mai vv, nào là trị đau nhức, nào lở lóet, nào ung thư, còn chuyên cảm cúm, sổ mủi nhức đầu, chóng mặt là nghề tay trái của nó. Trị cả bịnh liên quan về nảo bộ thì tuyệt cú mèo, là nghề tay mặt. Cả nước và cả chính phủ bỏ tiền trồng khắp nơi, khắp nước. Ai dám nói đó “toàn là “đồ” tào lao” là có vấn đề. Gớm thật!

 

C- Chẩn đoán để trị bịnh (Medical diagnosis treatment)

 

Trong bài 1, nói về nhưng triệu chứng mà hầu hết người bịnh tiểu đường nhận thấy không cái nầy thì cũng cái nọ nơi chính họ, lúc ít lúc nhiều.

Khi đươc lấy máu trong các ống nghiệm đem đi thử thì những mẫu máu đó nên được để trong tủ lạnh (refrigerated) sau khi những mẫu máu đã đem về phòng thí nghiệm, được phân ra trong 1 giờ sau đó.

Người mình thường nghĩ tiểu đường là đái tháo đường, hoặc thấy kiến bu nước tiểu khi tiểu xong khoảng vài tiếng đồng hồ sau. Như ở Úc, mỗi năm có nhờ toán pest control đến nhà một hoăc 2 lần, để diệt con dán, nhện, kiến, vv  . Còn việc tiểu tiện đều có quy củ, khi xong bấm nút nước tuôn chảy để tống khứ hết. Nên khó thấy kiến tìm nước tiểu đường mà bu. Việc nhận xét đó là ý kiến của nhân gian, cũng không phải là sai, nhưng khoa học thì phải có những dữ kiện và hàm lượng xác thực có được do kết quả thí nghiệm để xác định có hay không có bị bịnh tiểu đường. Tuy nhiên, khi gặp BS đẻ trình bày bịnh trạng, BS thường cho binh nhận thử glucose tolerance test, để xác định rõ ràng là có phải bị bịnh tiểu đường hay không? Nếu kết quả là có thì bịnh nhân sẽ được điều trị tùy theo loại.

 

1-Phải chuẩn bị ra sao khi thử diabetes?.

 

a- Trước khi thử glucose tolerance test .

-         Trước khi đến để phòng thí nghiệm lấy máu mà thử thì bịnh nhân tránh những thuốc dùng ảnh hưởng đến đường như diuretics, thuốc tránh thụ thai, glucocorticoids, nicotinic acid và phenytoin (Lang, 2000, pp 981).

-         Nhưng 3 ngày trước khi test, bịnh nhân đươc yêu cầu ăn thức ăn có chứa nhiều carbohydrate. Nhưng đặc biệt trong lúc xét nghiệm nên dùng thêm chế độ thức ăn đươc đề nghị sau đây trong 3 ngày:

-         Dùng điểm tâm nên có cereal (ngũ cốc), cháo đặc (porridge) hay spaghetti (loại mì ống).

-          Và dùng 3 lát bánh hay 3 miếng bánh mì nướng hay ½ ổ bánh mì nhỏ (bread rolls).

-          Và dùng 3 phần rau cải (tươi)

-         Và 3 loại trái cây (tươi)

-         Và 1 củ khoai tây trung bình hay 1 phần cơm.

-         Đối với trẻ em thì lượng dùng trên ít hơn tùy theo khả năng của các em,

-         Theo Lang (2000) đề nghị ăn từ 150-200 gram với high carbohyhrate mỗi ngày cho cả 3 ngày. Thế thôi.

 

Nếu dùng như thế thì trong 3 ngày khi tiêu thụ nhiều carbohydrtate, có thể bịnh nhân không khoái khẩu, nhưng kết quả chắc là xuống cân, cãm thấy buồn ngủ, khát nước nhiều lắm, và lại đi tiểu với một số lượng nhiều. Nếu vậy thì nên gặp BS ngay tức khắc.

 

 + Không đươc ăn hay uống chi cả trong vòng 12 giờ đồng hồ

(ngoại trừ uống nước lạnh thì được) trước khi bắt đầu thử coi có bịnh tiểu đường hay không

 + Không đươc hút thuốc trong ngày đi thử tiểu đường cho đến khi nào việc thử đó đã hoàn tất.

 

b-Trong lúc thử.

 

+  Sáng sớm hôm sau đến phòng test, đến nơi bịnh nhân đươc lấy máu, trước khi lấy máu bịnh nhân, bịnh nhân cũng đươc hỏi lại lần cuối là có theo đúng tất cả những điều đòi hỏi đã ghi ở giai đoạn chỉ dẫn trươc khi test không?

Nếu trả lời không đúng, nghĩa là tôi lỡ uống hay ăn… thì phải hẹn kỳ sau và làm lại từ đầu.

Nếu trả lới là theo đúng, thì tiếp theo bước kế tiếp:

 

+ Sau đó, bịnh nhân đươc cho uống 75g glucose đươc pha trong 300 ml nước cho người lớn. Trẻ em thì 1.75g/kg cho mỗi trọng lượng thân thể.

 + Sau 1/2 và 2 tiếng đồng hồ, bịnh nhân đươc lấy máu để thử sau khi uống nước đường.

 

++ Nơi phòng glucose tolerance test có đề nghị bịnh nhân đem sách theo đọc cho thời gian qua mau. Trẻ em thì đem game theo bấm chơi. Khi thủ tục test glucose xong, thì bịnh nhân luôn luôn được mời dùng trà hay coffee với cái bánh để cho tươi tỉnh trở lại trước khi rời khỏi phòng thí nghiệm tại Úc.

 

c-Kết quả:

               

 Hệ thống của Mỹ dùng mg/dL, với scale như sau:

Ngay/giờ/tháng

Glucose trong máu khi đói

mg/dL

Glucose

an-toàn

mg/dL

Có thể bị

 bịnh diabetes

   mg/dL

 

 115mg/dL >

115-140mg/dL

  > 140mg/dL

 

 

 

 

 

còn Úc dùng mmol/L,với scale tại Úc như sau:

                   Glucose tolerance test trong lúc đói

Ngày/giờ/tháng

Glucose trong máu khi đói

mmol/L

Glucose

an-toàn mmol/L

Có thể bị

 bịnh diabetes

   mmol/L

 

 4.0 >

 4 -6.0

> 6.0

 

 

 

 

                (Source: Peter Harris et al 2004)

 

d- Quyền quyết định của BS.

 

Khi có kết quả đươc gởi về BS ngay hôm sau thì BS quyết định cho bịnh nhân dùng thuốc hay không dùng thuốc. Nếu lượng đường test có kết quả cao, thường BS khuyên bạn nên tập thể dục và kiên cử ăn uống. Thức ăn nào cần ăn, Thức uống nào không nên uống. Bánh kẹo nào nên tránh. Thể dục bao nhiêu lần trong ngày. Bạn sẽ được đưa một tờ giấy ghi rõ những điều trên.

 

Rồi BS cho bịnh nhân một sổ nhật ký, trong đó bịnh nhân đo đường trước khi bửa ăn, khoảng ½ tiếng, và sau khi ăn khoảng 1/2 tiếng hay 2 tiếng. Cần ghi nếu mình ăn những thức ăn khá đặc biệt khác với thoái quen mỗi ngày thường dùng, nên xem thức ăn như thế đường trong máu ảnh hưởng như thế nào. Lấy máu thử ½ tiếng sau khi ăn là thử lúc no để biết hàm lượng đường là bao nhiêu? Nếu lỡ qúa ½ tiếng, thì dùng cách sau đây: muốn cho chắc ăn, thì chờ đúng 2 tiếng đồng hồ sau khi ăn, đề thử đường, coi như ở vào lúc đói.  Nếu kết quả trên >6 là có vấn đề. Dưới <4 cũng có vấn đề. Cả hai đều liên quan đến glucose.

 

 

Ngày/giờ

Gluocse

Lúc đói,trươc

Khi ăn

mmol/L

Ngày /giờ

đo glucose

Lúc no, sau

 khi ăn

mmol/L

Ghi lại dùng

thức ăn

 gì

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Với việc theo dõi và kiễm soát như thế, thường bịnh nhân không dùng thuốc, và kiễm soát được sự hiện diện đúng của glucose trong máu. Công thêm việc năng tập thể dục hằng ngày, bịnh nhân cãm thấy như người khỏe mạnh. Tuy nhiên, sau một thời gian, 3-5 năm hay lâu hơn, tuổi già đến, và cộng thêm việc lười tập thể dục hay quên tập, nội tạng suy nhược yếu dần, diabetes lại hiện rỏ nguyên hình. Lúc nầy binh nhân đươc BS khuyên dùng thuốc để kiểm soát lượng đường trong máu.

 

e- Khi bịnh nhân được cho dùng thuốc uống liền sau khi ăn.

 

Thuốc dùng cho bịnh tiểu đường thì được uống ngay liền sau khi ăn. Rồi bịnh nhân tự đo lượng đường bằng một cái máy và ghi vào sổ nhật ký. Nhật ký nầy đươc dùng cho diabetes có dùng thuốc. Ghi ngày, tên thuốc dùng để uống, rồi ghi độ glucose ½ giờ trước khi ăn. Khi ăn xong liền uống thuốc chống diabetes, ½ hay 2 tiếng đồng hồ sau, đo glucose và ghi vào nhật ký. Việc ghi nầy giúp cho bịnh nhân biết hàm lượng glucose trong máu và đồng thời cho biết ảnh hưởng của thuốc uống hay chích có kết quả ra sao đề BS quyết định thêm, bớt hay đổi thuốc.

               

Ngày/giờ

Gluocse

Lúc đói,trươc

Khi ăn

mmol/L

Ngày /giờ

đo glucose

Lúc no, sau

 khi ăn và uống thuốc

mmol/L

Ghi lại dùng

thức ăn gì

 và dùng thuốc

uống tên gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

f-Máy đo glucose có bán tại Úc.

 

Và kết quả khi dùng máy xét nghiệm có được sau 5 giây đồng hồ. Giá thị trường từ 50 dollars Uc trở lên. Cái máy như thế chỉ có 10 kim lấy máu và 10 glucose test strips mà thôi. Bịnh nhân phải mua thêm kim và strips. Nếu cộng thêm nào kim thử lấy máu $12 dollars, và glucose test strips, th tổng cộng gần $100 đô Uc.

 

2- Glucose tolerance test.

                                                                       (source: Peter Harris et al. 2004)

 

Kinh nghiệm thực tế để dễ nhớ:

 

Nhưng trên thực tế, BS muốn cho chắc ăn, thường chọn một con số thôi để dễ nhớ mà kết quả thì cũng chính xác. Nghĩa là thử đường sau ½ giờ dùng cơm xong là lúc ăn no, hoặc là thử sau khi ăn 2 tiếng tương với lúc đói. Đó là 6 và 7.8

 

1-* Hàm lượng đường khi đói hay sau 2 giờ khi ăn xong.

   Dưới <6 là tốt.

  Trên>6  nghi binh tiểu đường.

 

2* Hàm lương đường lúc ăn cơm xong sau ½ giờ: vi du:7.8.   

   Dưới <7.8  là tốt.

   Trên >7.8 là có vấn đề liên quan đến tiểu đường

 

3- Bảng tóm tắt việc kiễm soát đường.

Dựa vào kết qủa của tolerance test, ta có nhiều hàm lượng đường khác nhau, mà mỗi hàm lượng đều nhắc ta quan tâm ḍúng mức việc trị liệu một cách tích cực.

 

Trước khi ăn

đường trong máu mmol/L

Sau khi ăn (postprandial)

đường trong máu

mmol/L

Nhận xét

4- 6.0

4.0  - 7.7

Đường bình thường

Rất ít thuộc loại diabetes 1.

6.1- 6.9

7.8 - 11.0

Nên giãm thiểu những vấn đề

liên quan tiểu mạch

 ≥  7.0

    ≥ 11.1

Nhiều cơ hội kết hợp biến chứng giữa tiểu và đại động mạch.

Nên điều trị tích cực hơn nữa.

  > 10

  > 20

Luôn luôn điều trị tích cực hơn nữa.

 

                   (Source: Source: Peter Harris et al. 2004)

 

D- Máy thử đường do trời ban cho nơi mỗi người.

 

        Nhất là tại các nước Cộng sản như Bắc Triều Tiên, Cuba hay Trung quốc trước khi mở cửa, dân chúng đói không có cơm ăn, dùng rau cỏ thay cơm, có chết thì cũng bỏ không ai lo cho, mà chết thỉ còn sướng hơn sống, nên chuyện lo thuốc trị tiểu đường cho dân cùng đinh, ở miền xa xôi, là việc khó như mơ ước lên cung trăng bằng phi thuyền. Các bịnh như nhức đầu, cãm cúm thì có xuyên tâm liên. Uống vào không hết bịnh nầy cũng hết bịnh khác chỉ có trời mà biết. Còn bịnh tiểu đường.. thì để trời lo. Thế nên, Ông trời cũng thương người, nên Ông cho mổi người một cái máy thử bịnh tiểu đường mang theo mình mà dùng. Dựa vâo khoa học đã kiễm chứng, cái máy của trời cho được báo trước các hiện tượng như sau:

 

Đối với đàn ông bị bịnh tiểu đường, vấn đề cương (erectile problems) do khả năng cương hay dây cương của dương vật chỉ đạt tới mức 50% mà thôi (Peter Harris et al 2004). Điều nầy gây nên sự đau khổ cho quý Ông thôi, vì khi ra trận thấy địch như con gà mắc dây thun, chạy không nổi, sợ đến nổi không biết làm sao bóp cò súng, chưa xung phong, khi hô tiến... là ngã qụy rồi, không chết là may, trận giặc bị đánh tơi tả, ta thua, địch thắng, bên ta lại bị bắt làm tù binh lao động khổ sai suốt đời. Tại sao lại như vậy? Điều đó xãy ra khi đường trong máu ở trong trạng thaí xấu (quá khỏi mức an toàn) lại xuất hiện hay bị bịnh mãn tính. Như thế, “thằng nhỏ” cũng là một dụng cụ để đo đường trong máu (blood glucose) của trời ban cho mỗi người. Như lực sĩ tập tạ, các bấp thịt: Cương thì không bị binh, Nếu cương chỉ 50% thì bị bịnh tiểu đường. Trong 50% lại có 40%, 20% tùy theo cơ thể khoẻ hay yếu lúc bị bịnh nặng hay nhẹ. Khoa học tìm hiểu sự thất bại lúc tác chiến là không được tiếp tục cương cứng là vì do những nguyên do tâm lý, do đại động mạch suy thoái, hay thần kinh tự động của xương chậu có vấn đề. Cũng là do nhiều biến chứng từ tiểu và đại động mạch mà ra. Hơn nữa, tiểu đường cũng còn gây nguy hại cho thần kinh. Khi các ông bị bịnh diabetes khi ở trang thái xấu hay nặng, nghĩa là đường trong máu gọi là tệ, xấu và quá xấu thì các bà thấy mặt đặt tên mới cho người bạn của mình là: “Ngài, Ông hay Anh “Chung vô diệm” “Hello Mr. Chung vô diệm”. Chung vô diệm khi được nói lái lại là “Chim vô dụng”. Vậy muốn phất cờ khởi nghĩa thì phải tìm sự chỉ dẫn hẳn hoi từ việc ăn uống, tập thể dục,...vv

 

Còn quý bà thì sao? Quý bà bị bịnh tiểu đường thì không cãm thấy đau khổ ngư quý vị đàn ông. Quý bà thì than phiền là không có sự đáp ứng cao với kích thích do cơn hứng cảm nên âm hộ thiếu vắng chất nhờn  (Peter Harris et al 2004)..Thiếu chất nhờn thì nên mua dầu nhờn (lubricants) ở Pharmacy mà dùng khoảng 6-8 dollars gì đó. Mua chất đó thì có nhưng lại mất đi cái cãm kích cao độ như thuở nào thì không còn nữa mà lại không mua được. Đó là cái lẻ vô thường của kiếp người. Có đó rồi mất đó. Thành trụ hoại diệt lẻ nào.

 

Đó là cái máy thử đường mà trời ban cho. Ông bà nảo bị bịnh tiểu đường, nên check cái máy của mình lại, coi có đúng bịnh lý như những điều đã nói trên không, có hoàn toàn chính xác không ?. Máy không có quá date đâu, dù đã củ trên 50-60-70 năm, vẫn ngon như thường. Biết rằng mình bịnh để mà tự lo liệu như lo ăn uống, tật thể dục, hay đi gặp bác sĩ.

                                       Viết lại ngày 24/10/06

 

                                        BÙÌ THẾ TRƯỜNG

 

Peter Harris et al 2004..Diabetes management in general pratice,pub Diabtes Australia Publication NP 1055

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : buithetruong@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính