Trường hợp mang thai ở vị thành niên


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

02 tháng 11 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

 

Mang thai ở vị thành niên ở Hoa Kỳ đã suy giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn còn là vấn đề sức khỏe công cộng đặc hữu. Những phụ nữ trẻ da màu và những phụ nữ trẻ có lợi tức thấp chịu ảnh hưởng một cách không tỷ lệ bởi sinh đẻ ở vị thành niên.

 

Tỷ lệ mang thai

1. Tỷ lệ mang thai ở vị thành niên cao nhiều hơn ở Mỹ so sánh với nhiều nước đã phát triển khác-- hai lần cao hơn ở Anh và Wales hoặc Canada, và chín lần ở Hà Lan hoặc Nhật Bản.

2. 1/15 người làm cha một đứa trẻ trong khi còn vị thành niên.

3. Năm 1995, YRBS báo cáo là, ở cấp nhà nước, 6,9% sinh viên báo cáo là họ mang thai hoặc có người mang thai.

4. Một nửa của mọi trường hợp mang thai đầu ở thanh niên xuất hiện trong sáu tháng đầu theo sau quan hệ tính dục lần đầu, và 20% xuất hiện trong tháng đầu.

5. Tính toán có thể sử dụng trong đầu những năm 1990s gợi ý là tỷ lệ mang thai đạt đỉnh cao trong năm 1990 và 1991 ở 115 trường hợp mang thai mỗi 1.000 phụ nữ tuổi 15-19. Tỷ lệ mang thai giảm xuống 111 trong năm 1992.

6. Năm 1992, 112 trường hợp mang thai xuất hiện trong 1.000 phụ nữ Mỹ tuổi 15-19. Trong số: 61 kết thúc trong sinh đẻ 36 trong phá thai, và 15 sẩy thai.

7. Một trong năm vị thành niên Mỹ-Phi và một là sáu vị thành niên La Tinh mang thai mỗi năm.

8. Có một quan hệ trực tiếp giữa mức nghèo, giáo dục của cha mẹ, và tỷ lệ mang thai trong cộng đồng da màu. Những người thanh niên sống trong cảnh quá nghèo với bố mẹ có trình độ giáo dục thấp có tỷ lệ mang thai cao so với thanh niên sống trong điều kiện kinh tế-xã hội tốt nhiều hơn.

 

Mang thai không dự tính trước

9. Trong những vị thành niên, 85% trường hợp mang thai không dự tính trước, chiếm 25% mọi trường hợp mang thai không dự tính trước mỗi năm.

10. Trong những vị thành niên tuổi 15-17, 46% những vị thành niên có lợi tức thấp dưới mức nghèo có rủi ro ở trường hợp mang thai không dự tính trước, so sánh với khoảng 1/3 với lợi tức của gia đình 2,5 lần mức nghèo hoặc trên.

 

Tỷ lệ sinh đẻ

11. Tháng 10, 1996, Bộ Y tế và Dịch vụ Con người phổ biến dữ liệu cho biết một mức giảm 8% trong tỷ lệ sinh đẻ ở vị thành niên từ 1991 đến 1995.

12. Tỷ lệ sinh đẻ trong những vị thành niên tuổi 15-19 mỗi 1.000 là 56,8% trong năm 1995. Tỷ lệ này suy giảm đều từ cao mới trong năm 1991 (62,1) và cao sớm năm 1970 (68,2).

13. Trong năm 1995, tỷ lệ sinh đẻ trong vị thành niên tuổi 15-17 giảm bớt 4%, trong khi tỷ lệ trong vị thành niên tuổi 18-19 giảm 3%.

14. Tỷ lệ sinh đẻ trong sinh đẻ lần 2 trong vị thành niên giảm trong năm 1995  từ 5-9%.

15. Trong năm 1994, tỷ lệ sinh đẻ trong những vị thành niên hơi giảm bớt trong những người Mỹ Phi, con lại giống nhau trong những vị thành niên Caucase, và hơi tăng lên trong những người La Tinh. Tỷ lệ sinh đẻ trong những vị thành niên La tinh và Mỹ Phi là 108 mỗi 1,000 phụ nữ tuổi 15-19 so sánh với 40 trường hợp sinh đẻ mỗi 1,000 trong những phụ nữ Caucase tuổi 15-19.

 

Tình hình phá thai

16. Tỷ lệ phá thai, vẫn là 40 trong 1.000 phụ nữ tuổi 15-19 trong suốt những năm 1980s, cũng suy giảm trong đầu những năm 1990s, từ 40 trong 1.000 trường hợp phá thai tuổi 15-19 trong năm 1990, đến 38 trong năm 1991 và 36 trong năm 1992.

17. 35% mọi trường hợp mang thai trong những phụ nữ tuổi 19 và trẻ hơn kết thúc trong trường hợp phá thai.

18. Những vị thành niên đa phá thai đa phần thường kể lại tuổi trẻ của họ và lợi tức thấp như là lý do tại sao họ quyết định kết thúc tình trạng mang thai của họ

19. 11% trường hợp phá thai nhận sau 12 tuần lễ thai nghén, những trường hợp phá thai muộn này không tương xứng ở tuổi thanh niên. Trong những phụ nữ trẻ dưới tuổi 15, 22% của mọi trường hợp phá thai được thực hiện trong quí hai so sánh với 9% trong phụ nữ trên tuổi 20.

 

Rủi ro và hậu quả mang thai

20. 94% vị thành niên tin tưởng là nếu họ có liên quan trong một trường hợp mang thai họ có thể còn ở trong trường; thật ra, 70% cuối cùng hoàn tất bậc trung học phổ thông.

21. 51% vị thành niên tin tưởng là nếu họ có liên quan trong một trường hợp mang thai họ có thể kết hôn mẹ/cha; thật ra 81% sinh để ở vị thành niên là ở vị thành niên không kết hôn.

22. 26% vị thành niên tin là họ có thể cần trợ cấp xã hội trong việc hỗ trợ một trẻ em; thật ra 56% nhận hỗ trợ công cộng để trang trải chi phí sinh đẻ và 5% nhận hỗ trợ cộng cộng bởi tuổi 20 sớm của họ.

23. 32% vị thành niên nói họ có thể xem xét việc phá thai; thật ra, 50% trường hợp mang thai ở vị thành niên không kết hôn kết thúc trong trường hợp phá thai.

 

RGC 27-10-2006

Trở về Trang Chính