|
"Không
đất cho con người. "Phát triển bền vững" đã trở thành một câu
thần chú môi trường thông qua thế giới thứ ba. Nhưng phê phán
ngày càng hỏi nếu con người và động vật hoang dã thuộc về nhau."
Matt
Steinglass, Globe Correspondent, 3/28/2004
Một
trong những loài khỉ hiếm nhất trên thế giới sống leo trườn trên
một địa thế gồ ghề của những đỉnh đá vôi và rừng nhiệt đới có
tên là đảo Cát Bà, ngoài khơi ven biển phía Bắc của nước Việt
Nam. Điều đã được biết là voọc đầu vàng hoặc voọc Cát Bà. Đầu
những năm 1990 có vài trăm voọc Cát Bà. Trong mười năm kế tiếp
những người săn bắn địa phương đã tiêu diệt phần lớn chúng để sử
dụng trong y học cổ truyền. Hiện nay, chỉ còn lại 65 con.
Tuy
nhiên, có voọc Cát Bà nhiều hơn hiện nay so với hai năm qua, nhờ
vào dự án bảo tồn Voọc Cát Bà. Được tài trợ bởi những tổ chức
bảo tồn quốc tế, dự án có cơ sở trên Vườn Quốc gia Cát Bà, chiếm
nhiều diện tích trên đảo, và gồm có những chương trình giáo dục,
hỗ trợ cho chủ trang trại lâm nghiệp và khảo nghiệm để kiểm tra
quần thể voọc. Gần 800 nông dân sống trong Vườn đã ký "hợp đồng"
điển hình cam kết bảo vệ đàn voọc và những tài nguyên thiên
nhiên khác. Từ khi chương trình bắt đầu năm 2000, việc săn bắn
voọc giảm từ vài tá tử vong mỗi vòng đến chỉ ba con trong ba năm
qua.
Theo
tiêu chuẩn của giới thứ ba, chính sách bảo tồn quốc gia Việt Nam
khá là cấp tiến. Chính phủ đã áp dụng để có diện tích Cát Bà
tuyên bố một vùng dự trữ sinh quyển Liên Hiệp Quốc, dưới chương
trình Con người và Sinh quyển UNESCO. Nhưng có một đánh bắt:
hướng dẫn dự trữ sinh quyển UN kêu gọi rõ việc thúc đẩy hoạt
động kinh tế con người, miễn là hoạt động thân hữu với sinh
thái.
Những
hoạt động kinh tế trên được giả định sẽ là "bền vững" nghĩa là,
chúng phải không gây thiệt hại không thể sửa chữa cho hệ sinh
thái. Việc áp dụng dự trữ sinh quyển Việt Nam tin tưởng nhiều
vào du lịch- và điều chính xác công nghiệp du lịch khinh khí cầu
Cát Bà đe doạ môi trường địa phương. Số lượng du khách đã gia
tăng nhân với một thừa số 10 từ giữa những năm 1990.
Khu phố
nhìn ra biển cảng Cát Bà hiện nay xếp thành đường thẳng hàng tá
khách sạn màu hồng và xanh. Những khách sạn cung cấp cho du
khách Việt và Hoa phục vụ trò chơi bất hợp pháp từ những cánh
rừng trên đảo, gồm có khỉ Barbary không đuôi, má có túi và
serow, một loài hươu nai có nguy cơ tuyệt chủng. Những kế hoạch
kêu gọi thu nhỏ diện tích Vườn một phần ba để cắt bỏ những làng
xã hiện đang ở trong đó--cho phép một cách tiềm tàng người dân
xây dựng nhiều khách sạn và nhà hàng ăn uống.
Người
ta có thể hầu như qui lỗi cho những người dân bản địa nghèo về
việc muốn có chút hành động. "Mỗi người đều muốn phát triển. Mỗi
người đều muốn có một căn nhà đẹp, một TV," Rosie Stenke, một
nhà sinh học người Đức chủ nhiệm dự án bảo tồn đã nói. Nhưng
hình như khó có thể hình dung là sự phát triển trên có thể thật
là "bền vững"-- nếu tính bền vững bao gồm việc bảo vệ đàn voọc.
Cát Bà
là một ví dụ về một tình trạng tiến thoái lưỡng nan trên thế
giới, ai quan tâm đến phong trào bảo tồn tự xác định mình. Trong
hai thập niên qua, những nhà môi trường học đã ôm triết lý của
sự phát triển bền vững. Mặc dù một người giàu và một đất nước
định cư rải rác tương đối như nước Mỹ có thể để riêng những khu
vực rộng lớn động vật hoang dã được bảo vệ, những nhà môi trường
học nhìn nhận là những nước nghèo không thể tuyên bố một cách
giản đơn tài nguyên thiên nhiên ngoài giới hạn của con người.
Làm như trên cả hai là không đúng, vì nó chối bỏ người nghèo
nhất trên thế giới quyền về tiến bộ kinh tế, và tự thắng mình,
vì người dân địa phương sẽ tàn phá chương trình bảo tồn họ không
có lợi tức. Vì thế những nhà bảo tồn đã cố gắng phối hợp bảo vệ
động vật hoang dã với việc thúc đẩy nền nông nghiệp thân hữu với
sinh thái và công nghiệp, hợp tác với những cơ quan phát triển
như Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như với phong trào nhân dân bản
địa. Thường đưa con người ra đấu với môi trường, những nhà bảo
tồn đã tìm kiếm sự cân bằng giữa hai.
Nhưng
trong vài năm qua, vài nhà khoa học và nhà môi trường đã bắt đầu
thách đố tư tưởng thật của sự phát triển bền vững. Về mặt thực
hành, họ bàn cãi, những lợi ích phát triển có thể luôn đụng phải
vài sáng kiến xanh trên một dự án và cho là nó "bền vững". Ở
phần kết, những phê phán này nói, câu thần chú của sự phát triển
bền vững phục vụ chủ yếu trung tính hoá chống đối lại những dự
án gây hại về mặt môi trường. Người dân địa phương tuyên bố
những quyền cổ truyền của họ, cơ quan phát triển cố gắng làm
giảm nghèo, những chính phủ thuộc thế giới thứ ba tìm kiếm để
phát triển kinh tế của họ-- tất cả những điều này có thể là
những nguyên nhân xứng đáng. Nhưng thỉnh thoảng, bàn cái phê
phán tính bền vững, điều này đi đến một công thức giản đơn con
người và động vật hoang dã, Và nếu những nhà bảo tồn không đấu
tranh cho đàn voọc, thì ai sẽ đấu tranh?
Trong
số những phê phán lưu loát hơn của khẩu hiệu phát triển bền vững
là người viết Dale Peterson và người chụp ảnh và nhà hoạt động
Karl Ammann. Cuốn sách mới nhất của họ "Eating Apes" (Ăn linh
trưởng) (California) thu gom tài liệu sự tuyệt chủng nhanh loài
linh trưởng lớn châu Phi dưới những bàn tay của thợ săn "thịt
rừng" (bushmeat) địa phương, những người trong mười năm qua đã
thâm nhập một lần rừng không thể tiếp cận nhờ vào những con
đường đốn gỗ mới xây dựng.
Peterson và Ammann kết án những tổ chức bảo tồn chính trên thế
giới phản bội loài linh trưởng (khỉ dã nhân) dưới danh nghĩa
phát triển bèn vững. Như là một ví dụ, các ông trình bày một sự
hợp tác giữa WCS (Tổ chức Bảo tồn Động vật hoang dã) và CIB
(Công ty Gỗ Đức quốc), phát động vào tháng 12, 1995. Năm
1994-1995, Ammann thu gom tài liệu sự bỏ qua của CIB trong việc
cho phép nhân viên và gia đình của họ ở miền Bắc
Congo-Brazzaville săn bắn đười ươi và những loài linh trưởng
khác, và sử dụng xe tải công ty để vận chuyển thịt ra chợ. Phản
ứng lại, CIB hoà giải với WCS, những nhà quản lý Vườn Quốc gia
Nouabal Ndoki kế cận. Với sự hỗ trợ của WCS, CIB cam kết giúp
nhân viên của họ nuôi gia súc ăn thịt, giáo dục họ dừng việc săn
bắn những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng và ngăn cấm việc
vận chuyển thịt rừng trên xe tải của họ.
Theo
Peterson và Ammann, công ty không làm nhiều để đi theo nhưng
trong khi chờ đợi, đã nhận một dấu ấn duyệt thuận từ một trong
những tổ chức bảo tồn được tôn trọng nhất trên thế giới. Bằng
cách đi lại trên xe chở hợp tác với người đốn gỗ," Peterson
viết, những tổ chức bảo tồn đe doạ để trở thành người lãnh đạo
vui vẻ tình nguyện trong một nền công nghiệp hàng tỉ đô la của
công việc khai thác. "Peterson và Ammann cộng hưởng quan điểm
của người nghiên cứu linh trưởng John Oates của trường Cao Đẳng
New York's Hunter, mà cuốn sách năm 1999 "Myth and Reality in
the Rain Forest" rút ra kinh nghiệm 30 năm của ông trong dự án
bảo tồn ở Tây Phi để biện luận là những cố gắng phát triển bền
vững thường gây thiệt hai nhiều so với tạo thuận lợi. Tôi đã đi
đến quan điểm là mặc dù sự phát triển bền vững là rất tốt về mặt
lý thuyết, cố gắng để thúc đẩy sự phát triển cùng với sự bảo tồn
của hệ sinh thái là không thể thực hiện, hiện nay Oates nói.
Trong
cuốn sách của ông, Oates kể lại kinh nghiệm của ông giúp xác lập
ra Trung tâm Bảo Tồn Động vật Hoang dã Okumu ở Nigiê đầu những
năm 1990. Tiếp theo phương pháp thực hành chuẩn, nhiều sáng kiến
trợ giúp được xác lập trong "vùng đệm" chung quang khu bảo tồn
Okomu-- vốn vay nhỏ, những chương trình nông nghiệp-- để đền bù
người dân về thiệt hại tài nguyên rừng. Một cách kiên trì, sáng
kiến trợ giúp này thu hút người dân mới đến vùng, những người,
nhờ vào sự củng cố luật yếu, bắt đầu bắt trộm động vật hoang dã
trong khu bảo tồn.
Oates
hiện nay thấy phát triển nông thôn như "một giấc mộng không thể
thực hiện" "Tôi không muốn đi qua khi chống lại mọi người," ông
nói. "Nhưng mối bận tâm của tôi là việc bảo tồn động vật hoang
dã.
Chắc sự nổi tiếng của những phê phán tính bền
vững là John Terborgh nhà sinh học trường đại học Duke, người
nhận tiền trợ cấp thiên tài MacArthur năm 1992 về nghiên cứu
sinh học nhiệt đới của ông.
Terborgh ghi chép là ông không chống lại ý tưởng phát triển bền
vững của mỗi người, không một ai làm như vậy. "Phát triển bền
vững là một sự cần thiết," Terborgh nói. "Nhưng đó là một quan
điểm mơ hồ. Việc hợp tác xác định nó một phương pháp, những
người bảo tồn một phương pháp khác". Trong "Requiem for Nature"
(Lễ cầu hồn cho Thiên Nhiên) (1999), Terborgh bàn cãi là những
nhà môi trường phải dừng lại sự lừa phỉnh chính mình là sự bảo
tồn có thể là có lợi. Dù cho có thích nó hoặc không, rừng nhiệt
đới xứng đáng chết nhiều hơn sống, ông nói. Hi vọng là sự bảo
tồn và sự phát triển có thể làm lành với nhau là điều vô ích.
Terborgh đặc biệt thù địch với một trong những mặt trung tâm của
phương pháp thực hành phát triển bền vững: liên quan đến người
dân của vùng bảo vệ trong việc quản lý khu bảo tồn-- làm cho họ,
theo cách nói hiện nay, thành "stakeholders". Bắt đầu trong
những năm 1980, người bảo tồn dừng việc khai quang những cư dân
bản địa ra khỏi vùng bảo vệ động vật hoang dã mới, và thay vì cố
gắng đào tạo họ trong nông nghiệp bền vững và và thắng họ trên
sự bảo tồn. Terborgh nghĩ điều này là một điều nhầm lẫn lớn.
"Cảm giác của tôi là một vườn phải là một vườn, và nó phải không
có bất kỳ người dân nào trong đó, hiện nay ông nói.
Phê
phán của Terborgh dựa trên công trình nghiên cứu của ông trong
ba mươi năm qua trong rừng có mưa vùng Amazone của Vườn Quốc gia
Manu ở Peru. Người da đỏ Machiguenga bản địa của Vườn ăn cá và
săn bắn động vật. Trong khi điều này một lần đã là bền vững,
Machiguenga đang thực hiện một tình trạng bùng nổ dân số. Để bảo
vệ động vật hoang dã, Machiguenga sống bên trong Vườn bị cấm
không được sử dụng súng lục hoặc cưa xích, trong khi người bộ
lạc bạn bên ngoài vườn sử dụng tất cả những lợi ích kỹ thuật của
nền văn minh. Terborgh thấy nó không đạo đức và không thể thực
hiện để bảo lưu Machiguenga bên trong vườn khi triẻn lãm hội chợ
Phục Hưng Amazone, họ muốn xe gắn máy, súng săn, và TV bên ngoài
và báo hiệu ngày tận số của động vật hoang dã trong vườn. Ông
nghĩ người Machiguenga phải được định cư lại-- với sự đền bù hậu
hĩ, lẽ dĩ nhiên.
Tuy
nhiên, ở đây Terborgh và phê phán có ý tưởng tương tự chống lại
phong trào quyền của người dân bản địa. Từ những năm 1980, người
Mỹ bản địa, vài bộ lạc châu Phi, dân tộc ít người ở Nam và Đông
Á, và những người khác đã phát triển tăng dần mạnh trong việc tự
bảo vệ trong vũ đài chính trị, sử dụng hiệp ước như hiệp định về
Dân bộ lạc và bản địa và Diễn Đàn thường xuyên của Liên Hiệp
Quốc về vấn đề bản địa. Một trong những mối bận tâm của họ là
lãnh thổ, và một cách gia tăng, họ xem người bảo tồn như người
đấu tranh.
Tổ chức
bản địa trên nền Cambridge Cultural Survival (Tồn Sinh Văn Hoá)
dành số mới của báo ảnh (có sẵn tại www.culturalsurvival. org)
hoàn toàn cho những cuộc đấu tranh giữa người dân bản địa và
những người bảo tồn. "Người dân bản địa đang tìm kiếm việc cải
tạo đất đưa vào miền bảo vệ mà không có sự đồng ý," Fergus
Mackay và Emily Caruso trong phần nhập đề. "Họ yêu càu nhận biết
là người dân bản địa đang bảo vệ và quản lý lãnh thổ của họ hàng
ngàn năm".
Ở hội
nghị quốc tế về Vườn ở Durban, Nam Phi tháng Chín vừa qua, người
dân bản địa trình bày giai đoạn trung tâm bị chiếm giữ. Những tổ
chức như Phong trào Rừng có mưa trên thế giới và Chương trình
người dân lâm nghiệp bàn cãi là người dân bản địa là những người
giúp việc tốt nhất của tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ tuyệt
chủng. Thỉnh thoảng thuật hùng biện của họ đúc kết thành một chủ
thuyết môi trường và chủ nghĩa thực dân. Trước hết chúng tôi bị
tước quyền sở hữu dưới danh nghĩa vua và hoàng đế," đọc lời
tuyên bố đặt ra bởi Diễn đàn người dân bản địa sau hội nghị," về
sau dưới danh nghĩa phát triển đất nước và nay dưới danh nghĩa
bảo tồn.
"Chừng
mực, bàn cãi đi đến tiền bạc. "Quỹ phải được tiêu xài tốt bảo vệ
quyền lợi của chúng tôi và liên quan đến chúng tôi một cách trực
tiếp nhiều so với việc tin vào những cơ quan bên ngoài thường từ
hải ngoại," lời phát biểu được công bố. Khi Richard Leakey, nhà
nhân loại học nổi tiếng và cựu bộ trưởng công viên Kenya, bàn
cãi là mối bận tâm toàn cầu về tính đa dạng sinh học thỉnh
thoảng có thể chơi bài chủ nhân dân địa phương, ông khiêu khích
một cơn bão lửa chính trị.
Lại,
vẫn còn sự thống nhất là chương trình phát triển bền vững coi
người dân địa phương như "stakeholders" một điều cần thiết chính
trị trong thế giới thứ ba. Đây một phần là vì những người bảo
tồn không có ai khác để cùng làm việc với.
Với một
đa số lớn của những nước thuộc thế giới thứ ba, những chính phủ
thì yếu," Sheelagh O'Reilly thuộc Quốc tế Thực vật và Động vật
giải thích, người quản lý chương trình bảo tồn cảnh quan miền
núi Tây Bắc Việt Nam. Chính phủ thường thanh toán dịch vụ bảo
tồn, nhưng thiếu thiện chí chính trị hoặc tài nguyên để bắt buộc
nó. Nơi nào chính phủ sẽ không hoặc không thể chặn đứng người
địa phương săn bắn và đốn gỗ, những người bảo tồn phải thắng
thông qua sự thuyết phục.
O'Reilly quản lý một dự án liên quan đến việc hợp tác dân tộc ít
người địa phương như H'mong, Dao, và Tày. Họ nhận sự đào tạo
theo những phương pháp thực hành dịch vụ thân hữu với môi
trường, như là việc thu hoạch lâm sản đổi mới. Những dự án dự
trữ động vật hoang dã ở Việt Nam liên quan đến những chương
trình định cư cho người dân bản địa, nhưng họ là tình nguyện và
bao gồm đền bù hậu hỉ.
Trong
Vườn Quốc gia Cát Tiên, nơi ở của những con tê giác Javan sống
sót cuối cùng trên đất liền châu Á, Quỹ Thiên Nhiên Quốc tế hỗ
trợ định cư vài trăm nông dân trồng điều Gia Rai dân tộc ít
người. Dự án này tiếp theo đúng những hướng dẫn phát triển bền
vững của Ngân hàng Thế giới. Tất cả những phương pháp đan xen có
thể sử dụng cho việc định cư trước hết phải bị kiệt quệ, và tiêu
chuẩn sinh hoạt của quần thể bị ảnh hưởng phải được duy trì hoặc
cải tiến.
Với
O'Reilly, cách nhìn của Terborghn về vườn không người phản ảnh
một viễn vọng Hoa Kỳ hẹp không có giá trị để bảo tồn ở châu Âu,
hãy để riêng thế giới thứ ba đông dân. Ở những nước nghèo, khi
người ta lấy đi người dân bản địa khỏi một miền, "tất cả điều nó
hoàn tất là để chỉ lấy đi người có lợi ích tổng hợp ở vùng đó
như là một cảnh quan," bà nói. "Bạn đang mở nó ra cho tất cả mọi
người chỉ còn quan tâm đến nó để khai thác tài nguyên.."
Bảo
tồn, như bất kỳ thực hiện chính trị, cần một khu vực bầu cử. Và
điều này nói là phê phán về phương pháp thực hành phát triển bền
vững phần lớn nhà sinh học, không phải là nhà khoa học chính trị
hoặc xã hội. Họ thường như không chắc làm cách nào để phát triển
sự hỗ trợ chính trị cho việc bảo tồn. Trong "Requiem for
Nature," (Lễ cầu hồn cho Thiên Nhiên), Terborgh dự kiến một
trường hợp đánh thức lại lương tâm môi trường trong giới trẻ
thuộc thế giới thứ nhất, và cam kết nhiểu tỉ đô la từ những
chính phủ giàu. Tình trạng kẹt tiền hiện nay. phong trào môi
trường bên lề chính tri, điều này là điều tưởng tượng.
Lại,
Terborgh không bị thuyết phục bởi lý luận của O' Reilly. "Tôi
không đang gợi ý là điều này không thành thật, "ông nói. " Điều
này chỉ là không biết điều kiện sinh học cần bảo tồn tính đa
dạng sinh học. Con người và động vật hoang dã không đi cùng với
nhau. Nếu có những con người trong một công viên, họ sẽ ăn động
vật." Khá đủ, những kẻ chống đối nó có thể nói, Nhưng đã biết là
những công viên là nơi ở của con người và động vật, làm cách nào
đề xuất để con người đi?
Ngày 05-07-2005
RGC
No man's lands. "Sustainable development" has
become an environmental mantra across the Third World. But
critics increasingly ask if people and wildlife belong together
at all.
By Matt Steinglass, Globe Correspondent, 3/28/2004
ONE OF THE RAREST MONKEYS in the world lives on a jagged
scramble of limestone peaks and tropical forest called Cat Ba
Island, off the northern coast of Vietnam. It is known as the
golden-headed or Cat Ba langur. At the beginning of the 1990s
there were several hundred Cat Ba langurs. Over the next decade
local hunters killed most of them for use in traditional
medicine. Today, there are 65 left.
There are, however, more Cat Ba langurs now than there were two
years ago, thanks to the Cat Ba Langur Conservation Project.
Funded by international conservation organizations, the project
is based in Cat Ba National Park, which covers much of the
island, and includes educational programs, support for forest
rangers, and research to monitor langur populations. Nearly 800
villagers living within the park have signed symbolic
"contracts," promising to protect the langurs and other natural
resources. Since the program began in 2000, langur hunting has
dropped from several dozen kills per year to just three in the
past three years.
By third-world standards, Vietnam's national conservation
policies are quite progressive. The government has applied to
have the Cat Ba area declared a UN Biosphere Reserve, under
UNESCO's Man and the Biosphere program. But there's a catch: UN
Biosphere Reserve guidelines call explicitly for promoting human
economic activities, albeit eco-friendly ones.
Such economic activities are supposed to be "sustainable": that
is, they shouldn't do irreparable damage to the ecosystem. Yet
Vietnam's Biosphere Reserve application relies heavily on
tourism -- and it is precisely Cat Ba's ballooning tourism
industry that threatens the local environment.The number of
visitors has increased by a factor of 10 since the mid-'90s.
Cat Ba Harbor's waterfront is now lined with dozens of pink and
blue concrete hotels. Restaurants catering to Vietnamese and
Chinese tourists serve illegal game from the island's forests,
including macaques and the serow, an endangered species of deer.
Plans call for shrinking the park by one-third to cut out
several villages now located inside it -- potentially allowing
the villagers to build yet more hotels and restaurants.
One can hardly fault the island's impoverished natives for
wanting a piece of the action. "Everyone wants to develop.
Everyone wants a nice house, a TV," says Rosie
Stenke,
a German biologist who heads up the conservation project. But it
seems hard to imagine that such development can truly be
"sustainable" -- if sustainability includes protecting the
langurs.
Cat Ba is an example of a worldwide dilemma, one that goes to
the heart of how the conservation movement defines itself. For
the past two decades, environmentalists have embraced the
philosophy of sustainable development. Although a rich and
relatively sparsely settled country like the United States can
set aside vast areas of protected wilderness, environmentalists
acknowledge that poorer countries cannot simply declare natural
resources off-limits to humans. To do so is both unjust, because
it denies the world's poorest people the right to economic
advancement, and self-defeating, since locals will destroy
conservation programs they have no stake in. So conservationists
have tried to combine the protection of wildlife with the
promotion of eco-friendly agriculture and industry,
collaborating with development agencies like the World Bank as
well as with indigenous peoples' movements. Rather than pitting
humans against the environment, conservationists have sought a
balance between the two.
But in the past few years, some scientists and environmentalists
have begun to challenge the very idea of sustainable
development. In practice, they argue, development interests can
always slap a couple of green-sounding initiatives onto a
project and claim it as "sustainable." In the end, say these
critics, the mantra of sustainable development serves mainly to
neutralize opposition to environmentally damaging projects.
Indigenous peoples asserting their traditional rights,
development agencies trying to alleviate poverty, third-world
governments seeking to grow their economies -- these all may be
worthy causes. But sometimes, argue the sustainability critics,
it comes down to a simple formula: people vs. wildlife. And if
conservationists don't fight for the langur, who will?
Among the more voluble critics of the slogan of sustainable
development are the writer Dale Peterson and the photographer
and activist Karl Ammann. Their recent book "Eating Apes"
(California) documents the rapid extinction of Africa's great
apes at the hands of local "bushmeat" hunters, who over the past
decade have penetrated once inaccessible reaches of forest
thanks to newly built logging roads.
Peterson and Ammann charge the world's major
conservation organizations with betraying the apes in the name
of sustainable development. As an example, they cite a
collaboration between the Wildlife Conservation Society (WCS)
and the German timber company CIB, launched in December 1995. In
1994-5, Ammann documented CIB's negligence in allowing employees
and their families in northern Congo-Brazzaville to hunt
gorillas and other apes, and to use company
trucks to transport the meat to market. In response, CIB struck
a deal with the WCS, which administers the adjacent
Nouabal-Ndoki National Park. With WCS's assistance,
CIB
pledged to help its employees raise domestic meat, educate them
to stop hunting endangered species, and forbid the transport of
bushmeat on its trucks.
According to Peterson and Ammann, the company didn't do much to
follow through; but in the meantime, it had obtained a seal of
approval from one of the world's most respected conservation
organizations. By "hopping onto the collaboration-with-loggers
bandwagon," writes Peterson, conservation organizations
"threaten to become voluntary cheer leaders for a billion-dollar
industry of exploitation."Peterson and Ammann echo the views of
primatologist John Oates of New York's Hunter College, whose
1999 book "Myth and Reality in the Rain Forest" drew on his 30
years of experience in West African conservation projects to
argue that sustainable-development efforts often do more harm
than good. "I've come to the view that although sustainable
development is very good in theory, trying to promote
development alongside the conservation of ecosystems is
impossible," says Oates today.
In his book, Oates recounts his experience helping set up the
Okomu Wildlife Sanctuary in Nigeria in the early `90s. Following
standard practice, a number of aid initiatives were set up in
the "buffer zone" around the Okomu reserve -- small-scale loans,
agriculture programs -- to compensate residents for the loss of
forest resources. Perversely, these aid initiatives wound up
attracting new residents to the area, who, thanks to weak law
enforcement, began poaching the reserve's wildlife.
Oates now sees sustainable development as an "impossible dream."
"I don't want to come across as being against people," he says.
"But my interest is in preserving wildlife."
Probably the best-known of the sustainability critics is Duke
University biologist John Terborgh, who won a MacArthur "genius"
grant in 1992 for his research in tropical biology. Terborgh
notes that he is not against the idea of sustainable development
per se; no one is. "Sustainable development is a necessity,"
Terborgh says. "But it's a fuzzy concept. Corporations define it
one way, conservationists in a different way." In "Requiem for
Nature" (1999), Terborgh argued that environmentalists should
stop kidding themselves that conservation could be profitable.
Whether we like it or not, tropical forests are worth more dead
than alive," he wrote. The hope that conservation and
development can be reconciled is futile.
Terborgh is particularly hostile to one of
the central aspects of much sustainable-development practice:
involving residents of protected areas in conservation
management -- making them, in current parlance, "stakeholders."
Beginning in the 1980s, conservationists stopped clearing
indigenous residents out of new wildlife-protection areas, and
instead tried to train them in sustainable agriculture and win
them over to conservation. Terborgh thinks this has been a huge
mistake. "My feeling is that a park should be a park, and it
shouldn't have any resident people in it," he says today.
Terborgh's critique is based on his work over the past three
decades in the Amazonian rainforests of Peru's Manu National
Park. The park's native Machiguenga Indians eat its fish and
hunt its animals. While this was once sustainable, the
Machiguenga are undergoing a population explosion. To protect
wildlife, Machiguenga living inside the park are prohibited from
using firearms or chainsaws, while fellow tribesmen outside the
park enjoy all the technological benefits of civilization.
Terborgh finds it both immoral and impossible to preserve the
Machiguenga inside the park as exhibits in a sort of Amazonian
Renaissance fair; they want outboard motors, shotguns, and
television sets, and that spells doom for the park's wildlife.
He thinks the Machiguenga should be resettled -- with generous
compensation, of course.
Here, however, Terborgh and like-minded critics run up against
the worldwide movement for indigenous peoples' rights. Since the
1980s, Native Americans, some African tribes, ethnic minorities
in South and East Asia, and others have grown increasingly
sophisticated at defending themselves in the political arena,
using treaties like the 1989 Convention on Indigenous and Tribal
Peoples and the UN's Permanent Forum on Indigenous Issues. One
of their main concerns is territory, and increasingly, they view
conservationists as competitors.
The Cambridge-based indigenous-issues organization Cultural
Survival devotes the current issue of its magazine (available at
www.culturalsurvival.org) entirely to conflicts between
indigenous peoples and conservationists. "Indigenous peoples are
. . . calling for the restitution of lands that have been
incorporated into protected areas without their consent," write
Fergus MacKay and Emily Caruso in the introduction. "They demand
recognition that indigenous peoples have been protecting and
managing their own territories for thousands of years."
At the World Congress on Parks in Durban, South Africa last
September, the indigenous peoples' advocates seized center
stage. Organizations like the World Rainforests Movement and the
Forest Peoples Programme argued that indigenous peoples were the
best stewards of threatened natural resources. Sometimes their
rhetoric conflated environmentalism with colonialism. "First we
were dispossessed in the name of kings and emperors," read the
statement put out by the Indigenous Peoples' Forum after the
conference, "later in the name of state development and now in
the name of conservation.
"To some extent, the argument came down to money. "Funds would
be better spent protecting our rights and involving us directly
rather than relying on outside agencies often from overseas,"
the statement declared. When Richard Leakey, the renowned
anthropologist and former Kenyan minister of parks, gave a
speech arguing that the global interest in biodiversity might
sometimes trump the rights of local peoples, he
provoked a political firestorm.
Still, there remains a consensus that sustainable development
programs that treat local populations as "stakeholders" are a
political necessity in the Third World. This is partly because
conservationists have no one else to work with."
In the vast majority of third-world countries, governments are
weak," explains Sheelagh O'Reilly of Flora and Fauna
International, who manages a landscape conservation program in
the mountains of northwestern Vietnam. Governments often pay lip
service to conservation, but lack either the political will or
the resources to enforce it. Where governments won't or can't
stop locals from hunting and logging, conservationists have to
win them over through persuasion.
O'Reilly manages a project involving the collaboration of local
ethnic minorities like the Hmong, the Dao, and the Tay. They
receive training in eco-friendly business practices, such as
harvesting renewable forest products. Other wildlife-reserve
projects in Vietnam do involve resettlement programs for
indigenous peoples, but they are voluntary and include generous
compensation.
In Cat Tien National Park, home to the last surviving Javan
rhinoceroses on mainland Asia, the Worldwide Fund for Nature is
helping resettle several hundred ethnic Giarai cashew farmers.
The project follows exacting World Bank sustainable-development
guidelines: All available alternatives to resettlement must
first be exhausted, and the affected population's living
standards must be maintained or improved.
For O'Reilly, Terborgh's vision of parks without people reflects
a narrow American perspective that isn't even valid for
conservation in Europe, let alone the crowded Third World. In
poor countries, when one removes the indigenous people from an
area, "all it accomplishes is to remove the only people who have
an integral interest in that area as a landscape," she says.
"You're opening it up to all the people who are only interested
in it for resource extraction."
Conservation, like any political undertaking, needs a
constituency. And it's telling that the critics of
sustainable-development practice are largely biologists, not
political or social scientists. They often seem uncertain of how
to expand political support for conservation. In "Requiem for
Nature," Terborgh envisions a vast reawakening of environmental
consciousness among first-world youth, and multibillion-dollar
commitments from wealthy governments. To today's cash-strapped,
politically marginal environmental movement, this is fantasy.
Still, Terborgh isn't convinced by O'Reilly's argument. "I'm not
suggesting that it's insincere," he says. "It's just ignorant of
the biological conditions that are required to conserve
biodiversity. People and wildlife don't go together. If there
are people in a
park, they'll be eating the animals."
Fair enough, his opponents might say. But given that the parks
are home to both people and animals, how do you propose to get
the people out?
From the Boston Globe: http://www.boston.com
Trở về Trang Chính
|