|
Mang thai ở vị
thành niên ở Hoa Kỳ đã suy giảm trong những năm gần đây nhưng
vẫn còn là vấn đề sức khỏe công cộng đặc hữu. Những phụ nữ trẻ
da màu và những phụ nữ trẻ có lợi tức thấp chịu ảnh hưởng một
cách không tỷ lệ bởi sinh đẻ ở vị thành niên.
Tỷ lệ mang thai
1. Tỷ lệ mang thai
ở vị thành niên cao nhiều hơn ở Mỹ so sánh với nhiều nước đã
phát triển khác-- hai lần cao hơn ở Anh và Wales hoặc Canada, và
chín lần ở Hà Lan hoặc Nhật Bản.
2. 1/15 người làm
cha một đứa trẻ trong khi còn vị thành niên.
3. Năm 1995, YRBS
báo cáo là, ở cấp nhà nước, 6,9% sinh viên báo cáo là họ mang
thai hoặc có người mang thai.
4. Một nửa của mọi
trường hợp mang thai đầu ở thanh niên xuất hiện trong sáu tháng
đầu theo sau quan hệ tính dục lần đầu, và 20% xuất hiện trong
tháng đầu.
5. Tính toán có thể
sử dụng trong đầu những năm 1990s gợi ý là tỷ lệ mang thai đạt
đỉnh cao trong năm 1990 và 1991 ở 115 trường hợp mang thai mỗi
1.000 phụ nữ tuổi 15-19. Tỷ lệ mang thai giảm xuống 111 trong
năm 1992.
6. Năm 1992, 112
trường hợp mang thai xuất hiện trong 1.000 phụ nữ Mỹ tuổi 15-19.
Trong số: 61 kết thúc trong sinh đẻ 36 trong phá thai, và 15 sẩy
thai.
7. Một trong năm vị
thành niên Mỹ-Phi và một là sáu vị thành niên La Tinh mang thai
mỗi năm.
8. Có một quan hệ
trực tiếp giữa mức nghèo, giáo dục của cha mẹ, và tỷ lệ mang
thai trong cộng đồng da màu. Những người thanh niên sống trong
cảnh quá nghèo với bố mẹ có trình độ giáo dục thấp có tỷ lệ mang
thai cao so với thanh niên sống trong điều kiện kinh tế-xã hội
tốt nhiều hơn.
Mang thai không dự
tính trước
9. Trong những vị
thành niên, 85% trường hợp mang thai không dự tính trước, chiếm
25% mọi trường hợp mang thai không dự tính trước mỗi năm.
10. Trong những vị
thành niên tuổi 15-17, 46% những vị thành niên có lợi tức thấp
dưới mức nghèo có rủi ro ở trường hợp mang thai không dự tính
trước, so sánh với khoảng 1/3 với lợi tức của gia đình 2,5 lần
mức nghèo hoặc trên.
Tỷ lệ sinh đẻ
11. Tháng 10, 1996,
Bộ Y tế và Dịch vụ Con người phổ biến dữ liệu cho biết một mức
giảm 8% trong tỷ lệ sinh đẻ ở vị thành niên từ 1991 đến 1995.
12. Tỷ lệ sinh đẻ
trong những vị thành niên tuổi 15-19 mỗi 1.000 là 56,8% trong
năm 1995. Tỷ lệ này suy giảm đều từ cao mới trong năm 1991
(62,1) và cao sớm năm 1970 (68,2).
13. Trong năm 1995,
tỷ lệ sinh đẻ trong vị thành niên tuổi 15-17 giảm bớt 4%, trong
khi tỷ lệ trong vị thành niên tuổi 18-19 giảm 3%.
14. Tỷ lệ sinh đẻ
trong sinh đẻ lần 2 trong vị thành niên giảm trong năm 1995 từ
5-9%.
15. Trong năm 1994,
tỷ lệ sinh đẻ trong những vị thành niên hơi giảm bớt trong những
người Mỹ Phi, con lại giống nhau trong những vị thành niên
Caucase, và hơi tăng lên trong những người La Tinh. Tỷ lệ sinh
đẻ trong những vị thành niên La tinh và Mỹ Phi là 108 mỗi 1,000
phụ nữ tuổi 15-19 so sánh với 40 trường hợp sinh đẻ mỗi 1,000
trong những phụ nữ Caucase tuổi 15-19.
Tình hình phá thai
16. Tỷ lệ phá thai,
vẫn là 40 trong 1.000 phụ nữ tuổi 15-19 trong suốt những năm
1980s, cũng suy giảm trong đầu những năm 1990s, từ 40 trong
1.000 trường hợp phá thai tuổi 15-19 trong năm 1990, đến 38
trong năm 1991 và 36 trong năm 1992.
17. 35% mọi trường
hợp mang thai trong những phụ nữ tuổi 19 và trẻ hơn kết thúc
trong trường hợp phá thai.
18. Những vị thành
niên đa phá thai đa phần thường kể lại tuổi trẻ của họ và lợi
tức thấp như là lý do tại sao họ quyết định kết thúc tình trạng
mang thai của họ
19. 11% trường hợp
phá thai nhận sau 12 tuần lễ thai nghén, những trường hợp phá
thai muộn này không tương xứng ở tuổi thanh niên. Trong những
phụ nữ trẻ dưới tuổi 15, 22% của mọi trường hợp phá thai được
thực hiện trong quí hai so sánh với 9% trong phụ nữ trên tuổi
20.
Rủi ro và hậu quả
mang thai
20. 94% vị thành
niên tin tưởng là nếu họ có liên quan trong một trường hợp mang
thai họ có thể còn ở trong trường; thật ra, 70% cuối cùng hoàn
tất bậc trung học phổ thông.
21. 51% vị thành
niên tin tưởng là nếu họ có liên quan trong một trường hợp mang
thai họ có thể kết hôn mẹ/cha; thật ra 81% sinh để ở vị thành
niên là ở vị thành niên không kết hôn.
22. 26% vị thành
niên tin là họ có thể cần trợ cấp xã hội trong việc hỗ trợ một
trẻ em; thật ra 56% nhận hỗ trợ công cộng để trang trải chi phí
sinh đẻ và 5% nhận hỗ trợ cộng cộng bởi tuổi 20 sớm của họ.
23. 32% vị thành
niên nói họ có thể xem xét việc phá thai; thật ra, 50% trường
hợp mang thai ở vị thành niên không kết hôn kết thúc trong
trường hợp phá thai.
RGC 27-10-2006
Trở về Trang Chính
|