VÔ-NGÃ LÀ AN-LẠC

,  LÀ NIẾT-BÀN


 

Bùi Thế Trường

28 tháng 7 năm 2005

 

Trong Tương Ưng Bộ Kinh Tập có viết rằng, sau khi Đức Phật giác ngộ rồi, cũng nơi gốc cây Bồ đề đó, Ngài nghĩ: “Pháp mà ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng thì thật khó mà thấy được định lý y–tánh duyên khởi pháp, khó mà thấy đươc định lý là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sinh y được trừ bỏ, ái được đọan tân, ly dục, ái diệt, Niết bàn”.

 

A-     Y- tánh duyên khởi.

 

Trong ý-nghĩ của Bụt có hai ý chánh làm nền tảng cho giáo lý Phật giáo là y–tánh duyên khởi và ái diệt Niết bàn. Đó là hai lý căn bản giúp ta tìm hiểu về Đạo Phật. Nghĩa là, một đàng là y-tánh duyên khởi vô thường, đàng khác là pháp tính Niết bàn bất sinh bất diệt. Hai pháp nói trên là cốt để diễn đạt tư- tưởng của Bụt để cho mọi người dễ hiểu, và noi theo từng cái một để mà thực hành, một khi đạt được một cái, thì ta có chứng nhận được cái kia dễ dàng. Thế nên, hai pháp trên tuy hai cũng chỉ là một. Nghĩa là cái nầy có đạt đươc thì cái kia cũng đạt được, trái lại, cái kia có đạt thì cái nầy cũng được. Có nghĩa, hễ ngộ lý duyên sanh thì ngộ luôn cái lý ái diệt Niết bàn; ngược lại, ngộ được ái tận Niết bàn, là ngộ ngay cái lý duyên sanh. Trong duy thức học, danh-từ thường gọi là tương tức, theo định nghĩa tương tức là cái nầy có trong cái kia. Nên ta cũng gọi lý duyên sanh tương tức ái diệt Niết bàn, hay ngược lai, ái diệt niết bàn tương tức cái lý duyên sanh.

 

Khía cạnh về Pháp, thì y-tánh duyên khởi, thuộc hữu vi pháp, còn tịch tịnh Niết bàn là Vô vi pháp. Pháp là hiện tượng. Vạn pháp là mọi hiện tượng.  Chẳng hạn như: mặt trời là một pháp, núi non, song ngòi, đất, hạt bụi, sõi đá, suy nghĩ là pháp; lại nữa sự suy nghĩ, hờn, giận, thương, ghét cũng là pháp; mắt, mũi, tai, họng cũng là pháp. Thể của mọi Pháp đều là không. Và bản chất của mọi hiện tượng đều vốn là không, và chúng không có tự tánh riêng. Với hữu-vi, Phật nói các Pháp đều do duyên-sanh mà nên, đều không có tự-tánh (Hữu vi pháp là nói về tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Xét về Dục giới, thời Dục giới rỗng không, Sắc giới thời sắc giới rỗng không, Vô sắc giới thời vô sắc giới rỗng không, chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tại sao? Vì tự tánh như vậy. Đây gọi là hữu vi không. HT Thich tri Tinh, 1995).  Mà vô-vi thì thiên về ly-ngôn, tịch-diệt, bất khả ngôn thuyết, siêu lý-luận (Vô vi pháp là nói không tướng sanh, không tướng trụ, không tướng diệt. Xét về Vô vi pháp thời Vô vi pháp rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tai sao? Vì tánh tự như vậy. Đây gọi là Vô vi. HT Thich tri Tinh.,1995). Từ căn bản của y-tánh duyên khởi đó mà tạo thành 6 giáo lý chủ yếu của tất cả giáo lý và tông phái của Đạo Phật.1-  Như Vô minh duyên khởi, Nghiệp cảm duyên khởi của Tiêu thừa;  2- A lai Da Duyên khởi của Pháp tướng tông; 3-Chơn như Duyên khởi của Pháp Tánh Tông; 4- Pháp giới duyên khởi của Hoa nghiêm Tông; và 5-Lục Đại Duyên khởi của Mật Tông.

 

Bụt cũng giải thích thêm cho đệ tử của Bụt qua Ngài A Nan rằng: “ Định lý duyên khởi rất thâm sâu, chính vì không hiểu rõ, không giác ngộ, không chứng nhập pháp nầy mà chúng sanh bị rối như cuốn chỉ, bị phủ đầy bịnh cằn cỗi, như cây lau, không thóat khỏi luân hồi. Không hiểu được định lý duyên khởi, không những ta không hiểu được chính ta, cũng không hiểu được vạn pháp, chỉ thấy về bản ngã ta, đầy cá biệt, cho là đáng được tôn trọng, cho là qúi báu và lại hơn tất cả các ngã khác, nên sanh ra ngạo mạn. Vì bản ngã của mọi vật vốn không có tự tánh riêng biệt, nên gọi là vô ngã. Vì vô ngã nên mọi vật tự nó không tự tồn tại và độc lập với chính nó. Vã lại, nó chỉ tồn tại được khi nó được duyên hợp tác động để nuơng gá nhau mà thành.

 

Ví như, lòai người chúng ta, màu da có khác, cao thấp có khác, mập ốm có khác, chủng tộc có khác, văn hóa có khác, trình độ có khác, cá tánh có khác, vv. tất cả cái khác đó vốn là sự sai biệt, nhưng lại có một cái bình đẳng chung là đều do tứ đại hợp thành.  Vậy gọi là sai biệt trên bình đẳng, hay bình đẳng vốn sai biệt.Từ đó, vì không thấy cái bình đẳng vốn sai biệt, với ảo-tưởng bản ngã, ta tự thấy mình khác với mọi người, người da trắng thì nghĩ là họ khác với da màu, người mắt xanh cho là khác với các màu mắt khác, người củ khác với người mới tới, người trong nước coi thường người di dân, tị nạn, người sống trong các thể chế chính trị khác nhau, đảng viên và không đảng viên, chế độ phân biệt Việt kiều do Cộng sản chủ trương, tất cả vì tự cho mình khác vơi các bản ngã của mọi người khác nên khởi lên lòng ích kỹ, kỳ thị và ngạo mạn… Những điều trên xãy ra là vì họ không thấy được rằng chúng sanh có chung một mẫu số chung, là cái bình đẳng chung, nghĩa là cũng do tứ đại mà thành. Nếu cảm thấy mình hòa đồng nhất thể ở trong cái bình đẳng với mọi người khác, có hơn ai đâu mà tưởng là ta đây, cũng từ thủy, mộc, hỏa và thổ làm nên,  thì ta tránh bớt đi các hư vọng, và mọi sự khác biệt về suy nghĩ lại bớt đi, và ảo tưởng về bản ngã sẽ bớt ít đi.

 

Ví dụ khác nữa, với các lọai vô tình, như với vũ trụ, như mây, mưa, sông, núi, biển cả, tinh tú trên trời, cả vũ-trụ hành tinh, thì ta thấy rằng ta hẵn khác với các pháp trên, nhiều khi còn cho mình ngon lành hơn tất cả, như là chúa tể, vì không thấy cái bình đẳng chung được nhìn dưới trí huệ là tất cả đều do duyên hợp trùng trùng điệp điệp nương gá nhau mà thành, nếu ta thấy ta đồng nhất thể với những pháp trên, kể cả các lọai vô vi hay hữu vi, vì chẳng qua là do duyên hợp mà thành, thì cái bản ngã ta đây dần dà bớt đi; ngược lại, nêú thấy mình khác biệt, nên cái thấy đó được gọi là vô minh.

 

Bởi lẽ, tất cả các pháp dù lớn, dù bé, dù hữu hình hay vô hình, dù sắc hay tâm cũng đều do duyên sanh, đều không có thật tánh, là vô thường, là giống như chiêm bao, giồng như trò ảo thuật, giống như giọt sương mai rất chóng tàn, rất phù du và mộng uyễn, thế mà chúng sanh nào ai thấy được đúng như vậy. Vì không hiểu đúng như vậy, nên chúng sanh cho rằng các pháp là thật, vì tưởng là thật, nên cố bám chặt vào, tự cho đó là của mình, nên sống trong tham, sân si, đầy đam mê để bám cứng vào đó, mà đảo điên, đau khổ, triền miên.  Nếu hiểu rằng các pháp đều do duyên sanh, không có thật tính, thì con người cũng bình đẳng với các pháp, mà các pháp cũng bình đẳng với nhau, một cục đá như một hòn núi, một cơn gió như một bóa hoa hồng, con người như mọi người.

Khi hiểu được cái lý duyên sanh vô ngã, thì tất cả pháp đều làm cho con người giác ngộ.  Thế nên, người ta nói rằng “tất cả các pháp đều là Phật pháp”.

 

Vã lại, bản ngã vốn là căn bản của vô minh, của tham, sân si. Ngã to, thì tham càng lớn, sân càng lớn, và si càng lớn hơn nũa và ngược lại: ngã nhỏ, tham ít, và sân lại càng ít. Bởi chấp ngã, nên phải sống trong chấp ngã.  Vì chấp ngã nên chấp luôn cả tướng và chấp luôn cả danh. Vì chấp tướng và chấp danh, chấp khen, bỏ chê, nên nếu ai gọi mà danh sai đi nếu gọi cái danh thấp hơn họ có, hoặc khen hay chê, họ giận liền, lộ ra cả mặt, họ không tiếp hoặc từ chối hết những gì người ta muốn nhờ. Chuyện kể về vua Lương Võ Đế và Tổ Bồ Đề Đạt Ma.  Vua Lương Võ Đế rất có công trong việc làm hưng thịnh Đạo Phật, nào xây chùa, dạy tăng ni, và lại ngưởng mộ các bậc cao tăng đức-trọng. Một hôm, Ngài thỉnh mời vị Tổ Đạt Ma đến cung điện của Ngài và cho tất cả các quần thần và dân chúng được tham dự đẻ học hỏi thêm. Hai vị bàn chuyện rất lâu, có vẽ tâm đắc lắm. Bỗng nhà vua hỏi vị Tổ, là Trẩm xây 72 cảnh chùa, dạy nhiều tăng ni, đúc chuông, tạo tượng như vậy có được công đưc gì không? Cả triều đình im lặng để nghe câu trả lời của vị Tổ. “Không” vị Tổ ngắn gọn trả lời. Nhà vua mất hứng, triều thần ngơ ngác. Nhà vua và triều thần chỉ hiểu chử có, chứ không thể hiểu nổi chử không, vì tâm các vị còn nhiều ngã chấp. “Không” không có nghĩa là “không”, mà là “không không”, nghĩa là coi tất cả việc làm của vua là không,thì sẽ có một số không theo sau như không tự tôn, tự đại, ngã mạn, kiêu căng đã làm mờ lấp đi giá trị đạo đức, thì Ngài sẽ có cái tâm thanh tịnh, an lạc, tánh rỗng không vốn là của quí của Ngài. Vì không hiểu nổi, nên vua Cao Tổ cụt hứng, lộ vẽ không hài lòng bằng sự lạnh nhạt với vị Tổ. Quả thật là chỉ cái danh, và tiếng khen chê, làm cho con người ta sống trong vô minh mà không hay biết.

 

Vì thế, con người dễ trở thành mù quáng, và luôn sống trong phiền não. Càng chấp ngã càng cao thì phiền não càng nhiều, phiền não càng nhiều thì sống trong biển trầm luân tham sân si càng dữ dội. Khi đang ở trong biển trầm luân, ai khuyên cũng không được, ai kéo cũng không ra, đó gọi là sống trong sanh tử trầm luân trong tham sân si trong hiện tiền, chớ không phải chờ chết rồi mới sanh tử trầm luân. Chúng sanh thường sống trong cảnh địa ngục trầm luân đầy tham, sân si, hỉ, nộ, ái, ố, rất nhiều lần trong mỗi phút, mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng và mỗi năm mà lại quên đi rằng mình đang ở trong địa ngục trần gian, mà lại tưởng rằng địa ngục đó đang ở thế giới khác, như lúc chết mới thấy. Vì thế, phần lớn nếu có đi chùa hay nhà thờ luôn khấn vái sau nầy khi chết mong được lên thiên đàng, cầu mong đừng bị đài xuống sống trong địa ngục sống với ngạ quỷ, xúc sanh. Đó gọi là vô minh của chúng sanh.

 

Thế nên, Ông Phạm ngọc Đảnh, Giáo sư triết của trường Petrusky, thời 60, có đem bài thơ “Buông ra hãy buông ra” phân phối cho học trò của Ông, để mong họ được nhẹ gánh đường xa.

 

 Buông ra hãy buông ra

 

Buông ra hãy buông ra

Tất cả đều do ta

Thứ gì cũng gom góp

Sao kham nổi đường xa

… . . . . . . . . . . . .

Buông ra hãy buông ra

Tất cả đều do ta

Trong cảnh giới giải thoát

Ta laị tự trói ta

. . . . . . . . . . . .

Buông ra hãy buông ra

Tất cả đều do ta

Rũ sạch hết tạm giã

Cho rỗng gánh đường xa

 

Thanh Tịnh

 

Trong kinh, có nhiều chổ Bụt nói: “Tất cả đều “có”, đó là chấp trước của thế gian, tất cả đều “không”, đó là chấp trước của thế gian. Thế giới nầy phần lớn lệ thuộc vào hai cực đoan: có và không. Lý duyên khởi là nói về trung đạo của Đức Phật như trong kinh Hoa Nghiêm, Bụt nói: “Thử hữu cố bỉ  hữu, thử vô cố bỉ vô, thử sanh cố bỉ sanh, thử diệt cố bị diệt”. (Vì cái nầy có nên cái kia có, vì cái nầy không nên cái kia không, vì cái nầy sanh nên cái kia sanh, vì cái nầy diệt nên cái kia diệt). Hai câu đầu thuộc về không gian, còn 2 câu sau thì thuộc về thời gian. Không gian lẫn thời gian do lý duyên khởi đều có tương quan lẫn nhau. Thời gian là sanh với diệt, Không gian là hữu với vô. Không gian lẫn thời gian không có tánh cố định. Dù có dù không, dù sanh dù diệt, chúng sanh được thành hình đều phải nhờ đến duyên sinh mà tác hợp. Duyên sinh là làm cho mọi vật có mặt khi có đũ điều kiện, đủ yếu tố, nương nhờ với nhau mà hình thành.

 

Ví như gọi là Năm uẫn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ở trong chúng ta, mỗi cái đều không tự thể mà tồn tại, có cái sắc có thì cái thọ cũng có, cái thọ có thì tuởng có, cái tưởng có thì hành có, cái hành có thì thức có, cái thức có thì cái sắc cũng phải có…vv.., tóm lại, chúng nó không tự độc lập mà phải nhờ duyên sanh nên năm uẩn mới thành hình, mới có chúng ta.

 

Bụt đã nói: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Có tức là không, không tức là có). Bây giờ, nếu bạn thấy một bó hoa hồng, mà theo giáo lý Phật được nhìn thấy dưới tư duy của người hiểu đạo, thì bó hoa hồng đó được nhìn thấy nó hòan tòan là không, không ngay lúc bạn nhìn nó, ngay lúc bạn cầm bó hoa đó, ngay lúc bạn để nó lên bàn, chứ không phải chờ một vài ngày, bó hồng héo tàn, vứt vào sọt rát, không còn có nữa thì gọi là không. Vì sao? Bạn hãy nhìn sâu của người hiểu đạo vào bó hoa hồng, và thấy rằng cả vủ-trụ hiện hữu trong bó hoa hồng đó. Nào là vườn hồng, trên có nhiều đám mây vần vũ, vì mây sẽ cung cấp nước cho cây hồng phát triển và lớn lên nói riêng và vạn vật nói chung. Nhiều ánh sáng mặt trời chiếu sáng xuống cho cây hồng đâm chồi nẩy lộc, cho sự lưu chuyển của nhựa luyện cung cấp cho bông và lá, vì nếu không có ánh sáng thì vạn vật sẽ chết hết. Trên mặt đất nơi vườn hồng, nào lá mục,và nhờ côn trùng đào hang, lá mục làm cho đất cứng trở nên xốp, phì nhiêu, nhờ thế mà nước mưa mới thấm sâu vào lòng đất, và nhờ những ống mao quản li-ti trong đất mà nước mưa mới được dẫn tới mạch nước ngầm, và nhờ những mao quản nhỏ bé đó, mà rể cây hông mới hút nước từ mach ngầm nuôi cây trong chuỗi ngày trời nắng gắt. Rồi chim và thú vật, nhảy nhót trên cành cây hồng, vừa bắt sâu vừa hót líu lo, rất an nhiên, tự tại. Rồi mình thấy cả con người hiện hữu trong đó, nào là vợ chồng người chủ vườn, với một số lớn công nhân, ngày đêm chăm sóc vườn hồng, họ đi giao từng bó hồng vào mỗi buổi sáng sớm nơi các tiêm bán hoa để có tiền nuôi một đàn con, lo chúng ăn học, có đứa học Gia Long, Trưng vương và Petrus ký hay Chu van An, Phan Thanh Giản. Có đứa sau nầy làm quan, làm tướng, có đứa làm Cô Giang, Cô Bắc, có đứa ở Mỹ, Úc, hay Đức đã học hành thành danh, có đứa viết bài về Phật giáo, về Vô Ngã là an lac là Niết bàn. Rồi rất nhiều người đi tìm hồng để mua, mua về lại nâng niu cắm hoa váo bình, tìm nơi trang trong trong nhà mà để, ngắm, nhìn, thưởng thức vv.. Nói tóm lại, là cả một vũ trụ hiện hữu trong bó hoa hồng một cách sinh động. Như thế, bó hoa hồng có được là nhờ trùng trùng những thứ không phải là hồng trợ lực nó.  Cả thảy tức quy về một, một tức gồm hết cả thảy. Có nghĩa là bó hoa hồng không có tự tánh, hay tự thể riêng biệt. Vì thế, khi nhìn thấy hoa hồng là thấy không. “Không” không có nghĩa là không có mà là “Có”. Tại sao? Vì cái “Có” là có do trùng trùng duyên hợp làm nên hoa hồng, nên mình thấy hoa hồng.  Còn cái “Không” của hoa hồng chỉ là một sự tập hợp của nhiều nhiều duyên hợp mà thôi.. Tất cả mọi thứ làm nên nó đều không có tự tánh, gọi là vô ngã. “Không” là “vô ngã”. Mà “Có” cũng là “vô ngã”. Vô ngã lại là không. Nghĩa là “không” là không; mà “có” cũng là không. Từ cái không mà làm nên cái có, làm tất cả mọi thứ trên vũ trụ nầy.  Một vị tổ sư của Đạo Phật, Ngài Long Thọ, đã nói: “Dĩ hữu không nghĩa cố, Nhất thiết Pháp dắc thành” (Nhờ có không mà mọi pháp đều thành tựu)

 

Bụt dẫn ta đi xa hơn về lý duyên sanh, đó là theo lý duyên sanh thì quá khứ là vô ngã, hiện tại là vô ngã, và tương lai cũng lại là vô ngã nữa. Vì thời gian cũng là một sự gỉa hợp mà thành, bởi do trùng trùng duyên khởi mà hòa hợp lại thành ngày, giờ, tháng, năm. Vì thế, vì không hiểu được lý duyên khởi, nên ta mới chấp ngã, và khi đã chấp ngã rồi, thì ta thế nầy ở hiện tại, ta thế kia ở tương lai, ta thế nọ ở quá khứ. Còn hiểu lý duyên khởi, vì bởi do duyên hợp mà thành, nên ta không còn chấp ngã trong ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai), Vì hiểu được lý duyên khởi, nên ta có cái tâm vô ngã, vì có được tâm vô ngã, nên chính mình ta có một cuộc đời an lạc hơn.

 

Trở về bài thơ “buông ra hãy buông ra” nếu không hiểu được cái lý duyên sanh, thì khó mà buông được, lại còn giữ chặt cứng vào luôn cho đến chết. Vì hiều được cái lý duyên sanh, và cái “ sắc không” của Bát Nhã Ba La Mật Đa, bởi tất cả vạn pháp vốn là không, là huyễn,là trò ảo hóa, nên “vô trụ sanh tâm”, là đừng để tâm, là “không cầm” thì tốt hơn hết. nên tôi làm bài thơ gọi là “đốn ngộ” như sau:

 

Không cầm, thì

Chẳng cần buông.    

                        Ta sẽ được tự tại,

                        Tâm ta vẫn thanh-nhàn.

 

Bùi Thế Trường

 

           

Trong lý duyên sinh Bụt dạy: 1- Tất cả các pháp đều là “hòa hợp gỉa” nghĩa là duyên nầy duyên kia hòa hợp giả với nhau mà hình thành. Mình tưởng rằng tất cả là thật hết là vô minh.

2- Tất cả các pháp đều “tương tục giả” là mọi vật đều thay đổi và biến chuyển luôn từng sát na một cách liên tục. Sự thay đổi không ngừng mà mình không thấy tưởng rằng sự vật y như xưa, không thay đổi, đó là vì do vô minh mà nghĩ vây.

3- Tất cả các pháp đều là “phân biệt giả”. Đó là vì tâm khác nhau, trình độ khác nhau, nghiệp lưc khác nhau, kiến thức khác nhau, tánh tình khác nhau, mà tạo thành tướng khi nhìn mà khác nhau. Sự khác nhau như vây là do chủ quan của con người lên sư vât, mà gán cho cái tướng như thế. Đó là do vô minh.

 

a-      Khi đạt được tính vô ngã rồi, sẽ vượt qua hết mọi khổ đau.

 

Trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật, ngay phần đầu Bụt cò thuyết: “ Khi Ngài Quán Tự tại Bồ Tát thực hành xâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết khổ ách”.

Quán tư Tại là tên của một Quan thế Âm (Bodhisattva Avalokitesvara). Bồ tát là người tỉnh thức sẽ giúp mọi người tỉnh thức. Năm uẩn là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.Trước hết, bàn về Sắc. Sắc là cái thân xác thịt của mình. Nếu mình nhìn thấy sâu hơn, thì cái thân nầy đều do Đất, Nước, Gió và Lửa hợp lại mà thành. Một cách cụ thể là Đất là chất cứng ở trong thân mà thành, như tóc, răng, da, thịt, xương, vv… Còn Nước là do các chất lỏng mà nên như: mồ hôi, máu, mủ, nước miếng, vv; Còn Gió thì gồm có: hơi thở ra vào, thân thể cử động vv… Còn lại, nhiệt độ của thân nhiệt, là lửa. Như vậy cái thân mà ta có là do sự giả hợp của tứ đại mà thành. Do đó, ta sống và hiện hữu, đó chỉ là một sự hiện hữu vay mượn, tạm bợ, giã dối, có mà không có. Sự có đó là do nhân duyên. Duyên hợp thì thân còn; duyên tan trọn vẹn hay từng phần thì thân nầy cũng rả. Cái mà ta biết được thân nầy không thiệt là do cái biết từ trí huệ mà có.

 

Đến là Thọ uẩn. Thọ uẩn là sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; và sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị,xúc, pháp). Sự tiếp xúc sanh ra cái khổ, cái vui, cái không khổ, không vui. Khi căn và trần tiếp xúc nhau, ví như tai ta do từ căn nghe tiếng từ trần gọi là thanh, ta nhận ra ý nghĩ của điều ta đã nghe, điều đó làm ta vui, buồn hay lo. Ví dụ như bạn nghe lời từ người bạn khen ngợi bạn. Lời ngợi khen đó, phải đủ duyên hợp mới tạo thành, nào từ phía bạn, nào việc của bạn đã làm, rồi tới nhiều người, kế đến tới người bạn của bạn sẽ nói về điều đó với bạn, sau rốt bạn mới biết vấn đề đó. Một chuổi dài dài như thế gọi là duyên. Trong cái duyên có dùng“tiếng hay từ” để chuyên chở nội dung câu chuyện. Tiếng hay từ không làm bạn vui hay buồn, vì nguyên bản của nó vốn là không. Nếu có căn mà không có trần hay có trần mà không có căn, thì bạn đâu biết gì xãy ra. Bạn biết tin vui hay buồn là do duyên tạo ra mà có. Như thế, cái thọ uẩn ở mũi, lưỡi, thân, ý, vốn nguyên chính nó là không, chỉ nhờ duyên hợp mà có. Nên khen, chê, vui buồn, ngon, đắng, nóng  hay lạnh đều do duyên hết, không còn lệ thuộc vào mình. Nghĩ được như thế, là mình bớt lo, vượt qua khỏi khổ nạn.

 

Nữa là Tưởng.  Tức là tâm tưởng của con người. Bên trong có ý, bên ngòai có xúc trần, thính trần hợp lại mà sanh ra tưởng. Kế là Hành uẩn. Hành uẩn là cái suy nghĩ của chúng ta. Còn Thức uẩn là cái phân biệt.  Phân biệt bằng mắt gọi là nhãn thức, bằng tai gọi là nhĩ thức, vv. Tóm lại sự phân biệt của 6 căn như

(mắt, tai, mũi, lưởi, thân ý) thì được gọi là Thức.Trong Kinh A Hàm, Bụt dạy: Cái nầy có nên cái kia mới có. Cái nầy sinh ra cái kia, cái nầy diệt thì cái kia cũng diệt”. Như thế, Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nghĩa là 2 cái đã giải thích ở trên, và 3 cái mới vừa định nghĩa , cả năn uẩn trên đều không có tự tánh riêng biệt, tự nó không có thể tự có được mà nó phải nhờ hay nương vào cái khác để mà tồn tại. Không có thứ gì trong thế gian nầy là hòan tòan thuần đơn hết. Bởi lẽ vô thường, nên mọi vật bị cưởng bức và bị phân tán tân cùng. Hiểu được như thế, nên năm uẩn vốn là không, vì nó do gĩa hợp mà thành, nên bớt đi mọi đau buồn, sợ hãi, và vượt qua hết khổ ách. Hết khổ nạn, lại thấy  niềm an vui.

 

Cach đây trên 10 năm, nhờ hiểu được cái lý duyên sanh vô ngã mà vượt qua nhiều thứ khổ đau. Khi chưa hiểu được lý duyên sanh, khi đau khổ đến, nhiều người khóc than, buồn bã hay ưu sầu một cách tuyệt vọng, trong một thời gian rất lâu, đôi khi còn tự tử; nhưng khi hiểu nó rồi, không những không khóc than, không trách hờn gì cả, mà trái lai còn vui vẻ, vì tất cả đều là không, là giả, là huyễn nên ca hát nghêu ngao thay vì u sầu.  Đây là baì thơ mà tác giã sau khi viết ra là có niềm an vui ngay sau đó.

 

                                   Chỉ cười thế thôi,

                        Bỗng nhiên, Trời sập, đè tôi

                        Em thì tránh khỏi, chẳng thôi đoái nhìn,

                        Để tôi nằm đó một mình,

Mặc tôi ca hát một mình thế thôi.

 

“Phật Kinh” có dạy cho tôi:

 

Ngũ uẩn là giả,

Thân nầy cũng giả

Trời đè lên thân giả,

Kệ Trời.

 

Còn em,

Vốn vô thường, duyên hợp,

Do ngũ-uẩn mà thành,

Có nhìn hay chẳng thèm nhìn,

Có không, không có,

Vô thường,

Giả thôi.

 

Giả thôi,

Thì cũng cười trừ,

Thế thôi.

 

Thôi thì thôi,

Chỉ hát thôi.

 

Thôi thì thế thôi.

                                       Buì Thế Trường

 

 

b-     Cách nhìn thế gian bằng tâm không trụ là đạt được sự an lạc.

 

Bởi tâm mình luôn luôn sanh khởi, sanh khởi theo mọi sinh họat nơi các môi trường mình đã hay đang có mặt tại đó, hoặc mang nó về nhà hay mình đi xa lìa nó bất cứ nơi đâu. Đối với chúng sanh thì tâm lúc nào cũng luôn sanh khởi. Sanh khởi tâm theo hình, danh, sắc,và tướng. Sanh khởi tâm còn được thấy nhiều nơi như danh vọng, tiền tài, kéo máy, rượu chè, hút sách, dục vọng, sắc đẹp, hơn thua vv…. Sanh khởi tâm không những ban ngày mà còn cả lúc mình ngủ, lúc đêm, lúc cả chiêm bao, đầy mộng mị.  Những thứ tâm đó sanh khởi lên làm cho chúng sanh trôi nổi hụp lặn trong vòng điên đảo đầy vọng tưởng, không có lối thóat.  Bụt thấy vậy, nên chỉ cách cho chúng sanh xa lìa và đi vào nẻo giác ngộ. Bụt dạy: “Ưng vô sở trụ sinh nhi kỳ tâm”. ( Đừng bám vào đâu cả mà sanh khởi tâm). Không bám vào danh lợi, ngã nhân mà sanh tâm, thì được giải thóat, không bị trói buộc thì đạt được tâm vô ngã. Nói rỏ hơn, dù chúng ta sống như mọi người, vẫn thấy, nghe, biết như mọi người, và khi cần biết, cần nghe, cần thấy như mọi người, nhưng cái thấy, nghe và biết là chỉ thấy, nghe, và biết, còn tâm không bám chặt vào cái thấy, nghe và biết. Hễ tâm không bám vào bất cứ đâu, thì tự nhiên có được sống rất tự tại an vui.

 

Có một chuyện kể như vầy: hai nhà sư đang trên đường về chùa phải qua nhiều cây cầu khỉ, thì một trong các cây cầu bị gảy làm một cô thiếu nử trẻ đẹp té xuống sông, ướt cả áo quần. Một nhà sư thấy vậy, liền ra tay sửa cây cầu kỹ lưởng lại, khi xong, nhà sư liền cổng cô thiếu nử kia qua bên kia cầu được bắt qua một con rạch nhỏ, rồi để cô đó xuống, cho cô tự động về nhà. Xong việc, hai nhà sư về chùa. Sau 3-4 ngày, vị sư di theo nhưng không cổng cô đó, mới phàn nàn: “Thầy tu hành, sao thầy lại dám cổng người thiếu nử trẻ đẹp đó, như thế là Thầy chưa diệt được cái tâm nhiễm sắc trần”. Thầy kia đáp, “Tâm tôi không có nhiễm sắc trần, tôi cổng cô ta và để cô ta tại phía kia cầu, tôi không có giữ lại chút hình ảnh nào của cô ta khi tôi làm xong việc đó. Chuyện của tôi chấm dứt tại phía chân cầu. Còn Thầy, dù Thầy không cổng Cô ta, nhưng chính Thầy mang hình ảnh của Cô ta đem về chùa từ 3-4 ngày nay, như thế, tâm của Thầy bị nhiễm sắc đẹp của Cô ta, chứ đâu phải tôi. Vì nhiễm phải sắc nên Thầy ray rứt, nhớ nhung, sống trong vọng tưởng, nên mới nói thế”.

 

Do đó, nếu tâm không bám vào danh lợi và sắc đẹp là tâm tự giải thóat, là tâm từ bi và vô ngã, thế nên cảm thấy đầy an vui tự tại. Bởi lẽ, người hiểu được tánh không của vạn pháp, vì vạn pháp vốn là vô ngã, là không, là ảo, là huyễn, nên tâm không bám trụ vào bất cứ đâu, nên tâm luôn luôn đầy an vui. Còn người không có hiểu biết tánh không của vạn pháp, cho các pháp là thật, nên sanh tâm vào mà bám vào vạn pháp, cất giữ chặt, nên luôn sống trong trói buộc đau khổ. Ngài Xuyên Thiền Sư có làm bài thơ để nói về cái tâm của mình trước vạn pháp mà tôi trìch 2 câu như sau:

                                   Trúc ảnh tảo dai, trần bất động

                                   Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngần

 

            Dich:

                                   Bóng trúc quét sân, trần chẳng động

                                   Vừng trăng xuyên biển, nước không xao.

                         

                                                                                  (Sa mon Thich thiên Hoa, 1965)

 

Thêm nữa, ngoài chuyên “vô trú sanh tâm”, Bụt còn chỉ dạy cách hành bằng cách bố thí hay cách cho của cho người khác gọi là bố thí Ba la mật, nghĩa là “không trú vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà hành bố thí”, thi được cái tâm rất an lạc. Bụt dạy: “ Bồ tát khi bố thí hay làm các việc lợi ích cho chúng sanh, không nên sanh tâm trụ chấp vào các tướng (mình bố thí, người thọ thí, vật bố thí)” vì như thế là mình còn chấp ngã (mình, người), chấp pháp (vật bố thí) thì bố thí như vậy không phải là bố thí Ba la Mật. Bố thí Ba la Mật là bố thí rốt ráo.  Cụ thể là khi bố thí thì mình nên quán là mình và chúng sanh là đồng một bản thể, thì không thấy ta bố thí và chúng sanh thọ thí.  Cụ thể khác nữa là tay mặt và tay trái đều cùng một thân mình, tay trái cầm dao cắt dưa leo để ăn cơm, nhưng lại cắt nhầm và làm chảy máu tay mặt. Tay trái lấy thuốc băng bó cho tay mặt nhưng không thấy mình (tay trái) là người ban ơn cho tay mặt

(như sức thuốc), và tay mặt là người thọ ơn ( như được sức thuốc). Đó là ví dụ gọi là bố thí rốt ráo của Ba la Mật. Bốt thí như thế thì trí huệ Bát nhã hiện ra, chiếu soi khắp các pháp, như người có mắt sáng tỏ, lại thêm có ánh sáng mặt trời nữa, nên thấy rõ mọi vật. Ngược lại, như người mắt mờ, ở trong đêm, không nhìn thấy mọi vật.

 

Đi xa hơn, khi chúng sanh không còn chấp ngã về năm uẩn và sáu trần nữa, sau khi đã hiểu rõ rằng tất cả pháp đều do duyên hợp huyễn hoặc mà thành, thì chúng sanh lại bắt đầu chấp ngã dựa vào trí năng ở bên trong, dựa vào chúng sanh và thọ giả, nên Phật dạy:” Đối với tất cả các pháp nên biết như vầy, thấy như vầy, giải thich như vầy, không sanh tâm chấp pháp tướng” hay” Đem tâm vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả mà tu tất cả các pháp”.

 

Hãy nghe Bụt dạy:

 “Phàm sở hữu tướng giai thi hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” nghĩa là: (Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng trong phi tướng thúc thấy Như Lai).

Vì sao?  Nếu có tướng thì là tướng của sự đối đãi, nghĩa là “có” đối với “không”, “sanh” đối với “diệt”, “sắc” đối với “tâm” vv… Khi còn đối đãi là còn giã đối, còn vô thường, còn nhỏ nhen, còn giới hạn, đầy thiên kiến, một chiều, tự tôn, tự đại, tự cho là đỉnh cao của trí tuệ loài người. Ví dụ như: đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản mà người Cộng sản rêu rao trên thế giới, cũng chỉ là một sự đối đãi, nên rất hẹp hòi, thì cái xã hội của họ có được lại quả là tệ, dân chúng rất nghèo đói và lạc hậu. Thế nên, nếu thấy tướng trong vô tướng, nghĩa là vượt qua sự đối đãi, nghĩa là tâm không còn chấp thủ, nghĩa là hết mọi hư vọng, thì mới thấy pháp thân Như Lai, nghĩa là có được sự an lạc trong mình.

 

Một cách cụ thể khác mà Bụt chỉ dạy chúng sanh là: “Nếu chấp thủ pháp tướng tức là còn chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả.  Nếu chấp thủ phi pháp tướng lại còn chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả.”

Vì sao? Vì tâm còn chấp thủ cho cả hai pháp tường và phi pháp tướng, thì tâm chưa phải là tâm thật giác. Cụ thể để dễ hiểu là, giáo Pháp của Bụt là chiếc bè để giúp chúng sanh qua sông. Khi qua bên kia sông rồi, đến bờ giác ngộ rồi, thì phải bỏ bè để lên bờ.  Lên bờ mà mang bè theo, nghĩa là chưa thật sự lên bờ, có nghĩa là phải xuống sông đi nữa.Lên bờ bên kia rồi, thì bè cũng phải bỏ, chánh pháp chũng phải bỏ, phi pháp cũng phải bỏ. Không bỏ bè gọi là chấp thủ. Mà chấp thủ thì chưa được giác ngộ. Bụt chỉ dạy như thế thật là rốt ráo, để có được cái tâm an lạc. Đươc tâm an lạc là tự chứng nhận Như Lai.

 

Tóm lại, Bụt dạy chúng sanh nếu muốn có an tâm thì nên suy ngẫm về cái không như trong Bát Nhã Tâm Kinh là “sắc tức không, không tức sắc” (sắc tức thị không, không tức thị sắc) và thêm nữa  là thực hiện rốt ráo “ ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” tức “ vô trú sanh tâm”, tức (đừng khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào, là đừng sanh vọng tâm chấp ngã, chấp pháp vv..). Không chấp nhã, chấp pháp thì phiền não không sanh. Phiền não không sanh thì tâm được thanh tịnh, không tạo nghiệp sanh tử luân hồi. Cả hai điều trên giúp ta vượt qua ngoài mọi chấp kiến cực đoan nào có, nào không, nào sanh, nào diệt, để thực chứng nghiệm được Niết bàn.

 

     B- Ái diệt, Niết Bàn.

 

“Các Thiên tử (Devaputra) hỏi Tu Bồ Đề (Subhuti): Phải chăng tất cả chúng sanh cũng đều như huyễn? Niết bàn cũng đều như huyễn như mộng?

“Tu Bồ Đề: Quả thực, Niết bàn cũng như huyễn, như mộng; huống chi các pháp khác !”

“Các Thiên tử: Tại sao thế?

“Tu Bồ Đề: Dù pháp có cao hơn Niết bàn, tôi cũng nói là như huyễn, như mộng. Bởi vì, huyễn mộng và Niết bàn, pháp không hai không khác” ( Suzuki,01 và T. Trí Tịnh, 1995).

 

“ Đệ nhất nghĩa không là nói về Niết bàn. Xét về Niết bàn thời Niết bàn rỗng không, vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tại sao? Vì tánh như vậy. Đây là đệ nhất nghĩa không? ( HT Thich Trí Tịnh, 1995)

 

Niết bàn không có đến và cũng không có đi, cũng không trụ nơi thường trụ như những pháp sai biệt, cũng không có những tự tướng sai biệt. Là có mặt trong mọi cảnh giới, trong mọi nhân duyên, là không có qúa khứ, hiện tại hay vị lai, mặc dù xuất hiện như những thực tại.

 

Niết bàn không hề có trong suy tư và mộng tưởng, nên những khái niệm về Niết bàn thì không phải là Níết bàn thật thụ. Do đó, nên được gọi là Không, là Giả danh. Nếu Tăng Duệ viết tựa cho Trung luận quán:” Thực phi danh bất ngộ” (nếu không gọi danh thì sự thể nó không được biết đến), vì thế mình mới gọi. Ngài Long Thọ viết:” Nếu tất cả pháp là không, không có sinh cũng không có diệt, vậy đọan cái gì và diệt cái gì mà nói là chứng Niết bàn?.

Niết bàn là gì? “Không có chứng đắc, cũng không có đạt đến, không có sinh cũng không có diệt, không có thường cũng không có đọan, gọi đó là Niết bàn”

Niết bàn ở đâu?  Ngài nói tiếp:

                        Niết bàn và thế gian không có gì sai biệt,

                        Thế gian và niết bàn cũng không có gì sai biệt,

                        Niết bàn và thế gian chúng không hai, không khác

                                                           ( Thích Thiện Tâm, 1999)

 

Khi tâm phân biệt không còn, không còn vọng tưởng, tham ái, từ bỏ tham, thân si, tức là lúc ta đạt được cái tâm thanh tịnh, chính là lúc ta thực chứng Niết bàn. Vì lúc mình cãm chứng thật sự nên không còn được gọi là chứng. Niết bàn vừa là cái chung của tất cả vì ai tu thì cũng vào được, lại vừa là cái riêng của tất cả vì ai tu thì người ấy đắc.

 

Cần phải đạt cái “vô ngã” hay cái “không”. Nhưng đừng bám víu vào ý niệm vô ngã hay không. Không phải vô ngã mới là vô ngã. Không phải không mới là không. Không không mới là có. Chính vì bản ngã mà ta nổi chìm trong biển trầm luân, phiền nảo sanh tử. Vậy khi dứt ngã chấp thì phiền não hết.  Khi phiền não hết, thì tư hoặc, kiến hoặc, vô minh, cũng dứt. Thi ta vượt qua bờ bến giác.  Khi ngã diệt được, khi phiền não đọan được, thì những giây phut đó là giây phút ta sống trong niết bàn ( HT Thich thiện Siêu,1996)

 

Niết bàn là vô-tướng. Và Vô ngã là Niết bàn. Vô–tướng hay vô ngã đều là ý niệm, nhưng đừng vướng chấp vào nó. Chấp vào cả hai là chưa đạt được cái gì, vì cả hai đều là phương tiện.  Chấp “có” (chấp thường), chấp “không” (chấp đọan) đều là vọng chấp cả. Bụt dạy: “ Người phát tâm Bồ đề, đối với các pháp, không nên chấp đọan diệt”.

                        Nhươc nhơn dục thức Phật cảnh giới

                        Đương tịnh kỳ ý như hư-không

            Dich:

                        Nếu người muốn biết cảnh giới Phật,

                        Tâm phải thanh tịnh như hư-không.

                                                                       (Sa môn Thich Thiện Hoa, 1965)

 

Nói theo duy thức học, danh từ tương tức, tương nhập là cái nầy có trong cái khác, cái nầy đi vào cái khác, Vô ngã tương tức, tương nhập Niết bàn, Niết bàn tương tức, tương nhập Vô ngã. Nghĩa là vô ngã mà đạt được thì chứng ngộ được Niết bàn, Niết bàn chứng ngộ được lại nhờ có vô ngã.  Câu chuyện có ghi trong sách Phật kể rằng, Đức Ngũ tổ, muốn chọn người kế nghiệp Tổ vị thứ sáu,  truyền rằng ai làm bài kệ mà ngộ ý Đạo sẽ được truyền tổ vị cho. Ngài Thần Tú làm bài kệ:

 Thân thị Bồ đề thọ

 Tâm như minh cảnh đài

 Thời thời thường phất thức

 Vật sử nhá trần ai

 Dich:

                        Thân là cây Bồ -đề (có tướng)

                        Tâm như dài gương sáng (có tướng)

                        Mỗi giờ thường lau quét (có tu)

                        Chứ cho dính bụi trần (có chứng)

 

Tổ Huệ Năng làm bài kệ như sau:

 

                        Bồ đề bổn vô thọ

                        Tâm phi minh cảnh đài

                        Bổn lai vô nhất vật

                        Hà xứ nhá trần ai

Dich:

                        Bồ đề không phải cây (không tướng)

                        Chơn tâm không phải đài (không tướng)

                        Xưa nay không một vât (không tu)

                        Chỗ nào dính bụi trần (không chứng)

                                                                        ( Sa môn Thich Thiện Hoa, 1965)

 

Huệ Năng Ngài trở thành Lục tổ thứ sáu vì Ngài thấu rõ nghĩa về“không”, trái lại Thần Tú chỉ hiểu biết về “ có”. Như vậy ai mà hiểu thấu suốt về“không” người ấy sẽ hiểu hết côị nguồn trên cỏi đời nầy, với cả môt cái tâm an lạc. Cũng nhờ không mà mới cãm nhận được Niết bàn.

 

Để kết thúc bài viết nầy, tôi đọc lớn lên câu mật chú trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: “Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha”.

Gate là đi qua,

Paragate là đi qua bên kia,

Parasamgate là tất cả vượt qua bên kia,

Bodhi là sự thức tỉnh,

Svaha là mừng reo vượt qua, vượt qua, Dzô ta. Dzô ta 

 

Các bạn vượt qua, vượt qua, qua bên kia, qua bên kia để thực chứng được Niết bàn. Qua hay vượt qua trước là cái không, gọi là vô ngã, bằng ngũ uẩn giai không và vô trụ sanh tâm, để có tâm an lạc. Vì Niết bàn là sự vắng không của mọi ý-nghĩ, tư tưởng, và ý niệm. Khi đạt được cái không, cái vô ngã nhưng đừng chấp vào các ý niệm về không, về vô ngã, vì cả hai không hay vô ngã là phương tiện để ta đạt đến chân lý là sự cãm nhận được Niết bàn. Vì sao? Vì còn chấp là còn vô số phiền não đua nhau nổi lên như sóng. Vì như thế là chưa có thể cãm nhận được gì. Bụt dạy: “Niệm” mà không trụ nơi niệm, mới thật là niệm. “Nói” mà không trụ chấp nơi nói, mới thật là nói. “Làm” mà không chấp nơi làm mới thật là làm. “Tu” mà không trụ chấp nơi tu, mới thật là tu.  “Chứng ngộ” mà không trụ chấp nơi chứng, mới thật là chứng ngộ”. Niết bàn, được gọi là bất khả thuyết, chỉ biết bằng tự thể nghiệm, tự mình chứng ngộ cho chinh mình, ngay tại hiện tiền.                                                                                                                       

Bùi Thế Trường.

                                                                       (Non cao Greenacre, ngày 16/7/05)

 

 

Tham khảo:

Daisetzteitaro Suzuki, 2001.Thiền Luận, 3 quyển, nxb TP HCM

Thich thiện Tâm, 1999. Lich sử tư tưởng Triết học Tánh Không. p 127. nxb Tp HCM.

Sa môn thich Thiện Hoa 1965. Kinh Kim Cang Dich& giảng. Chùa Khanh Anh

France.

HT Thich thiện Siêu., 1996. Vô ngã là Niết Bàn.nxb Thuận hóa. Huế VietNam

HT Thich Trí Tịnh, 1995 Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tập 1,2,3, nxb tpHCM

Lục Tổ Huệ Năng, 1987 Pháp Bảo Đàn Kinh. Hoc Viên Quốc Tế. Cali . USA

Luận Đại Thừa Pháp Minh Môn Giảng giải. 2001 Phước Huệ. Australia.

Vasubandhu Bodhisattva- 1983. Shastra on the door to understanding the hundred dharmas. Talmage, Califormia. USA

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : buithetruong@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính