|

Bệnh đạo ôn trên lá cây lúa
Bệnh
đạo ôn là một vấn đề phần lớn bất kỳ nơi nào trồng lúa. Bệnh nấm
này (xem hộp thư) được tính toán tạo ra thiệt hại năng suất 55
triệu USD mỗi năm ở Nam và Đông Nam Á. Thiệt hại có thể còn cao
hơn ở Đông Á và những miền chuyên canh lúa ôn đới khác trên khắp
thế giới. Bệnh đạo ôn được quan tâm trong số những công ty công
nghệ sinh học nông nghiệp vì chuyển gen tiềm tàng phát sinh ra
lợi ích hai bên cho các bộ môn hoá học và giống của họ. Vấn đề
bệnh đạo ôn lúa và phương pháp tiếp cận công nghệ để giải quyết
nó cho một ví dụ rõ nét làm cách nào những phương pháp hợp tác
nghiên cứu và phát triển (R&D) phân tán ngày càng xa khỏi yêu
cầu và bình quân của nông dân, nhất là ở những nước nghèo của
Nam và Đông Nam Á.
Bệnh
đạo ôn là gì?
Bệnh đạo
ôn lúa do nấm Pyricularia grisea, mà trong tình
trạng hữu tính của nó, được biết như là Magnaporthe grisea.
Bệnh có thể tấn công tất cả những bộ phận trên không của cây.
Phần lớn những vết bệnh xuất hiện trên lá, tạo ra vết bệnh dạng
hột xoàn có trung tâm xám hoặc trắng xuất hiện, hoặc trên bông,
chuyển sang màu trắng và chết trước khi vào chắc. P.
grisea đặc hiệu cao với cây lúa, mặc dù vài dòng không
tấn công cây lúa có thể gây hại cho cỏ dại ngoài ruộng lúa. Khi
trên một cây lúa, nấm tạo ra nhanh hàng ngàn. bào tử, có thể
được mang qua không khí, qua gió hoặc mưa, trên cây bên cạnh.
Bệnh đạo ôn được báo
cáo lần đầu tiên ở châu Á hơn ba thế kỷ qua và nay hiện diện
trên 85 nước. Bệnh rất thích ứng với điều kiện môi trường và có
thể được tìm thấy trên đất thấp có tưới, đất cao sử dụng nước
trời, hoặc đồng ruộng lúa nước sâu. Jim Correll, một nhà khoa
học từ trường đại học Arkansas, người đã nghiên cứu bệnh đạo ôn
trong nhiều năm, suy diễn là bệnh phát sinh từ châu Á, nơi chính
cây lúa phát sinh, và được phổ biến trên khắp phần còn lại trên
thế giới do trao đổi hạt giống. Bệnh đạo ôn có thể sống sót trên
hạt và có thể dễ di chuyển qua ranh giới nếu kiểm tra an toàn
thích hợp không đúng chỗ. Năm 1996 ở California, Hoa Kỳ, mặc dù
bắt buộc biện pháp an toàn nghiêm khắc để ngăn ngừa nhập nội
bệnh đạo ôn, bệnh đã xoay sở tìm đường đi để vào ruộng lúa của
bang lần đầu tiên.Trong khi bệnh gần như hiện diện khắp nơi
trồng lúa, bệnh đạo ôn nhiều hơn là một vấn đề trong hệ thống
canh tác lúa rẫy ôn đới ngập lụt và nhiệt đới, in dấu bởi thời
tiết mát. Thời kỳ mưa hoặc thời kỳ độ ấm cao cũng tạo thuận lợi
cho phát triển bênh. Vài phương pháp canh tác khuyến khích bệnh
đạo ôn: sử dụng quá mức đạm (qua phân hoá học) làm tăng tính
nhiễm của cây lúa với nấm bệnh, cũng như khoảng cách không thích
hợp (thường sử dụng trong chương trình thâm canh lúa).
Phát
sinh bệnh đạo ôn một mục tiêu di động
Hoá chất
chừng mực có hiệu quả chống lại bệnh đạo ôn, và một số lượng
thuốc trừ dịch hại thương phẩm của nhà sản xuất thuốc trừ dịch
hại chính đã hướng mục tiêu vào bệnh này. Những nhà chọn tạo
giống cây trồng đã trải qua nhiều năm tìm kiếm giống lúa kháng
mà nông dân đã chọn qua nhiều thế hệ. Họ không chỉ đã thu gom
nhiều giống lúa truyền thống kháng bệnh đạo ôn, mà còn đã nhận
diện một số lượng gen lúa họ tin là chịu trách nhiệm về tính
kháng. Tuy nhiên, không một hoá chất nào cũng như một phương
pháp chọn tạo giống nào đưa đến một phương pháp tiếp cận hiệu
quả hoàn toàn. Do khả năng của mầm bệnh để thích ứng nhanh, cây
trồng vẫn là dễ nhiễm.
Những điều
kiện này làm cho bệnh đạo ôn rất có sức hấp dẫn trong việc
chuyển gen trong những phòng thí nghiệm hợp tác. Việc chuyển gen
tạo ra một phương tiện tốt cho những công ty thuốc trừ dịch hại
để bảo vệ và phát triển lợi tức của họ, khi có giới hạn và rủi
ro liên quan với nông nghiệp thâm canh về mặt hoá chất để phòng
trừ bệnh ngày càng thấy rõ. Không ngạc nhiên, một số lượng khổng
lồ trong công nghiệp, với sự quan tâm đầu tư vào thuốc trừ dịch
hại và hạt giống, đã sôi nổi rót hàng triệu đô la vào việc đóng
gói hạt giống lúa/hoá chất để “quản lý” bệnh. Trong thời gian
lâu dài, công nghệ với bệnh đạo ôn sẽ chỉ tạo ra một thành phần
nhỏ của chương trình hợp tác lớn nhiều để quản lý bệnh sẽ có
điều kiện bắt buộc sâu với hầu hêt những khu vực sản xuất nông
nghiệp.
Việc
chuyển gen sẽ không cho nông dân nghèo trồng lúa ở châu Á một
giải pháp giải quyết bài toán bệnh đạo ôn. Nhìn vào nó từ những
tình huống của họ, phương pháp tiếp cận GE là không thực tiễn,
đắt tiền và không đảm bảo, khi họ có thể cung cấp và phương pháp
hiệu quả để phòng trừ bệnh. Theo ý nghĩa này, có một đấu tranh
cơ bản trong nghiên cứu nông nghiệp và phát triển- giữa một lịch
làm việc nuôi dưỡng yêu cầu công nghiệp và một là giải quyết
những yêu cầu nông dân nghèo tài nguyên, gánh nặng của quần
chúng nhân dân châu Á.
Trong phần
lớn miền chuyên canh lúa ở Nam và Đông Nam Á, bệnh đạo ôn vẫn là
vấn đề nhỏ so với những loại bệnh khác, như là vàng lùn và cháy
bìa lá. Vài công trình nghiên cứu đã được thực hiện để kiểm tra
cường độ của vấn đề. Tổ chức Rockefeller tìm ra năm 1991 là 3,8%
diện tích đất lúa ở Đông Nam Á bị ảnh hưởng bởi đạo ôn, tạo ra
thiệt hại năng suất 3,1 kg/ha dẫn dến thiệt hại sản lượng tính
giá trị lên đến 14,3 triệu USD. Ở Nam Á, thiệt hại năng suất
phần lớn là gấp 3 lần nhiều hơn, tỷ lệ lên đến 8,8 kg/ha với chi
phí 40,9 triệu USD. Những số liệu mới hơn từ PAN (Pesticides
Action Network) Indonesia cho thấy là trong suốt mùa trồng từ
tháng 10-1999 đến tháng 3-2000, bệnh đạo ôn lây nhiễm 15.000 ha
qua 60% số tỉnh trong quần đảo Nam Dương.
Trên khắp
Philippin, một cuôc khảo sát cấp nhà nước thực hiện năm 1996
trong số lấy mẫu mở rộng của nông dân bởi NCPC (National Crop
Protection Center) cho thấy là bệnh đạo ôn không phải là vấn đề
thường gặp. Những vấn đề quan trọng hơn đối với nông dân là sâu
đục thân, rầy nâu, rầy xanh, bọ xít hôi, sâu xếp lá, ốc hại táo
và vàng lùn. Một khảo nghiệm mới khác (xem hộp thư) minh chứng
là, trong một nước như Philippin, bệnh như là bệnh đạo ôn trong
số những nhân tố có ý nghĩa nhỏ nhất ảnh hưởng đến nguồn cung
cấp lúa của đất nước, ngay cả khi chúng được thấy như là mục
tiêu nóng để chuyển gen.
Hạ cánh
đúng, phi trường sai
Một khảo
nghiệm mới thực hiện bởi Viện Công nghệ Liên Bang Thuỵ Sĩ ở
Zurich (ETH), hợp tác với trường đại học Philippin, Los Banos,
khảo sát nhận thức về vấn đề ảnh hưởng đến kinh tế lúa Philippin
và tiềm tàng chuyển gen để giải quyết chúng. Mẫu câu hỏi được
trả lời bởi 65 người từ 46 tổ chức, tất cả hoạt động trong khu
vực chuyển gen: NGOs (Tổ chức phi chính phủ) gồm có tổ chức
người tiêu dùng (28%), trường viện của chính phủ (23%), khu vực
thương nghiệp (12%), viện nghiên cứu quốc tế, Viện Nghiên cứu
Lúa Quốc tế (IRRI, 9%); khoa học (8%), lập pháp (6%); truyền
thông (6%); tổ chức quốc tế (5%); NGOs quốc tế (3%). Những người
trả lời được hỏi đánh giá tầm quan trọng của vấn đề kính tế lúa
Philippin theo một hệ thống chia cấp 1 (quan trọng ít nhất) đến
5 (quan trọng nhiều nhất). Cùng thang điểm được dùng để đánh giá
tiềm tàng chuyển gen để giải quyết vấn đề.
Những vấn
đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến sản xuất lúa được đánh giá
với điều kiện thị trường, thiếu phương tiện tưới tiêu, không dầy
đủ phương tiện sau thu hoạch nợ do chi phí đầu vào cao, dịch vụ
hỗ trợ yếu, giông bão, mạng vận chuyển không hiệu quả, phân bố
đất không đồng đều. Trong khi chờ đợi, tiềm tàng chuyển gen để
giải quyết vấn đề sản xuất được chấm điểm cao nhất trong việc
phòng trừ bệnh học thực vật và lây nhiễm bệnh hại, cải tiến chất
lượng lương thực, sử dụng thuốc trừ dịch hại giảm, ổn định năng
suất và phát triển tính chịu hạn.
Khảo
nghiệm cho thấy là có trường hợp không phù hợp nghiêm trọng giữa
vấn đề đã nhận thức ảnh hưởng đến sản xuất lúa và tiềm tàng
chuyển gen để giải quyết chúng. Tiềm tàng chuyển gen cao nhất
với những vấn đề được nhận thức sẽ là quan trọng ít nhất, như là
lây nhiễm bệnh. Kết quả khảo nghiệm nhấn mạnh sự việc là số
lượng tiền tệ và thời gian đầu tư trong công nghệ sinh học không
tỷ lệ với tầm quan trọng của nó, ít nhất trong trường hợp cây
lúa ở Philippin.
Bảng 1
Nhận thức về vấn đề quan trọng nhất của kinh tế lúa Philippin và
tiềm tàng chuyển gen (GE) để giải quyết chúng
|
Vấn đề |
Vấn đề quan trọng nhất
của kinh tế Lúa Philippin |
Tiềm tàng GE để giải
quyết vấn đề |
|
Cấp hạng |
Điểm số |
Cấp hạng |
Điểm số |
|
Điều kiện thị trường
Phương tiện tưới tiêu
Phương tiện sau thu
hoạch
Nợ (từ chi phí đầu tư
cao)
Dịch vụ hỗ trợ yếu
Bão
Mạng lưới vận chuyển
không hiệu quả
Phân bố đất không đều |
1
2
3
4
5
6
7
8 |
4.5
4.5
4.3
4.3
4.2
4.2
4.2
4.1 |
16
13
12
11
17
15
18
19 |
1.9
2.1
2.2
2.3
1.8
2.0
1.8
1.4 |
10
P.A. Javier, R. A. Zorilla và F. V. Bariuan, National Pest
Survey, in ronêô, 1996, NCPC, College of Agriculture, Los Banos
chpt 3 p. 6
11
Philippe Aerni (1998), Public Acceptance of Genetically
Engineered Food in Devepoping Countries: The Case of Transgenic
Rice in the Philippines, Zurich, Switzerland: IAW/ETH Zủurch
Publications.
|
Hạn hán
Sử dụng nhiều thuốc
trừ dịch hại
Độ phì đất giảm
Ít đầu tư vào R&D
Lây nhiễm dịch hại
Năng suất biến động
Lũ lụt
Xói mòn đất
Vệnh học thực vật
Số lượng nhỏ của giống
Chất lượng ăn kém |
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19 |
4.1
4.0
4.0
3.9
3.9
3.9
3.8
3.8
3.7
3.3
3.3 |
6
4
8
10
2
5
9
14
1
7
3 |
3.4
3.6
3.3
2.3
3.8
3.6
2.8
2.1
4.0
3.0
3.8 |
Nguồn:
Philippe Aerni, “Public Acceptance of Genetically Engineered
Food in Devepoping Countries: The Case of Transgenic Rice in the
Philippines, IAW/ETH Zurich Publications, 1998
Cơ
nguy về thuốc trừ dịch hại và trở ngại của nhà chọn tạo giống
Đối với
công nghiệp, trong khi chờ đợi, bệnh đạo ôn là một thể rút tiền
(money spinner) lớn. Bệnh là một trong vài bệnh cây trồng minh
chứng sự phát triển thuốc trừ dịch hại có tiêu chí đơn độc: thị
trường Nhật riêng với thuốc trừ bệnh ôn đã lên đến 400 triệu USD
mỗi năm. Tuy nhiên, thuốc diệt nấm hoá học trình bày những cơ
nguy cho sức khoẻ con người và môi trường, và nông dân ở châu Á
đã loại chúng và sử dụng phương pháp tiếp cận bền vững nhiều
hơn. Vài nhà nghiên cứu đang tìm kiếm những phương pháp đan xen,
thuốc diệt nấm phi hoá học. Công trình nghiên cứu gợi ý là nhiều
chất liệu xuất hiện tự nhiên trên cây trồng có độc tố với loài
nấm gây bệnh đạo ôn, mặc dù, đến nay, có ít khảo nghiệm và phát
triển về mặt này. Những tác nhân sinh học, như là vi sinh vật
hoặc thuốc trừ dịch hại sinh học cũng có thể sử dụng để phòng
trừ bệnh. Nhưng thị trường châu Á vẫn còn có rất nhiều vũ khí
hoá học, vài trong số nguy hiểm đến nỗi việc mua bán chúng bị
giới hạn bởi vài chính phủ.
Mặc dù
vài số liệu mua bán, thị trường thuốc diệt nấm gây bệnh đạo ôn
vẫn còn thoả thuận. Thuốc diệt nấm gây bệnh đạo ôn là những sản
phẩm đắt tiền đối với một số khách hàng thường không thể thanh
toán- nông dân trồng lúa châu Á. Thuốc diệt nấm gây bệnh đạo ôn
một cách điển hình tiêu dùng 6%-50% chi phí bảo vệ cây trồng
tổng số. Thị trường lớn Nhật Bản chỉ bền vững bởi trợ cấp nông
nghiệp cao nhất (70%) trên thế giới. Syngenta’s Quadris
(Azoxystrobin), không phát triển một cách đặc biệt với bệnh đạo
ôn nhưng với nhiều bệnh trên một số lượng cây trồng, chi phí
tăng lên 25-30 USD mỗi mẫu anh với mỗi lần áp dụng: vượt qua một
số nhà sản xuất ở châu Á.
Một
giới hạn thứ hai bắt nguồn từ chính thuốc diệt nấm. Khi thuốc
diệt nấm được dùng rộng rãi, chúng đặt một áp lực chọn trên bệnh
đạo ôn, và mầm bệnh phát triển nhanh tính kháng. Đã biết là chi
phí đến 100 triệu USD để phát triển một loại thuốc diệt nấm mới
và đưa nó ra ngoài thị trường, công ty ít khi muốn phát triển
sản phẩm mới khi tính kháng lại loại cũ phát triển. Chỉ loại
thuốc diệt nấm mới nhập nội một cách đặc biệt với bệnh đạo ôn là
Carpropomid, được nhập nội như Win năm 1998 bởi trợ cấp Nhật Bản
Bayer Nihon Bayer Agrochem. Vì thế nông dân được để lại sự chọn
sử dụng thuốc diệt nấm trung bình, để lại cây trồng bị hại bởi
bệnh đạo ôn, hoặc bắt đầu một chu kỳ liều lượng hoá chất ngày
càng nhiều.
Không
có cách chọn nào thích hợp. Không chỉ bảo vệ hoá học quá đắt
tiền mà, ngay cả trung bình, có chi phí gián tiếp từ việc sử
dụng thuốc diệt nấm cho sức khoẻ của các hộ gia đình nông nghiệp
và hệ sinh thái chung quanh, đặt dòng lớn trên tài nguyên giới
hạn của hộ gia đình. Khi những vấn đề này đã trở thành được biết
đến một cách rộng rãi, trường, viện nghiên cứu nông nghiệp quốc
tế đã phản ứng bằng cách xê dịch sự chú ý của họ vào việc chọn
tạo giống. Tuy nhiên, những cố gắng chọn tạo giống còn khá bị
giới hạn trong thành công của họ.Bệnh đạo ôn rất thay đổi, một
cách đặc biệt trong điều kiện độc canh phạm vi lớn, thâm canh,
và người chọn tạo giống giản đơn không thể theo kịp với nó. Như
báo cáo của CIAT, “Dòng bệnh đạo ôn mới đột biến nhanh, làm cho
những giống kháng bị nhiễm trong 2-3 năm sau khi thả- thỉnh
thoảng, ngay cả trước khi dòng lai đi đến trang trại.” Kết quả
là một nòi không bao giờ kết thúc với người chọn tạo giống để đi
trước bệnh với những giống mới.
Thuốc
diệt nấm và phương pháp chọn tạo giống cả hai đã triển khai
chống lại bệnh đạo ôn trong một mô hình đặc hiệu của sản xuất
lúa thâm canh và được thúc đẩy bởi “Cách mạng Xanh”- giống đói
hoá chất, cây trồng đồng nhất và đất có tưới tiêu. Thuốc diệt
nấm và phương pháp chọn tạo có thể được sử dụng để giải quyết
vấn đề, như là bệnh đạo ôn, nhấn mạnh trong cuộc Cách Mạng Xanh,
không đòi hỏi bất kỳ thay đổi cơ bản trong định hướng. Tuy
nhiên, không một loại thuốc diệt nấm nào cũng không một phương
pháp chọn tạo nào có thể giữ bền vững cuộc đấu tranh chống lại
bệnh đạo ôn. Vài người tin là chuyển gen có thể giải quyết tình
trạng tiến thoái lưỡng nan này.
Săn
tìm tính kháng bền
Những
nhà khoa học nay đang thử sử dụng phương pháp chuyển gen để tạo
ra điều có tên là “tính kháng bền”- tính kháng thực vật chống
lại bệnh trong thời gian lâu dài. Khái niệm đầu là để phân lập
gen chịu trách nhiệm về bệnh đạo ôn trong số những giống cây
trồng kháng, vô tính những gen này sau đó đưa chúng vào những
giống cao sản dễ nhiễm. Về mặt lý thuyết, giống chuyển gen có
thể lợi dụng công nghệ thuốc trừ dịch hại, nhà chọn tạo giống,
và nông dân. Nông dân có thể nhận một hình thức bảo vệ lâu dài
chống lại bệnh đạo ôn; nhà chọn tạo giống có thể có công cụ cần
để tạo ra giống có tính kháng bền; và công nghệ thuốc trừ dịch
hại có thể đánh bắt thị trường mới bởi xê dịch phát triển sản
phẩm từ hoá chất đến hạt giống. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn
chuyển gen không thể thoả mãn mong đợi này.
Tính
kháng bền chống lại bệnh đạo ôn hay lảng tránh. Dr Sally Leong,
một nhà sinh học phân tử hàng đầu tiến hành khảo nghiệm về bệnh
đạo ôn ở trường đại học Wisconsin, nghi ngờ là điều này không
bao giờ đạt được. “Điều này là một chu kỳ không bao giờ kết
thúc, bà nói. Tính kháng bền là một vấn đề đáng sợ. Dr Chris
Lamb, một nhà khoa học hàng đầu khác nghiên cứu tính kháng bệnh
thực vật ở trung tâm John Innes ở UK, hình như là đồng ý.” Bệnh
thực vật đang di chuyển mục tiêu, ông nói. “như tử vong và tiền
thuế chúng sẽ luôn ở lại với chúng tôi”.
Vấn đề
cơ bản, như những người nghiên cứu công nghệ sinh học đã học tập
nhanh, là không có cơ chế giản đơn điều khiển tính kháng bệnh
trên cây trồng. Những nhà khoa học này một lần đã mong đợi để
nhân diện một gen hoặc một tập hợp nhỏ gen chịu trách nhiệm về
tính kháng bệnh nay hình dung là, trong phần lớn trường hợp, một
cây trồng phản ứng lại một bệnh qua một mạng phản ứng tương hỗ
phức tạp của gen và tín hiệu. Ngay cả trong những giống của cùng
loài, phản ứng lại một bệnh riêng biệt có thể là phần lớn khác
nhau hoàn toàn ở cấp di truyền.
Vì
những lý do này, Dr Leong xem tính kháng bền chuyển gen như
“nhiều hơn một quan điểm so với sự việc có bằng chứng”. Trong
khi “ về mặt lý thuyết ta có thể hình dung vài loại cát-sét gen
có thể được đưa vào trong nguồn gen,” bà tin là gen có thể không
bị đưa vào mà không làm đứt quãng những tính trạng nông học quan
trọng khác của cây trồng, như là thời gian chín, kích cỡ hạt,
tăng trưởng, và mùi vị.
Nếu bất
kỳ ai phải hiểu những khó khăn chọn tạo giống về tính kháng bệnh
đạo ôn đó là Barbara Valent. Bà đã sử dụng 15 năm qua với một
nhóm nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm DuPont ở Delaware, USA, cố
gắng tìm ra một biện pháp cho việc chuyển gen lúa về tính kháng
bệnh đạo ôn. Dr Valent suy diễn là tính kháng bền có thể một
ngày đến từ “công nghệ tiến hoá protein”- ý tưởng tạo ra những
gen nhân tạo có thể chừng mực tạo ra tính kháng có hiệu quả
nhiều hơn gen tìm thấy trong thiên nhiên- nhưng công nghệ này ,
tốt nhất, là đường còn xa vời vợi.
Những
nhà khoa học đang đi khập khiễng vì họ đang tìm kiếm một câu trả
lời giải quyết một vấn đề phức tạp. Cả hai loại thuốc diệt nấm
và phương pháp chọn tạo không thành công trong việc phòng trừ
bệnh đạo ôn, vì họ quá tĩnh lặng để tiếp xúc với quan hệ năng
động giữa cây trồng và bệnh liên kết sâu với hệ sinh thái chung
quanh. Phương pháp chuyển gen sẽ không cho tính kháng bền vì
cùng lý do này.
Nhìn
lại tương lai
Khi
những nhà di truyền học đấu tranh trong phòng thí nghiệm công
nghệ sinh học, những người khác đang vui vẻ với những thành công
ngoài đồng ruộng sử dụng những phương pháp truyền thống để phòng
trừ bệnh. Dr Christopher Mundt của trường đại học Bang Oregon ở
Hoa Kỳ đang làm việc với IRRI và trường đại học nông nghiếp
YUNNAN (Vân Nam, TQ) về dự án bệnh đạo ôn lúa ở Vân Nam, một
tỉnh Tây Nam Trung Quốc. Dự án sử dụng một “hệ thống giống nhiều
dòng”, nơi những giống lúa khác nhau được trồng trên cùng một
ruộng để phòng trừ bệnh đạo ôn.
Ở Vân
Nam, bệnh đạo ôn là một vấn đề nghiêm trọng và nông dân thường
nhờ vào tám lần sử dụng thuốc mỗi mùa để cố gắng phòng trừ bệnh.
Theo Mundt, hệ thống giống nhiều dòng có một ảnh hưởng trung
gian: mức nghiêm trọng bệnh đạo ôn giảm khoảng 95% và nông dân
không có áp dụng bất kỳ loại thuốc diệt nấm nào. IRRI đòi hỏi là
nông dân tham gia vào dự án kiếm một phụ trội 150USD mỗi ha từ
thu hoạch của họ. Trước cuối năm 2000, đến 60.000 ha ở Vân Nam
sẽ được trồng với phương pháp giống nhiều dòng.
Mặc dù
thành công của dự án, có ý kiến chống lại ý tưởng này. Theo
Mundt “Nông dân với những vị tiến sĩ có vấn đề lớn nhất với bệnh
“. Nông dân rất muốn thử nó. Điều này là lô gích, vì nông dân đã
sử dụng những nguyên tắc tương tự để quản lý bệnh đạo ôn cho
nhiều thế hệ. Mundt nói là giống họ chọn để sử dụng cho dự án
hiện được gợi ý bởi một nông dân địa phương trộn nhiều giống
thành công trên ruộng riêng. Ở Việt Nam, nơi Mundt đang làm
việc với một dự án giống nhiều dòng khác, nông dân tham gia nói
với ông là họ nhớ sử dụng những phương pháp tương tự từ nhiều
năm qua, trước khi mô hình sản xuất Cách Mạng Xanh xuất hiện.
Hệ
thống giống nhiều dòng bị chỉ trích vì nó chống lại lòng tin cơ
bản vào nông nghiệp công nghiệp. Điều này sử dụng tính đa dạng,
nhưng trái lại nông nghiệp công nghiệp cần và lai tính đồng
nhất. Bằng cách trồng nhiều loại cây trồng, hệ thống giống nhiều
dòng ngăn cản mức trầm trọng bệnh, làm cho nó ở mức có thể kiểm
soát được đối với cây lúa để tác động hệ thống tự vệ tự nhiên
riêng của chúng. Chỉ ở những nơi tính đồng nhất là phổ biến là
bệnh đạo ôn trở thành trội và có thể gây ra thiệt hại nghiêm
trọng. Điều này mới được công nhận bởi IRRI , một cơ quan hàng
đầu của cuộc Cách Mạng Xanh “Giản đơn hoá, hoặc thiếu tính đa
dạng, đã tạo ra một môi trường sinh học dễ vỡ, làm cho cây trồng
bị hại do bùng nổ dịch và bệnh.
Đối với
dịch vụ nông nghiệp, điều này là môi trường dễ vỡ của tính đồng
nhất điều khiển và đảm bảo lợi tức thật của nó. Công nghệ bán
vài loại hạt giống (chủ yếu lai) trong miền rộng lớn. và tính
đồng nhất này tạo ra một yêu cầu về hoá chất nông nghiệp và tạo
ra nguyên vật liệu cần cho hệ thống lương thực toàn cầu đồng
nhất. Tính đa dạng can thiệp với chuỗi biến cố này. Ví dụ, dưới
hệ thống giống đa dòng, những giống có thể có ngày thu hoạch
khác nhau. Điều này đặt ra vấn đề cho trang trại có cơ giới hoá,
nhưng không phải là một vấn đề cần khắc phục đa số trang trại ở
chấu Á, nơi cây lúa được thu hoạch bằng tay. Lời phê phán cũng
đặt ra là có thể có những khác biệt về chất lượng hạt trong một
hệ thống dòng nhiều giống có thể làm phức tạp việc xay và bán.
Nhưng khi cây lúa từ những giống khác nhau được trình bày cho
nông dân ở Việ Nam, nông dân nhìn và nói là khác biệt không
phải vấn đề. Chỉ những nhà chế biến và mua bán phạm vi lớn đòi
hỏi sản phẩm đồng nhất hoàn toàn. Điều gì làm tăng mức tới hạn
của vấn đề. Những ai làm nông nghiệp phải nuôi dưỡng: nông dân
và quần chúng địa phương hoặc dịch vụ nông nghiệp liên quốc gia?
Đối với
Hiệp hội Nông dân-Nhà Khoa học về Phát Triển (MASIPAG), một
chương trình chọn tạo của nông dân cấp quốc gia ở Philippin,
bệnh đạo ôn lúa có thể được quản lý bởi nông dân địa phương,
không công nghệ sinh học, Theo kinh nghiệm của MASIPAG, bệnh đạo
ôn khải phải là một vấn đề. Tuy nhiên, nếu điều này xảy ra, dưới
đây là những nguyên tắc chính họ biết là nông dân có thể theo để
quản lý bệnh.
1.
khoảng cách rộng giữa cây;
2. hợp
lý, đúng thời hạn, và tưới tiêu ngắt quãng;
3. giảm
di chuyển ngoài ruộng để tránh vận chuyển bảo tử, nhất là khi bộ
lá bị ẩm;
4. luân
canh cây trồng để bẻ gãy chu kỳ sống sinh vật, do đó làm giảm
quần thể;
5.
trồng những giống lúa khác nhau, nhất là có cùng độ chín;
6. tiết
kiệm hạt giống. từ những cây trên kháng, từ khi gieo đến mùa kế
tiếp.
Những
phương pháp này trong vòng tay của nông dân nghèo tài nguyên ở
châu Á. GE thì không.
Công
nghệ kẻ phản bội
Những
ngày việc đóng gói chặt hạt giống/hóa chất nay đang đến gần.
Syngenta, một phối hợp viên mới giữa những ngành nông nghiệp của
Novartis và Zeneca, đã phát triển những phương pháp để phối hợp
việc sử dụng hóa chất nông nghiệp với việc đưa vào gen kháng
bệnh để nâng cao tính kháng tổng hợp của cây trồng. Ưu thế hiển
nhiên là phối hợp với Syngenta là bất kỳ nông dân nào trồng
giống lúa kháng bệnh đạo ôn chuyển gen có thể cũng phải mua và
áp dụng hóa chất nông nghiệp của Syngenta. Lời phê phán gọi điều
này là “Công nghệ Kẻ phản bội” vì nông dân thích với tính trạng-
tính kháng bệnh đạo ôn, trong trường hợp này- chỉ khi họ sử dụng
hóa chất bắt đầu của công ty.
Syngenta đã nhận ít nhất hai môn bài “Công nghệ Kẻ phản bội”.
Môn bài của Hoa Kỳ 5.614.395 và 6.031.153 dành chi tính kháng
bệnh nâng cao hoặc cảm ứng về mặt hoá học trên cây trồng chuyển
gen với nhiều gen đặc hiệu liên kết với tính kháng bệnh. Môn bài
sau bao trùm việc áp dụng một số lượng thuốc diệt nấm được sử
dụng rộng rãi có thể tác động như thể gây cảm ứng, gồm có
mancozeb, metalaxyl, ridomil, fosetyl, và azoxystrobin. Syngenta
không chỉ là một công ty theo đuổi phương pháp này. Mitsui ở
Nhật Bản có một môn bài về một phương pháp về tính kháng cảm ứng
về mặt hoá học với bệnh vi khuẩn, như là bệnh cháy bìa lá trên
cây lúa.
Những
công nghệ có môn bài này đã được phát triển vào một lúc khi TMCs
đang di chuyển vào thị trường lúa gạo qua việc nhận của công ty
lúa lai. Rõ ràng, họ có xu thế sử dụng một phần quá trình chọn
tạo từ khu vực công, mới đứng phía sau nhiều thị trường giống
lúa ở châu Á. Một khác biệt quan trọng giữa cây lúa kháng đạo ôn
chuyển gen và cây lúa kháng bệnh thường trong cảnh phim chuyển
gen, những gen sẽ có môn bài và sở hữu bởi khu vực tư. Theo
phương pháp này, công nghệ có thể khẳng định sự phòng trừ lớn
cho thị trường, ảnh hưởng khảo nghiệm cấp nhà nước và phát
triển, và trích ra giá trị nhiều hơn từ một kinh tế lúa của một
quốc gia.
Tài
sản nóng: di chuyển của một gen đạo ôn
Dù là
họ muốn hay không, trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế
(IARCs) phải nhận biết là khảo nghiệm của họ cắt quan hệ tương
hỗ với những phương pháp dịch vụ nông nghiệp. Công trình IARCs
theo sự quan tâm của nông dân nhỏ có thể dễ phân kỳ bởi nguyện
vọng hãnh diện cực kỳ của nhà khoa học, những nhà tư bản liên
doanh, và TNCs, như trình bày dưới đây.
Những
môn bài đầu của gen về tính kháng bệnh đạo ôn cơ bản là trên
những dòng vô tính gen đã được nhận diện bởi nhà chọn tạo giống
trong số lượng lớn giống truyền thống với mức độ kháng khác nhau
với những dòng bệnh đạo ôn khác nhau. Phần lớn những giống có
tính kháng bệnh đạo ôn phát sinh ở châu Á nơi bệnh được tin là
đã phát sinh, đặc biệt là Ấn Độ, Nhật Bản, và tỉnh Vân Nam ở
Trung quốc. Những nguồn khác về giống trồng kháng gồm có
Philippin, Việt Nam, Thái Lan và Colombia.
Ngày 25
tháng 3, 1999, Cơ quan Tài Sản Trí Tuệ Thế giới công bố một môn
bài bởi Viện Sinh học Nông nghiệp Phân tử (IMA) ở Singapore với
một gen kháng bệnh đạo ôn từ một giống lúa (C101A51) phát sinh
từ một giống lúa có tên là 5173. Theo Nhóm Tư vấn của Khảo Cứu
Nông nghiệp Quốc tế, 5173 (hoặc IRRI-IRGC-3970) được tồn trữ tại
Ngân hàng Gen IRRI. Nước cho được trình bày như là USA và nước
xuất xứ như là Philippin (dù giống được lai hiện nay ở Ấn Độ và
đến ở IRRI thông qua CIAT ở Colombia).
Làm
cách nào IMA đến được với môn bài? Một trong những người phát
minh trên môn bài IMA là Dr Guo-Liang Wang- người khảo sát chính
của chương trình kháng bệnh lúa giống IMA vào lúc đó. Vài năm
qua, Wang làm việc ở IRRI, và sau khi ông rời khỏi, ông vẫn là
người mượn đều từ ngân hàng gen phong phú của IRRI. Wang nay ở
trường đại học Bang Ohio, nơi ông làm việc trong một dự án hợp
tác với nhóm genomics của DuPont để nhận diện và khảo nghiệm
những gen khác nhau trên cây lúa kháng bệnh cháy bìa lá và bệnh
đạo ôn.
Tháng
3, 1998 Rhone-Poulenc (nay là Aventis) và IMA đã ký một “Thoả
hiệp khảo nghiệm hợp tác về tính kháng bệnh hoặc chuyển gen trên
cây lúa và genomics chức năng của cây lúa. Theo tài liệu trên
báo chí, “sản phẩm phát sinh từ thoả hiệp này sẽ được thương
phẩm hoá bởi cả hai bên, mặc dù một công ty liên doanh sẽ được
thiết lập và có cơ sở ở Singapore.” Vì thoả hiệp với IMA,
Aventis nhận Quốc tế Lúa Lai, một trong những công ty lúa lai
lớn nhất trên thế giới, và Granja Irmaos, công ty giống lớn nhất
ở Brazil.
Genomics: giấc mơ ống tiếp tục
Những
nông dân nhỏ có thể sẽ không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự nhập
nội giống chuyển gen kháng bệnh đạo ôn, vì chắc sẽ không thể
cung cấp. Lại, họ chắc sẽ đối mặt với những hậu quả của ảnh
hưởng gián tiếp là cây lúa kháng bệnh đạo ôn và những công nghệ
tương tự khác sẽ có. Nghiên cứu và phát triển tính kháng chuyển
gen là bộ phận của xu hướng lớn trong việc quản lý bệnh là sẽ có
ảnh hưởng sâu trên tất cả những mặt sản xuất nông nghiệp.
Hiện
nay, genomes của một số lượng sinh vật, gồm có cây lúa và con
người, đang được vẽ bản đồ và những chức năng của họ đã nhận
diện. Liên hiệp công ty quốc tế và công ty cá thể đang vẽ bản đồ
cả hai về bộ genome lúa và genome của mầm bệnh đạo ôn lúa. Với
thông tin di truyền này, những nhà khoa học lập kế hoạch để phát
triển sản phẩm, như là thuốc trừ dịch hại hoặc dược liệu, có thể
một cách đặc biệt xác định tiêu chí gen của bệnh gây ra tính có
độc tố trên ký chủ bị nhiễm, hoặc có thể bắt đầu một phản ứng
kháng hiệu quả trên chính ký chủ. Họ cũng lập kế hoạch để chuyên
gen ký chủ về tính kháng bệnh, như là thế hệ đầu của lúa kháng
bệnh đạo ôn- một ví dụ rất cơ bản về điều gì nhà khoa học mong
đợi cuối cùng sẽ xuất hiện. Những nhà khoa học ở Viện Phát hiện
Nông nghiệp Novartis của Syngenta, Inc. (NADII) gần kết thúc
phiên bản của họ về bản đồ genome lúa, có tên là “Chip Lúa”
(RiceChip).
Phương
pháp tiếp cận genomics với quản lý bệnh tạo ra những cơ hội có
lợi cho công nghệ thuốc trừ dịch hại và hạt giống. Ví dụ, việc
chọn tạo giống lúa lai là siêng năng và khá là không hiệu quả về
mặt tính kháng bệnh, và điều này có thể dễ nhiều hơn đối với
những công ty kết dính vào hai hoặc ba giống có đặc tính nông
học mong đợi, và sau đó chuyển gen những giống này với tính
kháng và những tính trạng “giá trị cao” khác. Đầu ra không thể
tránh là chừng mực lớn nhiều hơn tính đồng nhất di truyền, chỉ
mong đợi đối với công nghệ- cả hai ở đầu vào và ở khâu chế biến
và ở điểm cuối mậu dịch. Vì thế, không đáng ngạc nhiên là công
nghiệp công nghệ sinh học đã công bố những ý đồ của họ di chuyển
xa hơn đến khu vực cuối nguồn sản xuất lúa. Dupont mới tạo ra
môt công ty liên doanh gọi tên là RiceCo (Công ty Lúa) với những
hoạt động trên khắp thế giới. RiceCo sẽ không chỉ bán hoá chất
nông nghiệp và hạt giống, mà còn ký hợp đồng với nông dân và sau
đó tiếp thị lúa qua sự công tác với nhà máy xay và có thể với
người bán lẻ. Trong khu vực sức khoẻ, Syngenta đang làm việc với
một trang trại Hoa Kỳ ở Calofornia để trồng lúa chuyển gen tạo
ra những kháng thể vô tính có định hướng từ con người ở vi rút
gây bệnh giộp da không đau (herpes simplex.)
Một đầu
ra khác của những xu thế này trong quản lý bệnh nông nghiệp là
kiến thức gia tăng với những người điều khiển công nghệ này-
liên hiệp công ty xuyên quốc gia công nghệ sinh học rất lớn
(TNCs). Như khảo nghiệm nông nghiệp và phát triển tiếp tục di
chuyển xa hơn vào công nghệ sinh học, những nhà nghiên cứu sẽ
trở thành ngày càng nhiều lệ thuộc vào công nghệ cao, điều khiển
bởi một số lượng nhỏ công nghệ sinh học TNCs.Ví dụ, Syngenta’s
NADii có thoả thuận với trên 25 trường đại học và viện trung tâm
nghiên cứu để tiếp cận công nghệ của nó gồm có 3 triệu USD với
trường đại học Clemson để làm việc về bộ genome lúa và nấm gây
bệnh đạo ôn lúa. Nếu những xu thế này tiếp tục, điều này sẽ
không thể thực hiện về mặt thực tiễn với viện trường công để
phát triển và áp dụng khảo nghiệm của họ một cách độc lập từ đối
tác tư của họ.
Bản
án của nông dân: bạn hoặc thù?
Phương
pháp chuyển gen, cạnh cắt của khoa học sẽ không chinh phục bệnh
đạo ôn lúa. Ngược lại, có thể là với những vấn đề phức tạp với
bệnh đạo ôn và những bệnh khác bằng cách nâng cao những điều
kiện trong đó bệnh phát triển- nông nghiệp đồng nhất , thâm
canh, hoá học. Đối với những liên hiệp công ty hoá chất nông
nghiệp, giá trị của phương pháp chuyển gen không phải ở chỗ làm
cách nào điều này hỗ trợ một cách có hiệu quả chống lại bệnh như
là bệnh đạo ôn. Mà còn làm cách nào điều này hỗ trợ họ trong
việc tổ chức khảo cứu và sản xuất nông nghiệp để gia tăng lợi
tức của họ.
Người thắng hoặc kẻ thua trong trò chơi chuyển gen: trường hợp
bệnh đạo ôn lúa ở châu Á
Đối với
những công ty, chuyển gen:
- Cung
cấp một phương pháp đan xen với thuốc trừ dịch hại quá đắt tiền
để phát triển, đã giới hạn tính hiệu quả do tính kháng và có
giới hạn thị trường trong số nông dân nghèo ở châu Á;
- Cho
công ty quyền kiểm soát nhiều hơn trên sản phẩm của họ và thị
trường vì tính chất của công nghệ và môn bì họ có thể đảm bảo an
toàn;
- Mở
rộng triển vọng cho việc bán hoá chất nông nghiệp của họ, nhất
là dưới phương pháp tiếp cận “Công nghệ Kẻ phản bội”;
- Cho phép họ nhập
nội đầu ra có giá trị khác hoặc tính trạng nông học vào cây
trồng của họ.
Đối với
nông dân trồng lúa nghèo tài nguyên ở châu Á, chuyển gen:
-
Không cho ưu thế trong việc giải quyết bệnh đạo ôn;
- Khoá
họ lại trong một hệ thống sản xuất được tạo ra về mặt cấu trúc
để phục vụ yêu cầu công nghiệp;
- Gia
tăng tính lệ thuộc vào thị trường giống cây trồng;
- Đi
trệch hướng cấp kinh phí khảo nghiệm và tập trung xa khỏi những
phương pháp tiếp cận bền vững với việc quản lý bênh và bên lề
hoá nông dân khỏi R&D (nghiên cứu và phát triển);
- Hoàn
toàn xa lạ với, và tách riêng khỏi cảnh quan riêng của họ.
Đây
không phải là thời gian để làm nhiều điều giống nhau. Phức hợp
nghiên cứu và phát triển nông nghiệp chính thức không thành công
trong việc tạo ra những cải tiến thực dụng vì năng suất cạnh
tranh cao nhận từ những năm đầu Cách mạng Xanh. Thay vì, những
điều kiện với phần lớn nông dân ở châu Á đã ngày càng xấu, trong
khi lợi tức cơ bản đã đi vào dịch vụ nông nghiêp, nhất là dịch
vụ nông nghiệp ngoại lai. Tình huống này đáng ái ngại và yêu cầu
về một định hướng lại nghiên cứu và phát triển để giải quyết
phương pháp cơ bản đối mặt với nông dân trong vùng rất rõ. Trong
khi công nghệ sinh học thường kêu gọi một giải pháp cho khủng
hoảng nông nghiệp hiện nay, thật ra điều này là một bức rào cản
đối với những thay đổi cần. Điều này thu hút sự chú ý xa khỏi
giải pấp thực tiễn bằng cách hứa hẹn hype trống rỗng về công
nghệ cao. Điều này còn củng cố vai trò của khu vực tư trong việc
xác định quá trình khoa học, khi khu vực công đổ xô về phía đối
tác không cân sức với những công ty sở hữu công nghệ cần hoặc
môn bài. Trong trường hợp khảo nghiệm bệnh đạo ôn lúa trong khu
vực tư, chuyển gen cơ bản là một công cụ để làm tăng tính lệ
thuộc vào hoá chất sở hữu và công nghệ khác của công nghệ thuốc
trừ dịch hại. Đây không phải là con đường nhạy cảm về phía kinh
tế lúa châu Á. Con đường có ý nghĩa độc nhất là xác minh vấn đề
chung quanh nghiên cứu và phát triển nông nghiệp trong vùng để
sử dụng quá trình quyết định ngoài phòng họp và trở lại ngoài
đồng ruộng.
RGC
Trở về Trang Chính
|