|
Loài chim ôtit này có một quần thể rất nhỏ, suy giảm
nhanh phần lớn như là một kết quả thiệt hại lớn nơi ở
đồng cỏ của nó. Vì thế, loài chim được gán cho có nguy
cơ tuyệt chủng.
Phân bố:
Bengal Florican xuất hiện ở Ấn Độ (từ Kumaon terai của
Uttar Pradesh qua Bihar và Tây Bengan đến chân đồi và
đồng bằng Arunachal Pradesh, Assam và Meghalaya), Nepal
(trong terai) và về mặt lich sử ở Bengladesh có một quần
thể ở vùng xa xôi hẻo lánh (loài phụ: blandini: Delacour
1929a) ở Kampuchea và Nam Việt Nam (Ripley 1982. Del
Hoyo et al. 1996). Trong khi điều có thể là loài đã xuất
hiện ở Bhutan (xem ghi chú 1), Myanmar (xem ghi chú 1
phần Lesser Florican Sypheotides indica) và Thái
Lan (xem ghi chú 2), không có quần thể mở rộng và không
có tài liệu được xác nhận ở những nước này. Biên tập chi
tiết và phần trình bày về việc phân bố loài ở miền gần
đất liền ở Ấn Độ được trình bày ở phần khác *Khuyết danh
1990; Narayan 1992)
Việt Nam:
Loài được báo cáo chỉ có thể tin cậy ở miền Nam đất nước
(xem ghi chú 5). Tài liệu ghi chép từ Tây Ninh, 1928
(Delacour 1929a); huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp, Tháng 1-3/
1992, và 2-4/1993 (Khuyết danh 1993c). Trung Tâm Bảo Tồn
Thiên Nhiên Tràm Chim và một địa điểm kế cận ở huyện Tam
Nông (huyện sau bị phá hủy những năm 1990; S.T. Buckton
báo cáo miệng 2000), Đồng Tháp, đến 20 trong mùa khô
theo báo cáo địa phương, thỉnh thoảng làm tổ (Archibald
1990; xem phần Quần thể), ít nhất bốn (ba đực, một cái)
tháng 2-3/1990 (Archibald 1990; Eames 1995b), lại
1-3/1992, 2-4/1992 (Khuyết danh 1993c), hai đực, tháng 2
1993 (Huong Norton-Payson báo cáo miệng 1995), một đực,
tháng 4, 1997 (J. C. Eames tài liệu tham khảo 1997). một
đực, tháng 3/1998 (R. J. Safford tài liệu tham khảo
1999), một đực. Tháng 5/1999 (Buckton et al. 1999), Ha
Tien (cánh đồng Hà Tiên) Kiên Giang, báo cáo một cách có
thể tin cậy những năm 1990 Trần Triết et al. Đang in,
xem ghi chú 6).
Quần thể:
Vào đầu những năm 1980 Bengal Florican được xem là hiếm
nhất và có thể bị đe dọa nhiều nhất trong mọi loài chim
ôtit (Inskipp và Collar 1984; những xem phần Lesser
Florican). Quần thể của nó trên thế giới hiện nay đã
được tính toán 350-400 cá thể (Rahmani et al. 1991;
Narayan 1995), có mức độ giảm lớn trong những năm gần
đây (Mukherjee 1982; Inskipp và Inskipp 1983; Eames
1997). Tuy nhiên, tính toán quần thể mới từ Assam, và,
nói riêng, chứng tích mới từ Kampuchea (xen phần trên và
dưới) gợi ý là tính toán này phải được xem lại thêm.
Có thể là chỉ vài loài chim sống sót ở Việt Nam, nơi đó
những số lượng chắc đã giảm vì săn bắn và mất đi nơi ở
trong suốt những năm 1900 (J. C. Eames tài liệu tham
khảo. 1998). Quần thể ở Trung tâm Bảo Tồn Thiên Nhiên
Tràm Chim (hiện là pháo đài trong nước) chắc chỉ là
những số lượng riêng (Buckton et al. 1999). Những tổ
chim được mô tả đặc tính một cách chính xác bởi những
người dân địa phương ở Tràm Chim và trên cánh đồng Hà
Tiên (Archibald 1990, Buckton et al. 1999, Trần Triết et
al. đang in), nhưng không có gì xác nhận và có thể vẫn
là loài chim du lịch không sinh sản từ những cánh đồng
cỏ ở Kampuchea (Eames 1995b). Không đi tham quan ở đồng
bằng Hà Tiên trong khi đi khảo sát năm 1999, những người
dân địa phương quen thuộc với loài chim và nó có thể
sống sót tốt, hoặc xuất hiện không đều đặn trong vùng
(Buckton et al. 1999). Những số lượng tổng thể rõ là rất
thấp.
Sinh thái- Nơi ở Bengal Florican hình như thích đồng cỏ thấp
tương đối mở (0,5-1,0 m cao) thỉnh thoảng với những dải
cỏ cao và bụi và cây đại mộc rải rác (Ali và Ripley
1968-1998. Inskipp và Inskipp 1983, Mukherjee 1981,
Narayan và Rosalind 1990a), thường ở ruộng thấp dưới
300m (Choudhury 1996e, Baral et al. 1996). Đồng cỏ thấp
hình như sẽ được ưa thích trong khi dùng làm đồng cỏ
hoặc trình bày (Sankaran 1996, C. Và T.P. Inskipp tài
liệu tham khảo 1998), và những con đực đa được ghi chép
trình bày trong những ô khảo nghiệm mới đốt (N.B. Peet
tài liệu tham khảo 2001). Tuy nhiên, chim thường tìm nơi
ở trên những đồng cỏ cao trong cí nóng của ngày, và
những con cái, khó thấy, chắc dùng nhiều thời gian của
chúng trong đám cỏ cao, cùng với những con chim đực
ngoài mùa sinh sản (Ali et al. 1986). Vì thế điều đã
được gợi ý là những địa điểm tôt nhất có những diện tích
cỏ thấp nhiều cỏ lác Imperata cylindrica, rải rác
với những dải cỏ cao (Baral et al. 1996; Peet 1997).
Loài có thể tránh quần thể lớn, rậm rạp cỏ cao (Narayan
và Rosalind 1990a), mặc dù có những lời giải thích lịch
sử của chim trong "cỏ rậm rạp và ekra (Erianthus
ravaneae)" đến 4,5 m cao, thường là khi không có nơi
ở khác có thể sử dụng hoawcj khi theo đuổi bởi người đi
săn (Baker 1922-1930).
Ở Kampuchea và Việt Nam, điều bị giới hạn là đồng cỏ
thiên nhiên và nửa thiên nhiên, thỉnh thoảng bị ngập lụt
theo mùa hoặc với bụi rậm rải rác và rừng mở (Nguyễn Cự,
tài liệu tham khảo, 1997, Sun Hean tài liệu tham khảo
1997). Ở Su Vu (Kampuchea) loài chim được thấy ở những
đồng cỏ theo mùa ngập lụt caoước chừng 1 m (Jabouille
1929). Trong những năm 1920, khi có những tài liệu ghi
chép từ tỉnh Svey Rieng, diện tích có những trảng lớn,
khô từ mùa thu đến mùa xuân (Delacour 1929a). Ở miền Tây
Bắc Kampuchea, loài được thấy ở những cánh đồng hoang
rất lớn mở rộng từ Sisophon đến ranh giới Thái Lan
(Engelbach 1940a, 1940b). Mới đây, loài đã tìm thấy trên
những đồi phát sinh từ khu vực ngập lụt và che phủ trên
Gmelina asiatica và cỏ (Veasna 1999). Ở tỉnh Đồng
Tháp, Việt Nam, đã xuất hiện trong một mảnh nhỏ (4 km2)
thảm thực vật cỏ ven sông phần lớn gồm có Cynodon
dactylon, Oryza rufipogon và (chắc)
Saccharum và lác Cyperus halpan,
Eleocharis dulcis, Fuirena umbellata, bề cao thảm
thực vật thay đổi từ ước chừng 0,3 m trên những diện
tích khô đến 2 m trên những diện tích ẩm ướt, diện tích
chim otit thường đến phần lớn là khô mặc dù khối lượng
nước lên đến 50 m3 rải rác ở địa phương (Eames 1995b).
Nơi ở gần Trung tâm Bảo tồn Thiên Nhiên Tràm Chim gồm có
đồng cỏ ngập nước theo mùa đất thấp, chiếm lĩnh bởi lác
Eleocharis, và rừng trầm Meleleuca cajaputi
thấp (Buckton et al. 1999).
Loài cũng được ghi chép trên đất canh tác, gồm có ruộng
lúa (Baker 1922-1930; Choudhury 1996e), những cánh đồng
chim ôtit (Pollock 1879, Baker 1894-1901, D.A. Showler
báo cáo miệng 2001), những cánh đồng chàm và mía đường
(Inglis 1901-1904). Tuy nhiên, những nơi này có thể là
những nơi ở cận tối ưu.
Cấu trúc và bề cao của bãi cỏ hình như sẽ là quan trọng
cho loài, đầu những mùa sinh sản (Weaver 1991). Sáng
sớm, những con chim đực tìm thấy ở bụi cỏ trống, đồng cỏ
tranh bề cao lên đến c.60 cm, những loài cỏ này ước
chừng cao hoàn toàn của một con chim đứng; nhưng không
quá dày, cho phép di chuyển và thấy rõ cỏ khô, hoạt động
trình bày và lãnh thổ (Weaver 1991). Điều đã được gợi ý
là một chế độ đốt, khai quang hoặc chăn nuôi thả để mở
một đồng cỏ tạo ra nơi ở thích hợp, và nếu điều này
không xảy ra đồng cỏ phát triển quá cao và dày hiển
nhiên là bị bỏ trống bởi những con chim đực lãnh thổ
(Narayan và Rosalind 1990a).
Quần thể ở Vườn Quốc gia Dudwa.hình như làm tăng sau khi
đốt có kiểm tra đồng cỏ (Rahmani 1998). Loài thường được
gặp riêng (Baker 1921-1930; Delacour 1928b), mặc dù loài
có thể xuất hiện từng đàn nhỏ lên đến 8 con chim (Ali và
Ripley 1968-1998).
Lương thực
Loài chim là loài ăn tạp, ăn hạt nhỏ, hạt lớn, hoa, hột
và động vật không xương sống nhỏ như là ốc, châu chấu,
kiến và bọ cánh cứng (Baker 1922-1930; Baral et al.
1996), và ếch (Baker 1922-1930) và "loài bò sát nhỏ"
(Choudhury 2000c). Ở Nepal, loài thấy ăn mồi trên những
chồi cỏ mới (Baral 1991). Dạ dày của tiêu bản thu gom ở
Su Vu (Kampuchea) chỉ có cỏ và hạt (Delacour 1928b).
Trên những diện tích đã đốt, loài ăn những hạt cháy và
côn trùng ra khỏi đồng cỏ (Mukherjee 1981).
Sinh sản
Chim ôtit thường là động vật nhiều cái (Baker 1907a, Ali
và Ripley 1968-1998) và có hệ thống giao phối phân tán
tốt (Sankaran 1991). Trong số 27 con chim quan sát trong
cuộc khảo sát 1985, chỉ có ba là chim cái (Ali et al.
1986), trong khi Inskipp và Inskipp (1983) đếm 5-6 con
cái trong một tống số 35 đến 50 con chim. Đã biết là
loài là động vật nhiều cái, tỷ lệ tính dục chênh lệch
cao chắc như là một kết quả khác biệt về tạp tính và bộ
lông của giới, và thật vậy những chim cái chắc bằng hoặc
vượt số lượng chim đực (Narayan 1992). Trong mùa sinh
sản, chim đực bảo vệ một cách thô bạo lãnh địa nhỏ
(18-28 ha) trong khi chim cái phân tán, chỉ tập hợp lại
trong thời gian rất ngắn với chim đực (Sankaran 1996). Ơ
đồng cỏ chiếm bởi ba con chim đực, khoảng cách giữa
những con chim đực là 350 và 400 m, Sankaran 1996).
Sự xuất hiện Sự xuất hiện của chim đực thường giới hạn vào
vùng lõi 2,1-8,4 ha trong lãnh địa của chúng (Sankaran
1996). Những địa điểm xuất hiện thường đặt trong phạm vi
hoạt động của loài cỏ thấp nơi đó những chim đực đáng
chú ý khi hiện diện, chúng có xu hướng tham quan phạm vi
hoạt động 3-3,5 h trước hoàng hôn, ngủ qua đêm và rời
nơi ở 3-3,5 h sau buổi bình minh (Sankaran 1996). Nơi
xuất hiện có thể xuất hiện lúc bình minh hoặc hoàng hôn,
70% xuất hiện buổi sáng và 70% xuất hiện buổi tối 50
phút sau lúc hoàng hôn (Sankaran 1996).
Mùa sinh sản
Ở Assam, mùa sinh sản nghe nói kéo dài từ tháng ba đến
tháng sáu, với nhiều trứng đẻ vào tuần cuối tháng ba
hoặc nửa đầu tháng tư, ít trứng tìm thấy vào cuối tháng
hai và tuần lễ đầu tháng bảy (Baker 1921-1930). Ở Vườn
Quốc Gia Dudwa, mùa sinh sản bắt đầu trong tuần lễ đầu
tháng ba, và kết thúc vào đầu tháng sáu khi mưa mùa
thường đến (Sankaran 1996). Những chim đực ở Nepal đã
được quan sát xuất hiện tháng tư ở đập Kosi, và tháng
ba, tư và năm ở những vườn quốc gia Royal Chitwan và
Royal Bardia (Inskipp và Inskipp 1983). Người dân địa
phương ở tỉnh Kongpong Thom, Cambodia, đã báo cáo chim
sinh sản trong mùa khô (Tháng 3-4) (Veasna 1999; Goes và
Veasna 1999). Thật vậy, tác giả đầu xác nhận ghi chép về
tổ chim ở Kampuchea là trứng và tổ chim đã thấy vào ngày
19/20 tháng ba 2000 (Goes 2000c).
Địa điểm tổ chim và cấu trúc
Ở Tây Assam, 46 tổ chim đã tìm thấy trong "những dải
trống nhỏ ở giữa đồng ruộng cỏ sungrass (có thể là
Imperata sp.) hoặc cỏ uloo", những loài chim này
thường có phạm vi hoạt động rất lớn, ít khi gần bất kể
làng xã nào hoặc nơi ở, và thường nhất chung quanh "rừng
rậm hoặc rừng mía" (Baker 1907a, 1921-1930). Cỏ trong đó
có tổ chim có thể thưa cho đến rất dày, và những tổ chim
đã được tìm thấy trong đám cỏ voi dày (một từ lỏng lẻo
gọi loài cỏ cao 1,5 m) (Baker 1922-1930). Một tổ chim
gần Sadiya, Assam, là một "dải mở rộng cỏ mặt trời
(sungrass) đã nuôi dưỡng rất nhiều trâu, và vì thế không
còn cao cũng không dày và đan xen mọi hướng bởi những
đường trâu đi" (Baker 1907a, 1921-1930). Về mặt lịch sử,
loài chim được báo cáo làm tổ một cách đều đặn trong
trang trại trà với những trứng bị phá hủy trong quá
trình canh tác (Inglis et al. 1920). Những tổ chim được
tìm thấy gần vùng lân cận lẫn nhau (Baker 1921-1930).
Không tổ chim nào được tạo ra, trứng để trong vùng đầm
lầy tự nhiên dưới mái che của cỏ (Baker 1921-1930).
Trong đó không đầm lầy nào hiện có chim cái tự cạo hoặc
đẻ trứng trực tiếp vào đất phẳng (Baker 1921-1930).
Ổ trứng ấp và sự ấp trứng Những ổ ấp trứng thường có hai
trứng, mặc dù vài ổ chỉ có một (Hume và Oates 1889-1890;
Baker 1921-1930). Thời gian ấp trứng kéo dài 25-30 ngày,
và những chim làm tổ (Hume và Oates 1889-1890; Baker
1921-1930). Sự phát triển thường là tiến bộ nhiều hơn ở
một trứng so với trứng khác, gợi ý là việc đẻ trứng và
sự ấp nở không đồng bộ (Bakẻ 1921-1930), một yếu tố giả
định làm hoãn ngày đi của con cái đầu từ tổ chim. Chứng
tích tình huống chỉ dấu là sự chăm sóc của bố mẹ được
cấp bởi con chim cái (Sankaran 1996).
Di trú
Loài chim đã được mô tả đặc tính như là thường trú ở gần
đất liền Indian bởi Ripley (1982). Chim có thể là thường
trú tốt ở Nepal, nhưng khả năng của sự di chuyển tại địa
phương hoặc ngay cả di chuyển xa phải không bị loại trừ
(Inskipp và Inskipp 1983). Chim hình như sẽ vắng khỏi
miền đồng cỏ nơi chúng sinh sản ở Vườn Quốc gia Royal
Bardia, ít nhất giữa tháng 11 và tháng 2 (N. B. Peet tài
liệu tham khảo 2001). Những di chuyển chắc xuất hiện ở
thung lũng Brahmaputra, như nhiều nơi ở sinh sản bị ngập
nước theo mùa, nhưng điều không biết trong đó chim ôtít
từ những miền này sau đó di chuyển đi (Narayan 1992'
Choudhury 2000c). Ở Bangladesh, loài luôn được tìm thấy
ở một jheel Tây Bắc Dahka "trong mùa ấm, ngay trước khi
những cơn mưa đầu mùa bắt đầu". (Simson 1882). Điều này
gợi ý là có thể những di chuyển ở địa phương phản ứng
lại mưa rơi.
Chứng tích cũng gợi ý là loài ít nhất một phần di trú ở
Đông Nam Á. Những di chuyển xuất hiện sẽ liên kết với
gió mùa Tây Nam và ngập lụt theo mùa hậu quả của miền
đồng cỏ: trong thời gian có mưa, điều có thể mong đợi là
loài di chuyển lên miền Bắc cao và khô nhiều hơn (Eames
1995b). Những kiến thức mới cuat những lần di chuyển phù
hợp với mô hình này. Lối đo quanh Svey Rieng và Su Vu,
Kampuchea, rõ là bắt đầu vào cuối tháng sáu khi loài
chim giả định di chuyển lên phía Bắc để sinh sản ở một
địa điểm không biết khi xuất hiện mưa, trở lại vào tháng
mười hai (Delacour 1929a,c; Jabouille 1929). Quần thể
mới phát hiện ở tỉnh Kongpong Thom, tuy nhiên, được tin
sẽ phần lớn là thường trú, với những di chuyển ở địa
phương đến những "hòn đảo" khô trong mùa mưa (Veasna
1999). Ở Việt Nam, loài được nghĩ sẽ là khách du lịch
theo mùa đến huyện Hồng Ngự và sự sinh sản đã được xác
nhận ở đó (J. C. Eames tài liệu tham khảo 1997). Ở Trung
Tam Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, không thể là loài
chim thường trú quanh năm cho phép ngập lụt sâu đều đặn
nơi ở của nó trong mùa mưa (Buckton et al. 1999). Rõ là
nhiều điều còn được học tập về việc di chuyển trong
loài; những cuộc khảo sát sử dụng radio telemetry (phép
đo từ xa vô tuyến) đã được đề xuất để giải quyết vấn đề
này (Choudhury 2000c).
Đe dọa
Những đe dọa chủ yếu cho loài là mất đi nơi ở và biến
đổi trong toàn phạm bi hoạt động của chúng, kết kợp với
việc săn bắn, ảnh hưởng mọi quần thể những xuất hiện sẽ
là đe dọa nghiêm trọng một cách đặc biệt ở Kampuchea.
Việc mất đi nơi ở và biến đổi
Có những suy giảm rất lớn về diện tích và chất lượng
đồng cỏ qua Nam và Đông Nam châu Á (Bell và Olivier
1992; Peet et al. 1999a; Eames 1997). Rõ là mội đồng cỏ
còn lại trong phạm vi loài là đối tượng của áp lực mạnh
đe dọa tương lai của chúng (chi tiết từng nước dưới đây)
(Rahmani 1988, 1992c; Javed và Rahmani 1991; Bell và
Olivier 1992; Eames 1997, Peet et al. 1999a). Trong
nhiều diện tích giá trụ bảo tồn bị giới hạn ở những vùng
có bảo vệ nhưng tiếp tục chịu sự xuống cấp (Bell và
Olivier 1992; Peet 1997), và đồng cỏ thường là đại diện
tồi trong những hệ thống diện tích có bảo vệ (Rahmani
1988, 1992c; Eames 1997; Baral 1998; Buckton et al.
1999). Hơn nữa, phần lớn những dải đồng cỏ hiện nay nhỏ
và phân lập, và những quần thể của loài này vì thế dễ
bị nguy cơ tuyệt chủng địa phương, hơn nữa, nhiều miền,
hơn nữa, nhiều miền trong pham vi của nó bị chi phối bởi
bất ổn định chính trị nên công tác bảo vệ lâu dài của
vài địa điểm không được bảo đảm (Narayan 1992, 1995).
Its điều đã biết về nơi nào có loài trong mùa không sinh
sản, diện tích có bảo vệ có thể là không đủ vào lúc đó
(Narayan 1995).
Ấn Độ
Bengal Florican hình như phần lớn với loại hoàn toàn
khỏi diện tích không bảo vệ ở dãy Indian trước (Narayan
và Rosalind 1990a, Choudhury 2000c). Những diện tích lớn
đồng cỏ đã bị mất đi như là một kết quả của việc qui đổi
sang những trang trại nông nghiệp và lâm nghiệp, đồng cỏ
thổ nhưỡng đã bị thay đổi khi chế độ ngập lụt đã bị thay
đổi bởi đập và phương pháp tưới tiêu, và nhiều đồng cỏ
còn lại là đối tượng của áp lực chăn thả cao từ vật nuôi
và thu hoạch lớn bởi cộng đồng địa phương, thường liên
kết với việc đốt đồng cỏ (Javed và Rahmani 1991; Bell và
Olivier 1992; Bhargava 2000). Thiệt hại và xuống cấp này
đã đưa đến mức giảm lớn trong quần thể của loài này
(Narayan và Rosalind 1990a) và một co cụm phạm vi hoạt
động, đặc biêt là ở Uttar Pradesh (xem phần phân bố).
Trong những năm 1950, nơi ở của phân khu Ramnagar
(Uttar Pradesh) điển hình nơi ở Terai không phát triển,
với quần thể mở rộng của Imperata cylindrica và
Saccharum munja (=bengalense) rải rác với
những cây phân lập (Ali và Crook 1959), nhưng trái lại
trước 1985 phần lớn nơi ở này đã biến mất và không có
chim ôtit có thể ở (Ali et al. 1986). Những đồng cỏ nhỏ
ở Uttar Pradesh là nơi trú ẩn cho chim ôtit trước đây đã
nhanh chóng được thay thế bởi những trang trại trồng mía
(Ali et al. 1986). Nhiều diện tích đất của Bộ Lâm nghiệp
trong khắp phạm vi hoạt động Indian của loài đã được qui
đổi thành nông nghiệp, hoặc là một cách hợp pháp hoặc
bằng xâm lấn (Ali et al. 1986). Cả trước năm 1920 loài
được nghĩ sẽ là "giảm đều ( một phần) do... diện tích
trồng trà gia tăng" (Inglis et al. 1920). Mặc dù quần
thể lớn nhất của loài ở Ấn Độ sống sót ở Assam, phần lớn
bị giới hạn trên những diện tích có bảo vệ trong khi nơi
ở thích hợp bên ngoài diện tích có bảo vệ được dự báo
biến đi trong mười năm đầu của thế kỷ 21 (Choudhury
2000c).
Việt Nam
Một co cụm lớn trong phạm vi hoạt động và suy giảm về
quần thể được giả định xuất hiện do việc qui đổi theo
khối lượng đồng cỏ thiên nhiên (Nguyễn Cự tài liệu tham
khảo 1997), tỷ trọng dân số người cao ở đồng bằng Việt
Nam, thích hợp với loại này của nông nghiệp, tác động áp
lực cao trên nơi ở đồng cỏ thiên nhiên (Eames 1995b).
Đồng bằng Hà Tiên chỉ có diện tích quan trọng đồng cỏ
ngập nước theo mùa còn lạị ở đồng bằng sông Cửu Long,
nhưng bị đe dọa một cách sắp xảy ra bằng qui đổi sang
trồng lúa và rừng tràm (Melaleuca sp) (Buckton et
al. 1999)
Người dân Việt Nam sinh sống quanh Trung Tâm Bảo tồn
Thiên nhiên Tràm Chim báo cáo là họ đã thu gom trứng và
đánh bắt chim con, nhưng sinh sản ở đó chưa được xác
nhận (S.T. Buckton báo có miệng 2000). Đã biết thường
chừng mực cao săn bắn ở Việt Nam (xem Đe dọa Palecapped
Pigeon (chim bồ câu) Columba punicea) điều này có
thể là sự bức hại đã giữ vai trò trong việc làm giảm
quần thể của loài này.
Tình trạng nhiễu loạn
Trên khắp pham vi hoạt động của nhiễu
loạn loài tạo ra những vấn đề trong mùa sinh sản, và
trong nhiều diện tích những cơ hội trứng và chim con
bị giẫm lên trên bởi trâu bò hoặc con người đã gia
tăng nhiều trong những năm gần đây (xem ví dụ Narayan
1992, Choudhury 1996e). Trong khi chim thích ứng sinh
sản trong vài ruộng đồng trồng màu, những cơ hội
phá hủy tổ chim trong giai đoạn làm cỏ hoặc thu hoạch là
rất cao (Ali et al. 1986). Ở Nepal loài bị đe dọa bởi
tình trạng rối loạn ngay cả trong diện tích có bảo vệ
(H. S Baral bó cáo miệng 1998); ví dụ, trên 70,000 người
dân đi vào Vườn Quốc gia Royal Chitwan trong vụ thu
hoạch mỗi năm (Peet 1997), và vài con chim ôtit rõ là bị
bắt buộc ra khỏi vườn gần đồng ruộng chim ôtit (Bird
Cons Nepal Newsletter 4, 2 (1995): 2-3). Tình trạng rối
loạn do người và vật nuôi cao nhiều hơn ở Kosi Tappu
Wildlife Reserve (Bảo tồn Động vật hoang dã) và quanh
vùng. Đập Kosi, những địa điểm trước có loài sinh sống
(N. B. Peet tài liệu tham khảo 2000), và còn tạo ra bằng
cách lái xe trái đường trong diện tích có bảo vệ (Rai
1996).
Bengladesh
Dân số đông có nghĩa là có tình trạng rối loạn lớn của
điều mà đồng cỏ nhỏ vẫn là (Sarker 1986a).
Kampuchea
diện tích đồng cỏ ở những tỉnh Kongpong Thom và Siem
Reap Bắc hồ Tonle Sap rõ bị rối loạn nhiều thấy rõ bởi
việc đốt rộng và cày đất trồng lúa khi loài dễ sinh sản
nhất (P. Davidson tài liệu tham khảo 2000).
Việt Nam
Lấn đất bởi dân làng và Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên
Tràm Chim, gồm có những chim di trú từ Kampuchea, là một
vấn đề gia tăng (Eames 1995b; J. C. Eames tài liệu tham
khảo 1997; Buckton et al. 1999). Địa điểm hiện nay được
bao quanh bởi trồng lúa, và bị rối loạn bởi công tác
tiêu nước, xây dựng ruộng lúa và người đánh bắt cá điều
không thể thực hiện là chim ôtit có thể sống sót qua
trong tương lai gần (Eames 1995b, Buckton et al. 1999).
Quản lý diện tích có bảo vệ Trong khi vài quần thể của loài
sống sót trong những diện tích có bảo vệ (ở Ấn Độk và
Nepal ít nhất) không có đảm bảo an toàn. Những biện pháp
bảo tồn khó thực thi trong khu bảo tồn Indian đã biết
"lực yếu của nhân viên Bộ Lâm Nghiệp" và nhưng phương
tiện hạ tầng cơ sở tồi của họ (Choudhury 1995b). Tình
trạng thiếu kinh phí, đào tạo và hạ tầng cơ sở chắc ảnh
hưởng những diện tích có bảo vệ khắp phạm vi hoạt động
của loài. Hơn nữa, những phương pháp quản lý thường
không thành công trong việc xem xét những yêu cầu sinh
thái của loài, một giám sát là chắc sẽ dẫn đến tình
trạng tuyệt chủng địa phương trong vài trường hợp (S.
Javed tài liệu tham khảo 1999).
Quản lý đồng cỏ
Có vài chứng tích là những diện tích cắt
của đồng cỏ Imperata nhiều hơn một lần một năm đã
giúp duy trì những dải đồng cỏ Imperata thấp của
Vườn Quốc gia Royal Chitwan (Inskipp và Inskipp 1983).
Một phân loại đồng cỏ đã được thực hiện trong diện tích
có bảo vệ ở terai (Lehmkuhl 1994; Peet et al. 1999a), và
quản lý luân canh đồng cỏ Imperata cylindrica
liên quan dự phòng di cư và tạo ra tranh đã được khảo
sát trong Vườn Quốc gia Royal Bardia (Peet et al.
1999b). Những quan hệ giữa tập hợp đồng cỏ, quản lý và
cộng đồng chim đã được khảo sát (Baral 2000b).
Kiểm tra bức hại
Nhưng viên chức lâm nghiệp đã tham quan quầy
lương thực ở xã Srayov, Kongpong Thom, Kampuchea, trong
việc theo dõi mua bán chim và tịch thu loài có nguy cơ
tuyệt chủng (Veasna 1999).
Nghiên cứu và giáo dục
Ở Ấn Độ một yêu cầu khẩn thiết công
cộng thông tin về phân bố chim ôtit Bengal Florican
và Lesser Florican, cùng với quảng cáo liên quan
tình trạng bị đe dọa của chim, được thực hiện ở Ấn Độ
(Ali 1981) hai mươi năm qua. Kế tiếp, vài dự án nghiên
cứu đã tập trung vào loài (xem ví dụ Narayan và Rosalind
1990a, Narayan 1992, Choudhury 1996e; Sankaran 1996). Ở
Nepal một cuộc khảo sát trong loài đã được thực hiện năm
1982 bởi Nhóm Chim Ôtit ICBP (Inskipp và Inskipp 1983;
Inskipp và Collar 1984). Những cuộc khảo sát chim học ỏ
Đồng bằng Sông Cửu Long ở Việt Nam trong năm 1999 gồm có
những địa điểm mới biết về loài trong vùng (Buckton et
al. 1999). Lại ở Việt Nam một dự án hiện nay đang được
thực hiện trong việc đánh giá tình trạng và tính ưa
thích nơi ở của quần thể chim ở Trung tâm Bảo tồn Thiên
nhiên Tràm Chim (S. T. Buckton báo cáo miệng 2000).
Những cuộc khảo sát ở Kampuchea về nơi ở thích hợp đã
được thực hiện ở những tỉnh Kongpong Thom và Banteay
Meanchay (C.M. Poole tài liệu tham khảo 1999, Veasna
1999).
Biện pháp đề nghị Những quần thể quan trọng nhất cho loài chim
ôtit xuất hiện ở Ấn Độ, Nepal và Kampuchea, và sự sống
sót của loài xoay quanh hành động bảo tồn trong những
nước này. Những yêu cầu bảo tồn loài phải được xem xét
kết hợp với yêu cầu của nhiều chim đồng cỏ bị đe dọa
khác trong phmj vi hoạt động của chúng, cho nên một
chương trình về việc quản lý nơi ở và khảo nghiệm có thể
được thực thi với lợi ích của mỗi trong những loài này
(xem ghi chú 7). Một chấp thuận những biện pháp liên
quan sắp xếp bởi quốc gia xuất hiện trong những phần
sau; một vài chừng mực trùng lắp giữa những đề nghị tổng
hợp trong những nước khác nhau đã có thể tránh được.
Khảo nghiệm
Loài chỉ dề khám phá trong mùa sinh sản và ít điều đã
biết về di chuyển của nó ngoài thời gian này; vì vậy nền
không sinh sản có thể tạo ra những địa điểm phụ đòi hỏi
bảo vệ nếu và khi chúng không được khám phá, và những
khảo nghiệm phải được xác lập trong những miền thích hợp
(Narayan 1995).
Ấn Độ Mọi địa điểm tiềm tàng phải được khảo sát ở cơ
hội sớm nhất và những quần thể ở những địa điểm đã biết
thường được theo Rahmani 1988; Choudhury 1996e).
Nepal
Khảo nghiệm thêm về tập tính của loài và sinh thái học
là cần, nhưng có thể quan trọng nhất là những khảo
nghiệm phương pháp đo từ xa vô tuyến để xác minh di
chuyển của loài và phân bố trong mùa không sinh sản
(Baral 2000).
Bangladesh
Khan (1988) đề nghị một cuộc khảo sát ngay về đồng cỏ và
một phương pháp đánh giá tình trạng động vật ở đồng cỏ.
Kampuchea
Những cuộc khảo sát ngoài đồng ruộng mùa mưa đã được đề
xuất ở miền Đông Nam Kampuchea, và lại trong những tỉnh
Battambang và Takeo (Eames 1997). Những diện tích có thể
nhiều nhất có những quần thể không biết của loài được
nghĩ sẽ là những đồng cỏ Bắc Tonle Sap ở Siem Reap và
Preah Vihear, những tỉnh Đông Nam kế cận Việt Nam:
Kampot và Takeo (C. M. Poole tài liệu tham khảo 1999).
Từ khi những khuyến cáo này được gửi đến một quần thể
lớn rõ những không xác định số lượng đã được khám phá ở
những tỉnh Kongpong Thom và Banteay Meanchay yêu cầu
khảo nghiệm cấp bách ở Kampuchea hiện nay để đánh giá sự
phân bố của nó, tình trạng và đe dọa sao cho những biện
pháp có thể dùng để bảo vệ nó. Nói riêng, những diện
tích tới hạn cần sẽ được nhận diện trong việc bảo vệ và
khảo nghiệm thực hiện để theo dõi xu hướng quần thể
(Veasna 1999). Hơn nữa, một sự hiểu biết về di chuyển
theo mùa và yêu cầu sinh sản trong miền là cần trước bất
kể phương pháp bảo tồn bảo tồn loài chim ôtit có thể
được tạo ra (Eames 1995b). Những khảo sát mùa khô cũng
phải được thực hiện (Veasna 1999). Để giải quyết yêu cầu
cho công tác khảo nghiệm thêm, một khảo nghiệm về đời
sống hoang dã cấp miền và nhóm bảo tồn đã được đề xuất,
cùng với một trung tâm để điều phối những công trình
khảo cứu, bảo tồn và giáo dục được nghĩ có thể hiện có
bất kể nơi đâu ở tỉnh Tây Ninh những cuộc khảo sát thêm
trong nơi ở đồng cỏ thích hợp được đề xuất (Eames
1995b), mặc dù tính đồng nhất quần thể sống sót phải
được đánh giá lại trước khi thực hiện. Đã biết sự việc
là mọi nơi ở thích hợp chung quanh Trung tâm Bảo tồn
Thiên nhiên Tràm Chim hiện nay đã được qui đổi sang sử
dụng cho nông nghiệp, một phương pháp đánh giá tình
trạng và tính sinh động của quần thể ở địa điểm là cần
(S. T. Buckton báo cáo miệng 2000).
Nhận xét
(1) Một tiêu bản trong BMNH được đánh dấu "Bootan", đã
biết tình trạng khan hiếm nơi ở thích hợp cho loài ở
Bhutan, loài chim này chắc bị bắn trong đồng cỏ của
lưỡng đầu Bhutan kế cận Tây Bengal và Assem.
(2) Loài chim có xuất xứ không biết được quan sát ở Thị
trường Chim Bangkok năm 1978 (Inskipp và Inskipp 1983),
trong khi có thể là loài này một lần đã xuất hiện trong
những đồng cỏ ở đồng bằng Chao Praya (Eames 1995b). Tuy
nhiên, mọi nơi ở thích hợp đã được phá hủy trong miền
này và không có chứng cứ là loài luôn xuất hiện trong
nước.
(3) Huyện Goalpara một khi bao gồm những huyện Dhubri và
Kokrajhar (Narayan 1992), không có bảo đảm là những tài
kiệu ghi chép trình bày ở đây không phải từ những miền
kế cận.
(4) Một tiêu bản ở BMNH từ Svey (Soai) Rieng, Kampuchea,
nhãn như đã thu gom ngày 1-12-1928, nhưng điều này hình
như không phải là kiến thức đã biết về di chuyển loài và
những kiến thức của J. Delacour và W. Lowe (Eames
1995b).
(5) Hai tiêu bản đã xác lập ở MNHN ghi năm 1880 và nhãn
"M. Pierre, Bắc Kỳ" (có nghĩa là Bắc Việt Nam). Tuy
nhiên, điều đã nghĩ có thể là nhữn con chim được gửi từ
Soai Riêng, Kampuchea, đến Thảo Cầm viên Sài Gòn nơi
Pierre là giám đốc (Delacour và Jabouille 1931; Eames
1995b).
(6) Ở Hà Tiên (đồng bằng Hà Tiên), Kiên Giang, năm 1997
một người đi săn tạo ra lông chim của một chim đực bị
giết ở đó trong ba năm trước, và người dân địa phương đã
mô tả một cách chính xác tổ chim và trứng (Trần Triết et
al đang in)
(7) Một tập hợp rất lớn loài bị đe dọa lệ thuộc, toàn
thể hoặc mộ phần, trên đồng cỏ miền Bắc Ấn Độ, những
bang Himalaya, Bangladesh và Myanmar sự sống sót của
chúng. Những mức độ thay đổi bảo tồn chim ôtít chạy tay
trong tay với mức độ của Swamp Francolin Francolinus
gularis, Manipur Bush-quail Perdicula
manipurensis, Marsh Babbler Pellorneum palustris,
Jerdon's Babbler Chrysomma altirostre,
Slender-billed Babbler Turdoides longirostris,
Black-breasted Parrotbill Paradoxornis flavirostris,
Hodgson's Bushchat Saxicola insignis, Grey-crowned
Prinia Prinia cinereocapilla, Bristled
Grass-warbler Chaetornis striatus và Finn's
Weaver Ploceus megarhynchus, và hành động bảo tồn
phải hướng mục tiêu về phía những điểm bảo vệ chọn lọc
lớn nhất những loài này. Tương tự, ở Đông Nam Á Bengal
Florican được tìm thấy trong vài miền hỗ trợ chim nước
lớn vai trắng Ibis Pseudibis davisoni, Lesser
Adjutant L. Dubius, Greater Adjutant và Sarus
Crane Grus antigone. Rõ là sống động quan điểm bảo
tồn đồng cỏ như một chương trình lớn nhằm mục tiêu bảo
tồn toàn thể loài với đề xuất khảo nghiệm và khuyến cáo
quản lý có sửa đổi phù hợp.
RGC 26.04-2006
|