|
Bệnh tiểu đường là gì?
Có hai hình thức chủ yếu bệnh tiểu đường là
kiểu 1 (trước gọi là mellitus bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin
(IDDM) hoặc bệnh tiểu đường vị thành niên) và kiểu 2 (mellitus
trước gọi là bệnh tiểu đường không insulin (NIDDM) hoặc bệnh
tiểu đường người trưởng thành). [Để biết thêm chi tiết, xem
Well Connected Report #9, Diabetes Type 1 and Report
#60, Diabetes Type 2 .]
Insulin
Cả hai bệnh tiểu đường kiểu 1 và kiểu 2 chia
sẻ một đặc tính chung: hàm lượng glucoza trong máu cao (
glucose) do tình trạng thiếu tuyệt đối hoặc tương đối
insulin, một homon tạo ra bởi tụy tạng (pancreas). Insulin
là một chất điều chỉnh chủ yếu sự biến dưỡng (metabolism) của cơ
thể. Chất này thường hoạt động theo phương pháp sau:
Trong quá trình và ngay sau một bữa ăn quá
trình tiêu hóa phá vỡ carbohydrates thành những phân tử đường
(trong đó glucose là một chất) và proteins thành amino
acids.
Ngay sau bữa ăn, glucoza và amino acids được
hấp thụ trực tiếp vào dòng máu trong cơ thể, và mức glucoza
trong máu tăng lên nhanh. (Mức Glucose sau bữa ăn được gọi là
mức xảy ra ngay sau bữa ăn (postprandial levels.)
Việc tăng mức đường trong máu phát sinh tín
hiệu những tế bào quan trọng trong tụy tạng, gọi là tế bào beta
(beta cells) , bài tiết ra insulin, đổ vào dòng máu trong
cơ thể. Trong mười phút sau bữa ăn insulin tăng lên đến mức đỉnh
cao của nó.
Insulin sau đó tạo điều kiện cho glucoza và
amino acids đi vào những tế bào trong cơ thể, đặc biệt là những
tế bào cơ và gan. Ở đây, insulin và những hormones khác trực
tiếp hoăc những chất dinh dưỡng này sẽ bị đốt cháy để tạo ra
năng lượng hoặc tồn trữ để dùng trong tương lai. (Điều phải chú
ý là đại não và hệ thống thần kinh không phụ thuộc vào insulin;
chúng điều chỉnh yêu cầu glucose của chúng thông qua những cơ
chế khác.)
Khi mức insulin cao, gan ngưng việc tạo ra
glucoza và tồn trữ nó dưới những hình thức khác cho đến khi cơ
thể cần nó một lần nữa.
Khi mức glucoza trong máu đất đến mức đỉnh
cao, tụy tạng giảm bớt việc tạo ra insulin.
Khoảng hai đến bốn giờ sau một bữa ăn glucose
và insulin trong máu ở mức thấp, có insulin khá cao. Mức glucose
trong máu sau đó được xem như những nồng độ glucoza trong máu
khi ăn chay.
Type 1 Diabetes (Bệnh tiểu đường kiểu 1)
Trong bệnh tiểu đường kiểu 1, quá trình bệnh
nghiêm trọng nhiều hơn so với bệnh tiểu đường kiểu 2 và sự xuất
hiện của nó thường thấy trên trẻ em:
Những tế bào beta trong tụy tạng tạo ra
insulin bị phá hủy dần. Cuối cùng tính trạng thiếu là tuyệt đối.
Không có insulin để di chuyển glucose vào
trong tế bào, mức glucose trong máu trở nên cao cực kỳ, một điều
kiện được biết như bệnh tăng đường huyết (hyperglycemia).
Vì cơ thể không thể sử dụng đường, nó tràn
vào nước tiểu và bị mất đi.
Tình trạng yếu mệt, giảm cân, và đói cồn cào
và khát nước nằm trong những hậu quả của tình trạng thiếu giữa
tình trạng đầy đủ "starvation in the midst of plenty."
Bệnh nhân bị phụ thuộc vào mức cung cấp
insulin để sống sót.
Việc kiểm tra chế độ ăn uống bệnh tiểu đường
kiểu 1 rất là quan trọng và phải tập trung vào việc cân bằng sử
dụng dinh dưỡng và tiêu hao năng lượng do cố gắng vật lý. [
See Well-Connected Report #9 , Diabetes: Type 1.
]
Type 2 Diabetes (Bệnh tiểu đường kiểu 2)
Bệnh tiểu đường kiểu 2 là hình thức phổ biến
nhất của bệnh tiểu đường, chiếm
90% số lượng bệnh nhân. Một tính toán 16 triệu người Mỹ mắc phải
bệnh tiểu đường kiểu 2 và một nửa không hề hay biết. Cơ chế bệnh
trong bệnh tiểu đường kiểu 2 không được biết hoàn toàn, nhưng
vài chuyên gia gợi ý là có thể liên quan đến ba giai đoạn dưới
đây trong nhiều bệnh nhân: giai đoạn đầu trong bệnh tiểu đường
kiểu 2 là điều kiện gọi là tính kháng insulin; mặc dù insulin có
thể tấn công một cách thông thường những thể nhận trong tế bào
gan và cơ, vài cơ chế ngăn cản insulin khỏi việc di chuyển
glucoza (đường trong máu) vào trong những tế bào này nơi mà nó
có thể được dùng. Nhiều bệnh nhân kiểu 2 tạo ra những số lượng
biến đổi, dù thường hoặc cao, insulin, và vào lúc bắt đầu số
lượng này thường đủ để khắc phục tính kháng nói trên.
Qua thời gian, tụy tạng không ổn định tạo ra
đủ insulin để khắc phục tính kháng.
Trên bệnh tiểu đường kiểu 2, hiệu ứng đầu của gia đoạn này
thường là một mức tăng không bình thường số lượng đường trong
máu ngay sau một bữa ăn (gọi là bệnh tăng đường huyết sau bữa
ăn=postprandial hyperglycemia). Hiệu ứng này hiện nay được tin
là làm hư hỏng cơ thể một cách đặc biệt.
Cuối cùng, chu kỳ của glucose cao không phù hợp nữa và có
thể tiêu hủy những tế bào beta, vì thế chặn đứng việc tạo
ra insulin một cách hoàn toàn và tạo ra bệnh tiểu đường hoàn
toàn. Điều này là rõ nét do bệnh tăng đường huyết khi ăn kiêng,
trong đó mức đường cao hiện diện phần lớn thời gian. Bệnh béo
phì phổ biến trong bệnh tiểu đường kiểu 2 và điều kiện này hình
như sẽ liên quan đến tính kháng insulin. Mục tiêu cơ bản trong
chế độ ăn kiêng trong việc tăng trọng quá mức của bệnh tiểu
đường kiểu 2 việc mất trọng lượng và duy trì. Những công trình
nghiên cứu chỉ dấu là khi những người mắc phải bệnh tiểu đường
kiểu 2 có thể duy trì việc tập luyện chuyên sâu và những chương
trình sửa đổi chế độ ăn kiêng, nhiều người có thể giữ ở mức thấp
nhất hoặc tránh dùng dược liệu. [ See Well-Connected
Report # 60 , Diabetes: Type 2. ]
Những hướng dẫn tổng hợp về chế độ ăn kiêng của bệnh tiểu
đường là gì?
(WHAT ARE THE GENERAL GUIDELINES FOR A
DIABETES DIET?)
Những mục tiêu của chế độ ăn kiêng cho bệnh
nhân tiểu đường
Những mục tiêu trị liệu một chế độ ăn kiêng
bệnh tiểu đường như dưới đây:
Để hoàn tất mức glucoza gần mức thường. Người mắc phải bệnh tiểu
đường kiểu 1 hoặc kiểu 2 dùng insulin hoặc thuốc uống phải phối
hợp việc hấp thị năng lượng với thuốc hoặc insulin trị liệu,
luyện tập, và những biến khác để kiểm tra mức glucoza trong máu.
Để bảo vệ quả tim và nhằm vào mức lipid sức
khỏe (cholesterol và triglyceride) kiểm tra huyết áp.
Để hoàn tất trọng lượng hợp lý. Nặng quá mức bệnh tiểu
đường kiểu 2 những người không dùng thuốc phải nhằm vào một chế
độ ăn kiêng kiểm tra sức nặng và glucoza. Một trọng lượng thích
hợp thường được xác định như là điều có thể hoàn tất và bền
vững, nhiều hơn là sức nặng được xác định về mặt văn hóa như là
mong đợi hoặc lý tưởng. Trẻ em, đàn bà mang thai và những người
bệnh khỏi bệnh phải chắc là duy trì số lượng năng lượng thích
hợp cần cho sức khỏe.
Để quản lý và ngăn cản những phức tạp của
bệnh tiểu đường. Những người mắc
phải bệnh tiểu đường, hoặc là bệnh kiểu hoặc bệnh kiểu 2, có rủi
ro trong một số lượng điều phức tạp y học, gồm có bệnh tim và
bệnh thận. Yêu cầu chế độ ăn kiêng người mắc phải bệnh tiểu
đường phải xem xét về những rối loạn này.
.Để nâng cao sức khỏe tổng hợp (To promote
overall health.)
Overall Guidelines (Hướng dẫn tổng hợp).
Không còn có một chế độ ăn kiêng riêng cho người mắc phải bệnh
tiểu đường sẽ thích hợp với mọi người. Phương pháp tiếp cận tổng
hợp dựa trên US Dietary Guidelines (Hướng dẫn chế độ Ăn kiêng
Hoa Kỳ) trong việc ăn uống khỏe cho mọi người Mỹ, gồm có điều
dưới đây:
Giới hạn chất béo
(Limit fats.) Nên tránh những loại mỡ bảo hòa (no) (tìm thấy
trong những sản phẩm động vật) và acid béo chuyển hóa (mỡ thực
vật cứng, sản phẩm thương phẩm, lương thực chay (hard
margarines, commercial products, fast foods). Trong việc chọn mỡ
hoặc dầu, nên chọn những loại chất béo không bảo hòa một lần
(monounsaturated fats) dầu oliu tinh dầu canola (virgin olive
oil, canola oil), mặc dù còn gồm có những loài dầu không bảo hòa
nhiều lần (unsaturated oils) cũng vậy (dầu hướng dương, dầu cái
dầu) (sunflower, rapeseed). Chú ý, một báo cáo năm 2001gợi ý là
những loại acids béo chuyển hóa là một yếu tố rủi ro cho bệnh
tiểu đường kiểu 2 trong khi acids béo không bảo hòa nhiều lần có
tính chất bảo vệ.
Giới hạn cholesterol trong bữa ăn
(Limit dietary cholesterol). Tiêu dùng nhiều lương thực giàu
chất xơ dưới hình thức hạt nguyên và quả tươi và rau đậu. Gồm có
việc chọn mỗi ngày quả hạch, hạt hoặc rau đậu.
Khi chọn lượng thực có đường, hãy chọn quả
tươi, nhưng thực hiện trong chừng mực.
Giới hạn protein (Limit protein).
Trong việc chọn protein, ăn trong chừng mực và hãy chọn cá hoặc
đạm đậu nành so với gà vịt hoặc thịt heo. (Hãy tránh, trong mọi
trường hợp, thịt có hàm lượng mỡ cao)
Giảm muối (Reduce salt.)
Hơn nữa American Diabetes and Dietetic
Association (Hiệp hội bệnh tiểu đường chế độ ăn kiêng Hoa Kỳ
khuyến cáo một kế hoạch bữa ăn cân bằng cho người mắc phải bệnh
tiểu đường việc sử dụng nhưng tỷ lệ dưới đây:
Protein cung cấp 10% to 20% calori tổng số
Fat cung cấp không nhiều hơn 30%, và
Carbohydrates cung cấp lên đến 60%.
Nói chung, mọi người phải nhắm vào năm bữa ăn
nhỏ trái cây và đậu và sáu bữa ăn nhỏ hạt nguyên mỗi ngày và hai
bữa ăn nhỏ mỗi tuần cá có mỡ.
Vài chế độ ăn kiêng đặc biệt cho những người
mắc phải bệnh tiểu đường (Some Specific Diets for People with
Diabetes )
Bệnh nhân một cách lý tưởng phải gặp một bác
sĩ dinh dưỡng chuyên ngành để có kế hoạch cho chế độ ăn kiêng cá
thể trong hướng dẫn tổng hợp xem xét yêu cầu sức khỏe riêng.
Không có một chế độ ăn uống riêng dùng cho mọi người mắc phải
bệnh tiểu đường. Ví dụ, người mắc phải bệnh tiểu đường kiểu 2
cân nặng quá mức và kháng insulin có thể cần phải có một cân
bằng carbohydrate-protein khác nhau so với người mắc phải bệnh
tiểu đường kiểu 1 gầy có nguy cơ bệnh thận.
Tập tính ăn khỏe cùng với việc kiểm tra tốt đường huyết là những
mục tiêu cơ bản trong việc quản lý bệnh phức tạp này, và vài
phương pháp ăn kiêng tốt có thể dùng để giải quyết những vấn đề
trên:
Một chế độ ăn kiêng khỏe tim giản đơn có kiểm
tra trọng lượng có thể là đủ với những người mắc phải bệnh tiểu
đường kiểu 2 . Một công trình nghiên cứu về người mắc phải bệnh
tiểu đường kiểu 2 so với vài kế hoạch chế độ ăn kiêng: một chế
độ ăn kiêng có hàm lượng carbohydrates cao- hàm lượng sợi cao,
một chế độ ăn kiêng ít mỡ, và một chế độ ăn kiêng quản lý trọng
lượng. Sau 18 tháng mọi nhóm kinh qua những mức hồng huyết cầu
có glucoza giống nhau và cải thiện và cholesterol. Những nhà
nghiên cứu đã kết luận là những lợi ích dương tính của chế độ ăn
kiêng phát sinh không phải từ những chế độ ăn uống đặc biệt, mà
là vì những người trong khảo nghiệm chú ý và tập trung. Nói cách
khác, bất kể chế độ ăn uống khỏe hoạt động khi những bệnh nhân
cũng hoạt động theo nó.
Những phương pháp ăn kiêng phức tạp có thể
dùng trong việc kiểm tra đường huyết trong kiểu bệnh 1 và nghiêm
trọng hơn trong kiểu bệnh 2. Phương pháp phổ biến nhất trong
việc kiểm tra đường huyết là việc sử dụng Diabetic Exchange
Lists (=Danh sách Trao đổi Chế độ ăn kiêng). Những phương pháp
tinh vi nhiều hơn gồm có việc đếm grams carbohydrates và sử dụng
cái gọi là chỉ số đường (glycemic index) để xác định ảnh hưởng
của carbohydrates trên đường huyết. Nếu một trong những phương
pháp tiếp cận này hoạt động trong việc kiểm tra mức glucoza,
không có lý do gì trong việc chọn phương pháp khác. Mỗi phương
pháp có thể là có hiệu quả, nhưng vì việc điều chỉnh bệnh tiểu
đường là một tình huống riêng, mỗi người có bệnh này phải nhận
sự trợ giúp từ chuyên ngành ăn kiêng trong việc chọn phương pháp
tốt nhất.
Monitoring (sự kiểm tra)
Những kiểm nghiệm mức glucose (Tests for
Glucose Levels). Bệnh giảm glucoza
huyết và bệnh tăng đường huyết là mối quan tâm của bệnh nhân
tiểu đường đang nhận insulin. Vì thế, điều quan trọng là việc
kiểm tra mức glucoza một cách cẩn thận, Bệnh nhân phải nhắm vào
những tính toán dưới đây:
Mức glucoza trước bữa ăn giữa 80 và 140
mg/dL (Pre-meal glucose levels of between 80 and 140 mg/dL.)
Mức ngủ giữa 100 và 160 (Bedtime levels of
between 100 and 160.)
Nói chung, những bệnh nhân đang kiểm tra chặt
mức glucoza cần đọc bốn lần hoặc nhiều hơn mỗi ngày. Mức glucoza
trong máu thường là ổn định ở bệnh tiểu đường kiểu 2 so với bệnh
tiểu đường kiểu 1, nên chuyên gia thường khuyến cáo tính toán
mức glucoza một hoặc hai lần mỗi ngày. Những mực tiêu khác có
thể là cần cho bệnh nhân đặc biệt, gồm có đàn bà mang thai,
người rất già và người rất trẻ và những người đi kèm những điều
kiện y học đặc biệt.
Thử nghiệm về hồng huyết cầu có glycosyl (Tests for
Glycosylated Hemoglobin.)
Một thử nghiệm khác kiểm tra mức hồng huyết
cầu có glycosyl trong máu, cũng được biết như là hồng huyết cầu
A1c (HbA1c). Việc tính toán hồng huyết cầu có glycosyl hiện nay
không được dùng trông việc chẩn đoán đầu tiên, nhưng điều này có
thể được dùng trong việc xác định mức nghiêm trọng của bệnh tiểu
đường. Thử nghiệm không bị ảnh hưởng bởi việc hấp thụ lương thực
nên điều này có thể làm cho nó có thể dùng bất kể lúc nào. Một
thử nghiệm tại nhà đã được phát triển để nó có thể dẽ tính toán
HbA1c. Nói chung, những tính toán gợi ý điều sau đây:
Mức HbA1c thường phải là dưới 7%.
Những mức 11% đến 12% glycolated hemoglobin
(hemoglobin có glycosyl) chỉ dấu việc kiểm tra tồi
carbohydrates. Mức cao còn là những dấu về bệnh thận.
Những thử nghiệm khác (Other Tests.)
Những thử nghiệm khác là cần định kỳ
trong việc xác định những phức tạp tiềm tàng của bệnh tiểu
đường, như là huyết áp cao, mức cholesterol không khỏe, và vấn
đề thận. Những thử nghiệm trên có thể còn chỉ dấu hoặc là kế
hoạch ăn kiêng đang giúp bệnh nhân và hoặc là những thay đổi
phải được thực hiện. Thử nghiệm nước tiểu mỗi năm cho thấy những
vết cực nhỏ của một protein đã biết như là albumin có thể cũng
chỉ dấu rủi ro trong tương lai về bệnh thận nghiêm trọng.
Ngăn cản chứng giảm glucoza trong máu (Sốc
insulin) (Preventing Hypoglycemia (Insulin Shock)
Để ngăn cản những phức tạp lâu dài của bệnh
tiểu đường, những chuyên gia hiện nay đang khuyến cáo là những
bệnh nhân tiểu đường kiểu 1 và kiểu 2 phải nhắm vào vào việc giữ
mức máu như gần mức thường càng tốt. Cách trị liệu insulin mạnh
mẽ làm tăng rủi ro chứng giảm glucoza trong máu, xuất hiện khi
đường trong máu thấp cực kỳ (dưới 60 mg/dl). Những điều mách
nước dưới đây có thể giúp tránh chứng giảm glucoza trong máu
hoặc chuẩn bị cho những cuộc tấn công.
Bệnh nhân gặp ruỉ ro cao về chứng giảm
glucoza trong máu vào ban đêm. Ăn nhẹ trước khi đi ngủ có thể là
điều bổ ích.
Những bệnh nhân kiểm tra một cách mạnh mẽ
đường trong máu càng thường càng tốt, bốn lần hoặc nhiều hơn
trong một ngày. Điều này quan trọng một cách đặc biệt với những
bệnh nhân không cảnh giác chứng giảm glucoza trong máu.
Trên những người trưởng thành, điều cũng là
tới hạn một cách đặc biệt trong việc kiểm tra mức glucoza trong
máu trước khi lái xe, khi chứng giảm glucoza trong máu có thể là
rất nguy hiểm.
Bệnh nhân tiểu đường đang trị liệu đặt họ vào
rủi ro về chứng giảm glucoza trong máu phải luôn mang kẹo cứng,
nước trái cây, gói đường, hoặc có thể sử dụng thương phẩm chất
thay glucoza tạo ra cho những người mắc phải bệnh tiểu đường.
Những yếu tố khác ảnh hưởng việc duy trì chế
độ ăn kiêng (Other Factors Influencing Diet Maintenance )
Nhãn lương thực (Food Labels.)
Mỗi năm hàng ngàn loại thực phẩm mới được
giới thiệu, nhiều trong số chúng quảng cáo như là bổ ích về mặt
dinh dưỡng. Điều quan trọng với mọi người, đặc biệt nhất những
người mắc phải bệnh tiểu đường, có thể phân biệt những yêu cầu
quảng cáo với sự thật. Nhãn lương thực mới cho biết số lượng
calori từ chất béo, số lượng dinh dưỡng có nguy cơ tiềm tàng
chất béo, cholesterol, natri, những loại đường (fat,
cholesterol, sodium, sugars) cũng như dinh dưỡng bổ ích chất xơ,
carbohydrat, protein, vitamin (fiber, carbohydrates, protein,
vitamins).
Nhãn còn cho biết giá trị ngày "daily values," số phần trăm của
một chế độ ăn kiêng mỗi ngày là từng chất dinh dưỡng quan trọng
cho một bữa ăn nhỏ riêng. Chẳng may, giá trị ngày có cơ sở trên
2.000 calori, thường cao nhiều hơn nhiều bệnh nhân tiểu đường
phải có, và kích thước bữa ăn nhỏ có thể là không tương đương
với giá trị ngày trong Danh sách Trao đổi. Nhiều người sẽ cần
tính toán lại grams và calori trình bày trong nhãn lương thực để
làm thích hợp kích thước bữa ăn nhỏ và yêu cầu calori.
Cân và tính toán (Weighing and Measuring.) Cân và
tính toán lương thực quan trọng cực kỳ để có số lượng đúng
calori mỗi ngày.
Cùng với việc tính toán tách và muỗng, hãy
chọn một tỷ lệ lương thực tính toán theo grams (Một gram là rất
nhỏ, ước chừng 1/28 ounce)
Lương thực phải được cân và tính toán sau khi
nấu nướng.
Sau khi tính toán mọi lương thực trong một
tuần hoặc giống như vậy, nhiều người có thể tính toán khá chính
xác bằng mắt hoặc bằng cách giữ lương thực không phải tính toán
mọi thứ mỗi lần họ ăn.
Xác định thời gian.
Những bữa ăn có thể bỏ qua, đặc biệt là những người đang dùng
insulin. Việc bỏ qua những bữa ăn có thể làm đảo lộn tình trạng
cân bằng giữa việc hấp thụ lương thực và insulin và còn có thể
đưa đến tình trạng lên cân nếu bệnh nhân ăn lương thức phụ quá
thường xuyên để làm đảo lộn mức đường trong máu.thấp.
Việc xác định thời gian của bữa ăn đặc biệt là quan trọng với
những người đang dùng insulin:
Những người bệnh phải phối hợp việc dùng
insulin với việc hấp thụ calori. Nói chung, họ phải ăn ba bữa
mối ngày ở khoảng cách thời gian đều. Việc ăn nhanh thường là
cần.
Họ phải cố gắng tiêm chích insulin 30 phút
trước khi họ ăn, mặc dù thời gian này có thể thay đổi, phụ thuộc
vào hình thức. Vài chuyên gia khuyến cáo một phương pháp dùng
insulin thay vì ăn kiêng (insulin lispro) ở mỗi bữa ăn và và một
insulin lâu dài hơn (cơ bản) ban đêm.
Thành phần lương thực chủ yếu là gì trong một
chế độ ăn kiêng của người mắc phải bệnh tiểu đường?
Carbohydrates
So sánh với chất béo và protein,
carbohydrates có ảnh hưởng lớn nhất trên số lượng đường trong
máu. Chứng cứ hiện nay gợi ý là điều này là số lượng
carbohydrates tổng số hơn là kiểu đặc biệt phần lớn ảnh hương
trực tiếp đường huyết. Kiểu Carbohydrate hoặc là phức tạp (như
tinh bột) hoặc giản đơn (như trong trái cây và những loại
đường). . Một gram carbohydrates bằng 4 calories. Khuyến cáo
tổng hợp hiện nay là carbohydrates phải cung cấp giữa 50% và 60%
mức hấp thụ calori mỗi ngày.
Carbohydrates phức tạp (Complex Carbohydrates).
Trong mọi trường hợp carbohydrates phức tạp tìm thấy trong hạt
nguyên vẹn và các loại rau đậu được ưa thích so với những
carbohydrates tìm thấy trong lương thực nhiều tinh bột, như là
pastas (mì ống), sản phẩm bột trắng và khoai tây. Trong một công
trình nghiên cứu, việc thay bánh mì không tinh bột đặc biệt cho
bánh mì thường đưa đến một tình trạng suy giảm có ý nghĩa đường
huyết và hemoglobin A1c trên bệnh tiểu đường kiểu 2.
Carbohydrates phức tạp cũng là nguồn chất xơ chủ yếu, là điều
quan trọng cực kỳ trong bất kể chế độ ăn kiêng sức khỏe. [
Xem Box
Fiber.] Người mắc phải bệnh tiểu đường còn phải chọn
carbohydrates phức tạp có một chỉ số đường thấp (low glycemic
index) và hàm lượng chất xơ cao. Thông thường, điều này có nghĩa
là hạt nguyên vẹn. [ Xem Bảng
The Glycemic Index of Some Foods.]
|
Chất xơ (Fiber)
Chất xơ là một thành phần quan trọng
của nhiều carbohydrates phức tạp. Điều này phần lớn
luôn tìm thấy chỉ trên cây trồng, đặc biệt rau đậu,
trái cây, hạt nguyên vẹn, quả hạch và rau đậu (đậu
cô-ve và đậu Hà Lan). (Một trường hợp biệt lệ là
chitosan, một chất xơ ăn kiêng tạo ra từ xương động
vật có vỏ.) Chất xơ không thể tiêu hóa nhưng đi qua
đường ruột, kéo theo nước với nó và bị loại như một
phần số lượng phân. Điều dưới đây là những ưu thế
đặc biệt từ ăn kiêng chất xơ cao (lên đến 55 grams
mỗi ngày):
Những công trình nghiên cứu gợi ý là
chế độ ăn uống giàu chất xơ từ hạt nguyên vẹn làm
giảm rủi ro bệnh tiểu đường kiểu 2. Những nguồn gồm
có bánh mì hạt nguyên, gạo lức và cám.
Chất xơ không hòa tan (tìm thấy trong
cám lúa mì, hạt nguyên, hạt, quả hạch và trái cây và
những loại ru đậu) có thể giúp hoàn tất việc giảm
cân. (Phải lưu ý là những quả hạch có thể là bổ ích
một cách đặc biệt cho tim bằng cách hạ thấp LDL và
cholesterol tổng số mà không làm tăng
triglycerides.)
Chất xơ hòa tan (tìm thấy trên đậu
khô, cám lúa mạch đen, lúa đại mạch, táo, cây có
múi, và khoai tây), có những lợi ích quan trọng cho
tim, đặc biệt là trong việc hoàn tất mức cholesterol
khỏe và cũng có thể tạo thuận lợi cho huyết áp. Một
cách giản đơn thêm vào mễ cốc ăn sáng vào một chế dộ
ăn kiêng hình như làm giảm mức cholesterol. Một hình
thức mới của lúa đại mạch có thể có ba lần chất xơ
hòa tan như lúa mạch đen và, trong một công trình
nghiên cứu, hiệu quả nhiều hơn so với lúa mạch đen
trong việc kiểm tra glucoza trong máu và insulin.
Những người làm tăng mức chất xơ hòa tan cũng phải
làm tăng việc hấp thụ nước và chất lỏng.
Bổ sung chất xơ, như là Metamucil,
Fiberall, và Perdiem hình như không hoàn tất cùng
những lợi ích như lương thực có hàm lượng chất xơ
cao một cách tự nhiên. Glucomannan, một loại bột
chất xơ cao tự nhiên nhận từ một rễ cây, tuy nhiên
đang cho thấy triển vọng trong việc trợ giúp kiểm
tra mức glucoza trong máu, cholesterol, và huyết áp.
|
Carbohydrates giản đơn (Simple Carbohydrates
(Sugar). Không khác biệt nào hình như
hiện có giữa carbohydrates phức tạp và đường giản đơn trong khả
năng của chúng trong việc nâng cao mức glucoza trong máu và
trong bữa ăn kiêng. Chứng cứ mới về carbohydrates không có nghĩa
là bệnh nhân tiểu đường quá tải chất đường. Tuy nhiên, những
người mắc phải bệnh tiểu đường hiện nay có thể thêm đường (một
cách lý tưởng từ trái cây tươi) số lượng cao nhiều hơn so với
mức đã nghĩ trước.
Đường là một chất tổng hợp của hai
loại:
Đường mía (đường thẻ) (Sucrose (table sugar).
Đường mía còn được liên kết với mức triglycerides cao và
cholesterol có hại. Và một công trình nghiên cứu 2002 gợi ý là
một chững mực cao tiêu dùng đường có thể làm giảm chừng mực
cholesterol HDL, cái gọi là cholesterol tốt.
Fructoza (Fructose) (phân tử đường tìm thấy
trong trái cây). Fructoza có thể
tạo ra một gia tăng chậm trên glucoza so với sucroza. Và một
công trình nghiên cứu 2001 đã báo cáo là liều lượng fructoza
thấp nâng cao khả năng tạo ra glucoza trong gan, một hiệu ứng có
thể giúp cho con người có kiểm tra tồi glucoza trong máu. (Tuy
nhiên, như với bất kể loại đường nào việc dùng quá mức fructoza
liên kết với triglycerides và mức cholesterol có hại.)
Loại đường tự nó, hoặc là glucoza hoặc là
sucroza, thêm số lượng calori, làm tăng mức glucoza trong máu
nhanhm và không cung cấp những chất dinh dưỡng khác. Những người
mắc phải bệnh tiểu đường phải tiếp tục tránh những sản phẩm
trình bày nhiều hơn 5 grams đường một phần ăn nhỏ, và sự hấp thụ
trái cây phải là trung bình. Nếu số lượng đặc biệt không được
trình bày, những bệnh nhân phải tránh những sản phẩm có sucroza
và fructoza trình bày như một trong 4 thành phần đầu trên nhãn.
[ Xem Box
Artificial Sweeteners.]
|
Bột ngọt nhân tạo (Artificial
Sweeteners )
Bột ngọt nhân tạo gồm có điều dưới
đây:
Saccharin (Sugar Twin, Sweet n'Low,
Sucaryl, and Featherweight).
Vài công trình nghiên cứu trước tìm thấy là số lượng
lớn saccharin gây ra bệnh ung thư bàng quang
(bladder cancer) trên chuột, nhưng chuột được cho ăn
số lượng lớn không dùng cho con người.(Tuy nhiên,
chứng cứ gợi ý là những người ăn 6- hoặc nhiều hơn
bữa ăn nhỏ mỗi ngày có thể có rủi ro gia tăng.)
Aspartame (Nutra-Sweet, Equal,
NutraTase).
Aspartame đang được nghiên cứu cẩn thận vì những báo
cáo hiếm về rối loạn thần kinh, gồm có nhức đầu hoặc
chóng mặt, liên kết với việc sử dụng của nó. Điều
này đã được nghiên cứu sâu rộng so với bổ sung lương
thực khác, tuy nhiên, và mối quan tâm về bất kể nguy
cơ sức khỏe chủ yếu là vô căn cứ.
Sucralose (Splenda).
Sucraloza không có dư vị tốt và hoạt động tốt trong
việc làm bánh, không giống như những bột ngọt nhân
tạo khác.
Acesulfame-potassium (Sweet One and
SwissSweet)
đang xem xét để duyệt thuận gồm có
neotame và alitame, được chế biến từ amino acids.
|
Protein
Nói chung, những chuyên gia khuyến cáo là
proteins cung cấp 12% và 20% calories. Vài người tin tưởng là
bất kể ai mắc phải bệnh tiểu đường khác so với đàn bà mang thai
phải giới hạn việc dùng protein ước chừng 0,4 g cho mỗi cân anh
cơ thể lý tưởng của họ. Một gam protein có 4 calori. Protein
thường được khuyến cáo như là một phần bữa ăn nhanh trên giường
để duy trì mức thường đường trong máu vào ban đêm, mặc dù những
công trình nghiên cứu được trộn chung hoặc thêm vào bất kể lợi
ích bảo vệ chống lại chứng giảm glucoza trong máu vào ban đêm.
Nếu thực hiện, chỉ số lượng nhỏ (14 gam) có thể là cần để giữ ổn
định mức glucoza trong máu.
Việc làm giảm số lượng protein có thể giúp làm chậm tiến triển
của bệnh thân, và một công trình nghiên cứu 1999 chỉ dấu là một
chế độ ăn kiêng thấp nghiêm khắc có thể làm trì hoãn yêu cầu
thẩm tách (dialysis) trên những bệnh nhân thận. (Phải lưu ý là
một chế độ ăn kiêng thấp một cách nghiêm khắc trong chế độ ăn
kiêng protein và muối trong khi ghép đôi với việc hấp thụ chất
lỏng cao làm tăng rủi ro chứng giảm natri trong máu
(hyponatremia), một trường hợp hiếm có thể gây ra mệt mỏi, lú
lẫn, và trong trường hợp cực kỳ, có thể đang đe dọa suốt đời).
Cá (Fish.) Cá chắc vẫn là nguồn đạm tốt nhất. Cá
có nhiều ưu điểm:
Trong một công trình nghiên cứu, protein
trong cá đã bảo vệ chuột trong chế độ ăn kiêng số lượng mỡ cao
chống lại tính kháng insulin, trong khi protein thực vật không
có ảnh hưởng.
Nhiều công trình đã báo cáo là việc ăn cá
hoặc động vật có vỏ ít nhất một lần mỗi tuần làm giảm rủi ro đột
qụy khỏi bất thường nhịp tim nguy hiểm nhiều hơn một nửa. Cá có
dầu cao về omega-3 acid béo, như cá hồi (salmon), cá bơn
(halibut), cá mũi kiếm (swordfish), và cá ngừ (tuna), là điều bổ
ích một cách đặc biệt.
Vào lúc này, nhiều công trình nghiên cứu chỉ
dấu là việc ăn số lượng trung bình (một hoặc hai bữa ăn nhỏ mỗi
tuần) cá cho nhiều diều bổ ích. Vài công trình nghiên cứu đã tìm
thấy là số lượng rất cao (năm hoặc sáu bữa ăn nhỏ (servings) mỗi
tuần) có thể có tác hại. Rủi ro này có thể là do sự hiện diện
thủy ngân trong nhiều lọai cá.
Đậu nành (Soy.) Đậu nành là một loại lương thực rất tốt:
Đậu nành giàu chất xơ hoa tan và không hòa
tan trong nước, omega-3 acid béo, và cung cấp nọi proteins cần.
Đậu nành còn chứa estrogens tự nhiên gọi là
isoflavones, có hiệu ứng dương trên mức lipid.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ dấu là
những đối tượng tiêu dùng ước chừng 40 gam protein đậu nành mỗi
ngày làm giam LDL ước chừng 13%, triglycerides ước chừng 11%, và
một gia tăng HDL ước chừng 2%.
Bốn aoxơ (oz) tàu hũ bằng ước chừng 8-13
grams đậu nành, và một hamburger (thịt băm chiên) đậu nành có
ước chừng 18 grams. Protein đậu nành bột có ít nhất 60 mg
isoflavones có thể tạo ra những lợi ích giống nhau. Tuy nhiên,
những viên isoflavones riêng tìm thấy trong đậu nành hình như
không cho bất kể ưu thế nào. (Lưu ý: nước tương chỉ có số lượng
vết đậu nành và rất cao natri). Quan tâm có thể thực hiện, một
hấp thu đậu nành cao trong thời kỳ thai nghén có thể có vài hiệu
ứng ngược trên bào thai, mặc dù chỉ vài công trình nghiên cứu
động vật đã gợi ý điều này. Nhiều công trình nghiên cứu là điều
quan trọng.
Thịt heo (Meat). Để bảo vệ tim, một công trình
nghiên cứu 1999 gợi ý là không quan trọng nếu bạn chọn cá, gà
vịt, thịt bò, hoặc thịt heo chừng nào đó là thịt nạc. (Chất béo
no trong thịt là nguy cơ đầu cho tim). Hàm lượng chất béo trong
thịt thay đổi phụ thuộc vào loại và kiểu cắt. Điều tốt nhất là
ăn thịt gà hoặc thịt gà tây không da, những miếng thịt heo cắt
nạc nhất (thăn hoặc thăn mềm=loin and tenderloin), thịt bê
(veal), và thịt bò (beef) có thể so sánh gần như thịt gà về năng
lượng và chất béo trong hiệu quả của chúng trên mức LDL và. Tuy
nhiên, điều chú ý là thịt gà và thịt heo nạc không cải thiện mức
cholesterol, và, về mặt sức khỏe tim, cá là một sự chọn mong đợi
nhiều hơn.
Chất béo và dầu (Fats and Oils )
Khuyến cáo tổng hợp về việc hấp thụ chất béo
(General Recommendations for Fat Intake.)
Ước chừng hai phần ba cholesterol trong cơ
thể không phát sinh từ cholesterol trong lượng thực nhưng
được tạo ra bởi gan, năng suất của nó được kích thích bởi chất
béo no (phần lớn tìm thấy trong những sản phẩm động vật). Chìa
khóa chế độ ăn kiêng trong việc quản lý cholesterol, sau đó, nằm
trong sự hiểu rõ về chất béo và dầu. Tuy nhiên, khi nghiên cứu
về những hiệu ứng về chất béo trên cơ thể, vấn đề phức tạp bởi
tính chất phức tạp của nó. Mọi loại chất béo và dầu. Mọi chất
béo và dầu tìm thấy tronglương thực được tạo ra những chuỗi phân
tử gồm có carbon và glycerol gọi là acid béo và liên kết bởi
những nguyên tử hydro. Có 3 chuỗi chủ yếu:
Acid béo không no một lần (Monounsaturated
fatty acids.) Một cặp nguyên tử
cacbon đang thiếu những liên kết hydro. Tìm thấy trên sản phẩm
thực vật.
Acid béo không no nhiều lần (Polyunsaturated fatty acids).
Hai cặp hoặc nhiều hơn nguyên tử cacbon đang thiếu liên kết
hydro. Tìm thấy trên sản phẩm thực vật.
Acid béo no (Saturated fatty acids). Mọi nguyên tử cacbon
có liên kết hydro tối đa. Tìm thấy trên sản phẩm động vật.
Dầu và chất béo con người và động vật ăn gọi
là gần như luôn những phức hợp của ba loại acid béo, nhưng một
loại thường chiếm ưu thế.
Ngoài ra, có ba nhóm phụ hóa học của acid béo không no nhiều lần
gọi là acid béo cần, chúng là:
omega-3 và omega-6 polyunsaturated fatty acids, và
omega-9 monounsaturated fatty acids.
Để phức tạp hóa vấn đề, còn có những acid béo
chuyển hóa (trans-fatty acids). Nhiều chất này là chất béo không
tự nhiên nhưng được tạo ra bằng cách thêm nguyên tử hydro, một
quá trình đã biết như là sự hydro hóa (hydrogenation), cho acid
béo không no nhiều lần. Những nhóm phụ này đang được nghiên cứu
mạnh về hiệu ứng đặc biệt của nó với sức khỏe.
Mọi loại chất béo, tốt cũng như tồi, thêm cùng số lượng calori.
Để tính toán mức hấp thụ chất béo mỗi ngày, nhân số lượng grams
chất béo ăn với 9 (một gam chất béo bằng 9 calori, dù là no hoặc
không no) và chia số lượng calori tổng số mỗi ngày mong đợi. Một
muỗng cà phê dầu, bơ, hoặc những chất béo khác bằng ước chừng 5
grams chất béo.
Mặc dầu có nhiều tranh luận về hiệu ứng tổng hợp của chất béo
với sức khỏe, rõ là những chuyên gia khuyến cáo mạnh việc giới
hạn hấp thụ chất béo no và acid béo chuyển hóa (tìm thấy trong
bơ thực vật cứng, bánh thương phẩm và lương thực ăn chay). Tuy
nhiên, những loại acid béo khác, hình như cho những lợi ích.
Chất béo có hại (Harmful Fats). Việc giảm bớt tiêu dùng
những loại chất béo no và acid béo chuyển hóa lad bước cần đầu
trong việc quản lý mức cholesterol thông qua chế độ ăn kiêng..
Chất béo no (Saturated Fats).
Chất béo bảo hòa thường gặp trên những snr
phảm động vật, gồm có thịt và sản phẩm sữa. Chúng liên kết mạnh
với mức cholesterol cao. Mặc dù vài acid béo trong chất béo bảo
hòa gọi là stearic acids có thể có vài lợi ích, không có những
phương pháp giản đơn trong việc xác định lương thực có chúng, vì
thế, nói chung, chất béo bảo hòa phải nên tránh. (Cái gọi là dầu
nhiệt đới, cọ, dừa, và bơ ca cao, cũng là cao trong chất béo bảo
hòa. Tuy nhiên, chứng cứ đang thiếu về hiệu ứng của chúng trên
tim. Những nước có dùng nhiều dầu cọ cao nhất, Costa Rica và
Malaysia, vẫn có tỷ lệ bệnh tim thấp nhiều hơn và mức
cholesterol so với những nước phương Tây.)
Acids béo chuyển hóa (Trans-fatty Acids).Acids
béo chuyển hóa là những chất béo chế tạo được tạo ra trong quá
trình gọi là hydrro hóa (hydrogenation), nhằm vào việc ổn định
dầu không bảo hòa nhiều lần để ngăn cản chúng khỏi tình trạng ôi
và giữ chúng ở thể rắn ở nhiệt độ phòng. Phần lớn là nguy hiểm
một cách đặc biệt cho tim và có thể đặt ra rủi ro cho vài bệnh
ung thư. Và thật vậy, một công trình nghiên cứu 2001 tìm thấy là
acids béo chuyển hóa hiện nay có thể làm tăng rủi ro phát triển
bệnh tiểu đường kiểu 2. Vài chuyên gia tin là những chất béo
hydro hóa một phần này còn tồi nhiều hơn so với chất béo bảo hòa
vì chúng làm tăng mức cholesterol LDL và làm giảm mức
cholesterol HDL và có thể có hiệu ứng có hại trên vành động mạch
(linings of the arteries). Một công trình nghiên cứu 80.000
người bảo mẫu đã báo cáo là đàn bà tiêu dùng chất béo tổng số
46% số lượng hấp thụ calori tổng số không có rủi ro lớn nói
chung về bệnh tim so với những người đàn bà tiêu dùng 30% số
lượng calori. Tuy nhiên, những người đàn bà có chế độ ăn kiêng
acids béo chuyển hóa cao có rủi ro tăng 53% bệnh tim so với
những người tiêu dùng chất béo ít nhất. Chất béo hydro hóa được
dùng trong bơ thực vật cây và trong nhiều loại thực vật ăn chay
và bánh nướng, gồm có nhiều bánh trắng thương phẩm. (Bơ thực vật
nước không bị hydro hóa và được khuyến cáo.) FDA hiện nay đã đòi
hỏi là nhãn lương thực bao gồm thông tin về acids béo chuyển hóa
(trans-fatty acids).
Chất béo và dầu có ích (Beneficial Fats and
Oils). Phải chú ý là vài chất béo
cần cho sức khỏe, và chất béo cần cho việc phát triển sức khỏe
của trẻ em. Chú ý công cộng chủ yếu tập trung vào những lợi ích
có thể thực hiện hoặc nguy cơ của nhưng loại chất béo không bảo
hòa một lần (MUFA) và không bảo hòa nhiểu lần (PUFA).
Chất béo không bảo hòa nhiều lần tìm thấy
trên những loại dầu cây dum (safflower), hướng dương
(sunflower), bắp (corn), và hạt bông vải và cá.
Chất béo không bảo hòa một lần phần lớn hiện
diện trên những loại dầu ô liu, canola. Và đậu phọng và trên
nhiều quả hạch khác.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu tất cả
không thống nhất về những hiệu quả của chúng. Những nhà nghiên
cứu quan tâm nhiều về những thể xây dựng acid béo nhỏ có trong
hai loại dầu, có thể có hiệu ứng đặc biệt nhiều hơn về lipids.
Ba acids béo quan trọng là acid béo cần omega-3, omega-6, and
omega-9.
Acids béo Omega - 3 (Omega-3 fatty acids):
Chúng được phân loại thêm như alpha-linolenic acid và
docosahexaenoic và eicosapentaneoic acids.
Docosahexaenoic
(DHA) and Eicosapentaneoic (EPA) Acids. Dầu cá, có
docosahexaenoic (DHA) và eicosapentaenoic acids (EPA), có những
hiệu ứng chống viêm và chống đông máu và có thể có ích một cách
có ý nghĩa cho tim. DHA không bảo hòa nhiều nhất trong mọi acids
béo. Những acids béo này có thể làm giảm mức triglyceride và có
hiệu ứng dương trung bình trên HDL. Trên những người bệnh có mức
triglyceride cao, nhưng không trên những chất khác, omega 3
fatty acids có thể làm tăng số lượng LDL. Mức cholesterol tổng
hợp không bị ảnh hưởng. DHA hình như có những hiệu ứng đặc biệt
trên huyết áp. Thật vậy, International Society for the Study of
Fatty Acids and Lipids, đã khuyến cáo bổ sung dầu cá trong việc
bảo vệ tim. Omega-3 fatty acids trong cá có thể làm giảm những
rủi ro trong những rối loạn khác, gồm có đột quỵ, viêm thấp khớp
(rheumatoid arthritis), hen suyễn (asthma), viêm loét ruột kết
(ulcerative colitis), và vài kiểu bệnh ung thư.
Alpha-linolenic Acid
. Alpha-linolenic acid là một chất tiền tố
thực vật của DHA, có nghĩa là cơ thể có thể qui đổi nó thành
DHA. Những nguồn gồm có dầu canola, đậu nành, hạt lanh, và vài
loại quả hạch và hạt (quả óc chó (walnut), lanh (flax), "chia"
và thỉnh thoảng hạt bí ngô). Công trình nghiên cứu cho kết quả
dương về những hiệu ứng trên tim của những loại dầu này hoặc
lương thực có những loại dầu này.
Omega-6 polyunsaturated fatty acids.
Nguồn là dầu bắp, cây dum, đậu nành và hướng dương. Dầu PUFA có
omega-6 fatty acids tạo thành nhiều loại dầu tiêu dùng ở Hoa Kỳ.
Vài omega-6 fatty acids quan trọng cho sức khỏe. Tuy nhiên, có
vài tập hợp với một rủi ro cao trong vài loại ung thư và vài
bệnh mạn tính với chế độ ăn uống có số lượng cao omega-6 fatty
acids.
Omega-9 monounsaturated fatty acids:
Những nguồn là dầu canola và dầu ôliu. Dầu ôliu tinh phụ liên
kết với huyết áp thấp và một công trình nghiên cứu 2000 đã báo
cáo là điểu này có những lợi ích đặc biệt cho người mắc phải
bệnh tiểu đường kiểu 2. Đáng quan tâm là một công trình nghiên
cứu nhỏ báo cáo nồng độ LDL trên những đối tượng tiêu dùng một
chế độ ăn kiêng giàu dầu ô liu so với những nồng độ trên một chế
độ ăn kiêng dầu hướng dương và dầu cải dầu.
Kết quả khảo nghiệm gợi ý là chế độ ăn kiêng
của người phương Tây mới có tỷ lệ cao không khỏe (10:1) omega-6
với omega-3 fatty acid. Omega-9 fatty acids có thể còn có những
hóa chất ngăn cản những yếu tố có hại tìm thấy trong omega-6
fatty acids. Những nhà nghiên cứu đmg tìm sau đó là nhiều lợi
ích có thể được tìm thấy trong hỗn hợp ba loại acids béo tìm
thấy trong những loại dầu không bảo hòa nhiều lần và không bảo
hòa một lần, nhưng trong số lượng khiêm tốn không thêm nhiều
calori.
Chất thay chất béo (Fat Substitutes). Chất thay
chất béo thêm vào lương thực thương phẩm hoặc được dùng trong
việc làm bánh nướng cho vài tính chất mong đợi của chất béo,
nhưng không thêm nhiều calori. Chúng gồm có điều dưới đây:
Vài chất thay, như là cellulose gel Avicel,
Carrageenan (chế tạo từ cỏ biển), guar gum, và gum arabic, đã
được dùng hàng chục năm trong nhiều loại lương thực thương phẩm.
Thực chất thực vật đã biết như là sterols từ
lâu đã được biết làm giảm cholesterol bằng cách làm không phù
hợp sự hấp thụ nó trong đường ruột. Sterols hiện nay đang được
phân lập như chất trích sterol hoặc như stanols (là sterols bảo
hòa) để tạo ra bơ thực vật (margarines) (Benecol, Take Control).
Benecol được trích ra từ vỏ thông và nắm quyền điều khiển từ đậu
nành. Những công trình nghiên cứu về margarines đang báo cáo là
hoặc hai bữa ăn nhỏ mỗi ngày như một phần chế độ ăn kiêng số
lượng chất béo thấp có thể hạ thấp LDL và cholesterol tổng số.
Tuy nhiên, phải lưu ý là những margarines có thể bị hydro hóa
và gồm có acids béo chuyển hóa (trans-fatty acids). Mối quan tâm
xa hơn là khả năng là stanol có thể ngăn cản sự hấp thụ dinh
dưỡng hòa tan trong mỡ quan trọng, gồm có vitamins A, E, và D và
carotenoids (hợp chất, carotene tốt nhất, qui đổi thành vitamin
A). Một công trình nghiên cứu gợi ý là không có hiệu ứng trên
vitamins nhưng làm không thích hợp sự hấp thụ beta carotene. Ở
những người đã ăn kiêng số lượng chất béo thấp, việc thêm
margarine này có thể tạo ra lợi ích phụ nhiều hơn.
Olestra (Olean)
đi qua cơ thể mà không để lại phía sau bất kể calori từ chất
béo. (Tuy nhiên, phải lưu ý là lương thực có olestra còn có
calori từ carbohydrates và proteins.) Một công trình nghiên cứu
năm 2000 báo cáo những thay đổi khỏe trên mức cholesterol ở
những người đang ăn olestra trong một năm. Những báo cáo đầu về
chứng vọp bẻ (cramps) và bệnh ỉa chảy (diarrhea) sau khi ăn
lương thực có olestra không minh chứng sẽ là có ý nghĩa. Đang
quan tâm lớn là sự việc là những số lượng nhỏ olestra rút hết từ
cơ thể vài vitamins và dinh dưỡng quan trọng tong việc bảo vệ
chống lại bệnh nghiêm trọng, gồm có bệnh ung thư. FDA đòi hỏi là
những vitamins đang thiếu thêm vào lại những sản phẩm olestra,
nhưng không những chất dinh dưỡng khác.
Đang điều tra nghiên cứu là những chất thay
thế chất béo phát sinh từ beta-glucan, chất xơ hòa tan trong
nước tìm thấy trên cay lúa mạch đen (eg, Nu-Trim). Chúng có thể
có những lợi ích cho sức khỏe ngoài việc làm giảm calori và thay
thế những loại chất béo hydro hóa hoặc bảo hòa.,
Người ta phải cố gắng giới hạn những loại
lương thực giảm chất béo và chất thay thế chất béo trong chế độ
ăn kiêng của họ. Mặc dù người ta phải tin là việc ăn những loại
sản phẩm chất béo giảm hoặc thay thê chất béo có nghĩa là việc
tiêu dùng calori ít, điều này thường không phải là trường hợp.
Nhiều sản phẩm thương phảm, chất béo thấp có calori phụ từ đường
hoặc những carbohydrates khác. Một công trình nghiên cứu đã tìm
thấy là những người tiêu dùng lương thực có chất thay thế chất
béo không biết ghét lương thực có chất béo, trong khi những
người biết nấu dùng lương thực thiếu một cách tự nhiên hoặc thấp
về chất béo mất đi vị giác của họ trong chế độ ăn kiêng chất béo
cao.
Vài ví dụ về lương thực cần cho sức khỏe (Some Examples of
Healthy Foods )
|
Lương thực (Foods)
|
Hóa chất thực vật (Phytochemicals) và
dạng caroten Carotenoids
|
Vitamins và những thành phần lương
thực khác (Vitamins and other valuable food
components) |
Lợi ích (Benefits)
|
|
Táo (Apples)
|
Flavonoids
|
|
Có thể có hoạt tính chống lại vài
loại bệnh ung thư (phổi) (lung). Còn có thể hỗ trợ
duy trì mức cholesterol cần cho sức khỏe.
|
|
Đậu (Beans)
|
Flavonoids
|
Folate, sắt (iron), bồ tạt
(potassium), và Kẽm (zinc). |
Vài chuyên gia tin đậu là lương thực
tuyêt hảo. |
|
Quả mọng (Berries), mọi loại quả có
màu tối (all kinds of dark colored)
|
Ellegic Acid
|
Vitamin C, khoáng chất (minerals)
|
Có thể bảo vệ lão hóa não. (Trong một
công trình nghiên cứu quả mọng xanh (blueberries)
có hiệu quả nhiều nhất.) |
|
Cây bông cải (Broccoli) (và còn cải
xoăn (kale), cải Brussels (sprouts), cải bông
(cauliflower) |
Flavonoids, isothiocyanates, lutein,
beta và alpha carotene
|
Vitamin C, folate, chất xơ, và
selenium
|
Những đặc tính chống ung thư. Có tính
chất bảo vệ chống lại bệnh tim và bệnh đột quỵ.
|
|
Cà rốt (Carrots) và những loại rau
đậu vàng sáng (and other bright yellow vegetables)
|
Lutein, beta carotene và provitamin A
carotenoids khác.
|
Vitamin A (qui đổi từ carotenoids),
Vitamin C
|
Bảo vệ mắt, phổi. (Nấu chín carrots
có thể làm tăng hiệu lực của dinh dưỡng lương thực)
|
|
Trứng (Eggs)
|
lutein
|
Nhiều B vitamins, vitamin A, vitamin
D
|
Mặc dù lòng đỏ trứng có hàm lượng
cholesterol cao, rất ít có một hiệu ứng âm trên
những người mức thường. Và những lợi ích cho sức
khỏe của trứng hiện nay đã biết sẽ là rất cao. (Tuy
nhiên, những người mắc phải bệnh tiểu đường hoặc
những người có hàm lượng cholesterol cao phải giới
hạn việc dùng trứng) |
|
Cá (Fish), có dầu (oily) (cá thu
(mackerel), cá hồi (salmon), cá mòi (sardines)
|
|
Vitamin B3, B12. Acids béo cần,
selenium
|
Có tính chất bảo vệ tim và đại não
(Heart and brain protective).
|
|
Tỏi (Garlic)
|
Allium (organosulfurs)
|
|
Có thể có tính chất bảo vệ chống lại
vài bệnh ung thư, bệnh tim và lây nhiễm. Ham nóng
tỏi có thểlàm giảm những lợi ích. Cho phép tỏi tươi
nghiền giữ trong 10 phút trước khi hâm nóng, tuy
nhiên, có thể bảo tồn lợi ích có ích trong khi nấu.
|
|
Gừng (Ginger)
|
Zingiberaceae
|
|
Những đặc tính chống bệnh ung thư.
|
|
Các loại hạt (Grains) nguyên (whole)
|
Lignans (phytoestrogens)
|
Vitamin B, Selenium (khoáng chất
chống oxyt hóa quan trọng (important antioxidant
mineral), chất xơ, folate |
Có thể hỗ trợ trong việc làm giảm khả
năng của tế bào gây bệnh ung thư xâm nhập mô khỏe.
|
|
Nho (Grapes), gồm có nho tím (purple
grape) nước trái cây (juice), và rượu đỏ (red wine)
|
Flavonoids, (resveratrol, quercetin
and catechin)
|
|
Chống bệnh tim và bệnh ung thư.
|
|
Quả hạch (Nuts)
|
|
Vitamin E, Vitamin B1, Essential
fatty acids, folate |
Bảo vệ tim và có thể hỗ trợ dự phòng
bệnh đột quỵ (stroke). |
|
Hành củ (Onions)
|
Flavonoids, allium (organosulfurs)
|
|
Có thể có hoạt tính chống lại vài
loại bệnh ung thư (phổi) (lung). |
|
Quả cam (Oranges)
|
Monoterpenes
|
Vitamin C, folate, potassium
|
Nhiều lợi ích cho sức khỏe. Mức HDL
tăng lên. |
|
Khoai lang (Potatoes (Sweet)
|
|
Vitamin C, vitamin E, vitamin A
|
Nhiều lợi ích cho sức khỏe.
|
|
Đậu nành (Soy)
|
Isoflavones (phytoestrogens),
flavonoids, phytosterol, phytate, saponins
|
|
Có thể có những hiệu ứng giống như
estrogen, gồm co việc duy trì xương và tạo thuận lợi
cho tim. Có thể còn có tính chất bảo vệ chống lại
bệnh ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) và có
thể những loại bệnh ung thư khác. Khảo nghiệm nhiều
hơn là cần. (Lưu ý: Đang quan tâm là một công trình
nghiên cứu báo cáo mức suy giảm tâm thần nhiều hơn
trên những người tiêu dùng số lượng lớn đậu hũ
(tofu.) |
|
Rai Bina (Spinach) và những rau ăn lá
xanh tối khác (other dark green leafy vegetables)
|
Zeaxanthin, Beta carotene,
|
Vitamin C, folate, Vitamin A (được
qui đổi từ carotenoids)
|
Bảo vệ phổi và đại não (lungs and
brain).
|
|
Trà (Tea) Trà xanh (Green tea) được
báo cáo có lợi ích tốt nhất)
|
Flavonoids
|
|
Đặc tính chống bệnh ung thư (Cancer
fighting properties), đặc biệt là trà xanh (green
tea). Trà đen (Black tea) hình như không có những
lợi ích đặc biệt này. Trà đen và xanh có tính chất
bảo vệ tim và có thể bảo vệ chông lại bệnh đột quỵ
(stroke). |
|
Cà chua (Tomatoes)
|
Lycopene, Flavonoids
|
Vitamin C, biotin, chất khoáng
(minerals)
|
Khảo nghiệm liên kết với việc làm
giảm bệnh tuyến tiền liệt (prostate) và bệnh ung thư
khác (cancers). Chống lay nhiễm (Infection
fighters). |
Câu chuyện về cholesterol tìm
thấy trong chế độ ăn kiêng không hoàn toàn đi thẳng. Cholesterol
chỉ được tìm thấy trong những mô động vật, có số lượng cao xuất
hiện trong thịt, sản phẩm sữa, lòng đỏ trứng, và động vật có vỏ.
American Heart Association (Hiệp hội Tim Hoa Kỳ) khuyến cáo
không nhiều hơn 300 mg cholesterol mỗi ngày. Tuy nhiên, một công
trình nghiên cứu tính toán là việc làm giảm sưh hấp thụ
cholesterol trong chế độ ăn kiêng ước chừng 100 mg/day có thể
chỉ tạo ra một mức giảm 1% mức cholesterol. Tuy nhiên lưu ý là
những công trình nghiên cứu chỉ dấu là mặc dù cholesterol chính
nó trong chế độ ăn kiêng hình như không làm tăng rủi ro bệnh tim
mạch trên nhiều người, những người mắc phải bệnh tiểu đường, đặc
biệt là kiểu bệnh 2, có thể là một trường hợp biệt lệ. Cho đến
khi công trình nghiên cứu được thực hiện, họ phải xem xét việc
tránh ăn trứng hoặc lương thực có cholesterol cao khác (như là
tôm) thường nhiều hơn một lần trong một tuần lễ.
Vitamins và bổ sung (Vitamins and
Supplements)
Đặc tính chống oxyt hóa (Antioxidant
Properties). Hiện nay, lợi ích
quan trọng nhất đòi hỏi vitamins A, C, E, và nhiều carotenoids
và hóa chất thực vật (phytochemicals) là vai trò của chúng như
là antioxidants (chất chống oxyt hóa), là những chất ăn
hạt đươc biết như là oxygen-free radicals (gốc không
oxy)(thỉnh thoảng còn gọi là chất oxyt hóa (oxidants).
Những hạt hoạt tính về mặt hóa học là những sản phẩm phụ của
nhiều quá trình hóa học thường của cơ thể. Những số lượng của
chúng được tăng lên bởi những cuộc tấn công môi trường như là
hút thuốc, hóa chất, độc chất, và tình trạng thiếu. Ở chừng mực
cao, chất oxyt hóa có thể là rất có hại:
Chúng có thể làm hư hỏng màng tế bào và phản
ứng tương hỗ với vật liệu di truyền, có thể góp phần vào việc
phát triển nhiều rối loạn gồm có bệnh tiểu đường, bệnh ung thư,
bệnh tim mạch, bệnh đục thủy tinh thể, và quá trình lão hóa
chính nó.
Những gốc không oxy (Oxygen-free radicals) có thể cũng nâng cao
những đặc tính nguy hiểm của cholesterol có lipoprotein tỷ trọng
thấp (LDL), một vai trò chủ yếu trong việc phát triển
atherosclerosis (chững vữa xơ động mạch).
Vitamin chống oxyt hóa (Antioxidant vitamins)
(A, C, and E), carotenoids (dạng caroten), và nhiều hóa chất
thực vật (phytochemicals) có thể trung hòa những gốc tự do và có
thể làm giảm hoặc dự phòng thiệt hại của chúng. Chẳng may, mặc
dù điều rõ ràng là vitamins là cần dự phòng bệnh thiếu, những
lợi ích có thể thực hiện bổ sung liều lượng cao vẫn không được
xác minh trong nhiều trường hợp. Đến nay, không có chứng cứ mạnh
là bổ sung kháng oxyt hóa cho bất kể bảo vệ thật. Trong vài tình
huống, liều lượng cao có thể là có hại. [ Xem Box Special
Warning on Antioxidant Vitamins .]
Vitamin E. Vitamin E có thể dự phòng bệnh cục máu đông
(blood clots) và hình thành những tấm chất béo (fatty plaques)
và phát triển tế bào trên vách động mạch. Tuy nhiên, những công
trình nghiên cứu lâu dài về những người dùng bổ sung vitamin E
(supplements) được trộn lẫn:
Nhiều chất đã thấy có ít hoặc không có lợi
ích. Một công trình nghiên cứu chủ yếu rất quan trọng trong năm
2001, ví dụ, không tìm thấy bảo vệ chống lại bệnh tim hoặc đột
qụy trên những bệnh nhân có rủi ro cao. Một báo cáo năm 2000 báo
cáo là những bệnh nhân dùng hình thức tự nhiên của vitamin E ở
liều lượng 400 IU trong 4-6 năm không được bảo vệ chống lại bệnh
tim mạch (cardiovascular disease). Lại, chứng cứ không hoàn toàn
đi thẳng. Vitamin E phải được dùng với dầu hoặc chất béo có bất
kể hiệu quả, có thể ảnh hưởng đầu ra của vài công trình nghiên
cứu.
Tuy nhiên, đang quan tâm là một số lượng nhỏ
công trình nghiên cứu trong năm 2000 báo cáo là khi những người
mắc phải bệnh tiểu đường kiểu 2 dùng liều lượng cao (1,200 IU)
vitamin E họ có ít chứng cứ viêm mạch máu, một chỉ dấu về một
rủi ro cao bệnh tim và bệnh đột quỵ. Một báo cáo khác báo cáo là
vitamin E có những lợi ích hành động thần kinh trung tâm chi
phối tim trên những người mắc phải bệnh tiểu đường kiểu 2.
Những công trình nghiên cứu khác đã tìm thấy
những lợi ích giống nhau trong số người mắc phải bệnh tiểu đường
kiểu 1 sau khi bổ sung lâu dài vitamin E, gồm có những hiệu ứng
có ích về mức cholưsterol và sự bảo vệ có thể thực hiện chống
lại bệnh thận. Thật vậy, vài chuyên gia khuyến cáo việc bổ sung
lâu dài vitamin E đặc biệt cho những người mắc phải bệnh tiểu
đường kiểu 1.
Những hợp chất vitamin E khác nhau, như là
gamma tocopherol hoặc tocotrienol có thể có lợi ích là bổ sung
tổng hợp tiêu chuẩn (dl alpha tocopherol) thì không có. Những
công trình nghiên cứu khá phù hợp trong việc chỉ dấu là việc ăn
lương thực giàu vitamin E tự nhiên có thể có tính chất bảo vệ.
Vitamin C. Vitamin C hình như duy trì tính tạo hình của
mạch máu và cải thiện sự thông lưu động mạch của những người
nghiện hút. Thường, những khám phá trên đã xuất hiện trong phòng
thí nghiệm. Trong một công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh năm
2001, những người mà chế độ ăn kiêng giàu lương thực chừng mực
cao vitamin C trong máu của họ ở rủi ro thấp về bệnh tim, sức
khỏe tồi tổng hợp, và tử vong. Tuy nhiên, không có bằng chứng về
bổ sung vitamin C cho bất kể bảo vệ thật chống lại bệnh tim, và
một công trình nghiên cứu chủ yếu năm 2001 không tìm thấy lợi
ích cho bệnh tim ở những bệnh nhân có rủi ro cao.
B Vitamins. Vài công trình nghiên cứu quan trọng đã minh
chứng một liên kết giữa những tình trạng thiếu B vitamins
folate, B6, và B12 và mức homocysteine trong máu cao, một amino
acid tin là một yếu tố rủi ro cho chứng vữa xơ động mạch
(atherosclerosis). B12 và folate làm giảm mức homocysteine, mặc
dù điều này chưa rõ là hiệu ứng này có tính chất bảo vệ thật
chống lại bệnh tim. (Homocysteine có thể giản đơn chỉlà một dấu,
không phải là một nguyên nhân, của bệnh tim.) Những công trình
nghiên cứu chủ yếu đang được thực hiện và những kết quả đầu của
những công trìnhnghiên cứu nhỏ có triển vọng. Một công trình
nghiên cứu năm 2001, ví dụ, đã báo cáo tỷ lệ thấp bệnh tim trong
số những người có mức folate và B12 cao không kể bất kể những
yếu tố rủi ro khác. Liều lượng 0.8 mg/ngày folic acid hình như
sẽ là cần trong việc làm giảm mức homocysteine. Folate cũng cải
thiện dòng chảy của máu thông qua động mạch, có thể là bằng hoăc
quan trọng lớn cho tim so với hiệu ứng của nó trên homocysteine.
Một vitamin B quan trọng khác là niacin (Vitamin B3), có những
lợi ích đặc biệt với những bệnh nhân có mưc cholesterol không
thuận lợi cho sức khỏe. Có vài điều quan tâm là mức độ cao hiện
nay có thể có những hiệu ứng ngược trên việc kiểm tra glucoza.
[Xem thêm Well-Connected report Cholesterol.]
Lipoic Acid. Lipoic acid, một coenzyme có những đặc tính
chống oxyt hóa, đang được chú ý. Trong một công trình nghiên cứu
rất cơ bản, những nhà nghiên cứu tìm thấy là việc trị bệnh với
lipoic acid có thể có tính chất bảo vệ thận nhiều hơn so với
những liều lượng cao những vitamin C và E. Cần có những khảo
nghiệm thêm.
Khoáng chất (Minerals)
Magnesium. Tình
trạng thiếu Magnesium (deficiency) có thể có vài vai trò trong
tính kháng insulin và huyết áp cao. Một công trình đã báo cáo là
mức độ magnesium thấp như đã tính toán trong thử nghiệm máu được
liên kết với một rủi ro cao trong những người mắc phải bệnh tiểu
đường kiểu 2 trong những người da trắng nhưng không trong những
người Mỹ gốc châu Phi. Tuy nhiên, việc hấp thụ ma-nhê trong chế
độ ăn kiêng, hình như không giữ bất kể vai trò trong việc làm
tăng hoặc làm giảm rủi ro trong bất kể nhóm quần thể nào. Điều
có thể thưch hiện nhiềuhơn là bệnh tiểu đường có thể lầm mất đi
ma-nhê. Không chất bổ sung nào được khuyến cáo vào lúc này cho
bệnh nhân có mức độ manhê đầy đủ. Với những bệnh nhân dung thuốc
lợi tiểu trong bệnh huyết áp cao, bồ tạt phụ có thể là cần,
nhưng trong những trường hợp khác, gồm có vài vấn đề về thận,
một tìnhtrạng quá tải về potassium có thể xuất hiện, vì thế bổ
sung đều nào được khuyến cáo mà không đi khám bác sĩ.
Chromium. Vài công trình nghiên cứu đã báo cáo một tập
hợp giữa những tình trạng thiếu về chromium kháng chất và một
rủi ro cao trong bệnh tiểu đường kiểu 2. Công trình nghiên cứu
về chuột béo được cho ăn chromium đã báo cáo về tính cảm ứng với
sự chuyển hóa insulin và glucoza. Tuy nhiên những công trình
nghiên cứu trên bệnh nhân bệnh tiểu đường kiểu 2, đã báo cáo là
có ít lợi ích và vài hiệu ứng phụ ngược.
Zinc. Nhiều bệnh nhân tiểu đường kiểu 2 cũng còn thiếu
kẽm (zinc); nhiều công trình nghiên cứu là cần để xác lập những
lợi ích hoặc rủi ro của việc dùng bổ sung. Zinc (kẽm) có vài
hiệu ứng phụ có độc tố, và vài công trình nghiên cứu đã liên kết
việc hấp thụ kẽm liều lượng với bệnh ung thư tuyến tiền liệt
(prostate cancer.)
Muối và Natri (Salt and Sodium)
Muối có thể làm tăng huyết áp, và những người
mắc phải bệnh tiểu đường phải giới hạn việc sử dụng muối, đặc
biệt là khi họ có huyết áp cao, và tăng trọng quá mức, hoặc cả
hai. Những người tăng trọng quá mức có khả năng hấp thụ natri
cao có thể có rủi ro cao tử vong do bệnh tim. Chế độ ăn kiêng có
liều lượng muối cao trên những người dễ cảm ứng với những hiệu
quả của nó có thể mắc phải bệnh thận và đại não, không phụ thuộc
vào huyết áp cao. Việc giới hạn dùng muối còn nâng cao những lợi
ích gần như mọi loại thuốc chống chứng tăng huyết áp tiêu chuẩn
bằng cách làm giảm việc mất muối, và có thể hỗ trợ trong việc
bảo vệ chống lại bệnh thận trên những bệnh nhân cũng đang dùng
những loại thuốc ngăn cản canxi.
Mặc dầu điều không rõ là có hoặc không việc giới hạn số lượng
natri thêm vào bất kể lợi ích trong nhiều người ăn kiêng giàu
dinh dưỡng trong trái cây, rau đậu và sản phẩm sữa chất béo liều
lượng thấp và lhông cảm ứng với muối, điều luôn khôn ngoan là
nhằm mục đích vào một mức hấp thụ tối đa 2,000 mg natri. Giản
đơn là việc loại bảng và muối ăn có thể là có ích. Những chất
thay muối, như là Cardia, có những phức hợp bồ tạt, natri, và
manhê hiện nay có thể sử dụng nhưng tốn kém. Tuy nhiên, phải lưu
ý là ước chừng 75% số lượng muối trong chế độ ăn kiêng của người
Mỹ điển hình phát sinh từ lương thực chế biến hoặc thương phẩm,
vì thế những lợi ích của những muối thay muối ăn có thể sẽ là
rất khiêm tốn. Vài loại muối natri là cần để bảo vệ tim, nhưng
nhiều chuyên gia thống nhất là số lượng kém một cách có ý nghĩa
so với số lượng tìm thấy trong chế độ ăn kiêng trung bình của
người Mỹ.
Cafein và rượu cồn (Caffeine and Alcohol )
Alcohol (rượu).
Những công trình nghiên cứu năm 1999 và 2000 đã gợi ý là việc
dùng rượu ít đến trung bình (một đến hai cốc mỗi ngày) có thể có
lợi ích đặc biệt cho những người mắc phải bệnh tiểu đường khiểu
2. Trong một điều này liên kết với một rủi ro giảm tử vong do
bệnh tim và trường hợp kia điều này bảo vệ chống lại bệnh tiểu
đường kiểu 2 chính nó. Rượu vang đỏ đặc biệt hình như có lợi ích
cho sức khỏe. Trong một công trình nghiên cứu, việc uống rượu
vang đỏ ở bữa ăn làm giảm mức độ glucoza trong máu trên vài bệnh
nhân. (Rượu chính nó không có hiệu ứng trên glucoza hoặc ínulin
trong máu.) Tuy nhiên, trong số lượng những người dùng insulin
hoặc sulfonylureas, rượu có thể gây ra phản ứng hypoglycemic,
với nó người nghiện rượu có thể là không cảnh giác. Những người
đàn bà mang thai hoặc những người có rủi ro lạm dụng rượu không
nên uống rượu.
Thức uống có cafein (Caffeinated Beverages.)
Trà (Tea). Trà
có thể có một hiệu ứng dương trên tim. Mặc dù điều này có
caffeine, nó cũng còn giàu flavonoids và những chất khác bảo vệ
chống lại hình thức làm hư hỏng LDL. Trà xanh thường được trình
bày tính chất có lợi của nó cho sức khỏe nhưng trà đen có thể là
cũng có lợi ích. Trong một công trình nghiên cứu, việc dùng
nhiều trà đen, đặc biệt bởi người đàn bà, được liên kết với một
rủi ro giảm trong bệnh động mạch vành nghiêm trọng (severe
coronary artery disease). Trà còn chưa folic acid, làm giảm mức
độ homocysteine, một yếu tố có thể thực hiện trong bệnh động
mạch vành(coronary artery disease.)
Coffee. Cà phê
không lược (Unfiltered coffee) (Turkish coffee, Scandinavian đun
sôi hoặc French pressed coffee, và espresso) có một loại rượu
gọi là cafestol, có thể làm tăng mức độ cholesterol. Cà phê có
lược không có chất tồn lưu này. Mặt khác, cà phê, như rượu vang
đỏ, có phenol, giúp ngăn cản hiện tượng oxyt hóa LDL
cholesterol. Một công trình nghiên cứu khác đã báo c |