|
Tóm lược về trà
Trà nói
chung, và Trà xanh (green tea) nói riêng, không những là một
thứ thức uống để giải khát, mà còn là một y-dược rất hũu ích để
bảo vệ sức khỏe của con người. Điều nầy đã được các nhà khoa học
nghiên cứu. Hóa tính chánh của nó là Theanine, polyphenols và
flavonoids lại có thêm Quercetin, myrecetin và kaempferol, lại
còn có các chất như: aluminum, fluoride,manganese và
carotene, với nhiều sinh tố khác nữa như vitamin B2
(riboflavin), vitamin C và vitamin A vv
Nhờ
polyphenols (gọi tượng trưng là: EGCG) và flavonoids mà trà xanh
được coi là một chất chống lại oxid hóa ( antioxidants) hữu hiệu
nhất ( hữu hiệu gấp 100 lần vitamin C, gấp 25 lần vitamin E),
cộng thêm các chất vừa kể trên, trà có chức năng ngăn chận, ức
chế sự phát triển từ lúc gọi là manh nha tới lúc phát triển cho
các lọai tumor ( bứơu) lành hay dữ, Sau đây do các nhà khoa học
khám phá và công bố các công hiệu của trà xanh như sau:
- Tính
chất chống lại oxid hóa (Antioxidants)
- Ngăn
ngừa các ung thư (Cancer prevention)
- Làm
giảm cholesterol ( Cholesterol reduction)
- Làm
giảm huyết áp (Blood pressure reduction)
- Làm
giảm lượng đường trong máu cho 2 lại tiểu đường (Blood sugar
reduction. Preventing two types of diabetes)
- Làm
thư giản mệt mỏi và căn thẳn (Relieve fatigue and stress)
- Giảm
bớt rủi ro về đột qụi (Reducing the risk of stroke)
- Ngăn
ngừa bịnh xốp xương (Preventing osteoporosis)
- Giảm
bớt DNA bị hư hại (Reducing DNA damage)
- Làm
chậm lại tuổi già (Delaying the signs of aging)
- Ngăn
ngừa sự hiểm nguy do máu đóng cục (Preventing dangerous blood
clotting).
-Ngăn
ngừa sự suy thóai tim mạch (preventing cardiovascular disease)
- Ngăn
ngừa hơi thở hôi (Preventing bad breath)
- Ngăn
ngừa sâu răng. vvv.
Việc
nghiêu cứu về trà được viết ra để giúp cho bà con mình đọc, biết
những giá trị của nó, nếu cần thì áp dụng.
Phần thân bài.
Thức uống đó là nước trà.
Trà là
nước giải khát thông dụng của mọi người nhất là ở các nước Đông
Nam Á Châu nói riêng và nó đã được dùng từ hơn 5000 năm. Tại Mỹ
người Mỹ thích uống beer và coffee nhiều hơn lả uống trà. Còn
trà thì họ thích black tea hơn là green tea. Năm 1994, green tea
được tiêu thụ chỉ 1% của 2 1/4 billion gallons tea. Năm 1999,
green tea đạt tới 5%, đồng thời những yếu tố lợi ích thiết-thực
cho sức khỏe của green tea cũng được phổ- biến rộng rãi. Trong
khi tại Đức, người dân Đức uống 420 tấn trà green tea mỗi năm,
trong khi black tea thì được họ tiêu thụ khỏang 16,500 tấn mà
thôi. Và càng ngày người Đức cảm nhận rõ những lợi ích từ trà
mang lại cho họ cả về sức khỏe lẫn về y-học (Jorg Zittlau, 1999)
Nước
trà có được bằng cách pha chế một cách đơn giản là đổ nước xôi
vào một nhúm trà mua ở thị trường được đựng trong một cái bình
hay một cái ly, đợi trong khoảnh khắc cho nuớc đổi màu rồi sẽ
dùng. Cái hổn hợp có được từ việc chế biến trên trong đó chứa
đụng một hợp chất gọi là polyphenol compounds, mà phần
chánh của polyphenols là EGCG (-) epigallocatechin gallate.
Nếu hổn hợp trên đó nếu được pha chế từ trà xanh (green tea)
được gọi là GTE (Green tea extract) chứa đựng vào khỏang 18%
trọng lượng của EGCG (Tetsuro Yamame et al, 1997).
Sự nghiên cứu của các nhóm khoa học như Harman,D.,(1984);
Cross et al., (1987); Wolford., (1983); Tauban., (1986) đã đồng
kết luận rằng chất free radicals là do các phản ứng mạnh của các
phân tử nó có thể nối kết với nhau và phá hũy các tế bào chung
quanh của các phân tử khác.
Free radicals được tìm thấy từ môi trường xung quanh ta mang đến
như ánh sáng mặt trời, tia x rays, phóng xạ và chất hóa học như
thuốc xịt chất sát trùng, những sản phẫm từ dầu hỏa như aromatic
hydrocarbons, nó cũng do nguồn thức ăn, thức uống mang đến như
chiên, barbecues, char- broiled foods, những chất bay hơi
(solvents) alcohol,coffee, những chất hòa tan như thuốc uớp xác
chết (formaldehyde), toluene, benzene được tìm thấy nhiều trong
chất lỏng để cleanning, trong nước sơn và trong các vernise đánh
bóng đồ gỗ.
Phần
lớn free radicals trong body là do quá trình phản ứng sinh hóa
trong mỗi người, như quá trình oxid molecules mà ra. Thật là một
điều ngộ-nghỉnh khi mà một mặt oxygen mang đến cho chúng ta sư
sinh sống được từng ngày, từng giờ và từng phut, đồng thời mặt
khác, chính nó lại góp phần trong việc hũy họai các cơ quan, và
cũng làm gìa đi các tế bào trong cơ thể của chúng ta. Cụ thể dễ
hiểu là rĩ sét (rust) là do qúa trình oxid của sắt (oxidised
iron), thì oxygen trong body của chúng ta nó cũng oxidised
molecules in our body.
Free
radicals liên kết và tạo thành một số bịnh liên quan đến con
người như sơ cứng động mạch (atherosclerosis), ung thư (cancer),
Alzheimer’s
didease, bịnh đục nhân mắt (cataracts),hình thức viêm
khớp phối hợp với xương và sụn suy thóai (osteoarthritis) và một
số liên quan đến miễn nhiễm lại mất hết khả năng phòng chống
bịnh của nó (Harman,D.,1984; Cross et al., 1987). Trong trường
hợp người bị bịnh cataracts, thì free radicals mà các phân tử
họat động rất mạnh của nó có thể tác động trên lens và đồng thời
cũng phá hũy luôn cả lens proteins của nó.
A.L
Stoll, (02) giải thích thêm rằng chất free radicals có được
trong cơ thể chúng ta là do cơ thể sản sinh trong tiến trình tư
nhiên, do tế bào oxid hóa để tạo năng lực họat động, được xem
như là một cặn bả trong tiến trình sản xuất, tạo ra sự sơ cứng
động mạch (atherosclerosis), làm hư hại cấu trúc sinh hóa của
DNA, và làm nguy hai các màng của các tế bào vv.. Chất nầy
luân lưu trong máu, hiện hữu khắp nơi trong cơ thể, với một số
lượng khổng lồ, quần quật biến đổi, mà khoa học hiện đại khám
phá rằng chính nó là nguyên do tàn phá cơ thể con người

Vòng
ngòai của oxygen atom (0) không đủ (hình trên), khi nó share nới
một oxygen atom khác tạo thành một oxygen molecule (02) mà vòng
ngòai của nó thì đủ ( hình dưới) chỉ trong chốc lát rồi lại tách
ra trở thành oxygen atom không trọn vẹn, và tiếp-tục như thế..
Nhiều
cụôc nghiên cứu cũng cho biết rằng trong vành động mạch bị đóng
bởi chất mỡ xấu gọi là (LDL), chất mở nầy thẩm thấu vào thành
mach và tạo ra những tế bào mở xốp, những dãi mỡ và mãng mở
(plaque). Sự bám chặt của mở xấu (LDL) vào thành mạch như vậy
rất chậm, và cứ tạm coi là ít nguy hiễm đi, nhưng thực tế đó là
mối nguy hiễm. Nhưng khi các loại mở trên gặp free radical, thì
nó bị biến đổi nhanh chóng, khủng khiếp và ghê sợ, vì free
radical oxid hóa mở xấu, làm thương tổn cho thành động mạch, làm
hư hao các cơ, và tiến sâu vào thành động mạch nhanh hơn 20-30
lần chất LDL đã tiến. Những người bị stroke là chứng bịnh mà
mạch máu dẫn đến não bị bể và bị bịt tắt bất ngờ, dẫn đến hôn
mê, bán thân bất tọai hoặc đưa đến tử vong, có đâu biết rằng,
chính vì chất mở xấu (LDL), lại bị radical xâm nhập vào mà tàn
phá thật khủng khiếp thành vách một cách nhanh chóng và làm vở
tung các mạch máu trong đầu, gây ra hiện tượng gọi là đứt mạch
máu nảo.
Còn nữa,
Free radicals là chất không bền vững và lại tấn công vào các tế
bào health cells, một cách nhanh nhât, mãnh liệt nhất, gây ra
nhiêu biến chứng không lường, làm hư hại các tế bào, đặc biệt là
gây ra ung thư (cancer) hay làm suy thóai tim. Sự nghiên cứu
cũng gải thích rằng, free radicals tấn công tim ( heart), gọi là
heart attack; trong cơn đứng tim gồm có hai giai đọan:
1) giai
đoạn 1, khi bị đứng tim ( do free radical tấn công lần đầu),
trái tim tự động tìm máu nơi các mạch chưa bị nghẻn, để nuôi các
tế bào nơi cơ tim bị hư hại.
2) giai
đoạn 2, là free radical liền cấp tốc tấn công nữa, nên sau 10
đến 12 tiếng, free radical tấn công tất cả các tế bào vốn bị tổn
thương trở thành tê liệt, và tấn công luôn cả các tế bào còn tốt,
chưa tổn thương, gây ra một trận đứng tim thứ nhì đầy nguy hiểm
và đưa đến tử vong. (Youngson., 1994)
Đông thời, free radicals còn là mối hiểm nguy lớn
nhất cho omega-3, bởi lẻ, các nối đôi của omega-3 rất yếu nên
dễ bị oxid hóa dẫn đến hệ qủa sau đây: 1- làm cho omega–3 hết
còn tính chất họat động sinh học hữu ích của nó tự có sẵn, và
2-nó tạo ra một peroxides, chất nầy sẽ làm hư hại các màng của
các cells trong cơ thể (cell membranes) và gây ra nhiều nguy-
hiểm cho con ngườI (A.L.Stoll, 2002).
Chất
chống oxid hóa (antioxidants) được biết là để ngăn ngừa các free
radicals, mà free radical được coi là nguy hiểm không thua gì
bọn cộng sản và bọn khủng bố.
2-2-Antioxidants và free radical?
Trong cơ thể con người có sẳn một vài enzymes
dùng để bảo vệ và ngăn ngừa nhiều lọai free radical làm nguy hại
tế bào như:
superiod dismutase (SOD), phân hóa tố (catalase) trong nhiều tế
bào( như hồng cầu và gang) để phân giải sự tách ra của
glutathione periodase cũng là 2 của những
loai antioxidant enzymes in our body có nhiệm vụ vừa kể trên.
Tuy nhiên vì số lượng free radical quá nhiều trong cơ thể nên
phải nhờ đến những chất chống oxid hóa (antioxidants) từ ngòai.
Vì sao? Vì rằng, nơi cơ thể con người đã có sẵn
những diếu tố (enzymes) để biến đổi nó la free radicals thành
một chất không độc hại như nước được tống khứ ra ngoài, nhưng số
lượng enzymes trong cơ thể không đủ để trung hòa nó, nên cần
những thức ăn sẵn có chứa antioxidants trong thiên nhiên.
Những chất chống oxid hóa (antioxidants) có sẳn
trong rau cải, đó là sinh tố C, E, beta carotene (chất có màu da
cam trong cà rốt), selenium, flavoinoids, sulphur trong amino
acid và coenzyme. Sinh tố C là một chất chống oxid hóa tuyệt vời
nhất. Nhiều antioxidants có trong cây như trà xanh, rượu chát
đỏ cũng được chú ý gần đây.
Wolford.,(1983), Schneider and Reed.,(1985),
Cutler., (1985, 1984) giải thích rằng con người có một đời sống
lâu hơn các động vật như con chimpanzees, mèo (cats), chó (dogs)
và nhiều lọai động vật có vú (mammals) là bởi vì chúng ta có
nhiều antioxidants trong các tế bào của chúng ta (our cells). Cụ
thể hơn nữa, các nhà khoa học trên nghiệm thấy rằng có nhiều
giống chuột mà tuổi thọ của chúng lâu dài hơn nếu so với tuổi
thọ của giống chuột khác là vì khi tuổi thọ của chúng càng cao
thì lại có nhiều antioxidants enzymes càng cao tại các tế bào
trong cơ thể của chúng. Tóm lại, có thể nói gọi là không cường
điệu là nhiều người có tuổi thọ cao hơn nhiều người khác là vì
họ có rất cao antioxidant enzymes trong their cells. Nên hai nhà
khoa học Pearson and Shaw., (1982) và Hendler.,(1985) lại nghĩ
thêm rằng nếu tăng cơ chế antioxidant (antioxidant mechanisms)
trong các tế bào ( cells) con người thì tuổi thọ của con người
sẽ thọ lâu hơn. Tăng cường cơ chế antioxidant trong cơ thể
chúng ta là chúng ta cần tiêu thụ một số lượng antioxidant mỗi
ngày. Tiêu thụ nhiều antioxidant mỗi ngày là kéo dài tuổi thọ
lâu hơn, nghĩa là khỏe mạnh hơn, vui tươi hơn, và đồng nghĩa với
các bịnh đã kể trên, vv.. sẽ giãm thấp hơn (Pearson., 1982,
Harper., 1982). Nhưng Wolford.,(1983) và Cutler., (1985) giải
thích về lý thuyết “DNA repair”, cho rằng DNA bị hư hại bởi vì
free radicals nó phá họai, tuy nhiên cơ thể của chúng ta có
những enzymes để mà repair cái hư hại DNA đó ( repair damage
DNA) (nhưng không chỉ đích danh enzyme nào?), chẳng hạn như đời
sống của con người sống lâu chừng 120 năm hơn đời sống con
chimpanzee chỉ có 50 năm là vì tác dụng DNA repair của con người
thì hữu hiệu hơn con chimpanzee ( DNA repair… is much more
effective than a chimpanzee).
Free
radicals mà người ta tin tưởng rằng nó là nguyên do già nua, và
ung thư. Có nhiêu lọai free radicals hợp thành trong cơ-thể
người ta. Bài nầy chỉ quan tâm đến oxygen là tâm của free
radicals, được biết dưới dạng ROS. Phần lớn các ROS gồm có:
superoxide anion (O), hydroxyl radical (OH), singlet
oxygen (1O2), và hydrogen peroxide
H2O2
1-
Superoxide anions được hình thành khi một oxigen nhận thêm một
điện tử (electron) lẻ để được bình thường (số điện tử chẳn),
nhưng lại tạo ra một nguyên tử không trọn vẹn mới (có số điện tử
lẻ (unpaired electron) và cứ tiếp diễn vai trò của nó. Trong cơ
thể chúng ta có mitochondria, nơi mà superoxide anions tiếp tục
hình thành nhanh hay chậm lại tùy theo số lượng oxygen qua nó
bất cứ thới gian nào.
2-Hydroxyl radical (OH) lại có một đới sống rất ngắn, lại được
coi là radicals phá họai nguy hiểm nhất (damaging radicals)
trong cơ thể con người. Lọai damaging radicals nầy hợp thành từ
02 và H2O2 qua phản ứng gọi là Harber Weiss. Người ta thấy ảnh
hưởng lẫn nhau (interaction) với kim lọai, hoặc đồng hoặc sắc
(copper or iron) với H202 cho ra OH được khám phá trước hết do
Fenton. Các phản ứng như thế đã được tìm thấy trong cơ thể con
người và dễ dàng liên kết lẫn nhau.
3-Hydrogen peroxide được thực nghiệm trong ống nghiệm qua nhiếu
phản ứng. Nó là môt chất duy nhất có thể biến đổi chất nguy hạị
hydroxyl radical, với hydrogen perioxide làm chất xúc tác, để
cho ra một chất không độc hại như nước. Ví dụ như chất
Glutathione peroxidase là enzyme chánh của sự chuyển biến của
chất glutathione oxid, trong dung dịch hydrogen perioxide, được
hóan chuyển thành nước
4-Singlet oxygen không phải là free radical, nhưng nó hợp lại
trong lúc có nhiều phản ứng của radical xãy ra và nó cũng tạo
thành và gây nên phản ứng khác nữa. Theo định luật Hund’s rule
thì singlet oxygen có khả năng chuyển hóa năng lượng của nó cho
một new molecule và nó làm như là một chất xúc tác cho sự hình
thành của free radical. Đồng thời, cái new molecules có thể lết
nạp với những molecules khác để tạo thành một new free radical.
2-4- CHẤT XÚC TÁC (CATALYSTS)
Tất cả
các kim lọai, trừ đồng (copper) đều chứa một electron ở vòng
ngòai tận cùng (one electron in their outmost shell) đều được
coi như là free radicals. Đồng (copper) vòng ngòai cùng thì đủ (
full outer shell), nhưng cho đi và nhận một electron mới thì dễ
dàng trở thành chính nó là free radical. Hơn nữa, sắt (iron) dễ
dàng nhận và cho đi một electron ( ví-dụ: Fe2 + Fe3+). Tính chất
nầy làm cho sắt và đồng có cả hai tính chất của một chất oxid
hóa. Sắt (iron) là thành phần chánh của hồng huyết cầu (red
blood cells:RBC). Một giả thuyết cho rằng chính sự lo âu chồng
chất nhiều quá đã làm cho các mối nối của hồng huyết cầu bị vỡ
đi, và cho ra chất sắt tự do (free iron) và làm thiệt hại các
màng bao của tế bào (can be detrimental to cellular membranes)
bởi do ảnh hưởng của oxidation mà gây ra. Zinc chỉ có một tần
(Zn2+) một nên không bị làm xúc tác để hợp thành free radical.
Zinc được xem như là dùng để chận đứng sự hợp thành của free
radical, vì Zinc thay thế các kim lọai trên không có hơn một
valence.
Tính
chất sinh hóa của polyphenols trong việc ngăn chận chất mỡ xấu
(LDL).
Steinberg et al., (1989); Esterbauer, et al., (1992) nghiên cứu
về bịnh atheorosclerosis (bịnh sơ cứng động mạch) là do phần lớn
chất mở xấu gọi là LDL oxid mà thành. Nếu chất mở
polyunsaturated lipids (LH) trong LDL bị oxid vì có sự hiện diện
của metals (kim lọai như đồng (Cu) chẳng hạn)
và hydroperoxides, thi chất alkyl radical sẽ thành hình.
Chất alkyl radical trong sự hiện diện khi có chất oxygen thì nó
hợp thành một peroxyl radicals chẳng hạn (ROO’), chất nầy liền
sinh ra chất gọi là hydroperoxides (ROOH). Chất hydroperoxides
nầy liền tách đôi và cho ra chất aldehydes. Chất aldehyde nầy sẽ
tác dụng lên proprotein B của LDL cho ra chất oxidised LDL (Esterbauner
et al, 1992), mà tai hại của nó như thế nào mà ta đã biết được
như đọan kể ở phần trên. Như vậy vai trò của polyphenol
antioxidants sẽ làm gì ?
(Source: Frankel., 2000)
Antioxidants thực hiện 2 bước để ức chế các chuổi phản ứng:
1-
Nó liền tác
động lên peroxyl radicals và ức chế sự hính thành của
hydroperoxide (hydroperoxide formation).
2-
Nó liền tác
động lên alkoxyl radicals và ngăn chận sự thành hình của
aldehyde, vì nếu jhông thì aldehyde tự nó tách đôi và tác động
lên LDL (mở xấu) gây ra khôn lường tai họa. Đó là tất cả công
dụng kỳ diệu của antioxidants.
3-
Ghi chú:
Antioxidants ghi là AH.
4-
Mũi tên chỉ
sự tấn công của antioxidants để chận đứng mọi hình thành gây
nguy hiễm.
Kết
luận: Nhờ antioxidants mà bịnh sơ cứng động mạch (điển hình) mới
qua khỏi tai nạn.
Nhiều
nguyên do như ánh sáng và nhiệt độ (light and heat) là nguồn của
năng lượng làm tăng lên free radical: Những molecules của chất
mở có chứa unsaturated fatty-acid radicals là đối tượng để oxid
hóa. Các mùi vị hơi khó ngửi có được là do hydroperoxides nó
chia chuổi phản ứng thành những chuổi nhỏ mà có (Roth and Rock.,
1972). Vì sao? Khi một hydrogen của một carbon lại được dời đi
trong nối đôi (double bond), thì cần có một lượng tử năng lượng
(quantum energy) để làm công việc đó và cho ra free radical. (hình
dưới)
2-5- Giai đọan lên men trà ảnh hưởng đến
thành phần polyphenols có trong trà.
Nước Trà xanh
(green tea water)
Cũng theo Prof Emeritus Helen Charley (1982) thì màu sắc của
nước trà ( trà xanh hay trà đen) đều ảnh hưởng bởi hydrogen –ion
tập trung trong nước. Vi sao? Vì thearubigins trong trà là acid
yếu
(weak acids) nên bị ion hóa. Tuy nhiên, những anion có trong trà
thì dễ tạo màu sắc rất cao. Nếu nước pha trà là nước có nhiều
alkaline, thì màu sắc của trà sẽ thấy đậm đà hơn, vì đó là tác
dụng của thearubigins được ion-hóa hầu hết. Ngược lại, nếu nước
trà là alkaline, mà ta bỏ thêm acid vào đó, thì phản ứng khác
ngược, vì lẻ, hydrogen ions chế ngự cái việc ionization của
thearubigins, đưa đến kết quả là nước có màu lợt hơn. Điều đó
minh chứng rằng tại sao ta vắt chanh vào trà thì màu trà sẽ
thành nhạt hơn.
Kết
luận, theaflavins thì không dự phần vào làm biến đổi màu sắc của
trà mà màu sắc của trà thì liên hệ mật thiết với liều lượng của
acid có trong ly trà. Chỉ có thearubigins mới tham dự vào quá
trình màu sắc của trà. Đó là một khám phá quan trọng và lý thú
do Prof emeritus Helen Charley, tại Đại học Oregon State
University. USA
Tóm
lại, người ta có 3 lọai trà là vì tùy theo mức độ oxid hóa của
nó, người ta thường gọi là quá trình lên men. Chính giai đọan
lên men trà là giai đọan quan trong nhất liên quan đến phẩm chất
của lọai trà. Việc lên men trà gồm các giai đọan như sau: 1-thời
gian lên men, 2- nhiệt độ lên men và 3- Ánh sáng trong giai đọan
lên men. Cả 3 giai đọan trên quyết định mùi vị của trà, và nói
lên cái thành phần hóa học quan- trọng là polyphenols có được
nhiều hay ít. Thêm nữa, vì polyphenols có tính chất oxid hóa, mà
việc oxid hóa có được là do proteins làm chất xúc tác, nên
polyphenols tạo ra một chuổi dài phản ứng hóa học khác nhau. Đó
là lý do giải thích tại sao các cấu trúc phân tử của polyphenols
trong các lọai trà có sự lên men khác nhau nên có cấu trúc khác
nhau.
(source: J K. Lin et al.,1997
Trà Oolong tea:

(source: J K. Lin et al.,1997)
Trà
Black tea:
(source: J K.
Lin et al.,1997)
2-6-Kỹ thuật mới để tinh chế polyphenols.
Vì polyphenols rất
hữu ích cho sức khỏe của con ngườI, nên có nhiều phương pháp
tranh đua nhau để tinh chế polyphenols có được phẩm và lượng cao
nhất. Một trong các phương pháp đó gọi là phương pháp Rancimat
đã thực hiện và cho nhiêù kết quả tốt, mà sản lượng và phẫm chất
lại được làm theo phiếu đặt hàng. Trong trường hợp nầy,
polyphenols được dùng như là một chất phụ gia chống lại oxid hóa.
|
Loại trà |
Tính chất đặc biệt trong các
loại trà |
Appearance |
|
Green Tea Extracts 98% |
Total Tea Polyphenols>98%
Total Tea Catechins>90%
EGCG>60%-70%
Caffeine<0.5% |
Light Yellow
Powder |
|
Green Tea Extracts 98% |
Total Tea Polyphenols>98%
Total Tea Catechins>80%-85 %
EGCG>50%-60%
Caffeine<0.5%-1% |
Light Yellow
Powder |
|
Green Tea Extracts 95% |
Total Tea Polyphenols>95%
Total Tea Catechins>70%-80%
EGCG>45%-50%
Caffeine<0.5%-9% |
Light Yellow
Powder |
|
Green Tea Extracts 90% |
Total Tea Polyphenols>90%
Total Tea Catechins>60%-70%
EGCG>45%-40%
Caffeine<1%-10% |
Light Yellow
Powder |
|
Green Tea Extract 80% |
Total Tea Polyphenols>80%
Total Tea Catechins>55%
EGCG>35%
Caffeine<1%-10% |
Light Yellow
To Brown-Yellow
Powder |
|
Green Tea Extract 70% |
Total Tea Polyphenol>70%
Total Tea Catechins>50%
EGCG>25%-30%
Caffeine<1%-10% |
Light Yellow
To Brown-Yellow
Powder |
|
Green Tea Extract 60% |
Total Tea Polyphenol>60%
Total Tea Catechins>40%-50%
EGCG>20%-25%
Caffeine<1%-10% |
Brown-Yellow
Powder |
|
Green Tea Extract
50%-30% |
Total Tea
Polyphenol>50-30%
Total Tea Catechins>40%-10%
EGCG>8%-20%
Caffeine<1%-10% |
Brown Powder
|
(Source: FuZhou Corona Science & Technology
Development Co.,Ltd).
Cũng theo nghiên cứu của Tiến sỉ L.Mitscher
(1997) tại University of Kansas đã đưa đến một kết luận rằng trong
trà xanh có một số lượng gọi là chất chống oxid hóa
(antioxidant) cao nhất, hơn các lọai trà khác. Ông còn so sánh
nếu so với các chất oxid hóa khác, thì EGCG có hiêu quả gấp 100
lần hơn vitamin C, và 25 lần hiệu quả hơn vitamin E, và gấp đôi,
gấp ba lần revasterol, cả ba đều làm trong công việc làm trung
hòa free radicals (neutralizing free radicals). Trong một ly trà
xanh, sẽ cho ta vào khỏang 10-40mg chất polyphenols và cung cấp
chất antioxidant lớn hơn cả broccoli, spinach, carrots hay
strawberries.
Dr A.L. Stoll, 2002, cho rằng: một phần lớn đồng
bào không biết rõ rằng chất antioxidants trong trái cây và rau
quả chi tồn tại trong cơ thề của chúng ta trong một thời gian từ
4-6 hours mà thôi. Vì thế chúng ta cần ăn trái cây và rau cải
mỗi ngày. Với trà cũng thế. Cần phải uống nhiều ly trong ngày để
có đủ hàm lượng antioxidants bảo vệ cơ thể chúng ta, ngăn ngừa
bịnh tật, nếu ta muốn.
Tại
Nhật, phần lớn trà xanh được bán tại thị trường tiêu thụ có tỉ
lệ
Catechins lên tới 15% của trọng luợng khô của nó (dry weight).
Có 4 lọai catechins trong trà xanh là: EGCG, EGC, ECg và EC.
Tổng số catechins trong bột thô là 91.5%, lại được chia ra thành
EGCG (54%), EGC (17,6%), ECg (12,5%) và EC (6.0%). Từ catechins
kể trên để làm thành bột thô, người ta dùng phương pháp để tách
rời tinh chất của catechins ròng bằng phuơng pháp gọi là
chromatography HPLC (Yukihito Hara., 1997)
Trong
giai đọan chế biến trà đen, màu đen của trà là do oxidation của
polyphenol trong lá trà (do theaflavins và thearubigens). Tuy
nhiên thành phần chánh của theaflavins trong trà đen là
theaflavin theaflavin monogallate A, theaflavin monogallate B,
và theaflavin digallate. Còn trà Oolong thì vì có sự lên men
từng phần, nên nó còn giữ lại phần lớn chất gốc quan trọng là
catechins Những
thành phần khác cũng được tìm thấy trong phenolic trong trà gồm có:
theogallin, có một liều lượng nhỏ chừng 1% trong lượng của lá
trà khô, và Chlorogenic acid cũng là một phenolic compounds, có
một hàm lượng rất nhỏ trong lá trà (Charley, 1982)
Thành
phần hóa học trong trà xanh và trà đen là:
Thành phần gồm có: Trà xanh (mg/cup)
Trà đen (mg/cup)
Amino acids:
40-60 65-75
Carbohydrates 75
75
Electrolytes
50
50
Caffeine
50
50
Flavanoids
Catechines
150-210
15-50
Theaflavines
- 30-40
Thearubigines
- 60-90
Bản so sánh thành phần trà xanh với trà bột được
sản xuất tại Nhật.
|
|
|
|
Grade |
Polyphenols
(%) |
Caffeine
(%) |
Theanine
(%) |
Free Amino Acids
(mg/100g) |
Total N
(%) |
|
|
|
|
Gyokuro |
Medium |
13.4 |
3.1 |
1,480 |
2,730 |
5.48 |
|
Matcha |
High |
6.5 |
3.85 |
2,260 |
5,800 |
6.36 |
|
|
Medium |
6.2 |
3.51 |
1,790 |
4,610 |
5.85 |
|
|
Low |
6.5 |
3.23 |
| |