|
Chúng
ta thật lòng mong được sung sướng và hạnh phúc, thế mà “lại và bị” nào phiền não
cho đến khổ đau quấy rầy mãi mãi. Vì sao? Vì những tà kiến căn bản của chúng ta
với liên hệ thế giới bên ngòai hòan toàn sai lạc nên đưa tới những rối ren như
thế (Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, 2004).Vì rằng chúng ta nghĩ rằng mọi vật trên đời
đều là thật. Ta là thật. Ngã là thật. Tiền của mọi vật chất là thật. Hạnh phúc
là thật. Danh vọng địa vi là thật.Thiên đàng và địa-ngục cũng là thật nữa. Chúng
ta ôm giữ chặt tất cả bằng đôi tay, bằng niềm tin, không cho mất. Nếu bị mất, dù
chỉ một phần nhỏ, hay bị hăm dọa đánh mất, vì bất cứ lý do gì, đều làm cho ta
đau khổ khôn nguôi. Đó là những gì ta nghĩ và những gì làm ta tự đau khổ lấy.
Kinh Lăng già Đức Phật đã dạy: “Tâm là Tông, mà Không là cửa của Pháp”. Như vậy
thì con đường vào hố thẳm, nếu chúng ta muốn vào thì cần buông tay, nghĩa là bỏ
hết, mà nhảy vào cửa “Không”. Đó là cách mà ta sẽ có được cái an lạc. Làm sao mà
nhảy qua khi không thấy cửa? Cứ buông hai tay mà nhảy qua. Nhảy qua. Nhảy qua
đi. Nếu đi vào bằng cửa bằng đôi chân, mà hai tay thì không buông, thì không đi
tới đâu. Và như thế chúng ta vẫn còn khổ não mãi. Vì sao? Vì chúng ta đứng trên
lập trường nhân quả nhị nguyên, nên không tránh khỏi những mâu thuẩn tự nó mà
ra, là vì nhờ duyên mà vào được, thì ắt phải không tránh được sự hũy-diệt, khi
duyên tan lìa. Vậy chúng ta cần có “cái nhìn” thì mọi vấn đề được hóa giải
ngay. Đó là buông cả hai tay mà nhảy vào hố thẳm, nghĩa là phải quyết tâm và
dứt khóat. Buông bỏ hết. Bỏ hết.
BỐN VIÊN NGỌC QUÍ
Khi Đức Phật đắc đạo, cái quan trọng nhất mà Đức Phật quán thấy là vạn pháp ở
trên cỏi đời nầy đếu do các duyên hợp lại mà thành khi duyên đủ vạn vật hiện ra
in tuồng như có, khi duyên tan hết đi, vạn vật biến mất in tuồng như không, chứ
không do một Vị nào như Thần Linh hay Chúa Tể sáng tạo ra để có hay không, lại
cũng chẳng do mọi sự may rủi tham dự vào nó. Đó được gọi là thuyết DUYÊN KHỞI.
Duyên khởi dịch từ tiếng Phạn là Paticca Samuppada. Paticca là tùy thuộc.
Samuppada là sinh khởi. Ví dụ cụ thể là nếu có đủ hơi nóng (tùy thuộc) thì hơi
nước bốc hơi lên (sinh khởi), và nếu có đủ lạnh (tùy thuộc) thì hơi nước trên
hợp lại thành nước rơi xuống
(sinh khởi). Như cây mạ nếu đủ ánh sáng, phân bón, nước, thời gian và môi trường
tốt (tùy thuộc)…thì cho ta hạt lúa (sinh khởi).
Nói về thuyết Duyên Khởi thì cũng phải nói về “Thập nhị nhân duyên” (12 nhân
duyên). Thuyết duyên khởi thì trình bày tính chất chung của mọi hiện tượng trong
vũ trụ. Còn mười hai nhân duyên là để giải thích về sự hình thành, sự họai diệt
của Nghiệp, của đau khổ của con người và của cả cuộc đời.
Về
Thâp nhị nhân duyên, cái cửa thứ nhất dẫn đến với nhân duyên gọi là nhân duyên
môn cũng gọi là Pháp. Pháp là mọi hiện tượng, mọi sự vật, sinh ra từ những duyên
khác nhau: chúng đều không có tự tánh. Duyên thì có hai nguồn gốc: nôi duyên và
ngọai duyên. Ngọai nội duyên là gì? Thí dụ cái châu đựng hoa, thì ngọai duyên
gồm có: đất sét, dụng cụ, lửa nóng để hầm chậu, công nhân khuân vát, củi để đốt,
người thợ nắn chậu, dụng cụ và màu sắc để sơn phết. Còn nội duyên gồm có: vô
minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, hữu, sanh, lão tử. Mỗi thứ
trên, phải có đủ nội hay ngọai hợp thành mới có, nghĩa là phải có nhân rồi mới
có sinh ra. Do các nhân duyên khác nhau làm nên, chúng không có cái tự tánh. Vì
không có tự tánh, nên không thể nào có tha tánh. Bởi tính chất của tha tánh là
không có tự tánh. Thế nên, sự kiện các pháp có được là do ngọai duyên và nôi
duyên mà ra hoặc thành hay họai.
Vì, mọi nhân duyên vốn đều là không. Nên những pháp do nhân duyên sanh ra cũng
đều là không. Những pháp gọi là hữu vi, do nhân duyên sanh ra, cũng đều là
không. Nếu hữu vi pháp là không thì mọi cái ngã nào của chúng cũng đều là không.
Các hữu vi pháp như “ 5 uẩn”, “thập nhị thập”, “thập bát giới” cũng đều là
không, nên chẳng có cái ngã nào trong chúng.Cũng vậy, Đức Phật dạy: “Này các tỳ
kheo, có cái ngã thì mới có những thứ thuộc về ngã. Nếu không có cái nầy thì làm
gì có cái kia”. Có thể hiểu là nếu không có vật gì có thể cháy thì làm gì có đám
cháy
Cần nhấn mạnh là hữu vi pháp là không, thì vô vi pháp “Niết bàn” cũng là không.
Nếu ngũ uẩn vốn là không thì ai có thể đạt tới Niết bàn? Còn Niết bàn thì thuộc
về Vô sanh pháp. Mà hữu sanh pháp không thể thành lập, thì làm sao các vô sanh
pháp lại được thành lập? Hữu sanh pháp là vật có sự sanh khởi, còn vô sanh pháp
là vật không có sự sanh khởi. Cả hữu sanh lẫn vô sanh pháp mà cái ngã của chúng
vẫn vốn là không. Ngài Long Thọ (Nàgàrjuna) cho rằng 12 nhân duyên vốn cũng là
“không” Thế nên không thể nào dùng tâm thức hoặc các yếu tố nội tại để giải
thích thực tại của vũ trụ.
Trong thuyết Duyên khởi, các vạn pháp nương gá nhau bởi do trùng trùng duyên hợp
tạo nên, trong một liên hệ chằng chịt, một cách mật thiết. Nên cái nầy có thì
cái kia cũng có. Cái nầy mất thì cái kia cũng mất. Cái nầy sinh thì cái kia
sinh. Hay nói cách khác, khi nguyên nhân mất thì qủa cũng mất. Khi nhân không
còn thì qủa cũng không. Khi nhân phát sinh thì quả sẽ sinh. Vì tương quan lẫn
nhau trong liên hệ nhân duyên như vậy, nên trong một có tất cả, hay trong một
pháp là có tất cà các pháp. Một mà không còn thì tất cả cũng không còn. Dù ở
trong một tương quan nương gá nhau như thế, mà bản chất của các pháp hợp thành
vẫn vốn là không.
Trong Kinh Tạp A Hàm, có ghi:” Đúc Phật nói: Các Tỳ Kheo, xưa kia, khi ta chưa
thành Chánh giác, ta nghĩ: Cuộc đới nầy là do những nổi khổ ràng buộc: sinh,
già, bịnh, chết. Ta tự hỏi: Do đâu có già chết?
Do
nhờ sự tư duy chính đáng, mà ta biết như vầy: Nhờ có sinh mà có già chết. Do
sinh làm duyên mà có già chết. Ta laị nghĩ thêm: Làm thế nào không có già chết?
Không sinh thì không già chết. Sinh bi diệt thì già chết cũng bị diệt. Lại nghĩ
thêm về 12 nhân duyên là Vô minh sinh Hành, Hành sinh Thức, Thức sinh Danh sắc,
Danh sắc sinh Lục căn, Lục căn sinh Xúc, Xúc sinh Thọ, Thọ sinh Ái, Ái sinh Thủ,
Thủ sinh Hữu, Hữu sinh Sinh, Sinh sinh Lão tử.
Trong 12 nhân duyên, ta thấy vô minh là đầu mối của mọi đau khổ, từ vô minh mà
sinh ra hành, thức cho đến tử. Nếu Diệt vô minh dẫn đến diệt hành. Diệt hành
dẫn đến diệt thức. Diệt thức dẫn đến diệt danh-sắc. Diệt danh sắc dẫn đến diệt
lục-căn. Diệt lục-căn dẫn đến diệt lục-xúc. Diệt lục-xúc dẫn đến diệt thọ. Diệt
thọ dẫn dẫn đến diệt ái. Diệt ái dẫn đến diệt thủ. Diệt thủ dẫn đến diệt hữu.
Tận diệt hữu dẫn đến diệt sanh. Diệt sanh dẫn đến diệt lão, tử ( khổ nảo, ai
óan, đau khổ, buồn rầu và thất vọng)
Dù
rằng kiếp con người chỉ tòan là những nổi khổ đau chổng chất từ lúc sinh ra cho
đến lúc chết. Đức Phật đã bảo “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bể cả.
Nhưng mang được thân làm người thì quả thật là may mắn và hạnh phúc, vì rằng
con người có suy nghĩ, có trí tuệ, có quyết tâm nên rất dễ tu hành tiến bộ.
Đức Phật thường nhắc nhở dù đời có đầy khổ đau, nên xem tất cả khổ đau là chất
liệu cần thiết để bồi đấp cái đạo đức làm người. Đã là người nên luôn tìm cách
học hỏi, bồi đấp làm cho tâm hồn và đời sống được trong sạch tốt tươi hơn, để có
một cuộc đời tốt hơn trong cuộc sống đau khổ và bất trắc nầy.
Trong Kinh Tạp A hàm, có ghi: Một con rùa sống vô lượng kiếp, một trăn măm mới
trồi đầu lên một lần, trên mặt biển và hy vọng tìm được bọng cây trôi bồng bềnh
trên biển để bám vào bộng cây đó. A Nam bạch Phật: Thưa Thế Tôn, con rùa có gặp
được bọng cây đó không? -Không thể gặp, A Nam. Vì sao? Vì con rùa nếu ở biển
Đông, thì bọng cây trôi giạt theo gió tới biển Tây, biển Bắc hay biển Nam. Phật
giải thích thêm: Dù bọng cây trôi giạt tứ phương, nhưng còn có chút hy vọng để
con rùa gặp nó, dù rằng rất ít oi. Nhưng làm kẻ phàm phu đầy vô minh lại trôi
giạt trong ngũ-thú thì rất là khó khăn ngàn lần hơn con rùa có chút hy vọng gặp
bọng cây.”
Để
diệt khổ trong cuộc đời, Đức Phật dạy bài học tại vườn Lộc Uyển về tứ Diệu Đế
là: Khổ đế là quả của đau khổ. Mà nhân của Khổ là Tập đế. Chúng sanh cần biết
nguyên nhân gây ra kết quả của những đau khổ. Phương pháp để diệt nguyên nhân
của đau khổ gọi là Đạo đế. Khi nguyên nhân đã diệt, thì tâm được an lạc, được
thanh tịnh, và giải thóat đó gọi là Diệt đế.
Cái đau khổ có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của con người, là động lực
thúc đẩy con người nên tu hành, nên cải thiện tâm hồn và đạo đức để vươn lên
thành con người có giá trị thật sự. Cái đau khổ cuộc đời như là bể mênh mông.
Cái thân xác mình hiện mang đau khổ như là chiếc bè. Hãy dùng thân xác chiếc bè
nầy để vượt qua bể khổ mênh mong đó mà đến bến bờ thanh tịnh, an lạc.
Có
thể nói, trong cái lý duyên khởi đưa đến cái lý tìm nguyên nhân của sự sinh tử
và con đường thóat ly sinh tử.
Trong duyên khởi nầy có bốn viên ngọc quý:
1—Viên ngọc quý mang tên KHÔNG.
Cái lý của Không gọi là duyên hợp. Duyên hợp lại được hiểu là vạn pháp trên đời
nầy là đều do các duyên nương gá nhau mà thành. Vì nương gá nhau mà thành nên nó
không có cái tự-ngã riêng biệt. Theo duy thức học, không tư ngã là không trường
tồn bất biến. Còn Pháp là tất cả sự vật từ tinh thần cho đến vật chất: hữu tình,
vô tình, hữu vi, vô vi vv . Vì không có tự ngã riêng biệt nên vạn pháp được gọi
là KHÔNG. Vì không có cái tự ngã riêng biệt nên mặc dù là có, dù dưới hình thức
nào, cái có đó vốn thật không phải là cái có. Từ con người, bụi cây, núi non,
sông biển, và cả vũ trụ, đều phải do duyên hợp mà thành, và vạn pháp cũng phải
nương dựa lẫn nhau để mà sinh tồn. Sinh tồn để có, mà in tuồng như là có. Vã
lại, không có một vật nào tự nó có hay tự cô lập chính nó để được có. Trong Kinh
Hoa Nghiêm thì gọi cái vạn pháp có được là do “trùng trùng duyên khởi trong
không gian nhiều chiều” mà cấu tạo thành, cái thành của vạn pháp được coi như là
mộng, huyễn mà thôi.
Những người học đạo thường hiểu Không như không có chi cả. Hiểu như thế, tức là
nhầm lẫn phương tiện và cứu cánh, lấy bịnh làm thuốc. Vậy đừng sợ rơi vào Không.
Dù có rơi vào không đi nữa thì vẫn chưa gọi là chuyện dữ. Chỉ mong sao coi tất
cả cái Có là Không, chứ đừng lấy cái Không làm sự thật, vì bản tánh của chúng
vốn là Không (D.Suzuki, 2001)
“Không” được hiểu thâm sâu hơn ngay bản thân con người khi Đức Phật đã giảng cho
năm vị đệ tử đang thắc mắc về tự ngã như sau: “Hởi sa môn! Sắc thân nầy không
phải là tự ngã, vì nếu là tư ngã thì sắc thân nầy không còn lệ thuộc vào bịnh
tật, vì người ta bảo sắc thân như vầy: sắc thân thế nầy cho ta, và đừng thế nầy
cho ta! (ví như: đừng bịnh gí cả, và trẻ đẹp mãi). Thật vậy, kể cả khoa học ngày
nay dù có tiến bộ trong việc bảo vệ sức khỏe của con người, nhưng không bảo vệ
được sự tàn tạ của già nua, bịnh tật và chết chóc (họai diệt)..:” Vì sắc thân
không phải là tự ngã, nên lệ thuộc vào bịnh tật. Kể cả Cảm giác, tri giác, ý
thức và tinh thần, đều không phải là tự ngã nữa. Vã lại, ngã là cái gì trường
tồn bất biến, mà thâm tâm ta lại thay đổi từng sát na rất nhanh chóng, nên không
thể gọi là tự ngã. Cái ta hay cái ngã mà người đời gọi là linh hồn, cũng là giã,
không có thật. Hình hài và tâm linh lại không hề có chủ thật. Cảm giác và cả tư
tưởng cũng không hề có cái ta làm cảm hứng và cái ta làm cá thể suy tư. Khi các
pháp được kết hợp khi đủ nhân duyên cần thiết thì cái ý niệm về cá thể xuất
hiện, cá thể ở đây chỉ cho vọng tưởng hiện bày mà không phải là thật thể (Tỳ
Kheo Ni: Như Thanh, 1993).
Đức Phật dạy thêm: “Mọi vật trên trần thế nây, không có vật nào có caí ngã riêng
biệt cả. Tất cả các pháp có được cũng chỉ là những hợp tướng tạm thời của nhiều
phần tử duyên hợp lại với nhau. Lúc nào duyên hết thì hợp tướng phải tan rã. Đó
là lý vô ngã vậy (Abatman).
Đạo lý thâm uyên của nhà Phật được xây dựng trên thuyết vô ngã nấy.
Ngã là gì? Hay nói rõ hơn là tự ngã là nghĩa gì? Theo Ba la môn, cái ngã hay tự
ngã là gồm có ba nghĩa nơi chính nó: đồng nhất, bất biến và tự tại (Thich Thanh
Từ, 1990). Vì tự tại và bất biến nên nó nghĩ
rằng nó trường tồn ẩn náo trong thân xác, dù cho thân xác nầy hũy họai, nó vẫn
tồn tại, không bị chi phối, đồng nhất vì không biến đổi. Ngược lại là Duy vật
phái, phái nầy chủ trương con người vốn do vật chất hợp thành, một khi thân xác
tan họai thì không còn caí chi khác nữa, dù gọi là linh hồn. Hai lối chấp ở trên
đều đem đến cho xã hôi nhiều tai hại hơn,
nhất là về những giá trị đạo đức.
Như vậy thì vô ngã là không có cái đồng nhất, bất biến và tự tại. Con người vô
ngã đã đành, mà tất cả vạn pháp cũng là vô ngã hết. Vì sao? Vì vạn pháp chịu
một định luật chung, sinh diệt không ngừng nghĩ, nương gá nhau mà thành, không
độc lập. Vì là vô ngã, nên không có cái tôi ở sau mọi cá thể. Vì cái tôi không
có, nên trong duyên khởi Đức Phật không nói về ai, về người nào, mà chỉ nói
những duyên tạo thành nương gá mà thôi. Ví như nói về sinh, bịnh, lão, tử, chứ
không nói ai là sinh, bịnh, lão tử; như nói về vô minh, chứ không nói ai là
người vô minh. Ngã vốn là không thì làm gí có cái liên quan đến cái ngã?
Như vậy, theo lý duyên khởi thì mọi vật trên thế gian nầy đều là giã danh, hay
nói một cách khác là sự tập hợp của nhiều phần tử không có tự tánh với danh tánh
cũng chỉ là những quy ước. Ví dụ như trong ngũ uẩn gồm: sắc, thọ, tưởng, hành,
thức. Năm uẩn nầy hợp thành con người mà không có cái tôi đứng sau chúng gì cả.
Nhiều người nghĩ cái tôi qua chử “chính mình” lại cũng là một sự sai lầm do
trí-thức tạo nên, do vô minh mà có. Trong tuyết Vô ngã của Phật giáo, thuyết
“Không” không phải là kết quả của các phân tách tâm lý, mà là kết quả của một
trực giác hưng phấn do kết quả của thiền quán mà thành, trong đó hòan tòan không
có một suy lý nào được dùng đến (D.Suzuki, 2001).
Không là viên ngọc quý được thấy trong hầu hết các bài kinh kệ từ Tiểu thừa cho
đến Đại thừa, được Đức Phật thuyết pháp.
a-
Không là cội nguồn của sự
giác ngộ.
Cái “Không” rất ư là quan trọng trong việc giác ngộ. “Ưng vô sở trụ, sinh nhi kỳ
tâm”. Tâm “không trụ” vào đâu, nghĩa là tâm trong sạch như không, thì tâm không
còn phiền não. Đối với các pháp niệm niệm mà lòng không trụ vào đâu thì khỏi bị
buộc ràng.Ta có cái tâm thật trong sạch, thanh tịnh, là đạt được sư an lạc rồi.
Khi Đức Phật còn tại thế, trong hàng Phật tử theo Phật có Ông Suddhipanthaka,
người học trước quên sau, học xong bửa nay lại quên bài hôm trước. Căn cơ Ông
thật là chậm tiêu. Dù theo Cù Đàm rất lâu, những bạn đồng môn đều được chứng
quả, riêng Ông thì không chứng đắc được điều gì, lại chẳng nhớ một câu kinh, bài
kệ, chẳng hiểu được điều gì. Bị người anh quở trách:” Tu như thế thì ở nhà nấu
cơm gánh củi còn hơn là đi tu”
Qúa tủi thân, Ông dứng khóc. Đức Phật trong tịnh xá đi ra thấy vậy, dừng bước và
hỏi Ông: Vì sao con khóc ? Bạch Thế Tôn, vì người anh của con thấy con u-tối, tu
học không nổi, nên muốn con về nhà có ích hơn là đi tu.
Đức Phật cầm tay Ông, dẫn Ông vào tịnh xá và ôn tồn dạy:” Nếu con có thiện chí
tu hành, ta chỉ dạy con phương pháp tu. Con chỉ cần nhớ hai chử mà thôi. Nầy
Suddhipanthaka, lắng nghe và nhớ kỹ hai chữ “Tảo Tuệ” này.
Quá mừng, Ông đảnh lể Đức Phật và quyết tâm thực hành lời chỉ giáo. Nhưng than
ôi, thương thai cho Ông, Ông học được chử Tảo thì quên chử Tuệ. Ông học được chử
Tuệ thì quên mất luôn chử Tảo.
Đôi khi Ông lại quên luôn cả hai chử. Nhưng quyết tâm và sợ Đức Phật buồn vì ra
sức chỉ dạy Ông, Ông quên cả ăn, bỏ luôn cả ngủ,
tuần đầu thì nhớ được chử Tảo, lại quên chử Tuệ. Hai tuần sau, lại nhớ chử Tuệ,
lại quên đi chử Tảo. Đến cả tháng sau và sau nữa, Ông mới nhớ được cả hai là Tảo
Tuệ. Thật là khổ cho Ông.
Đi
đâu Ông cũng lẫm bẫm hai chử đó, nhưng lại chả hiểu ý nghĩa là gì? Tại sao Đức
Phật lại dạy hai chử ấy, có tác dụng gì? Ông vui vẻ hối hã tìm Phật và bạch thưa
Phật: “Đến hôm nay, con mới thuôc hai chử Tảo Tụê rồi. Kính xin Đức Phật chỉ dạy
cho con cái nghĩa của hai chử ấy.
Đưc Phật cười rất hiền hòa và dạy Ông. Nầy Suddhipanthaka, Tốt lắm: “Tuệ là
chổi. Tảo là quét. Con dùng chổi trí tuệ mà quét sạch mọi phiền não nơi tự tâm
con đi”.
Rồi Ông quyết tâm làm theo lời Phật dạy. Ông quan sát nơi lòng Ông, gạn lọc
những phiền não, tẩy trừ những ý niệm xấu xa, quét sạch mọi thứ xấu ở trong để
được trong sạch và thanh tịnh. Sau một vài tuần quét dọn sạch sẽ, Ông cảm thấy
lòng rỗng rang thanh thóat, một sự an lạc tràn đầy, mọi vật hiện ra an bình và
sáng rõ. Vui mừng quá, Ông đi tìm Phật.
-Bạch thế Tôn, Con đã dùng chổi trí tuệ và quét sạch mọi phiền não. Con cãm thấy
đầy an lạc và thanh thản nơi con
Phật mĩm cười hiền hòa khen ngợi:
-
Đúng vậy, Con đã trừ nhơ rồi. Con đã giác ngộ.
b-
Nhờ Không, mà chúng sanh
được giải thóat.
Vì
sao? Đạo Phật chủ trương là cảnh tỉnh sự tự giác của chúng sanh hơn là sự ngăn
cấm. Nghĩa là đánh lên hồi chuông thức tỉnh để mọi người biết đâu mà hối lỗi,
đâu để kiểm điểm lại mình, và đâu để cải thiện đời sống. Tất cả cố quay về mọi
xuất phát từ đáy lòng mà không có những sự ép buộc, hay dụ dỗ phải theo. Tự do
chọn lựa là nấc thang giúp chúng sanh bước tới sự giác ngộ và giải thóat. Thêm
nữa, khi quy–y tam bảo và giữ ngũ giới, có nghĩa là nếu ta không phạm một giới
thì tư ta giải thóat cho ta được một lần. Giữ không phạm hai hay ba giới thì ta
tự giải thóat cho chính ta tới hai hay ba lần. Ngược lại, nếu có giết người,
trộm cấp, lang chạ, dối trá, rược chè be bét, điêu ngoa, thì người phạm tự hạ
nhân phẩm của mình, chứ Đức Phật không ngăn cấm, rồi bị xã hội khinh khi, và
ngục tù chờ đợi (Thich Thanh Từ, 1990).
Một hôm nọ, có môt Ông lão thuộc going Phạm Chí đến hỏi Phật:
“Bạch Ngài, lâu nay con đến chúng Ni Kiền Tử, Chúng Mạc Dà Lê, chúng Tán Nhã Đa,
vv.. ai ai cũng cho đạo mình là thâm diệu hợp lý. Giờ đây, Thế Tôn nói Pháp của
Ngài là giải thóat, an lạc, nên con không bíết phải theo bên nào?
-
Đừng theo
ai cả. Ông hãy đem “Bát chánh đạo” của ta mà so sánh với các giáo pháp khác. Khi
đó, Ông nhận xét bên nào có lợi ích thiết thực cho chính Ông, cho chính mọi
người, rồi Ông hãy theo.
-
Dạ. Ông
lão đáp.
Đức Phật thường nhắc nhở chúng sanh rằng: “Ta không có quyền ban phúc hay
giáng họa cho ai. Ta chỉ là Ông thầy đưa đường dẫn lối cho chúng sanh vượt qua
mọi tai ách, là vị lương y chửa lành bịnh đau khổ cho chúng sanh, nếu chúng sanh
làm đúng theo điều ta chỉ dạy.”
Thế nên, chúng sanh đừng nên ngồi ù-lỳ, buông thả theo ngũ dục, mà chờ đợi sự
cứu vớt của Phật của Thầy. Đừng bao giờ nghĩ và làm như vây. Chúng sanh cũng
đừng làm bất cứ điều gì dù cho là dữ hay lành, với những viện cớ để che đậy tội
ác của hành động mình. Điều đó, chính chúng ta tạo lấy ngục thất, tự chúng ta
chui vào địa ngục của hành động mình làm. Mê cũng là
ta, giải thóat cũng chính là ta. Mình có cái tự do
cởi trói cho chính mình, giải thóat cho chính mình. Không thể cầu cứu nơi ai,
hay những gì bên ngòai giải thóat cho ta được. Chỉ có ta biết sửa đổi những quan
điểm sai lầm của ta, tự nhiên ta được giác ngộ vây.
Chỉ
có ta có định hướng, ta bước tới, định hướng theo đúng lời chỉ dạy hướng đi của
Bụt thì ta mới bước tới đúng chổ được. Nếu không thì
chỉ lang thang, quanh quẩn.
Một hôm, một người Bà la Môn đến hỏi Phật:
-
“Này Sa môn Cù Đàm, đệ tử của Ngài rất đông, chẳng biết có đạt được Niết bàn hết
chăng”?
-Có một số đạt được, một số chưa đạt.”
-
Tại sao có kẻ đạt được Niết bàn, người khác lại không?
-
Này Ông, Ông biết thành Vương xá không?
-
Thưa Ngài, Tôi biết.
-
Nếu có người đến hỏi ông con đường nào đi đến thành Vương xá, chắc Ông sẽ trả
lời: “Theo con đường thẳng, xuyên qua đám rừng già, đến ngã ba, rẽ qua phải, đi
thẳng theo con đường ấy, đến một vườn hoa xinh đạp, rồi khỏi vườn hoa ấy là tới
thành Vương xá. Người ấy đi đúng theo sự chỉ dẫn của Ông, vậy họ có đến được
thành vương xá không?
-
Thưa Ngài có.
Lại có người khác hỏi đường về thành Vương xá. Ông cũng chỉ như vây. Nhưng người
nầy khi đi đến ngã ba, thì quẹo trái, và cứ lầm lũi mà đi. Vậy người nầy có đến
thành Vương xá không?
-
Thưa Ngài. Làm sao họ đến đươc.
-
Cũng một Ông chỉ đường, mà có người đến được thành Vương
xá
và có người không đến thành Vương xá là sao?
-
Cũng vây tôi chỉ dạy rành rẽ lối đi đến Niết bàn, mà đệ tử tôi, có người thực
hành đúng, có người thực hành không đúng, mới có sự sai biệt như vây. Nhưng lỗi
ấy không phải là tại tôi.
Đức Phật đã dành sự tự do chọn lựa cho ta, tự do tu tập cho ta, tự do vươn lên
cho ta. Ngài không hạn chế, không bắt chẹt chúng ta, không dùng quyền lực hay
cấp bực nào cả bắt ta phải theo. Không, không tất cả. Nhờ Không mà có tất cả.
Tự mình ý thức, tự mình mình gặt cái mình gieo ( T Thanh Từ, 1990).
c-
Không là cánh cửa không có kẻ thù.
Đức Phật dạy: “đem oán thù trả oán thù” là điều không hợp với chánh pháp. Đức
Phật dạy thêm, lấy Đạo Đức làm cứu cánh trong mọi hành động. Dù việc làm có lơi
cho Đạo, cho tập thể mà tổn thương đến Đạo dức thì nhất định không làm. Nhớ
rằng, trước ánh sáng của bóng đèn, không có bóng tối. Người Phật tử luôn luôn
xem mọi người như là bạn, dù rằng chính họ đã làm ta điêu đứng nhiều phen. Trong
việc rèn luyện đức độ của mình, tất cả các nghịch cảnh đều giúp mình có được
chiều sâu và giúp mình tiến vượt xa hơn là không có nghịch cảnh.
Chuyện một con hổ dữ biến thành con mèo con dễ thương là một
ví dụ cụ thể cần suy nghĩ.
Mỗi buổi sáng Bụt đi khất thực tại thành Savatthi. Nhưng buổi sáng hôm nay đường
phố lại vắng tanh. Bụt đứng trước nhà thường cúng dường cho Bụt, và chờ một lúc
lâu, nhưng không ai mở cửa. Bụt tiếp tục đi nhà ở kế bên. Bổng nhiên cửa nhà mở,
và người chủ nhà vội vã kính mời Bụt vào nhà và đóng cửa khóa chặt lại. Rồi kính
thưa:
-
Bạch sa
môn, đi đường hôm nay rất nguy hiểm, vì có một tên sát nhân tên là Angulimala,
xuất hiện và hạ sát rất nhiều người. Khi hạ sát xong nó chặt ngón tay người bị
giết chết làm xâu chuổi đeo vào cổ. Nó định giết tới 100 người, vì nếu được 100
lóng tay của 100 người, thì nó nghĩ nó sẽ đạt được quyền lực của bùa chú to lớn
ghê lắm. Đặc biệt, nó giết người chớ không cướp giật của cải. Phía chánh quyền
nhà vua Pasenadi cho điều động quân đội, cảnh sát bao vây và truy nã nó.
-
Tại sao
cần đến quân đội và cảnh sát?
-
Vì tên
sát nhân nầy võ nghệ cao cường lắm. Có 40 người đàn
ông không đủ sức đới địch với nó. Phần lớn đều bị bỏ sát và một ít chạy thóat.
Có lần một tóan vảnh sát tới 20 người có trang bị vũ khí, vây bắt nó, duy chỉ
còn 2 người bị thương trốn thóat chạy về.Vì thế, dân chúng kinh sợ, không dám đi
ra đường, buôn bán hay làm ăn gì được cả, kính thứa sa môn.
Nghe xong, Bụt cám ơn gia chủ, về việc cho biết về Angulimala, và giã từ ra đi.
Chủ nhà nài nỉ Bụt ở lại, vì quá nguy hiễm cho bản thân của Bụt, nhưng không
được. Bụt phải đi khất thực như mọi hôm để giữ vững niềm tin của mọi người.
Đang đi thong thả trong chánh niệm. Bụt nghe tiếng chân chạy đuổi phía sau Bụt.
Bụt vẫn thản nhiên và không hốt hoảng. Vẫn đi từng bước chậm rãi, an nhiên, ý
thức những gì xãy ra trong tâm và hòan cảnh của mình. Bụt nghe tiếng Angulimala
gọi từ sau vọng tới:
-
Ông sa môn!
Đứng lại!
Bụt
không đứng lại. Bụt vẫn chậm rãi đi.
Tiếng
chân của hắn bây giờ là ngừng chạy và hắn đang rảo bước theo Bụt, nghĩa là kẻ
sát nhân ở gần cạnh Bụt. Trong tay Bụt chỉ còn có
chiếc bình bát bằng đất và đôi nấm cơm mà người dân vừa cúng dường cho Bụt để
trong đó, không có chi hết để tự vệ. Bụt biết Angulimala ở bên cạnh người, lại
có đeo khí giới giết người. Nhưng người vẫn ung dung bước đều đặng coi như không
có gì xãy ra. Tất cả đều là không đối với Bụt. Tên Angulimala đang đi ngang hang
với Bụt. Bụt nghe anh ta quát tháo:
-
Ta đã bảo
Ông đứng lại, tại sao Ông tiếp tục đi mà không chịu dừng?
Bụt vẫn không dừng lại, vừa đi vừa đáp:
-
Angulimala, ta đã dừng từ lâu rồi, chỉ có anh mới chưa chịu dừng lại mà thôi.
Angulimala giựt mình. Im lặng môt lúc. Đầy ngạc nhiên. Ông sa môn nầy nói cái gì
lạ thế? Ông ta đã dừng lại đâu nào? Chân Ông ta vẫn còn bước, thế mà Ông ta bảo
Ông đã dừng lại. Phải hỏi cho ra lẽ. Nghĩ như vậy, hắn ta phóng tới phía trước,
chận đường đi của Bụt.
Bụt dừng lại. Người đưa mắt nhìn Angulimala. Mắt người hiền hòa, và sáng như
sao. Hắn ta chưa bao giờ thấy ai trầm tĩnh, uy nghiêm, và thản nhiên như thế.
Phần lớn, hầu hết nhiều người mất cả bình tỉnh, sợ hãi và chạy trốn khi đối diện
với hắn. Còn Ông thầy tu nầy xem mình như kẻ không ra gì. Và ông lại biết mình,
và gọi đúng tên mình. Lạ thật. Ông tỏ vẽ không biết sợ, mà lại điềm đạm, ung
dung và nhìn thẳng vào mắt mình bằng con mắt thật hiền hòa và sáng chói. Tại sao
lạ vậy, hắn ta cất tiếng hỏi:
-
Hồi nãy,
ông nói ông đã dừng lại trong khi chân ông bước,
điều đó có nghĩa là sao? Ông nói tôi chưa chịu dừng lại, điều nầy có nghĩa là
gì? Ông nói đi?
Bụt bảo:
-
Những
hành đông gây đau khổ cho chúng sanh, là ta đã dừng lại từ lâu rồi. Ta đã học
được hạnh bảo vệ sự sống cho con người và tất cả loài sinh vật.Trong tất cả các
lòai sinh vật, kể cả lòai người, lọai nào cũng muốn sống và sợ chết. Vì vậy ta
phải có lòng thương yêu. Đem tình thương yêu ấy đến muôn lòai và bảo vệ sự sống
cho chúng ( T Nhất Hạnh, 1992)
-Bụt dịu dàng thêm:
Này, Angulimala, ta biết anh từng đau khổ và chính con người làm anh đau khổ.
Con người có khi rất ác độc. Ác độc vì đầy si mê, vì u minh, vì hận thù, vì tham
dục và vì ganh tị. Nhưng con người lại có khi rất hiểu biết, rộng lượng, tha thứ
và rất từ bi. Tất cả các vị khất sĩ của ta cũng phát tâm bảo vệ sự sống muôn
loài và đồng thời tự diệt trừ hận thù, si mê và tham dục nơi chính họ.
Angulimala, ở đời cũng có kẻ ác nhưng cũng có kẻ hiền từ. Đạo ta chuyển hóa kẻ
ác ra kẻ hiền. Hận thù là con đường nên tránh. Anh đang đi trên con đường ấy.
Nên dừng lại thôi Angulimala. Hãy chọn con đường hiểu biết, tha thứ và có tình
thương mà đi. (T Nhất Hạnh, 1992)
Được nghe giọng nói hiền hòa và đầy tình thương, hắn ta nhìn Bụt, Thấy gương mặt
Bụt đầy nhân hậu, làm cho tâm hồn hắn thay đổi hòan tòan. Tình thương và lòng từ
bi của hắn đã mất từ lâu, bỗng bừng dậy. Còn cái tâm ác độc giết người của hắn
lại biến mất. Môt con hổ dữ ăn thịt người, bây giờ trở thành con mèo con dễ
thương. Ngay khi đó, hắn cảm nhận rõ ràng rằng, vi sa môn nầy không có hận thù,
lòng đầy tình thương, mà thiên hạ ca tụng và tôn xưng là Phật.
Hắn ngước đôi mắt tròn xoe nhìn Bụt và ấp úng thưa:
-
Thầy có phải
là sa môn Gotama đó không?
-
Bụt gật đầu.
Không nói chi cả. Và nhìn hắn.
-
Tôi đã
giết nhiều người. Bây giờ có muốn dừng lại cũng không được. Quá trể rồi. Họ
không tha mạng sống của tôi đâu.
- Bụt bảo: Đừng nghĩ vây, Angulimala. Dừng lại trên con đường hận thù và
giết chóc là một điều tốt nhất trong tất cả điều tốt. Biển đời tuy mênh mông,
nhưng nếu biết quay đầu lại là nhìn thấy được bến bờ.
-
Nhưng
người ta không để cho tôi yên.
- Đức Phật đưa tay nắm lấy tay hắn và ôn tồn nói: Angulimala, ta sẽ bảo vệ
cho anh, nếu anh nguyện làm lành, lánh dữ, siêng năng học đạo, sám hối lỗi lầm,
và phục vụ cùng giúp đở mọi người. Ta thấy anh là kẻ thông minh. Hiểu được điều
ta muốn nói. Anh sẽ thành công trong bước đường hướng thiện.
Angulimala liền quỳ xuống trước mặt Bụt. Anh cởi dao đeo bên lưng, cầm hai tay
và đặt xuống đất. Rồi sụp lại sát đất dưới chân Bụt. Xong laị khóc nức nở. Vừa
khóc lại vừa nói:
-
Con nguyện hối cải, làm lành, quyết tâm theo Bụt học hành từ bi. Con cúi xin Bụt
cho con làm đệ-tử của Bụt.
Bụt gật đầu.

(Source : HT Thich Nhat Hạnh, 1992)
Angulimala được làm lễ phát, được hướng dẫn về thiền tọa, khất thực, và thiền
hành. Sau một tháng, Angulimala hoàn tòan lột xác và trở nên một vị khất sĩ có
tướng tụng và tướng mạo rát uy nghi và đẹp đẻ, và ai cũng gọi là tỳ keo
Ahimsaka.
Một buổi sáng nọ, Bụt cùng 50 vị khất sĩ vào thành Savatthi khất thực, trong đó
có cả Ahimsaka. Đến cửa thành, Bụt gặp vua Pasenadi cùng tướng lãng, quân đội và
cảnh sát đang hành quân lung bắt Angulimala. Nhìn thấy Bụt, vua vội vàng xuống
ngựa, đến chào hỏi Bụt. Bụt hỏi lại vua:
-
Đại vương, có biến cố gì mà vua thân chinh hành quân vây?
-
Thưa Thế Tôn, Trẫm hành quân để vây bắt tên sát nhân Angulimala. Đây là tên sát
nhân nguy hiễm vô cùng, hiện tại đang ở Savatthi, mà dân chúng thì sợ nó đến mất
tinh thần, còn cảnh sát vẫn chưa tìm tông tích của nó.
-
Nhưng giã dụ, tên sát nhân đó phát nguyện không sát sinh, sống đạm bạc, tôn
trong sự sống của muôn lòai, thì bệ hạ có tìm bắt nó nữa không?
-
Thưa thế Tôn, nếu nó theo Bụt xuất gia, giữ giới, có đời sống phạm hạnh cao như
các vị khất sĩ, thì trẫm không bắt hắn mà tới đãnh lễ và cúng dường y áo, thuôc
men.
Bụt đưa tay chỉ dại đức Ahimsaka, đứng sát sau lưng Bụt, và nói với vua:
-
Đại
vương, đây là Angulimala, đã xuất gia, trở thành khất sĩ, sống đời phạm hạnh,
chừng một tháng nay.
Quốc vương Pasenadi thấy hắn và sợ dựng tóc gáy.
Bụt nói:
- Đại vương đừng sợ. Khất sĩ Angulimala bây giờ hiền hơn cụt đất. Và bây giờ
là đại đức Ahimsaka.
Vua nhìn đại đức một lúc lâu, và tiến tới mà nói: xin đại đức Ahimsaka cho phép
trẫm cúng dường y-áo, thuốc men.
Vua trở về đứng trước mặt Bụt, và thưa:
-
Bạch đức Thế Tôn, đạo đức của Thế tôn thật là mầu nhiệm. Những bạo động không
giải quyết bằng quân đôi hay cảnh sát, thì Thế tôn giải quyết được hết chỉ bằng
đức độ của Thế tôn. Trẫm xin ghi ơn công đức của Thế tôn. Trẫm xin giã từ. (T
Nhất Hanh, 1992).
2- KHÔNG TƯỚNG, hay VÔ TƯỚNG.
Không tướng (tiêng Đức gọi là ohne Nicht) là không có hình tướng, ngay cả tướng
vô của nó. Mọi hữu vi đều có tướng của nó. Như con người, có đầu mình thân, tứ
chi. Đầu thì có mắt, mũi, tóc, tai,vv. là tướng con người. Cái cổ xe gồm có bánh
xe, trục xe, càng xe vv. là tướng của cổ xe.
Câu hỏi đặt ra là: như vậy sanh, trú, diệt, thì thuộc về Hữu vi hay vô vi?. Ngài
Long Thọ lý luân như sau: Nếu sanh là hữu vi thì nó phải có ba tướng (sanh, trú,
diệt). Như trú thì phải có sanh, trú và diệt. Và diệt thì cần có sanh trú và
diệt. Mỗi thứ có 3 cái tướng (sanh, trú và diệt), và cứ tiếp tục đến vô cùng
tận. Vì vậy không thể gọi sanh thuộc về hữu vi pháp. Tương tự lý luận cho trú và
diệt. Nếu sanh là vô vi thì làm sao nó có tướng của hữu vi. Tướng hữu vi là
sanh, trú và diệt. Nhưng các pháp vô vi thì không thể phân biệt được sanh, trú
hay diệt, cho nên không thể có sanh, có trú và có diệt ở vô vi. Mà sanh trú
dịêt vốn là không. Nên hữu vi là không. Hữu vi là không thì vô vi cũng là
không. Khi hữu vi pháp và vô vi pháp là không thì cái ngã cũng không. Khi cả
ba thứ trên là không thì chư pháp đều không.
Thế nên, các nhận thức như có, không, có có, không không, sinh, diệt, còn mất,
sạch, dơ, giàu, sang, hèn, hạ, thêm, bớt, khổ, đau, tới, đi, đều được gọi là
tướng trạng. Các tướng trạng nầy có được đều là do các nhận thức phân biệt úp
chụp vào nó với cái tên gọi cho mỗi thức nói trên một cách riêng biệt. Vô tướng
là vượt qua những khuôn khổ của trí thức phân biệt đó.
Sở
dĩ có những tướng trạng phân biệt đó là vì con người không thấy được cái tự thân
của thưc tại. Bởi thực tại, ngọài cái do duyên hợp tạo thành, còn có cái tương
quan chằng chịt lẫn nhau. Trong Duy thức học gọi là tương tức và tương nhập.
Tương tức là cái nầy trong cái kia, cái kia trong cái nầy; còn tương nhập là cái
nầy đi vào cái kia hay ngược lại. Thành thử, với con mắt người thường thì không
thấy được cái tương quan chằng chịt trên. Nên nhờ quán chiếu lâu ngày mới thấy
rõ thực tướng của các tướng là có những tương quan với nhau. Trong hạnh phúc có
khổ đau, trong sinh có tử, trong đau khổ có niết bàn.
Không tướng sẽ giúp chúng ta có được cái tâm an lạc hơn, bình thản hơn, hạnh
phúc hơn. Khi ta gặp khổ, ta sẽ thấy đâu đó niềm vui và hạnh phúc, và cảm nhận
niết bàn gần bên. Khi được giàu sang ta lại bớt tánh khoe khoang, tánh khinh
đời, khinh người nghèo khổ. Vì bên cạnh của giàu sang là nghèo hèn và đói rách.
Sự chuyển đổi từ giàu sang ra nghèo khổ mau nhanh như giấc mộng.
Thêm nữa, Không còn có những khía cạnh diệu lý tích cực khác cần thiết cho con
người. Thật vậy, nhân tình thế thái của người đời rất là bội bạc, thường bóng
gió chê bai, trêu chọc, phỉ báng, nói xấu những gì người khác làm, như trường
hợp Ông Tu Bồ Đề: “Ông ấy trong việc tu hành không có gì nổi bật, trong hạng tỳ
kheo, giống như người ngơ ngáo mà thôi”. Bụt dạy, nếu gặp như thế, đều coi là
tăng thượng duyên, đều xem là những nghịch cảnh trên giúp ta tiêu trừ bớt nghiệp
chướng, giúp cho tâm trí ta càng thêm mạnh mẽ.
Vì
sao? Nên quán chiếu rằng là Chơn lý không có chấp Ngã, chấp Nhơn. Vì nơi Chơn
Không, tất cà đều là Nhất Tướng bình đẳng, nên trong lòng ta luôn trong sáng,
không áng mây gợn lên, nên không cần gì phải biện bạch.
Vì
sao? Nếu quý vị giữ lời ngơi khen hay chê bai trong người thì còn ngã chấp chưa
đọan trừ, thì còn chìm đắm trong pháp chấp Có. Như vậy khó chứng đắc (Tỳ Kheo
Ni: Như Thanh, 1993)
Chuyện kể rằng có một vị nổi tiếng là Tu Bồ Đề. Trước khi Ông ra đời, gia đình
Ông rất giàu có. Nhưng khi Ông ra đời, thì gia đình Ông trở nên nghèo khổ và sa
sút, tất cả của cải đều bị mất hết. Nhiều Thầy bói cho rằng đó là điềm tốt đại
kiết, đại lợi cho gia đình, vì rằng đứa kia, lớn lên, sẽ đi tu, và sẽ hiểu được
cái diệu nghĩa của Không một cách tột cùng nhất. Đứa bé sau nầy không bị danh
vọng hay lợi lọc trói buộc.(Tỳ Kheo Ni: Như Thanh, 1993).
Thật vây, sau nây lớn lên, Tu Bồ Đề đi tu theo Bụt. Tại Tịnh Xá Kỳ Viên, Tu Bồ
Đề thỉnh vấn Phật “Làm sao để an trụ tâm trong Chánh pháp mà chẳng có vọng
niệm”. Phật dạy: “Khi thi hành pháp bố thí thì cần phải hành pháp “Bố thí vô
tướng”. Khi cứu độ chúng sanh cần phải hành pháp “Vô ngã độ sanh”. Cũng luôn
quán chiếu như vậy để hàng phục tâm mình. Tu Bồ Đề quỳ lại Phật và thưa rằng
pháp lý nhiệm mầu sâu xa như thế, lần thứ nhất con mới được nghe. Về Chấp tức là
Ngã chấp và Pháp chấp, cũng như về Tướng thì tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng
sanh, tướng Thọ giã, tất cả không còn trói buộc con nữa. Vì không trói buộc con,
nên con thấy được lý “Chân không vô tướng”, là chân lý tối thượng của con người.
“Không” được hiểu theo ngôn ngữ của kinh Kim Cang thì “Không” không phải là
Không thì mới chính là Không”. Theo Ngài Lục tổ Huệ Năng, tổ của Thiền Tông thì
lấy “vô niệm” (tiếng Đức niemals) làm Tông, lấy “vô tướng” (tiêng Đức ohne
Nicht) làm thể, lấy “vô trụ” (tiếng Đức Nirgends) làm gốc.
Không tướng là đối với sắc tướng, lòng xa lìa sắc tướng. Đối với sắc tướng mà
tâm lìa được, thì cái thể của các pháp (hữu vi hay vô vi) tự nhiên thanh tịnh.
Đó là không tướng làm thể.
Không trụ là đối với mọi điều dữ, tốt xấu ở thế gian, kẻ thù hay người thân, khi
nghe những lời xúc phạm, khinh khi, châm chích thì xem như không, chẳng nghĩ đến
việc đền ơn trả óan. Trong niệm mà lòng chẳng nghĩ đến những cảnh mà mình đã gặp
trước. Còn đối với các pháp, niệm niêm mà lòng không trụ vào đâu thì không bị
ràng buộc. Ấy là không trụ làm gốc. Đó là lời dạy của Tổ Huệ Năng
Còn không niệm làm Tông là sao? Đối với các cảnh mà tâm chẳng hề nhiễm gọi là
Không niệm. Nếu tâm nhiễm thì gọi là vọng niệm, có vọng là có tà kiến. Có tà
kiến là có trần lao vọng tưởng sanh ra. Trong khi niệm, trong các tưởng niệm của
mình, lòng xa lìa cảnh, đừng để cảnh sanh tâm, làm vọng động. Cho nên gọi là
Không niệm làm tông. Lục Tổ Huệ Năng dạy.
Niệm
là niệm cái gì? Niệm thì niệm cái Chơn như của bổn tánh. Chơn như là thể của
niệm. Còn niệm là cái dụng của chơn như. Tánh Chơn như khởi niệm thì sáu căn tuy
có nghe thấy hiểu biết mà chẳng nhiễm muôn cảnh. Vì không nhiễm cảnh, nên chơn
tánh luôn tự tại. Luc tổ Huệ Năng dạy.
Và
con người ở trong vũ trụ nầy luôn luôn bị kẹt vào thế giới của tục đế, và đó
cũng là hòan cảnh bi đát của con người. Vì con người không được một lần “vô mà
không vô”, không những một lần mà lại nhiều lần, “ không vô mãi mãi”. Cũng thế,
Không một lần vô niệm. Không một lần vô trú. Không một lần vô tướng. Và rất
nhiều lần, như thế mãi mãi.
Như
thế thì ngoài cái Không hay không tự ngã nơi vạn pháp, mà con người nhờ có trí
huệ mới nhận biết được, nay còn có một cái Không khác quan trọng nữa là “Chân
không vô tướng, tự tại” nơi bản thân mình. Đó là cái “Chân tâm của mình” tạo ra
niềm an lạc và hạnh phúc.
3-
Không chạy theo.
Không
chạy, không cầu, không van xin. Vì sao? Vì chạy theo hay chạy trốn vốn là bản
chất của người đời. Người đời thường chạy trốn khỏi một pháp để theo đuổi một
pháp khác tốt hơn. Bỏ nghèo chạy sang giàu. Bỏ kẻ cô thế mà nịnh người có thế
lực. Bỏ thấp mà bò lên cao. Bỏ sinh tử mà chạy về giải thóat. Bỏ đau khổ để mà
tìm cầu niết bàn. Họ quên rằng, trong vũ trụ nầy các pháp tự nó đều có mặt trong
nhau thì làm gì mà chạy? mà đuổi? mà van xin? Thật
vậy, cách đây trên 2650 năm, Đức Phật đã thấy và căn dạy rằng trong môt pháp thì
có tất cả các pháp, một mà không còn thì tất cả cũng không còn.
Vạn pháp nương gá nhau mà có mặt, do trùng trùng duyên hợp tạo nên, trong môt
liên hệ chằng chịt, một cách mật thiết, nên cái nầy có thì cái kia cũng có, cái
nầy mất thì cái kia cũng mất, cái nầy sinh thì cái kia sinh. Còn cái lý sinh
diệt trùng trùng, khi cái nầy mất, thì cái kia sinh, khi cái kia sinh thì cái nọ
mất.
Nếu chúng sanh hiểu được điều Đưc Phật dạy thì khỏi cần đi vào Đại học mà học vì
có trí mà thiếu huệ thì cũng như không thấy cái gì cả. Nhờ có trí huệ nên
hiểu rằng nếu một cái mà mất thì cái khác cũng mất. Đơn giản như thế. Nên
trước khi làm điều gì, hay ký văn kiện gì, hoặc du nhập những gì ở ngòai vào,
thì nên nhớ câu trên. Vì con người quá nhiều vô minh, ngã chấp càng nhiều, thì
ngu xuẩn càng cao ngất trời, chi thấy lơi lộc trước mắt, công thêm bề thế, tham
ô, móc ngoặc, nên họ phá rừng bừa bãi ở trên cao,và ở mọi nơi, nên hằng năm hễ
có mưa to, làm lụt cả nước, dân hoặc phải chết vì lụt hoặc là phải sống trong cơ
cực bần cùng. Rừng điêu tàn thì tổ quốc suy vong (Un
people sans forêt est un people qui meurt) ( André Theuriet 1833-1907). (Rừng bị
tàn phá thì dân chúng trong nước đó cũng sẽ chết theo vì ngập lụt) (một cái mất
thì cái khác cũng mất). Thêm nữa, hâu quả vô lường của hiệp ước sông Mekong trên
thượng nguồn. Khi thượng nguồn giữ nước làm đập, thì hạ nguồn mực nước sông ngòi
Miền Nam VN xuống thấp hơn trước (trên dư thì dưới thiếu). Nước biển vào thay
nước ngọt. Số lượng hải sản nước ngọt cạn kiệt hết. Dân chúng sẽ khổ sở trầm
luân. Vựa lúa miền Nam mà đất trồng lúa bị muối xâm nhập tràn đầy, gây ra tai
họa khôn lường cho hơn 30 triệu dân chúng sống trong đó (Một pháp đổi thay, thì
pháp khác cũng đổi thay theo, một mà không còn thì tất cả cũng không cón). Khi
chủ trương tiêu diệt một vài giai cấp như đã làm, thì kết quả làm cho xã hội
kiệt quệ, nghèo đói, hận thù, ngu dốt và lòng người tàn bạo (một mà mất, thì cái
khác cũng mất). Và nẩy sanh một giai cấp mới má bản chất còn tệ hơn giai cấp
trước, chứa đầy thù hận, bốc lột, tham nhũng, cường hào trăm lần, ngàn lần hơn
(một cái bị diệt, thì nẩy sinh một cái mới khác mà ác-quả của nó là do ác-nhân
trước tạo nên rất là tai hại) vv… Rồi chủ trương đề cao một gai cấp duy nhất,
thì kết quả không hơn gì. Tiêu diệt hay đề cao môt giai cấp đều là nhị nguyên,
nên không thóat khỏi sự mâu thuẩn, sự họai diệt, sự đau khổ và nhiều tan thương.
Nếu một thực thể bị diệt, thì có một thực thể khác hiện ra. Sinh sinh, diệt diệt
trùng trùng. Ác nhân tạo ác–quả. Nhân quả và nghiệp báo vẫn đeo theo quá trình
sinh diệt.
Câu
chuyện được kể là, có một hiền triết rất nổi tiếng tai Ấn độ, khi quê hương Ông
đổi chủ, Ông ra đường đứng khóc thảm thiết nhiều ngày. Nhiều người hỏi Ông tại
sao Ông lại khóc mà lại không vui mừng? Ông mới nói, đường lối của chinh quyền
mới chỉ là đối đãi của chính quyền củ. Mà còn đối đãi là còn nhị nguyên. Còn nhị
nguyên là còn mẩu thuẩn. Mà cái mâu thuẩn nầy gây nhiều thảm khóc hơn gấp trăm
lần cái trước, nên dân chúng sẽ đói khổ hơn lầm than hơn mhiều, quê hương sẽ tan
thương hơn, rách nát hơn, dạo đức suy đồi và trụy lạc hơn, tham nhũng lan tràn
khắp nước, bạo lực, hù dọa, cướp bóc nơi công cộng xãy ra khắp nơi, nên tôi khóc
cho quê hương, đồng bào và đất nước tôi.
Vì
chưa hiểu được tính duyên khởi của vạn pháp, chưa chứng nhập tính không của vạn
pháp, tính không (vô) tướng của vạn pháp, nên mới chạy theo và van cầu, mới chối
bỏ sinh tử mà chạy theo niết bàn. Quán chiếu để hiểu được tính không chạy theo
là ta chấm dứt ngay sự tìm cầu, chạy theo, van xin.
Giải
thóat và giác ngộ không phải là những pháp có mặt ở ngòai ta. Ta cần suy nghiệm
và quán chiếu nơi chính bản thân ta là ta thấy được ta chính là bản thân của
giải thóat, của giác ngô và của niết bàn. Dưới ý nghĩa
xa rộng hơn, bất cứ chủ nghĩa ngọai lai nào đem vào bất cứ đất nước cũng đều gây
sự khổ đau của quần chúng nước đó, gây nên sự xáo trộn tất cả nền tảng đạo
đức,văn hóa và phong tục của nước đó, và một sự băng họai xã hội đến tận gốc rễ.
Chỉ có
giải pháp do dân chúng nước đó chọn lưa mới là giải pháp tốt hơn hết. Chẳng gì
lạ khi nghe giải thóat là ở trong ta, giác ngộ cũng ở trong ta. Không ở trong ta
cũng như ta đi tìm cầu ở ngoài sẽ làm ta đau khổ mà thôi.
Đức Phật dạy: “Tất cả các pháp trong vũ trụ nầy không có một pháp nào độc lập và
tồn tại vượt qua ngòai nhận thức của con người. Con người không cần tìm cầu van
xin và chạy hỏi mất công. Nói theo duy thức học là đối tượng nhận thức không tồn
tại độc lập với nhận thức. Con người được gọi là nhận thức. Còn nhận thức về một
cái gì, cái đó gọi là đối tượng nhận thức. Không nên đeo đuổi một pháp nào, kể
cả Phạm thiên, niết bàn và giải thóat. Trong sinh tử có niết bàn, trong niết bàn
có sinh tử. Trong hạnh phúc có khổ đau hay trong khổ đau có hạnh phúc. Cả hai
tuy hai mà là một, và cùng một thực thể. Đó là ý nghĩa của không chạy.
4- Lý Vô Thường.
Còn lý VÔ THƯỜNG chủ trương ra sao? Theo lý vô thường thì cho rằng vạn pháp được
hiểu giống như duyên khởi và vô ngã, bởi vì chính nó không có tự tánh nên nó
theo hòan cảnh, thời gian mà biến đổi không ngừng. Lý vô thường nhấn mạnh vào sự
biến đổi. Và biến đổi không ngừng theo quy luật “sinh, trụ, dị, diệt” hay”
thành, trụ, hoại, không”.
Vô
thường giúp cho người dân lương thiện và cô thế bị áp bức được an tâm hơn vì
được sự an ủi. Không ai có thể bị áp bức mãi mãi.Và bọn độc tài, kẻ bắt chẹt
người dân, nên bớt hết tánh hung hãn đi, để thấy rằng mình cũng không ra cái thứ
gì, cũng chỉ là thứ giá áo túi cơm, được gíó bẻ măng? Gieo gió sẽ gặt bảo, tạo
làm chi cái thứ ác nhân cho kiếp sau? Nghiệp quả trước mắt đó. Không có kẻ độc
tài nào sống mãi để độc tài và bắt nạt kẻ khác. Chẳng hạn như các bọn độc tài dù
dưới hình thức nào chèn ép họ thì cũng phải chết, phải bị diệt, sớm hay muộn mà
thôi. Bọn nịnh bợ hù dọa bắt nạt người lương thiện cô thế, rồi cũng phải chết.
Bọn cướp của, cướp nhà, cướp đất cù nha, cù nhầy rồi cũng phải chết phải bị
diệt. Tất cả những thúi tha dơ bẩn rồi cũng phải theo quy luật họai diệt. Xã hội
mới đở hơn. Tất cả những gì của Cesar phải trả về cho Cesar. Độc tài rồi cũng có
ngày. Tàn bạo rồi cũng có ngày. Như Saddam Hussein, Như Talliban, Cộng sản Đông
âu. Vv. Trong đêm tối có ánh sáng. Trong tuyệt vọng có niềm hy vọng. Trong vinh
quang có cái ô-nhục. Trong danh vọng có cái tuyệt vọng. Vô thường là thế. Trong
sự biến đổi, vạn pháp đều có sinh có diệt, nối tiếp, không ngừng nghỉ, một cách
nhanh chóng và toàn diện. Độc tài, áp bức, nịnh bợ, cướp của dưới nhiều hình
thức, cù nhầy, hù dọa đều do vô minh mà ra. Những người có hành động vô minh
trên nên dừng lại, vì trước hết là giúp đồng bào mình, kế là giúp bản thân mình,
xa hơn nữa là giúp xã hôi và quê hương mình. Biết dừng lại những điều sai lầm và
thái quá là hành động tốt nhất của trong tất cả cái tốt. Nên chọn con đường
lương thiện và tình người mà sống. Trong khổ đau có hạnh phúc và hy vọng. Trong
vinh quang có lắm điều khốn nạn. Trong danh vọng có nhiều nước mắt. Trong nước
mắt có cái mặn của niềm an ủi. Trong nụ cười sẽ có cái mếu. Trong cái mếu sẽ
thấy cái không. Trong cái không lại được gần đến hố thẳm. Trong hố thẳm lại bừng
lên niềm an–lạc.
Trong vô thường Vạn pháp luôn biến đổi từng sát na. Trong mỗi sát na vạn pháp
đều không giống nhau. Sát na nầy không không giống với sát na trước và sau nó.
Ví như: Đốt củi trong lò, quan sát ngọn lửa cháy trong khỏang nhứt định, nhưng
tính chất của ngọn lửa lại không đồng nhất. Khỏanh khắc trước và sau nó không
hòan tòan khác biệt và cũng không hòan tòan giống nhau hẳn. Cả nước chảy trong
dòng sông cũng vậy, trong khỏanh khắc nào đó, một khối lượng nước chảy qua cùng
một thời điểm, cũng không hòan tòan giống nhau. Lủa cháy trong lò và nước chảy
trong sông thọat nhìn thì thấy nó đồng nhất tính. Sự đồng nhất tính đó là do ký
ức ta ghi lại hình ảnh trước liên hợp với hình ảnh sau. Nên ý niệm đồng nhất nơi
chính nơi ta cũng vậy, đều do ký ức mà có, nên nó là giả tưởng. Nên theo thuyết
vô ngã thì cái “Ta” cũng chỉ là vọng tưởng (Tỳ Kheo Ni: Như Thanh, 1993).
KẾT LUẬN.
Thử nhìn các khía cạnh đề cập ở trên qua các triết gia Tây Phương, ta thấy có lẽ
Heidegger là người hiều “không tánh” của Bát Nhã hơn bất cứ một Phật tử nào
khác, nhất là khi Ông cùng thiền sư Nhật bản D. T Suzuki gặp nhau tại Đức, của
hai tâm hồn vĩ đại nhất của Tây phương và Đông phương ở tiền bán thế kỹ XX.
Nhưng Rilke, một đại thi hào người Đức, lại còn là một người hiểu “Tánh không”
còn hơn cả Heidegger nữa, khi Ông viết bài nhan đề” Buddha in der Glorie” “ Đức
Phật trong sự quang vinh hiển ngời” mà Ông kính trọng chào đón Đức Phật như là“
Trung tâm điểm của tất cả trung tâm điểm, căn nguyên của tất cả căn nguyên” (
Mitte aller Mitten, Kern der Kerne) và:
“ Trong Pháp Thân Đức
Phật bắt đầu,
một cái gì đó sáng rực lâu hơn cả mặt trời”
(Phạm Công Thiện, 1988)
Không, Không (Vô) tướng, không chạy theo và vô thường là bốn viên ngọc quí, là
bốn dấu ấn của tất cả pháp môn của Đức-Phật, mà ánh sáng của nó sáng rực bao la
và bất tận như ánh mặt trời. Cả bốn đều giúp cho chúng ta: Tìm được sự giải
thóat. Thấy được chính ta. Và thấy được niềm an lạc trong ta.
Bùi Thế Trường
(10/12/05)
References:
André Theuriet (1833-1907) Hàn Lâm viên Pháp, viết bài Priere de la Forêt (Au
plus profond des bois, la patrie a son Coeur
Un people sans forêtest un people qui
meurt)
.Daisetzteitaro Suzuki, 2004, Thiền Luận, 3 quyển, Trúc Thiên dịch.
.HT
Thich Trí Tinh, 1995. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Pl2359
.Đạt
Lai Lạt Ma thứ 14, 2004. Transforming the Mind
(Teachings on Generating Compassion).
.Kinh Tạp A Hàm 16, bài kinh số 406
.HT Thich Thanh Từ, 1990. Vaì vấn đề Phật Pháp. Ấn Tống Sydney.
.HT Thich Nhất Hạnh, 1992. Đường xưa Mây Trắng, La bối xuất bản.
Page 348-354.
.HT Thich Trí Tịnh. 1995. Kinh Ma Ha Bat Nhã Ba La Mật Tập 1,2,3
TP
HCM ấn hành, phật lich 2539-1955
Phạm Công Thiện, 1988. Chỉ còn tiêng thơ trên mặt đất (trở về rainer Maria
Rilke). Trần Thi. publiser. USA.
.Tỳ Kheo Ni: Như Thanh, 1993. Bát Nhã Cương Yếu, Phật Lịch 2536-1993. Chùa Viên
Giác, tại Cộng hòa Liên bang Đức
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |