Vọoc Cát Bà


Chu Hữu Tín

04 tháng 08 năm 2005

"Không đất cho con người. "Phát triển bền vững" đã trở thành một câu thần chú môi trường thông qua thế giới thứ ba. Nhưng phê phán ngày càng hỏi nếu con người và động vật hoang dã thuộc về nhau."

Matt Steinglass, Globe Correspondent, 3/28/2004

 

Một trong những loài khỉ hiếm nhất trên thế giới sống leo trườn trên một địa thế gồ ghề của những đỉnh đá vôi và rừng nhiệt đới có tên là đảo Cát Bà, ngoài khơi ven biển phía Bắc của nước Việt Nam. Điều đã được biết là voọc đầu vàng hoặc voọc Cát Bà. Đầu những năm 1990 có vài trăm voọc Cát Bà. Trong mười năm kế tiếp những người săn bắn địa phương đã tiêu diệt phần lớn chúng để sử dụng trong y học cổ truyền. Hiện nay, chỉ còn lại 65 con.

Tuy nhiên, có voọc Cát Bà nhiều hơn hiện nay so với hai năm qua, nhờ vào dự án bảo tồn Voọc Cát Bà. Được tài trợ bởi những tổ chức bảo tồn quốc tế, dự án có cơ sở trên Vườn Quốc gia Cát Bà, chiếm nhiều diện tích trên đảo, và gồm có những chương trình giáo dục, hỗ trợ cho chủ trang trại lâm nghiệp và khảo nghiệm để kiểm tra quần thể voọc. Gần 800 nông dân sống trong Vườn đã ký "hợp đồng" điển hình cam kết bảo vệ đàn voọc và những tài nguyên thiên nhiên khác. Từ khi chương trình bắt đầu năm 2000, việc săn bắn voọc giảm từ vài tá tử vong mỗi vòng đến chỉ ba con trong ba năm qua.

 

Theo tiêu chuẩn của giới thứ ba, chính sách bảo tồn quốc gia Việt Nam khá là cấp tiến. Chính phủ đã áp dụng để có diện tích Cát Bà tuyên bố một vùng dự trữ sinh quyển Liên Hiệp Quốc, dưới chương trình Con người và Sinh quyển UNESCO. Nhưng có một đánh bắt: hướng dẫn dự trữ sinh quyển UN kêu gọi rõ việc thúc đẩy hoạt động kinh tế con người, miễn là hoạt động thân hữu với sinh thái.

 

Những hoạt động kinh tế trên được giả định sẽ là "bền vững" nghĩa là, chúng phải không gây thiệt hại không thể sửa chữa cho hệ sinh thái. Việc áp dụng dự trữ sinh quyển Việt Nam tin tưởng nhiều vào du lịch- và điều chính xác công nghiệp du lịch khinh khí cầu Cát Bà đe doạ môi trường địa phương. Số lượng du khách đã gia tăng nhân với một thừa số 10 từ giữa những năm 1990.

 

Khu phố nhìn ra biển cảng Cát Bà hiện nay xếp thành đường thẳng hàng tá khách sạn màu hồng và xanh. Những khách sạn cung cấp cho du khách Việt và Hoa phục vụ trò chơi bất hợp pháp từ những cánh rừng trên đảo, gồm có khỉ Barbary không đuôi, má có túi và serow, một loài hươu nai có nguy cơ tuyệt chủng. Những kế hoạch kêu gọi thu nhỏ diện tích Vườn một phần ba để cắt bỏ những làng xã hiện đang ở trong đó--cho phép một cách tiềm tàng người dân xây dựng nhiều khách sạn và nhà hàng ăn uống.

 

Người ta có thể hầu như qui lỗi cho những người dân bản địa nghèo về việc muốn có chút hành động. "Mỗi người đều muốn phát triển. Mỗi người đều muốn có một căn nhà đẹp, một TV," Rosie Stenke, một nhà sinh học người Đức chủ nhiệm dự án bảo tồn đã nói. Nhưng hình như khó có thể hình dung là sự phát triển trên có thể thật là "bền vững"-- nếu tính bền vững bao gồm việc bảo vệ đàn voọc.

 

Cát Bà là một ví dụ về một tình trạng tiến thoái lưỡng nan trên thế giới, ai quan tâm đến phong trào bảo tồn tự xác định mình. Trong hai thập niên qua, những nhà môi trường học đã ôm triết lý của sự phát triển bền vững. Mặc dù một người giàu và một đất nước định cư rải rác tương đối như nước Mỹ có thể để riêng những khu vực rộng lớn động vật hoang dã được bảo vệ, những nhà môi trường học nhìn nhận là những nước nghèo không thể tuyên bố một cách giản đơn tài nguyên thiên nhiên ngoài giới hạn của con người. Làm như trên cả hai là không đúng, vì nó chối bỏ người nghèo nhất trên thế giới quyền về tiến bộ kinh tế, và tự thắng mình, vì người dân địa phương sẽ tàn phá chương trình bảo tồn họ không có lợi tức. Vì thế những nhà bảo tồn đã cố gắng phối hợp bảo vệ động vật hoang dã với việc thúc đẩy nền nông nghiệp thân hữu với sinh thái và công nghiệp, hợp tác với những cơ quan phát triển như Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như với phong trào nhân dân bản địa. Thường đưa con người ra đấu với môi trường, những nhà bảo tồn đã tìm kiếm sự cân bằng giữa hai.

Nhưng trong vài năm qua, vài nhà khoa học và nhà môi trường đã bắt đầu thách đố tư tưởng thật của sự phát triển bền vững. Về mặt thực hành, họ bàn cãi, những lợi ích phát triển có thể luôn đụng phải vài sáng kiến xanh trên một dự án và cho là nó "bền vững". Ở phần kết, những phê phán này nói, câu thần chú của sự phát triển bền vững phục vụ chủ yếu trung tính hoá chống đối lại những dự án gây hại về mặt môi trường. Người dân địa phương tuyên bố những quyền cổ truyền của họ, cơ quan phát triển cố gắng làm giảm nghèo, những chính phủ thuộc thế giới thứ ba tìm kiếm để phát triển kinh tế của họ-- tất cả những điều này có thể là những nguyên nhân xứng đáng. Nhưng thỉnh thoảng, bàn cái phê phán tính bền vững, điều này đi đến một công thức giản đơn con người và động vật hoang dã, Và nếu những nhà bảo tồn không đấu tranh cho đàn voọc, thì ai sẽ đấu tranh?

 

Trong số những phê phán lưu loát hơn của khẩu hiệu phát triển bền vững là người viết Dale Peterson và người chụp ảnh và nhà hoạt động Karl Ammann. Cuốn sách mới nhất của họ "Eating Apes" (Ăn linh trưởng) (California) thu gom tài liệu sự tuyệt chủng nhanh loài linh trưởng lớn châu Phi dưới những bàn tay của thợ săn "thịt rừng" (bushmeat) địa phương, những người trong mười năm qua đã thâm nhập một lần rừng không thể tiếp cận nhờ vào những con đường đốn gỗ mới xây dựng.

 

Peterson và Ammann kết án những tổ chức bảo tồn chính trên thế giới phản bội loài linh trưởng (khỉ dã nhân) dưới danh nghĩa phát triển bèn vững. Như là một ví dụ, các ông trình bày một sự hợp tác giữa WCS (Tổ chức Bảo tồn Động vật hoang dã) và CIB (Công ty Gỗ Đức quốc), phát động vào tháng 12, 1995. Năm 1994-1995, Ammann thu gom tài liệu sự bỏ qua của CIB trong việc cho phép nhân viên và gia đình của họ ở miền Bắc Congo-Brazzaville săn bắn đười ươi và những loài linh trưởng khác, và sử dụng xe tải công ty để vận chuyển thịt ra chợ. Phản ứng lại, CIB hoà giải với WCS, những nhà quản lý Vườn Quốc gia Nouabal Ndoki kế cận. Với sự hỗ trợ của WCS, CIB cam kết giúp nhân viên của họ nuôi gia súc ăn thịt, giáo dục họ dừng việc săn bắn những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng và ngăn cấm việc vận chuyển thịt rừng trên xe tải của họ.

 

Theo Peterson và Ammann, công ty không làm nhiều để đi theo nhưng trong khi chờ đợi, đã nhận một dấu ấn duyệt thuận từ một trong những tổ chức bảo tồn được tôn trọng nhất trên thế giới. Bằng cách đi lại trên xe chở hợp tác với người đốn gỗ," Peterson viết, những tổ chức bảo tồn đe doạ để trở thành người lãnh đạo vui vẻ tình nguyện trong một nền công nghiệp hàng tỉ đô la của công việc khai thác. "Peterson và Ammann cộng hưởng quan điểm của người nghiên cứu linh trưởng John Oates của trường Cao Đẳng New York's Hunter, mà cuốn sách năm 1999 "Myth and Reality in the Rain Forest" rút ra kinh nghiệm 30 năm của ông trong dự án bảo tồn ở Tây Phi để biện luận là những cố gắng phát triển bền vững thường gây thiệt hai nhiều so với tạo thuận lợi. Tôi đã đi đến quan điểm là mặc dù sự phát triển bền vững là rất tốt về mặt lý thuyết, cố gắng để thúc đẩy sự phát triển cùng với sự bảo tồn của hệ sinh thái là không thể thực hiện, hiện nay Oates nói.

 

Trong cuốn sách của ông, Oates kể lại kinh nghiệm của ông giúp xác lập ra Trung tâm Bảo Tồn Động vật Hoang dã Okumu ở Nigiê đầu những năm 1990. Tiếp theo phương pháp thực hành chuẩn, nhiều sáng kiến trợ giúp được xác lập trong "vùng đệm" chung quang khu bảo tồn Okomu-- vốn vay nhỏ, những chương trình nông nghiệp-- để đền bù người dân về thiệt hại tài nguyên rừng. Một cách kiên trì, sáng kiến trợ giúp này thu hút người dân mới đến vùng, những người, nhờ vào sự củng cố luật yếu, bắt đầu bắt trộm động vật hoang dã trong khu bảo tồn.

 

Oates hiện nay thấy phát triển nông thôn như "một giấc mộng không thể thực hiện" "Tôi không muốn đi qua khi chống lại mọi người," ông nói. "Nhưng mối bận tâm của tôi là việc bảo tồn động vật hoang dã.

 

Chắc sự nổi tiếng của những phê phán tính bền vững là John Terborgh nhà sinh học trường đại học Duke, người nhận tiền trợ cấp thiên tài MacArthur năm 1992 về nghiên cứu sinh học nhiệt đới của ông.

Terborgh ghi chép là ông không chống lại ý tưởng phát triển bền vững của mỗi người, không một ai làm như vậy. "Phát triển bền vững là một sự cần thiết," Terborgh nói. "Nhưng đó là một quan điểm mơ hồ. Việc hợp tác xác định nó một phương pháp, những người bảo tồn một phương pháp khác". Trong "Requiem for Nature" (Lễ cầu hồn cho Thiên Nhiên) (1999), Terborgh bàn cãi là những nhà môi  trường phải dừng lại sự lừa phỉnh chính mình là sự bảo tồn có thể là có lợi. Dù cho có thích nó hoặc không, rừng nhiệt đới xứng đáng chết nhiều hơn sống, ông nói. Hi vọng là sự bảo tồn và sự phát triển có thể làm lành với nhau là điều vô ích.

Terborgh đặc biệt thù địch với một trong những mặt trung tâm của phương pháp thực hành phát triển bền vững: liên quan đến người dân của vùng bảo vệ trong việc quản lý khu bảo tồn-- làm cho họ, theo cách nói hiện nay, thành "stakeholders". Bắt đầu trong những năm 1980, người bảo tồn dừng việc khai quang những cư dân bản địa ra khỏi vùng bảo vệ động vật hoang dã mới, và thay vì cố gắng đào tạo họ trong nông nghiệp bền vững và và thắng họ trên sự bảo tồn. Terborgh nghĩ điều này là một điều nhầm lẫn lớn. "Cảm giác của tôi là một vườn phải là một vườn, và nó phải không có bất kỳ người dân nào trong đó, hiện nay ông nói.

 

Phê phán của Terborgh dựa trên công trình nghiên cứu của ông trong ba mươi năm qua trong rừng có mưa vùng Amazone của Vườn Quốc gia Manu ở Peru. Người da đỏ Machiguenga bản địa của Vườn ăn cá và săn bắn động vật. Trong khi điều này một lần đã là bền vững, Machiguenga đang thực hiện một tình trạng bùng nổ dân số. Để bảo vệ động vật hoang dã, Machiguenga sống bên trong Vườn bị cấm không được sử dụng súng lục hoặc cưa xích, trong khi người bộ lạc bạn bên ngoài vườn sử dụng tất cả những lợi ích kỹ thuật của nền văn minh. Terborgh thấy nó không đạo đức và không thể thực hiện để bảo lưu Machiguenga bên trong vườn khi triẻn lãm hội chợ Phục Hưng Amazone, họ muốn xe gắn máy, súng săn, và TV bên ngoài và báo hiệu ngày tận số của động vật hoang dã trong vườn. Ông nghĩ người Machiguenga phải được định cư lại-- với sự đền bù hậu hĩ, lẽ dĩ nhiên.

 

Tuy nhiên, ở đây Terborgh và phê phán có ý tưởng tương tự chống lại phong trào quyền của người dân bản địa. Từ những năm 1980, người Mỹ bản địa, vài bộ lạc châu Phi, dân tộc ít người ở Nam và Đông Á, và những người khác đã phát triển tăng dần mạnh trong việc tự bảo vệ trong vũ đài chính trị, sử dụng hiệp ước như hiệp định về Dân bộ lạc và bản địa và Diễn Đàn thường xuyên của Liên Hiệp Quốc về vấn đề bản địa. Một trong những mối bận tâm của họ là lãnh thổ, và một cách gia tăng, họ xem người bảo tồn như người đấu tranh.

 

Tổ chức bản địa trên nền Cambridge Cultural Survival (Tồn Sinh Văn Hoá) dành số mới của báo ảnh (có sẵn tại www.culturalsurvival. org) hoàn toàn cho những cuộc đấu tranh giữa người dân bản địa và những người bảo tồn. "Người dân bản địa đang tìm kiếm việc cải tạo đất đưa vào miền bảo vệ mà không có sự đồng ý," Fergus Mackay và Emily Caruso trong phần nhập đề. "Họ yêu càu nhận biết là người dân bản địa đang bảo vệ và quản lý lãnh thổ của họ hàng ngàn năm".

 

Ở hội nghị quốc tế về Vườn ở Durban, Nam Phi tháng Chín vừa qua, người dân bản địa trình bày giai đoạn trung tâm bị chiếm giữ. Những tổ chức như Phong trào Rừng có mưa trên thế giới và Chương trình người dân lâm nghiệp bàn cãi là người dân bản địa là những người giúp việc tốt nhất của tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ tuyệt chủng. Thỉnh thoảng thuật hùng biện của họ đúc kết thành một chủ thuyết môi trường và chủ nghĩa thực dân. Trước hết chúng tôi bị tước quyền sở hữu dưới danh nghĩa vua và hoàng đế," đọc lời tuyên bố đặt ra bởi Diễn đàn người dân bản địa sau hội nghị," về sau dưới danh nghĩa phát triển đất nước và nay dưới danh nghĩa bảo tồn.

 

"Chừng mực, bàn cãi đi đến tiền bạc. "Quỹ phải được tiêu xài tốt bảo vệ quyền lợi của chúng tôi và liên quan đến chúng tôi một cách trực tiếp nhiều so với việc tin vào những cơ quan bên ngoài thường từ hải ngoại," lời phát biểu được công bố. Khi Richard Leakey, nhà nhân loại học nổi tiếng và cựu bộ trưởng công viên Kenya, bàn cãi là mối bận tâm toàn cầu về tính đa dạng sinh học thỉnh thoảng có thể chơi bài chủ nhân dân địa phương, ông khiêu khích một cơn bão lửa chính trị.

Lại, vẫn còn sự thống nhất là chương trình phát triển bền vững coi người dân địa phương như "stakeholders" một điều cần thiết chính trị trong thế giới thứ ba. Đây một phần là vì những người bảo tồn không có ai khác để cùng làm việc với.

 

Với một đa số lớn của những nước thuộc thế giới thứ ba, những chính phủ thì yếu," Sheelagh O'Reilly thuộc Quốc tế Thực vật và Động vật giải thích, người quản lý chương trình bảo tồn cảnh quan miền núi Tây Bắc Việt Nam. Chính phủ thường thanh toán dịch vụ bảo tồn, nhưng thiếu thiện chí chính trị hoặc tài nguyên để bắt buộc nó. Nơi nào chính phủ sẽ không hoặc không thể chặn đứng người địa phương săn bắn và đốn gỗ, những người bảo tồn phải thắng thông qua sự thuyết phục.

 

O'Reilly quản lý một dự án liên quan đến việc hợp tác dân tộc ít người địa phương như H'mong, Dao, và Tày. Họ nhận sự đào tạo theo những phương pháp thực hành dịch vụ thân hữu với môi trường, như là việc thu hoạch lâm sản đổi mới. Những dự án dự trữ động vật hoang dã ở Việt Nam liên quan đến những chương trình định cư cho người dân bản địa, nhưng họ là tình nguyện và bao gồm đền bù hậu hỉ.

 

Trong Vườn Quốc gia Cát Tiên, nơi ở của những con tê giác Javan sống sót cuối cùng trên đất liền châu Á, Quỹ Thiên Nhiên Quốc tế hỗ trợ định cư vài trăm nông dân trồng điều Gia Rai dân tộc ít người. Dự án này tiếp theo đúng những hướng dẫn phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới. Tất cả những phương pháp đan xen có thể sử dụng cho việc định cư trước hết phải bị kiệt quệ, và tiêu chuẩn sinh hoạt của quần thể bị ảnh hưởng phải được duy trì hoặc cải tiến.

 

Với O'Reilly, cách nhìn của Terborghn về vườn không người phản ảnh một viễn vọng Hoa Kỳ hẹp không có giá trị để bảo tồn ở châu Âu, hãy để riêng thế giới thứ ba đông dân. Ở những nước nghèo, khi người ta lấy đi người dân bản địa khỏi một miền, "tất cả điều nó hoàn tất là để chỉ lấy đi người có lợi ích tổng hợp ở vùng đó như là một cảnh quan," bà nói. "Bạn đang mở nó ra cho tất cả mọi người chỉ còn quan tâm đến nó để khai thác tài nguyên.."

 

Bảo tồn, như bất kỳ thực hiện chính trị, cần một khu vực bầu cử. Và điều này nói là phê phán về phương pháp thực hành phát triển bền vững phần lớn nhà sinh học, không phải là nhà khoa học chính trị hoặc xã hội. Họ thường như không chắc làm cách nào để phát triển sự hỗ trợ chính trị cho việc bảo tồn. Trong "Requiem for Nature," (Lễ cầu hồn cho Thiên Nhiên), Terborgh dự kiến một trường hợp đánh thức lại lương tâm môi trường trong giới trẻ thuộc thế giới thứ nhất, và cam kết nhiểu tỉ đô la từ những chính phủ giàu. Tình trạng kẹt tiền hiện nay. phong trào môi trường bên lề chính tri, điều này là điều tưởng tượng.

 

Lại, Terborgh không bị thuyết phục bởi lý luận của O' Reilly. "Tôi không đang gợi ý là điều này không thành thật, "ông nói. " Điều này chỉ là không biết điều kiện sinh học cần bảo tồn tính đa dạng sinh học. Con người và động vật hoang dã không đi cùng với nhau. Nếu có những con người trong một công viên, họ sẽ ăn động vật." Khá đủ, những kẻ chống đối nó có thể nói, Nhưng đã biết là những công viên là nơi ở của con người và động vật, làm cách nào đề xuất để con người đi?

Ngày 05-07-2005

RGC

 

No man's lands. "Sustainable development" has become an environmental mantra across the Third World. But critics increasingly ask if people and wildlife belong together at all.
By Matt Steinglass, Globe Correspondent, 3/28/2004

ONE OF THE RAREST MONKEYS in the world lives on a jagged scramble of limestone peaks and tropical forest called Cat Ba Island, off the northern coast of Vietnam. It is known as the golden-headed or Cat Ba langur. At the beginning of the 1990s there were several hundred Cat Ba langurs. Over the next decade local hunters killed most of them for use in traditional medicine. Today, there are 65 left.

There are, however, more Cat Ba langurs now than there were two years ago, thanks to the Cat Ba Langur Conservation Project. Funded by international conservation organizations, the project is based in Cat Ba National Park, which covers much of the island, and includes educational programs, support for forest rangers, and research to monitor langur populations. Nearly 800 villagers living within the park have signed symbolic "contracts," promising to protect the langurs and other natural resources. Since the program began in 2000, langur hunting has dropped from several dozen kills per year to just three in the past three years.

By third-world standards, Vietnam's national conservation policies are quite progressive. The government has applied to have the Cat Ba area declared a UN Biosphere Reserve, under UNESCO's Man and the Biosphere program. But there's a catch: UN Biosphere Reserve guidelines call explicitly for promoting human economic activities, albeit eco-friendly ones.

Such economic activities are supposed to be "sustainable": that is, they shouldn't do irreparable damage to the ecosystem. Yet Vietnam's Biosphere Reserve application relies heavily on tourism -- and it is precisely Cat Ba's ballooning tourism industry that threatens the local environment.The number of visitors has increased by a factor of 10 since the mid-'90s.

Cat Ba Harbor's waterfront is now lined with dozens of pink and blue concrete hotels. Restaurants catering to Vietnamese and Chinese tourists serve illegal game from the island's forests, including macaques and the serow, an endangered species of deer. Plans call for shrinking the park by one-third to cut out several villages now located inside it -- potentially allowing the villagers to build yet more hotels and restaurants.

One can hardly fault the island's impoverished natives for wanting a piece of the action. "Everyone wants to develop. Everyone wants a nice house, a TV," says Rosie

Stenke, a German biologist who heads up the conservation project. But it seems hard to imagine that such development can truly be "sustainable" -- if sustainability includes protecting the langurs.

Cat Ba is an example of a worldwide dilemma, one that goes to the heart of how the conservation movement defines itself. For the past two decades, environmentalists have embraced the philosophy of sustainable development. Although a rich and relatively sparsely settled country like the United States can set aside vast areas of protected wilderness, environmentalists acknowledge that poorer countries cannot simply declare natural resources off-limits to humans. To do so is both unjust, because it denies the world's poorest people the right to economic advancement, and self-defeating, since locals will destroy conservation programs they have no stake in. So conservationists have tried to combine the protection of wildlife with the promotion of eco-friendly agriculture and industry, collaborating with development agencies like the World Bank as well as with indigenous peoples' movements. Rather than pitting humans against the environment, conservationists have sought a balance between the two.

But in the past few years, some scientists and environmentalists have begun to challenge the very idea of sustainable development. In practice, they argue, development interests can always slap a couple of green-sounding initiatives onto a project and claim it as "sustainable." In the end, say these critics, the mantra of sustainable development serves mainly to neutralize opposition to environmentally damaging projects. Indigenous peoples asserting their traditional rights, development agencies trying to alleviate poverty, third-world governments seeking to grow their economies -- these all may be worthy causes. But sometimes, argue the sustainability critics, it comes down to a simple formula: people vs. wildlife. And if conservationists don't fight for the langur, who will?

Among the more voluble critics of the slogan of sustainable development are the writer Dale Peterson and the photographer and activist Karl Ammann. Their recent book "Eating Apes" (California) documents the rapid extinction of Africa's great apes at the hands of local "bushmeat" hunters, who over the past decade have penetrated once inaccessible reaches of forest thanks to newly built logging roads.

 

Peterson and Ammann charge the world's major conservation organizations with betraying the apes in the name of sustainable development. As an example, they cite a collaboration between the Wildlife Conservation Society (WCS) and the German timber company CIB, launched in December 1995. In 1994-5, Ammann documented CIB's negligence in allowing employees and their families in northern Congo-Brazzaville to hunt gorillas and other apes, and to use company
trucks to transport the meat to market. In response, CIB struck a deal with the WCS, which administers the adjacent Nouabal-Ndoki National Park. With WCS's assistance,

CIB pledged to help its employees raise domestic meat, educate them to stop hunting endangered species, and forbid the transport of bushmeat on its trucks.

According to Peterson and Ammann, the company didn't do much to follow through; but in the meantime, it had obtained a seal of approval from one of the world's most respected conservation organizations. By "hopping onto the collaboration-with-loggers bandwagon," writes Peterson, conservation organizations "threaten to become voluntary cheer leaders for a billion-dollar industry of exploitation."Peterson and Ammann echo the views of primatologist John Oates of New York's Hunter College, whose 1999 book "Myth and Reality in the Rain Forest" drew on his 30 years of experience in West African conservation projects to argue that sustainable-development efforts often do more harm than good. "I've come to the view that although sustainable development is very good in theory, trying to promote development alongside the conservation of ecosystems is impossible," says Oates today.

In his book, Oates recounts his experience helping set up the Okomu Wildlife Sanctuary in Nigeria in the early `90s. Following standard practice, a number of aid initiatives were set up in the "buffer zone" around the Okomu reserve -- small-scale loans, agriculture programs -- to compensate residents for the loss of forest resources. Perversely, these aid initiatives wound up attracting new residents to the area, who, thanks to weak law enforcement, began poaching the reserve's wildlife.

Oates now sees sustainable development as an "impossible dream." "I don't want to come across as being against people," he says. "But my interest is in preserving wildlife."

Probably the best-known of the sustainability critics is Duke University biologist John Terborgh, who won a MacArthur "genius" grant in 1992 for his research in tropical biology. Terborgh notes that he is not against the idea of sustainable development per se; no one is. "Sustainable development is a necessity," Terborgh says. "But it's a fuzzy concept. Corporations define it one way, conservationists in a different way." In "Requiem for Nature" (1999), Terborgh argued that environmentalists should stop kidding themselves that conservation could be profitable. Whether we like it or not, tropical forests are worth more dead than alive," he wrote. The hope that conservation and development can be reconciled is futile.

 

Terborgh is particularly hostile to one of the central aspects of much sustainable-development practice: involving residents of protected areas in conservation management -- making them, in current parlance, "stakeholders." Beginning in the 1980s, conservationists stopped clearing indigenous residents out of new wildlife-protection areas, and instead tried to train them in sustainable agriculture and win them over to conservation. Terborgh thinks this has been a huge mistake. "My feeling is that a park should be a park, and it shouldn't have any resident people in it," he says today.

Terborgh's critique is based on his work over the past three decades in the Amazonian rainforests of Peru's Manu National Park. The park's native Machiguenga Indians eat its fish and hunt its animals. While this was once sustainable, the Machiguenga are undergoing a population explosion. To protect wildlife, Machiguenga living inside the park are prohibited from using firearms or chainsaws, while fellow tribesmen outside the park enjoy all the technological benefits of civilization. Terborgh finds it both immoral and impossible to preserve the Machiguenga inside the park as exhibits in a sort of Amazonian Renaissance fair; they want outboard motors, shotguns, and television sets, and that spells doom for the park's wildlife. He thinks the Machiguenga should be resettled -- with generous compensation, of course.

Here, however, Terborgh and like-minded critics run up against the worldwide movement for indigenous peoples' rights. Since the 1980s, Native Americans, some African tribes, ethnic minorities in South and East Asia, and others have grown increasingly sophisticated at defending themselves in the political arena, using treaties like the 1989 Convention on Indigenous and Tribal Peoples and the UN's Permanent Forum on Indigenous Issues. One of their main concerns is territory, and increasingly, they view conservationists as competitors.

The Cambridge-based indigenous-issues organization Cultural Survival devotes the current issue of its magazine (available at www.culturalsurvival.org) entirely to conflicts between indigenous peoples and conservationists. "Indigenous peoples are . . . calling for the restitution of lands that have been incorporated into protected areas without their consent," write Fergus MacKay and Emily Caruso in the introduction. "They demand recognition that indigenous peoples have been protecting and managing their own territories for thousands of years."

At the World Congress on Parks in Durban, South Africa last September, the indigenous peoples' advocates seized center stage. Organizations like the World Rainforests Movement and the Forest Peoples Programme argued that indigenous peoples were the best stewards of threatened natural resources. Sometimes their rhetoric conflated environmentalism with colonialism. "First we were dispossessed in the name of kings and emperors," read the statement put out by the Indigenous Peoples' Forum after the conference, "later in the name of state development and now in the name of conservation.

"To some extent, the argument came down to money. "Funds would be better spent protecting our rights and involving us directly rather than relying on outside agencies often from overseas," the statement declared. When Richard Leakey, the renowned anthropologist and former Kenyan minister of parks, gave a speech arguing that the global interest in biodiversity might sometimes trump the rights of local peoples, he

provoked a political firestorm.

Still, there remains a consensus that sustainable development programs that treat local populations as "stakeholders" are a political necessity in the Third World. This is partly because conservationists have no one else to work with."

In the vast majority of third-world countries, governments are weak," explains Sheelagh O'Reilly of Flora and Fauna International, who manages a landscape conservation program in the mountains of northwestern Vietnam. Governments often pay lip service to conservation, but lack either the political will or the resources to enforce it. Where governments won't or can't stop locals from hunting and logging, conservationists have to win them over through persuasion.

O'Reilly manages a project involving the collaboration of local ethnic minorities like the Hmong, the Dao, and the Tay. They receive training in eco-friendly business practices, such as harvesting renewable forest products. Other wildlife-reserve projects in Vietnam do involve resettlement programs for indigenous peoples, but they are voluntary and include generous compensation.

In Cat Tien National Park, home to the last surviving Javan rhinoceroses on mainland Asia, the Worldwide Fund for Nature is helping resettle several hundred ethnic Giarai cashew farmers. The project follows exacting World Bank sustainable-development guidelines: All available alternatives to resettlement must first be exhausted, and the affected population's living standards must be maintained or improved.

For O'Reilly, Terborgh's vision of parks without people reflects a narrow American perspective that isn't even valid for conservation in Europe, let alone the crowded Third World. In poor countries, when one removes the indigenous people from an area, "all it accomplishes is to remove the only people who have an integral interest in that area as a landscape," she says. "You're opening it up to all the people who are only interested in it for resource extraction."

Conservation, like any political undertaking, needs a constituency. And it's telling that the critics of sustainable-development practice are largely biologists, not political or social scientists. They often seem uncertain of how to expand political support for conservation. In "Requiem for Nature," Terborgh envisions a vast reawakening of environmental consciousness among first-world youth, and multibillion-dollar commitments from wealthy governments. To today's cash-strapped, politically marginal environmental movement, this is fantasy.

Still, Terborgh isn't convinced by O'Reilly's argument. "I'm not suggesting that it's insincere," he says. "It's just ignorant of the biological conditions that are required to conserve biodiversity. People and wildlife don't go together. If there are people in a

park, they'll be eating the animals."

Fair enough, his opponents might say. But given that the parks are home to both people and animals, how do you propose to get the people out?

From the Boston Globe: http://www.boston.com

 

Trở về Trang Chính