|
Trong Tương Ưng Bộ Kinh
Tập có viết rằng, sau khi Đức Phật giác ngộ rồi, cũng nơi gốc cây Bồ đề đó, Ngài
nghĩ: “Pháp mà ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh
cao, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng thì
thật khó mà thấy được định lý y–tánh duyên khởi pháp, khó mà thấy đươc
định lý là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sinh y được trừ bỏ, ái được đọan
tân, ly dục, ái diệt, Niết bàn”.
A-
Y- tánh duyên khởi.
Trong ý-nghĩ của Bụt có
hai ý chánh làm nền tảng cho giáo lý Phật giáo là y–tánh duyên khởi và ái diệt
Niết bàn. Đó là hai lý căn bản giúp ta tìm hiểu về Đạo Phật. Nghĩa là, một đàng
là y-tánh duyên khởi vô thường, đàng khác là pháp tính Niết bàn bất sinh bất
diệt. Hai pháp nói trên là cốt để diễn đạt tư- tưởng của Bụt để cho mọi người dễ
hiểu, và noi theo từng cái một để mà thực hành, một khi đạt được một cái, thì ta
có chứng nhận được cái kia dễ dàng. Thế nên, hai pháp trên tuy hai cũng chỉ là
một. Nghĩa là cái nầy có đạt đươc thì cái kia cũng đạt được, trái lại, cái kia
có đạt thì cái nầy cũng được. Có nghĩa, hễ ngộ lý duyên sanh thì ngộ luôn cái lý
ái diệt Niết bàn; ngược lại, ngộ được ái tận Niết bàn, là ngộ ngay cái lý duyên
sanh. Trong duy thức học, danh-từ thường gọi là tương tức, theo định nghĩa tương
tức là cái nầy có trong cái kia. Nên ta cũng gọi lý duyên sanh tương tức ái diệt
Niết bàn, hay ngược lai, ái diệt niết bàn tương tức cái lý duyên sanh.
Khía cạnh về Pháp, thì
y-tánh duyên khởi, thuộc hữu vi pháp, còn tịch tịnh Niết bàn là Vô vi pháp. Pháp
là hiện tượng. Vạn pháp là mọi hiện tượng. Chẳng hạn như: mặt trời là một pháp,
núi non, song ngòi, đất, hạt bụi, sõi đá, suy nghĩ là pháp; lại nữa sự suy nghĩ,
hờn, giận, thương, ghét cũng là pháp; mắt, mũi, tai, họng cũng là pháp. Thể của
mọi Pháp đều là không. Và bản chất của mọi hiện tượng đều vốn là không, và chúng
không có tự tánh riêng. Với hữu-vi, Phật nói các Pháp đều do duyên-sanh mà nên,
đều không có tự-tánh (Hữu vi pháp là nói về tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô
sắc giới. Xét về Dục giới, thời Dục giới rỗng không, Sắc giới thời sắc giới rỗng
không, Vô sắc giới thời vô sắc giới rỗng không, chẳng phải thường, chẳng phải
diệt. Tại sao? Vì tự tánh như vậy. Đây gọi là hữu vi không. HT Thich tri Tinh,
1995). Mà vô-vi thì thiên về ly-ngôn, tịch-diệt, bất khả ngôn thuyết, siêu
lý-luận (Vô vi pháp là nói không tướng sanh, không tướng trụ, không tướng diệt.
Xét về Vô vi pháp thời Vô vi pháp rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải
diệt. Tai sao? Vì tánh tự như vậy. Đây gọi là Vô vi. HT Thich tri Tinh.,1995).
Từ căn bản của y-tánh duyên khởi đó mà tạo thành 6 giáo lý chủ yếu của tất cả
giáo lý và tông phái của Đạo Phật.1- Như Vô minh duyên khởi, Nghiệp cảm duyên
khởi của Tiêu thừa; 2- A lai Da Duyên khởi của Pháp tướng tông; 3-Chơn như
Duyên khởi của Pháp Tánh Tông; 4- Pháp giới duyên khởi của Hoa nghiêm Tông; và
5-Lục Đại Duyên khởi của Mật Tông.
Bụt cũng giải thích
thêm cho đệ tử của Bụt qua Ngài A Nan rằng: “ Định lý duyên khởi rất thâm sâu,
chính vì không hiểu rõ, không giác ngộ, không chứng nhập pháp nầy mà chúng sanh
bị rối như cuốn chỉ, bị phủ đầy bịnh cằn cỗi, như cây lau, không thóat khỏi luân
hồi. Không hiểu được định lý duyên khởi, không những ta không hiểu được chính
ta, cũng không hiểu được vạn pháp, chỉ thấy về bản ngã ta, đầy cá biệt, cho là
đáng được tôn trọng, cho là qúi báu và lại hơn tất cả các ngã khác, nên sanh ra
ngạo mạn. Vì bản ngã của mọi vật vốn không có tự tánh riêng biệt, nên gọi là vô
ngã. Vì vô ngã nên mọi vật tự nó không tự tồn tại và độc lập với chính nó. Vã
lại, nó chỉ tồn tại được khi nó được duyên hợp tác động để nuơng gá nhau mà
thành.
Ví như, lòai người
chúng ta, màu da có khác, cao thấp có khác, mập ốm có khác, chủng tộc có khác,
văn hóa có khác, trình độ có khác, cá tánh có khác, vv. tất cả cái khác đó vốn
là sự sai biệt, nhưng lại có một cái bình đẳng chung là đều do tứ đại hợp
thành. Vậy gọi là sai biệt trên bình đẳng, hay bình đẳng vốn sai biệt.Từ đó, vì
không thấy cái bình đẳng vốn sai biệt, với ảo-tưởng bản ngã, ta tự thấy mình
khác với mọi người, người da trắng thì nghĩ là họ khác với da màu, người mắt
xanh cho là khác với các màu mắt khác, người củ khác với người mới tới, người
trong nước coi thường người di dân, tị nạn, người sống trong các thể chế chính
trị khác nhau, đảng viên và không đảng viên, chế độ phân biệt Việt kiều do Cộng
sản chủ trương, tất cả vì tự cho mình khác vơi các bản ngã của mọi người khác
nên khởi lên lòng ích kỹ, kỳ thị và ngạo mạn… Những điều trên xãy ra là vì họ
không thấy được rằng chúng sanh có chung một mẫu số chung, là cái bình đẳng
chung, nghĩa là cũng do tứ đại mà thành. Nếu cảm thấy mình hòa đồng nhất thể ở
trong cái bình đẳng với mọi người khác, có hơn ai đâu mà tưởng là ta đây, cũng
từ thủy, mộc, hỏa và thổ làm nên, thì ta tránh bớt đi các hư vọng, và mọi sự
khác biệt về suy nghĩ lại bớt đi, và ảo tưởng về bản ngã sẽ bớt ít đi.
Ví dụ khác nữa, với các
lọai vô tình, như với vũ trụ, như mây, mưa, sông, núi, biển cả, tinh tú trên
trời, cả vũ-trụ hành tinh, thì ta thấy rằng ta hẵn khác với các pháp trên, nhiều
khi còn cho mình ngon lành hơn tất cả, như là chúa tể, vì không thấy cái bình
đẳng chung được nhìn dưới trí huệ là tất cả đều do duyên hợp trùng trùng điệp
điệp nương gá nhau mà thành, nếu ta thấy ta đồng nhất thể với những pháp trên,
kể cả các lọai vô vi hay hữu vi, vì chẳng qua là do duyên hợp mà thành, thì cái
bản ngã ta đây dần dà bớt đi; ngược lại, nêú thấy mình khác biệt, nên cái thấy
đó được gọi là vô minh.
Bởi lẽ, tất cả các pháp
dù lớn, dù bé, dù hữu hình hay vô hình, dù sắc hay tâm cũng đều do duyên sanh,
đều không có thật tánh, là vô thường, là giống như chiêm bao, giồng như trò ảo
thuật, giống như giọt sương mai rất chóng tàn, rất phù du và mộng uyễn, thế mà
chúng sanh nào ai thấy được đúng như vậy. Vì không hiểu đúng như vậy, nên chúng
sanh cho rằng các pháp là thật, vì tưởng là thật, nên cố bám chặt vào, tự cho đó
là của mình, nên sống trong tham, sân si, đầy đam mê để bám cứng vào đó, mà đảo
điên, đau khổ, triền miên. Nếu hiểu rằng các pháp đều do duyên sanh, không có
thật tính, thì con người cũng bình đẳng với các pháp, mà các pháp cũng bình đẳng
với nhau, một cục đá như một hòn núi, một cơn gió như một bóa hoa hồng, con
người như mọi người.
Khi hiểu được cái lý
duyên sanh vô ngã, thì tất cả pháp đều làm cho con người giác ngộ. Thế nên,
người ta nói rằng “tất cả các pháp đều là Phật pháp”.
Vã lại, bản ngã vốn là căn bản của vô minh, của tham, sân si. Ngã
to, thì tham càng lớn, sân càng lớn, và si càng lớn hơn nũa và ngược lại: ngã
nhỏ, tham ít, và sân lại càng ít. Bởi chấp ngã, nên phải sống trong chấp ngã.
Vì chấp ngã nên chấp luôn cả tướng và chấp luôn cả danh. Vì chấp tướng và chấp
danh, chấp khen, bỏ chê, nên nếu ai gọi mà danh sai đi nếu gọi cái danh thấp hơn
họ có, hoặc khen hay chê, họ giận liền, lộ ra cả mặt, họ không tiếp hoặc từ chối
hết những gì người ta muốn nhờ. Chuyện kể về vua Lương Võ Đế và Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Vua Lương Võ Đế rất có công trong việc làm hưng thịnh Đạo Phật, nào xây chùa,
dạy tăng ni, và lại ngưởng mộ các bậc cao tăng đức-trọng. Một hôm, Ngài thỉnh
mời vị Tổ Đạt Ma đến cung điện của Ngài và cho tất cả các quần thần và dân chúng
được tham dự đẻ học hỏi thêm. Hai vị bàn chuyện rất lâu, có vẽ tâm đắc lắm. Bỗng
nhà vua hỏi vị Tổ, là Trẩm xây 72 cảnh chùa, dạy nhiều tăng ni, đúc chuông, tạo
tượng như vậy có được công đưc gì không? Cả triều đình im lặng để nghe câu trả
lời của vị Tổ. “Không” vị Tổ ngắn gọn trả lời. Nhà vua mất hứng, triều thần ngơ
ngác. Nhà vua và triều thần chỉ hiểu chử có, chứ không thể hiểu nổi chử không,
vì tâm các vị còn nhiều ngã chấp. “Không” không có nghĩa là “không”, mà là
“không không”, nghĩa là coi tất cả việc làm của vua là không,thì sẽ có một số
không theo sau như không tự tôn, tự đại, ngã mạn, kiêu căng đã làm mờ lấp đi giá
trị đạo đức, thì Ngài sẽ có cái tâm thanh tịnh, an lạc, tánh rỗng không vốn là
của quí của Ngài. Vì không hiểu nổi, nên vua Cao Tổ cụt hứng, lộ vẽ không hài
lòng bằng sự lạnh nhạt với vị Tổ. Quả thật là chỉ cái danh, và tiếng khen chê,
làm cho con người ta sống trong vô minh mà không hay biết.
Vì
thế, con người dễ trở thành mù quáng, và luôn sống trong phiền não. Càng chấp
ngã càng cao thì phiền não càng nhiều, phiền não càng nhiều thì sống trong biển
trầm luân tham sân si càng dữ dội. Khi đang ở trong biển trầm luân, ai khuyên
cũng không được, ai kéo cũng không ra, đó gọi là sống trong sanh tử trầm luân
trong tham sân si trong hiện tiền, chớ không phải chờ chết rồi mới sanh tử trầm
luân. Chúng sanh thường sống trong cảnh địa ngục trầm luân đầy tham, sân si, hỉ,
nộ, ái, ố, rất nhiều lần trong mỗi phút, mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng và mỗi năm
mà lại quên đi rằng mình đang ở trong địa ngục trần gian, mà lại tưởng rằng địa
ngục đó đang ở thế giới khác, như lúc chết mới thấy. Vì thế, phần lớn nếu có đi
chùa hay nhà thờ luôn khấn vái sau nầy khi chết mong được lên thiên đàng, cầu
mong đừng bị đài xuống sống trong địa ngục sống với ngạ quỷ, xúc sanh. Đó gọi là
vô minh của chúng sanh.
Thế nên, Ông Phạm ngọc
Đảnh, Giáo sư triết của trường Petrusky, thời 60, có đem bài thơ “Buông ra hãy
buông ra” phân phối cho học trò của Ông, để mong họ được nhẹ gánh đường xa.
Buông
ra hãy buông ra

Buông ra hãy buông ra
Tất cả đều do ta
Thứ gì cũng gom góp
Sao kham nổi đường xa
… . . . . . . . . . . . .
Buông ra hãy buông ra
Tất cả đều do ta
Trong cảnh giới giải thoát
Ta laị tự trói ta
. . . . . . . . . . . .
Buông ra hãy buông ra
Tất cả đều do ta
Rũ sạch hết tạm giã
Cho rỗng gánh đường xa
Thanh Tịnh
Trong kinh, có nhiều
chổ Bụt nói: “Tất cả đều “có”, đó là chấp trước của thế gian, tất cả đều
“không”, đó là chấp trước của thế gian. Thế giới nầy phần lớn lệ thuộc vào hai
cực đoan: có và không. Lý duyên khởi là nói về trung đạo của Đức Phật như trong
kinh Hoa Nghiêm, Bụt nói: “Thử hữu cố bỉ hữu, thử vô cố bỉ vô, thử sanh cố bỉ
sanh, thử diệt cố bị diệt”. (Vì cái nầy có nên cái kia có, vì cái nầy không nên
cái kia không, vì cái nầy sanh nên cái kia sanh, vì cái nầy diệt nên cái kia
diệt). Hai câu đầu thuộc về không gian, còn 2 câu sau thì thuộc về thời gian.
Không gian lẫn thời gian do lý duyên khởi đều có tương quan lẫn nhau. Thời gian
là sanh với diệt, Không gian là hữu với vô. Không gian lẫn thời gian không có
tánh cố định. Dù có dù không, dù sanh dù diệt, chúng sanh được thành hình đều
phải nhờ đến duyên sinh mà tác hợp. Duyên sinh là làm cho mọi vật có mặt khi có
đũ điều kiện, đủ yếu tố, nương nhờ với nhau mà hình thành.
Ví như gọi là Năm uẫn:
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ở trong chúng ta, mỗi cái đều không tự thể mà tồn
tại, có cái sắc có thì cái thọ cũng có, cái thọ có thì tuởng có, cái tưởng có
thì hành có, cái hành có thì thức có, cái thức có thì cái sắc cũng phải có…vv..,
tóm lại, chúng nó không tự độc lập mà phải nhờ duyên sanh nên năm uẩn mới thành
hình, mới có chúng ta.
Bụt đã nói: “Sắc tức
thị không, không tức thị sắc” (Có tức là không, không tức là có). Bây giờ, nếu
bạn thấy một bó hoa hồng, mà theo giáo lý Phật được nhìn thấy dưới tư duy của
người hiểu đạo, thì bó hoa hồng đó được nhìn thấy nó hòan tòan là không, không
ngay lúc bạn nhìn nó, ngay lúc bạn cầm bó hoa đó, ngay lúc bạn để nó lên bàn,
chứ không phải chờ một vài ngày, bó hồng héo tàn, vứt vào sọt rát, không còn có
nữa thì gọi là không. Vì sao? Bạn hãy nhìn sâu của người hiểu đạo vào bó hoa
hồng, và thấy rằng cả vủ-trụ hiện hữu trong bó hoa hồng đó. Nào là vườn hồng,
trên có nhiều đám mây vần vũ, vì mây sẽ cung cấp nước cho cây hồng phát triển và
lớn lên nói riêng và vạn vật nói chung. Nhiều ánh sáng mặt trời chiếu sáng xuống
cho cây hồng đâm chồi nẩy lộc, cho sự lưu chuyển của nhựa luyện cung cấp cho
bông và lá, vì nếu không có ánh sáng thì vạn vật sẽ chết hết. Trên mặt đất nơi
vườn hồng, nào lá mục,và nhờ côn trùng đào hang, lá mục làm cho đất cứng trở nên
xốp, phì nhiêu, nhờ thế mà nước mưa mới thấm sâu vào lòng đất, và nhờ những ống
mao quản li-ti trong đất mà nước mưa mới được dẫn tới mạch nước ngầm, và nhờ
những mao quản nhỏ bé đó, mà rể cây hông mới hút nước từ mach ngầm nuôi cây
trong chuỗi ngày trời nắng gắt. Rồi chim và thú vật, nhảy nhót trên cành cây
hồng, vừa bắt sâu vừa hót líu lo, rất an nhiên, tự tại. Rồi mình thấy cả con
người hiện hữu trong đó, nào là vợ chồng người chủ vườn, với một số lớn công
nhân, ngày đêm chăm sóc vườn hồng, họ đi giao từng bó hồng vào mỗi buổi sáng sớm
nơi các tiêm bán hoa để có tiền nuôi một đàn con, lo chúng ăn học, có đứa học
Gia Long, Trưng vương và Petrus ký hay Chu van An, Phan Thanh Giản. Có đứa sau
nầy làm quan, làm tướng, có đứa làm Cô Giang, Cô Bắc, có đứa ở Mỹ, Úc, hay Đức
đã học hành thành danh, có đứa viết bài về Phật giáo, về Vô Ngã là an lac là
Niết bàn. Rồi rất nhiều người đi tìm hồng để mua, mua về lại nâng niu cắm hoa
váo bình, tìm nơi trang trong trong nhà mà để, ngắm, nhìn, thưởng thức vv.. Nói
tóm lại, là cả một vũ trụ hiện hữu trong bó hoa hồng một cách sinh động. Như
thế, bó hoa hồng có được là nhờ trùng trùng những thứ không phải là hồng trợ lực
nó. Cả thảy tức quy về một, một tức gồm hết cả thảy. Có nghĩa là bó hoa hồng
không có tự tánh, hay tự thể riêng biệt. Vì thế, khi nhìn thấy hoa hồng là thấy
không. “Không” không có nghĩa là không có mà là “Có”. Tại sao? Vì cái “Có” là có
do trùng trùng duyên hợp làm nên hoa hồng, nên mình thấy hoa hồng. Còn cái
“Không” của hoa hồng chỉ là một sự tập hợp của nhiều nhiều duyên hợp mà thôi..
Tất cả mọi thứ làm nên nó đều không có tự tánh, gọi là vô ngã. “Không” là “vô
ngã”. Mà “Có” cũng là “vô ngã”. Vô ngã lại là không. Nghĩa là “không” là không;
mà “có” cũng là không. Từ cái không mà làm nên cái có, làm tất cả mọi thứ trên
vũ trụ nầy. Một vị tổ sư của Đạo Phật, Ngài Long Thọ, đã nói: “Dĩ hữu không
nghĩa cố, Nhất thiết Pháp dắc thành” (Nhờ có không mà mọi pháp đều thành tựu)
Bụt dẫn ta đi xa hơn về
lý duyên sanh, đó là theo lý duyên sanh thì quá khứ là vô ngã, hiện tại là vô
ngã, và tương lai cũng lại là vô ngã nữa. Vì thời gian cũng là một sự gỉa hợp mà
thành, bởi do trùng trùng duyên khởi mà hòa hợp lại thành ngày, giờ, tháng, năm.
Vì thế, vì không hiểu được lý duyên khởi, nên ta mới chấp ngã, và khi đã chấp
ngã rồi, thì ta thế nầy ở hiện tại, ta thế kia ở tương lai, ta thế nọ ở quá khứ.
Còn hiểu lý duyên khởi, vì bởi do duyên hợp mà thành, nên ta không còn chấp ngã
trong ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai), Vì hiểu được lý duyên khởi, nên ta
có cái tâm vô ngã, vì có được tâm vô ngã, nên chính mình ta có một cuộc đời an
lạc hơn.
Trở về bài thơ “buông ra hãy buông ra” nếu không hiểu được cái lý duyên sanh,
thì khó mà buông được, lại còn giữ chặt cứng vào luôn cho đến chết. Vì hiều được
cái lý duyên sanh, và cái “ sắc không” của Bát Nhã Ba La Mật Đa, bởi tất cả vạn
pháp vốn là không, là huyễn,là trò ảo hóa, nên “vô trụ sanh tâm”, là đừng để
tâm, là “không cầm” thì tốt hơn hết. nên tôi làm bài thơ gọi là “đốn ngộ” như
sau:
Không cầm, thì
Chẳng cần buông.
Ta sẽ được tự tại,
Tâm ta vẫn thanh-nhàn.
Bùi Thế Trường
Trong lý duyên sinh Bụt
dạy: 1- Tất cả các pháp đều là “hòa hợp gỉa” nghĩa là duyên nầy duyên kia hòa
hợp giả với nhau mà hình thành. Mình tưởng rằng tất cả là thật hết là vô minh.
2- Tất cả các pháp đều
“tương tục giả” là mọi vật đều thay đổi và biến chuyển luôn từng sát na một cách
liên tục. Sự thay đổi không ngừng mà mình không thấy tưởng rằng sự vật y như
xưa, không thay đổi, đó là vì do vô minh mà nghĩ vây.
3- Tất cả các pháp đều
là “phân biệt giả”. Đó là vì tâm khác nhau, trình độ khác nhau, nghiệp lưc khác
nhau, kiến thức khác nhau, tánh tình khác nhau, mà tạo thành tướng khi nhìn mà
khác nhau. Sự khác nhau như vây là do chủ quan của con người lên sư vât, mà gán
cho cái tướng như thế. Đó là do vô minh.
a-
Khi đạt được tính vô ngã
rồi, sẽ vượt qua hết mọi khổ đau.
Trong Kinh Bát Nhã Ba
La Mật, ngay phần đầu Bụt cò thuyết: “ Khi Ngài Quán Tự tại Bồ Tát thực
hành xâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết
khổ ách”.
Quán tư Tại là tên của
một Quan thế Âm (Bodhisattva Avalokitesvara). Bồ tát là người tỉnh thức sẽ giúp
mọi người tỉnh thức. Năm uẩn là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.Trước hết,
bàn về Sắc. Sắc là cái thân xác thịt của mình. Nếu mình nhìn thấy sâu
hơn, thì cái thân nầy đều do Đất, Nước, Gió và Lửa hợp lại mà thành. Một cách cụ
thể là Đất là chất cứng ở trong thân mà thành, như tóc, răng, da, thịt, xương,
vv… Còn Nước là do các chất lỏng mà nên như: mồ hôi, máu, mủ, nước miếng, vv;
Còn Gió thì gồm có: hơi thở ra vào, thân thể cử động vv… Còn lại, nhiệt độ của
thân nhiệt, là lửa. Như vậy cái thân mà ta có là do sự giả hợp của tứ đại mà
thành. Do đó, ta sống và hiện hữu, đó chỉ là một sự hiện hữu vay mượn, tạm bợ,
giã dối, có mà không có. Sự có đó là do nhân duyên. Duyên hợp thì thân còn;
duyên tan trọn vẹn hay từng phần thì thân nầy cũng rả. Cái mà ta biết được thân
nầy không thiệt là do cái biết từ trí huệ mà có.
Đến là Thọ uẩn.
Thọ uẩn là sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý; và sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị,xúc, pháp). Sự tiếp xúc sanh ra cái
khổ, cái vui, cái không khổ, không vui. Khi căn và trần tiếp xúc nhau, ví như
tai ta do từ căn nghe tiếng từ trần gọi là thanh, ta nhận ra ý nghĩ của điều ta
đã nghe, điều đó làm ta vui, buồn hay lo. Ví dụ như bạn nghe lời từ người bạn
khen ngợi bạn. Lời ngợi khen đó, phải đủ duyên hợp mới tạo thành, nào từ phía
bạn, nào việc của bạn đã làm, rồi tới nhiều người, kế đến tới người bạn của bạn
sẽ nói về điều đó với bạn, sau rốt bạn mới biết vấn đề đó. Một chuổi dài dài như
thế gọi là duyên. Trong cái duyên có dùng“tiếng hay từ” để chuyên chở nội dung
câu chuyện. Tiếng hay từ không làm bạn vui hay buồn, vì nguyên bản của nó vốn là
không. Nếu có căn mà không có trần hay có trần mà không có căn, thì bạn đâu biết
gì xãy ra. Bạn biết tin vui hay buồn là do duyên tạo ra mà có. Như thế, cái thọ
uẩn ở mũi, lưỡi, thân, ý, vốn nguyên chính nó là không, chỉ nhờ duyên hợp mà có.
Nên khen, chê, vui buồn, ngon, đắng, nóng hay lạnh đều do duyên hết, không còn
lệ thuộc vào mình. Nghĩ được như thế, là mình bớt lo, vượt qua khỏi khổ nạn.
Nữa là Tưởng.
Tức là tâm tưởng của con người. Bên trong có ý, bên ngòai có xúc trần, thính
trần hợp lại mà sanh ra tưởng. Kế là Hành uẩn. Hành uẩn là cái suy nghĩ
của chúng ta. Còn Thức uẩn là cái phân biệt. Phân biệt bằng mắt gọi là
nhãn thức, bằng tai gọi là nhĩ thức, vv. Tóm lại sự phân biệt của 6 căn như
(mắt, tai, mũi, lưởi,
thân ý) thì được gọi là Thức.Trong Kinh A Hàm, Bụt dạy: Cái nầy có nên cái kia
mới có. Cái nầy sinh ra cái kia, cái nầy diệt thì cái kia cũng diệt”. Như thế,
Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nghĩa là 2 cái đã giải thích ở trên, và 3
cái mới vừa định nghĩa , cả năn uẩn trên đều không có tự tánh riêng biệt, tự nó
không có thể tự có được mà nó phải nhờ hay nương vào cái khác để mà tồn tại.
Không có thứ gì trong thế gian nầy là hòan tòan thuần đơn hết. Bởi lẽ vô thường,
nên mọi vật bị cưởng bức và bị phân tán tân cùng. Hiểu được như thế, nên năm uẩn
vốn là không, vì nó do gĩa hợp mà thành, nên bớt đi mọi đau buồn, sợ hãi, và
vượt qua hết khổ ách. Hết khổ nạn, lại thấy niềm an vui.
Cach đây trên 10 năm,
nhờ hiểu được cái lý duyên sanh vô ngã mà vượt qua nhiều thứ khổ đau. Khi chưa
hiểu được lý duyên sanh, khi đau khổ đến, nhiều người khóc than, buồn bã hay ưu
sầu một cách tuyệt vọng, trong một thời gian rất lâu, đôi khi còn tự tử; nhưng
khi hiểu nó rồi, không những không khóc than, không trách hờn gì cả, mà trái lai
còn vui vẻ, vì tất cả đều là không, là giả, là huyễn nên ca hát nghêu ngao thay
vì u sầu. Đây là baì thơ mà tác giã sau khi viết ra là có niềm an vui ngay sau
đó.
Chỉ cười thế thôi,
Bỗng nhiên, Trời sập, đè tôi
Em thì tránh khỏi, chẳng thôi đoái nhìn,
Để tôi nằm đó một mình,
Mặc tôi ca hát một mình
thế thôi.
“Phật Kinh” có dạy cho
tôi:
Ngũ uẩn là giả,
Thân nầy cũng giả
Trời đè lên thân giả,
Kệ Trời.
Còn em,
Vốn vô thường, duyên
hợp,
Do ngũ-uẩn mà thành,
Có nhìn hay chẳng thèm
nhìn,
Có không, không có,
Vô thường,
Giả thôi.
Giả thôi,
Thì cũng cười trừ,
Thế thôi.
Thôi thì thôi,
Chỉ hát thôi.
Thôi thì thế thôi.
Buì Thế Trường
b-
Cách nhìn thế gian bằng tâm không trụ là đạt được sự an lạc.
Bởi tâm mình luôn luôn
sanh khởi, sanh khởi theo mọi sinh họat nơi các môi trường mình đã hay đang có
mặt tại đó, hoặc mang nó về nhà hay mình đi xa lìa nó bất cứ nơi đâu. Đối với
chúng sanh thì tâm lúc nào cũng luôn sanh khởi. Sanh khởi tâm theo hình, danh,
sắc,và tướng. Sanh khởi tâm còn được thấy nhiều nơi như danh vọng, tiền tài, kéo
máy, rượu chè, hút sách, dục vọng, sắc đẹp, hơn thua vv…. Sanh khởi tâm không
những ban ngày mà còn cả lúc mình ngủ, lúc đêm, lúc cả chiêm bao, đầy mộng mị.
Những thứ tâm đó sanh khởi lên làm cho chúng sanh trôi nổi hụp lặn trong vòng
điên đảo đầy vọng tưởng, không có lối thóat. Bụt thấy vậy, nên chỉ cách cho
chúng sanh xa lìa và đi vào nẻo giác ngộ. Bụt dạy: “Ưng vô sở trụ sinh nhi kỳ
tâm”. ( Đừng bám vào đâu cả mà sanh khởi tâm). Không bám vào danh lợi, ngã
nhân mà sanh tâm, thì được giải thóat, không bị trói buộc thì đạt được tâm vô
ngã. Nói rỏ hơn, dù chúng ta sống như mọi người, vẫn thấy, nghe, biết như mọi
người, và khi cần biết, cần nghe, cần thấy như mọi người, nhưng cái thấy, nghe
và biết là chỉ thấy, nghe, và biết, còn tâm không bám chặt vào cái thấy, nghe và
biết. Hễ tâm không bám vào bất cứ đâu, thì tự nhiên có được sống rất tự tại an
vui.
Có một chuyện kể như
vầy: hai nhà sư đang trên đường về chùa phải qua nhiều cây cầu khỉ, thì một
trong các cây cầu bị gảy làm một cô thiếu nử trẻ đẹp té xuống sông, ướt cả áo
quần. Một nhà sư thấy vậy, liền ra tay sửa cây cầu kỹ lưởng lại, khi xong, nhà
sư liền cổng cô thiếu nử kia qua bên kia cầu được bắt qua một con rạch nhỏ, rồi
để cô đó xuống, cho cô tự động về nhà. Xong việc, hai nhà sư về chùa. Sau 3-4
ngày, vị sư di theo nhưng không cổng cô đó, mới phàn nàn: “Thầy tu hành, sao
thầy lại dám cổng người thiếu nử trẻ đẹp đó, như thế là Thầy chưa diệt được cái
tâm nhiễm sắc trần”. Thầy kia đáp, “Tâm tôi không có nhiễm sắc trần, tôi cổng cô
ta và để cô ta tại phía kia cầu, tôi không có giữ lại chút hình ảnh nào của cô
ta khi tôi làm xong việc đó. Chuyện của tôi chấm dứt tại phía chân cầu. Còn
Thầy, dù Thầy không cổng Cô ta, nhưng chính Thầy mang hình ảnh của Cô ta đem về
chùa từ 3-4 ngày nay, như thế, tâm của Thầy bị nhiễm sắc đẹp của Cô ta, chứ đâu
phải tôi. Vì nhiễm phải sắc nên Thầy ray rứt, nhớ nhung, sống trong vọng tưởng,
nên mới nói thế”.
Do đó, nếu tâm không
bám vào danh lợi và sắc đẹp là tâm tự giải thóat, là tâm từ bi và vô ngã, thế
nên cảm thấy đầy an vui tự tại. Bởi lẽ, người hiểu được tánh không của vạn pháp,
vì vạn pháp vốn là vô ngã, là không, là ảo, là huyễn, nên tâm không bám trụ vào
bất cứ đâu, nên tâm luôn luôn đầy an vui. Còn người không có hiểu biết tánh
không của vạn pháp, cho các pháp là thật, nên sanh tâm vào mà bám vào vạn pháp,
cất giữ chặt, nên luôn sống trong trói buộc đau khổ. Ngài Xuyên Thiền Sư có làm
bài thơ để nói về cái tâm của mình trước vạn pháp mà tôi trìch 2 câu như sau:
Trúc ảnh tảo dai, trần bất động
Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngần
Dich:
Bóng trúc quét sân, trần chẳng động
Vừng trăng xuyên biển, nước không xao.
(Sa mon Thich thiên Hoa, 1965)
Thêm nữa, ngoài chuyên
“vô trú sanh tâm”, Bụt còn chỉ dạy cách hành bằng cách bố thí hay cách cho của
cho người khác gọi là bố thí Ba la mật, nghĩa là “không trú vào sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp mà hành bố thí”, thi được cái tâm rất an lạc. Bụt dạy: “ Bồ
tát khi bố thí hay làm các việc lợi ích cho chúng sanh, không nên sanh tâm trụ
chấp vào các tướng (mình bố thí, người thọ thí, vật bố thí)” vì như thế là mình
còn chấp ngã (mình, người), chấp pháp (vật bố thí) thì bố thí như vậy không phải
là bố thí Ba la Mật. Bố thí Ba la Mật là bố thí rốt ráo. Cụ thể là khi bố thí
thì mình nên quán là mình và chúng sanh là đồng một bản thể, thì không thấy ta
bố thí và chúng sanh thọ thí. Cụ thể khác nữa là tay mặt và tay trái đều cùng
một thân mình, tay trái cầm dao cắt dưa leo để ăn cơm, nhưng lại cắt nhầm và làm
chảy máu tay mặt. Tay trái lấy thuốc băng bó cho tay mặt nhưng không thấy mình
(tay trái) là người ban ơn cho tay mặt
(như sức thuốc), và tay
mặt là người thọ ơn ( như được sức thuốc). Đó là ví dụ gọi là bố thí rốt ráo của
Ba la Mật. Bốt thí như thế thì trí huệ Bát nhã hiện ra, chiếu soi khắp các pháp,
như người có mắt sáng tỏ, lại thêm có ánh sáng mặt trời nữa, nên thấy rõ mọi
vật. Ngược lại, như người mắt mờ, ở trong đêm, không nhìn thấy mọi vật.
Đi xa hơn, khi chúng
sanh không còn chấp ngã về năm uẩn và sáu trần nữa, sau khi đã hiểu rõ rằng tất
cả pháp đều do duyên hợp huyễn hoặc mà thành, thì chúng sanh lại bắt đầu chấp
ngã dựa vào trí năng ở bên trong, dựa vào chúng sanh và thọ giả, nên Phật dạy:”
Đối với tất cả các pháp nên biết như vầy, thấy như vầy, giải thich như vầy,
không sanh tâm chấp pháp tướng” hay” Đem tâm vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô
thọ giả mà tu tất cả các pháp”.
Hãy nghe Bụt dạy:
“Phàm sở hữu tướng
giai thi hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” nghĩa là:
(Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng trong phi tướng thúc
thấy Như Lai).
Vì sao? Nếu có tướng
thì là tướng của sự đối đãi, nghĩa là “có” đối với “không”, “sanh” đối với
“diệt”, “sắc” đối với “tâm” vv… Khi còn đối đãi là còn giã đối, còn vô thường,
còn nhỏ nhen, còn giới hạn, đầy thiên kiến, một chiều, tự tôn, tự đại, tự cho là
đỉnh cao của trí tuệ loài người. Ví dụ như: đấu tranh giai cấp và chuyên chính
vô sản mà người Cộng sản rêu rao trên thế giới, cũng chỉ là một sự đối đãi, nên
rất hẹp hòi, thì cái xã hội của họ có được lại quả là tệ, dân chúng rất nghèo
đói và lạc hậu. Thế nên, nếu thấy tướng trong vô tướng, nghĩa là vượt qua sự đối
đãi, nghĩa là tâm không còn chấp thủ, nghĩa là hết mọi hư vọng, thì mới thấy
pháp thân Như Lai, nghĩa là có được sự an lạc trong mình.
Một cách cụ thể khác mà
Bụt chỉ dạy chúng sanh là: “Nếu chấp thủ pháp tướng tức là còn chấp ngã, chấp
nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả. Nếu chấp thủ phi pháp tướng lại còn chấp
ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả.”
Vì sao? Vì tâm còn chấp
thủ cho cả hai pháp tường và phi pháp tướng, thì tâm chưa phải là tâm thật giác.
Cụ thể để dễ hiểu là, giáo Pháp của Bụt là chiếc bè để giúp chúng sanh qua sông.
Khi qua bên kia sông rồi, đến bờ giác ngộ rồi, thì phải bỏ bè để lên bờ. Lên bờ
mà mang bè theo, nghĩa là chưa thật sự lên bờ, có nghĩa là phải xuống sông đi
nữa.Lên bờ bên kia rồi, thì bè cũng phải bỏ, chánh pháp chũng phải bỏ,
phi pháp cũng phải bỏ. Không bỏ bè gọi là chấp thủ. Mà chấp thủ thì chưa
được giác ngộ. Bụt chỉ dạy như thế thật là rốt ráo, để có được cái tâm an lạc.
Đươc tâm an lạc là tự chứng nhận Như Lai.
Tóm lại, Bụt dạy chúng
sanh nếu muốn có an tâm thì nên suy ngẫm về cái không như trong Bát Nhã Tâm Kinh
là “sắc tức không, không tức sắc” (sắc tức thị không, không tức thị sắc)
và thêm nữa là thực hiện rốt ráo “ ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” tức “ vô
trú sanh tâm”, tức (đừng khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào, là đừng sanh
vọng tâm chấp ngã, chấp pháp vv..). Không chấp nhã, chấp pháp thì phiền não
không sanh. Phiền não không sanh thì tâm được thanh tịnh, không tạo nghiệp sanh
tử luân hồi. Cả hai điều trên giúp ta vượt qua ngoài mọi chấp kiến cực đoan nào
có, nào không, nào sanh, nào diệt, để thực chứng nghiệm được Niết bàn.
B- Ái diệt,
Niết Bàn.
“Các Thiên tử
(Devaputra) hỏi Tu Bồ Đề (Subhuti): Phải chăng tất cả chúng sanh cũng đều như
huyễn? Niết bàn cũng đều như huyễn như mộng?
“Tu Bồ Đề: Quả thực,
Niết bàn cũng như huyễn, như mộng; huống chi các pháp khác !”
“Các Thiên tử: Tại sao
thế?
“Tu Bồ Đề: Dù pháp có
cao hơn Niết bàn, tôi cũng nói là như huyễn, như mộng. Bởi vì, huyễn mộng và
Niết bàn, pháp không hai không khác” ( Suzuki,01 và T. Trí Tịnh, 1995).
“ Đệ nhất nghĩa không
là nói về Niết bàn. Xét về Niết bàn thời Niết bàn rỗng không, vì sao? Vì chẳng
phải thường, chẳng phải diệt. Tại sao? Vì tánh như vậy. Đây là đệ nhất nghĩa
không? ( HT Thich Trí Tịnh, 1995)
Niết bàn không có đến
và cũng không có đi, cũng không trụ nơi thường trụ như những pháp sai biệt, cũng
không có những tự tướng sai biệt. Là có mặt trong mọi cảnh giới, trong mọi nhân
duyên, là không có qúa khứ, hiện tại hay vị lai, mặc dù xuất hiện như những thực
tại.
Niết bàn không hề có
trong suy tư và mộng tưởng, nên những khái niệm về Niết bàn thì không phải là
Níết bàn thật thụ. Do đó, nên được gọi là Không, là Giả danh. Nếu Tăng Duệ viết
tựa cho Trung luận quán:” Thực phi danh bất ngộ” (nếu không gọi danh thì sự thể
nó không được biết đến), vì thế mình mới gọi. Ngài Long Thọ viết:” Nếu tất cả
pháp là không, không có sinh cũng không có diệt, vậy đọan cái gì và diệt cái gì
mà nói là chứng Niết bàn?.
Niết bàn là gì? “Không
có chứng đắc, cũng không có đạt đến, không có sinh cũng không có diệt, không có
thường cũng không có đọan, gọi đó là Niết bàn”
Niết bàn ở đâu? Ngài
nói tiếp:
Niết bàn và thế gian không có gì sai biệt,
Thế gian và niết bàn cũng không có gì sai biệt,
Niết bàn và thế gian chúng không hai, không khác
( Thích Thiện Tâm,
1999)
Khi tâm phân biệt không
còn, không còn vọng tưởng, tham ái, từ bỏ tham, thân si, tức là lúc ta đạt được
cái tâm thanh tịnh, chính là lúc ta thực chứng Niết bàn. Vì lúc mình cãm chứng
thật sự nên không còn được gọi là chứng. Niết bàn vừa là cái chung của tất cả vì
ai tu thì cũng vào được, lại vừa là cái riêng của tất cả vì ai tu thì người ấy
đắc.
Cần phải đạt cái “vô
ngã” hay cái “không”. Nhưng đừng bám víu vào ý niệm vô ngã hay không. Không phải
vô ngã mới là vô ngã. Không phải không mới là không. Không không mới là có.
Chính vì bản ngã mà ta nổi chìm trong biển trầm luân, phiền nảo sanh tử. Vậy khi
dứt ngã chấp thì phiền não hết. Khi phiền não hết, thì tư hoặc, kiến hoặc, vô
minh, cũng dứt. Thi ta vượt qua bờ bến giác. Khi ngã diệt được, khi phiền não
đọan được, thì những giây phut đó là giây phút ta sống trong niết bàn ( HT Thich
thiện Siêu,1996)
Niết bàn là vô-tướng.
Và Vô ngã là Niết bàn. Vô–tướng hay vô ngã đều là ý niệm, nhưng đừng vướng chấp
vào nó. Chấp vào cả hai là chưa đạt được cái gì, vì cả hai đều là phương tiện.
Chấp “có” (chấp thường), chấp “không” (chấp đọan) đều là vọng chấp cả. Bụt dạy:
“ Người phát tâm Bồ đề, đối với các pháp, không nên chấp đọan diệt”.
Nhươc nhơn dục thức Phật cảnh giới
Đương tịnh kỳ ý như hư-không
Dich:
Nếu người muốn biết cảnh giới Phật,
Tâm phải thanh tịnh như hư-không.
(Sa môn
Thich Thiện Hoa, 1965)
Nói theo duy thức học,
danh từ tương tức, tương nhập là cái nầy có trong cái khác, cái nầy đi vào cái
khác, Vô ngã tương tức, tương nhập Niết bàn, Niết bàn tương tức, tương nhập Vô
ngã. Nghĩa là vô ngã mà đạt được thì chứng ngộ được Niết bàn, Niết bàn chứng ngộ
được lại nhờ có vô ngã. Câu chuyện có ghi trong sách Phật kể rằng, Đức Ngũ tổ,
muốn chọn người kế nghiệp Tổ vị thứ sáu, truyền rằng ai làm bài kệ mà ngộ ý Đạo
sẽ được truyền tổ vị cho. Ngài Thần Tú làm bài kệ:
Thân thị Bồ đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời thường phất
thức
Vật sử nhá trần ai
Dich:
Thân là cây Bồ -đề (có tướng)
Tâm như dài gương sáng (có tướng)
Mỗi giờ thường lau quét (có tu)
Chứ cho dính bụi trần (có chứng)
Tổ Huệ Năng làm bài kệ
như sau:
Bồ đề bổn vô thọ
Tâm phi minh cảnh đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhá trần ai
Dich:
Bồ đề không phải cây (không tướng)
Chơn tâm không phải đài (không tướng)
Xưa nay không một vât (không tu)
Chỗ nào dính bụi trần (không chứng)
( Sa môn Thich Thiện
Hoa, 1965)
Huệ Năng Ngài trở thành
Lục tổ thứ sáu vì Ngài thấu rõ nghĩa về“không”, trái lại Thần Tú chỉ hiểu biết
về “ có”. Như vậy ai mà hiểu thấu suốt về“không” người ấy sẽ hiểu hết côị nguồn
trên cỏi đời nầy, với cả môt cái tâm an lạc. Cũng nhờ không mà mới cãm nhận được
Niết bàn.
Để kết thúc bài viết
nầy, tôi đọc lớn lên câu mật chú trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: “Gate,
Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha”.
Gate là đi qua,
Paragate là đi qua bên
kia,
Parasamgate là tất cả
vượt qua bên kia,
Bodhi là sự thức tỉnh,
Svaha là mừng reo vượt
qua, vượt qua, Dzô ta. Dzô ta
Các bạn vượt qua, vượt
qua, qua bên kia, qua bên kia để thực chứng được Niết bàn. Qua hay vượt qua
trước là cái không, gọi là vô ngã, bằng ngũ uẩn giai không và vô trụ sanh tâm,
để có tâm an lạc. Vì Niết bàn là sự vắng không của mọi ý-nghĩ, tư tưởng, và ý
niệm. Khi đạt được cái không, cái vô ngã nhưng đừng chấp vào các ý niệm về
không, về vô ngã, vì cả hai không hay vô ngã là phương tiện để ta đạt đến chân
lý là sự cãm nhận được Niết bàn. Vì sao? Vì còn chấp là còn vô số phiền não đua
nhau nổi lên như sóng. Vì như thế là chưa có thể cãm nhận được gì. Bụt dạy:
“Niệm” mà không trụ nơi niệm, mới thật là niệm. “Nói” mà không trụ chấp nơi nói,
mới thật là nói. “Làm” mà không chấp nơi làm mới thật là làm. “Tu” mà không trụ
chấp nơi tu, mới thật là tu. “Chứng ngộ” mà không trụ chấp nơi chứng, mới thật
là chứng ngộ”. Niết bàn, được gọi là bất khả thuyết, chỉ biết bằng tự thể
nghiệm, tự mình chứng ngộ cho chinh mình, ngay tại hiện
tiền.
Bùi Thế Trường.
(Non cao
Greenacre, ngày 16/7/05)
Tham khảo:
Daisetzteitaro Suzuki,
2001.Thiền Luận, 3 quyển, nxb TP HCM
Thich thiện Tâm, 1999.
Lich sử tư tưởng Triết học Tánh Không. p 127. nxb Tp HCM.
Sa môn thich Thiện Hoa
1965. Kinh Kim Cang Dich& giảng. Chùa Khanh Anh
France.
HT Thich thiện Siêu.,
1996. Vô ngã là Niết Bàn.nxb Thuận hóa. Huế VietNam
HT Thich Trí Tịnh, 1995
Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tập 1,2,3, nxb tpHCM
Lục Tổ Huệ Năng, 1987
Pháp Bảo Đàn Kinh. Hoc Viên Quốc Tế. Cali . USA
Luận Đại Thừa Pháp Minh
Môn Giảng giải. 2001 Phước Huệ. Australia.
Vasubandhu Bodhisattva-
1983. Shastra on the door to understanding the hundred dharmas. Talmage,
Califormia. USA
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
buithetruong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |