Gừng

Lương thực của bạn là Dược liệu của bạn

Steven Foster


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

07 tháng 12 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

 

Trong hàng ngàn năm ở hai nước Trung Quốc và Ấn Độ, gừng đi đến Miền Tây ít nhất hai nghìn năm qua, được ghi chép như một chủ thể của thuế La Mã trong thế kỷ thứ hai sau khi nhập khẩu thông qua Biển Đỏ đến Alexandria. Thuế nhấp khẩu xuất hiện trong tài liệu ghi chép Marseilles trong năm 1228 và ở Paris năm 1296. Gừng được biết đến ở nước Anh trước cuộc chinh phục Norman Conquest, khi gừng thường được tìm thấy trong những cuốn sách thầy lang Anglo-Saxon thế kỷ thứ 11. Gừng được mô tả chi tiết trong một công trình thế kỷ 13, "Physicians of Myddvai," một bộ sưu tập toa thuốc và đơn thuốc do bác sĩ kê toa, Rhiwallon, và ba người con trai của ông, theo sự ủy thác của Rhys Gryg, hoàng tử xứ South Wales (người đã chết năm 1233). Trước thế kỷ 13 và thế kỷ 14 gừng quen thuộc với khẩu vị của người Anh, và sau hồ tiêu, là đồ gia vị phổ biến nhất. Một cân Anh gừng lúc đó có giá tiền bằng một con cừu. Gừng, như một sản phẩm của Viễn Đông, có ảnh hưởng sâu sắc không thể gột rửa khẩu vị mới của người Miền Tây trước khoai tây.

 

Gừng

Lương thực của bạn là Dược liệu của bạn

Steven Foster

 

Mọi người chúng ta ai cũng có kỷ niệm về toa thuốc gia đình của mẹ, điều gì mà bà cho chúng ta bất kể khi nào chúng ta than van tình trạng khó ở nhỏ nhất, xổ mũi, đau bụng hay điều tương tự. Với anh chị em ruột và tôi đó không phải là cháo gà, mà là rượu bia gừng. Rượu bia Gừng phục vụ cho hai mục đích, chữa bệnh và trấn an. Chữa bệnh, ở điều là số ít lương thực hoặc gia vị, trong đó gừng được biết đến nhiều, được sưu tầm như là cây dược thảo và cây lương thực. Ảnh hưởng trấn an phát triển từ thuở nhỏ của tôi liên kết với gừng với bánh kẹo có gừng. Tôi nghĩ tôi đang chữa bệnh với thuốc mà kẹo bánh được tạo ra!

 

Gừng là gì? (Ginger - What is it?)

Gừng, gồm có rễ tươi hoặc rễ khô của Zingiber officinale. Nhà thực vật học người Anh William Roscoe (1753-1831) cho loại cây trồng tên Zingiber officinale trong một báo cáo năm 1807. Họ gừng là một nhóm cây nhiệt đới đặc biệt phong phú ở Indo-Malaysia (Ấn Độ-Malaixia), gồm có trên 1200 loài thực vật trong 53 giống. Giống Zingiber gồm có ước chừng 85 loài thảo mộc thơm từ Đông Á và Úc châu nhiệt đới. Tên của giống, Zingiber, phát sinh từ từ tiếng Phạn có nghĩa là "horn-shaped," (hình thức sừng) tham khảo về sự nhô ra của thân rễ.

Cây gừng là một loài cây đa niên thẳng phát sinh từ một đến ba bộ anh (ft) chiều cao. Thân được bao quanh bởi những cơ sở bẹ của những lá hai-hàng. Một cụm hoa hình thức nhép những hoa màu vàng nhạt, tím có môi có những lá bắc vàng xanh lòe loẹt bên dưới. Chẳng may, gừng ít khi trổ hoa trong trồng trọt.

Gừng thương phẩm gồm có những thân rễ có vảy dày (thân ngầm) của cây. Chúng chia nhánh nhô ra như ngón tay cái dày, vì thế những phần chia cá thể của thân rễ được biết như là "hands" (buồng). Gừng cả rễ tươi và rễ khô, ngày càng phổ biến ở Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Trong những năm 1990s, tính trung bình, Hoa Kỳ nhập khẩu nhiều hơn 4.000 tấn gừng mỗi năm. Những nước sản xuất chính trên thế giới gồm có Fiji, Ấn Độ, Jamaica, Nigeria, Sierra Leone, và Trung Quốc. Nhập khẩu Mỹ phát sinh từ Trung Quốc, vài đảo Caribbean Islands, châu Phi, Trung Mỹ, Braxin, và Úc châu. Gừng hiện nay được trồng thương phẩm gần như ở mỗi nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới với đất có thể canh tác cho cây trồng xuất khẩu. Trong khi đa phần gừng được nhập khẩu, gừng tốt nhất người viết đã lấy mẫu là gừng hữu cơ trồng trên một phạm vi giới hạn ở Ha-Oai.

 

Gừng trong lịch sử (Ginger in History)

Gừng đã được trồng trong thời gian dài có xuất xứ đúng không rõ ràng. Được trồng cà chua và ngô đã được biết hiện có bởi những người châu Âu.

 

Kinh nghiệm của người Trung Quốc (The Chinese Experience)

Ở Trung Quốc, gừng được trình bày sớm nhất trong thảo mộc. Gừng khô được trình bày đầu trong Shen Nong Ben Cao Jing, thuộc về Hoàng Đế Thần Nông, Shen Nong, người đã sống khoảng 2,000 BC. Gừng tươi được trình bày lần đầu tiên trong Ming Yi Bie Lu (Miscellaneous Records of Famous Physicians) và Ben Cao Jing Ji Zhu (Collection of Commentaries on the Classics of Materia Medica) cả hai là thuộc tính của Tao Hongjing, công bố trong những triều đại của những vương quốc Bắc và Nam khoảng năm 500 AD.

Gừng tươi và gừng khô được xem như hai lọai hàng hóa khác nhau. Thật vật, một tác giả của một "ben cao" (dược thảo Trung Quốc) mới có cảm giác là chúng rất là khác nhau chúng phải phát sinh từ hai loại cây trồng khác nhau! Rễ khô được biết như Gan-jiang. Rễ tươi được gọi là Sheng-jiang. Rễ tươi được dùng trong việc xua đuổi mầm bệnh thông qua khả năng của nó bắt đầu đổ mồ hôi. Gừng chữa trị bệnh cảm, làm giảm ói mửa và "làm sạch" những chất có độc tố. Rễ khô điều trị tình trạng dương suy, cảm lạnh, thường  được dùng trong "lạnh" dạ dày và bụng, thường được dùng trong tiêu chảy do lạnh, ho, thấp khớp và nhiều công dụng khác. Những kết quả thực nghiệm phát triển bởi những người khoa học Trung Quốc xác minh khả năng của rễ khô trong việc "tăng cường" dạ dày trong khi tác động như một dạ dày trung bình và chất kích thích đường ruột. Điều này còn được trình bày ức chế bệnh nôn. Công trình nghiên cứu với rễ tươi cho thấy là trong vài giờ đầu trà gừng làm giảm bài tiết trong dạ dày, tiếp theo là một thời gian dài kích thích Những thí nghiệm trên động vật cũng đã trình bày hoạt động gây tê và chống viêm nhiễm.

Cả ở trong nước Trung quốc hiện đại, trong khi một thành phần chính trong hầu hết bất kể bữa ăn, gừng còn là một loại thuốc tiêu dùng rộng rãi nhất. Cả rễ tươi và rễ khô là những loại thuốc chính thức của trong dược thư Trung Quốc đương đại, như là một chất trích nước và rượu gừng. Gừng được dùng trong hàng tá toa thuốc Trung Quốc truyền thống như là một "thuốc hướng dẫn" trung hòa những ảnh hưởng của thành phần có độc tố tiềm tàng. Thật vậy, ở Trung Quốc đương đại, Gừng được tin là được dùng nửa trong những toa thuốc dược thảo.

 

Công dụng ở Ấn Độ và nơi khác (Use in India and Elsewhere )

Như Trung Quốc cổ xưa, ở Ấn Độ rễ tươi và khô được xem như sản phẩm dược thảo riêng biệt. Gừng tươi đã được dùng trong bệnh do cảm lạnh, nôn mửa, hen suyễn, ho, đau bụng, nhịp đập nhanh của tim, sưng phồng, chứng khó tiêu, ăn không ngon và bệnh thấp khớp. Nói tóm lại, trong cùng những mục đích như ở Trung Quốc cổ xưa. Trong thế kỷ 19 Ấn Độ, một nhà văn người Anh đã quan sát là một đơn thuốc phổ biến chữa trị bệnh ho và hen suyễn gồm có nước gừng tươi với ít nước tỏi tươi trộn với mật ong. Một kem nhão gừng khô bột được dán hai bên thái dương để làm giảm bệnh đau đầu. Để làm giảm trạng thái buồn nôn, gừng tươi được trộn chung với  một ít mật ong, trên có liều lượng nhỏ lông công đốt. Một hướng dẫn viên y tế chính quyền đương đại ở Ấn Độ gợi ý 1-2 muỗng trà của nước gừng với mật ong  dùng để giảm cơn ho. Gừng phổ biến trong toa thuốc gia đình hiện nay ở Ấn Độ, như đã là 2,000 năm qua.

Gừng thật là một bài thuốc gia đình trên thế giới. Bài thuốc đã nổi tiếng ở các gia đình châu Âu trong một ngàn năm. Trồng trọt châu Á đã dùng nó hàng thế kỷ. Những nhóm dân bản xứ trên các đảo Carribean nhanh chóng chấp nhận nó như một phương thuốc sau khi du nhập vào Mỹ bởi Francisco de Mendoca. Năm 1585, thật vậy, gừng được xuất khẩu từ Santa Domingo. Ở Jamaica xông khói hơi nóng trà gừng nóng được dùng như một loại thuốc xông để làm giảm nhức đầu xổ mũi.

 

Gừng trong truyền thống châu Âu (Ginger in European Traditions)

Truyền thống châu Âu xác đinh giá trị trà gừng trong rối loạn tiêu hóa. Family Herbal (1814) bởi bác sĩ người Anh, Robert Thorton, tán dương những đặc tính tốt của gừng, nhưng những tuyên bố của ông có thể nói nhiều hơn về tập tính xã hội của người Anh trong hai thế kỷ qua so với việc sử dụng gừng. "Những bệnh nhân khó tiêu do uống rượu nồng độ cao, là những chủ thể ấy là đối tượng của chứng đầy hơi và táo bón, đã biết nhận lợi ích rất lớn bằng việc sử dụng trà gừng; dùng hai hoặc ba muỗng đầy trong bữa ăn sáng, thích hợp với khẩu vị"..."Như việc gừng thúc đẩy thông lưu máu qua những mạch cực kỳ, điều được khuyến cáo trong những tập tính uể oải và phớt tỉnh, trường hợp dạ dày là chủ thể tải chất nhầy, và ruột phình lên do đầy hơi."

Mặc dù Thorton gợi ý một lợi ích tiềm tàng khác của gừng - hỗ trợ tim. Công trình nghiên cứu bởi các nhà khoa học Nhật Bản chỉ dấu là gừng có một ảnh hưởng bổ cho tim, và có thể làm giảm huyết áp bằng cách giới hạn dòng chảy của máu trong vùng ngoại biên của cơ thể. Công trình nghiên cứu xa hơn cho biết là gừng có thể làm giảm mức cholesterol bằng cách giảm sự hấp thụ cholesterol trong máu và trong gan.

 

Công dụng hiện đại (Modern Use)

Chất trích từ gừng đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều hoạt động sinh học gồm có thuốc kháng vi khuẩn (antibacterial), thuốc kháng co giật (anticonvulsant), thuốc thuốc giảm đau (analgesic), thuốc chống loét (antiulcer), thuốc chống bài tiết trong dạ dày (gastric antisecretory), thuốc chống khối u (antitumor), thuốc kháng nấm (antifungal), thuốc trị co thắt (antispasmodic), thuốc chống phát sinh dị ứng (antiallergenic), và những hoạt động khác. Gingerols đã được trình bày sẽ là chất ức chế sinh tổng hợp prostaglandin. Những nhà nghiên cứu Đan Mạch ở trường đại học Odense đã nghiên cứu những đặc tính chống đông tụ của gừng và tìm thấy gừng là một tác nhân kết von máu mạnh nhiều hơn so với tỏi và hành tây. Cùng nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu việc sử dụng tiềm tàng gừng trong trị liệu chứng đau nửa đầu (migraine), dựa trên lịch sử lâu dài sử dụng gừng trong rối loạn thần kinh bởi các bác sĩ trong hệ thống y học truyền thống của Ấ Độ đã biết như là Ayurveda. Những nhà nghiên cứu đề xuất ý kiến là gừng có thể tác động làm giảm chứng đau nửa đầu và hoạt động phờng ngừa ngoài ảnh hưởng phụ.

Những công trình nghiên cứu khoa học khác cho biết là gingerol, một trong những nguyên tắc hăng cơ bản, hỗ trợ việc đối kháng thính có độc tố trong gan bằng cách gia tăng bài tiết ra mật. Gừng cũng có những tính chất kháng vi trùng mạnh và chống oxyt hóa bảo quản lương thực). Một công trình nghiên cứu mới, đẩy mạnh sự nổi tiếng của gừng như là một loại thuốc dễ tiêu, cho biết là những chất trích acetone và methanol của gừng ức chế mạnh loét bao tử.

 

Ảnh hưởng chống ói mửa và khó chịu khi di chuyển (Antinauseant and Anti-motion sickness Effects)

Vài công trình nghiên cứu đã công bố trong hai chục năm qua đã xác nhận những yêu cầu truyền thống về việc sử dụng như một loại thuốc chống ói mửa hoặc khó chịu khi di chuyển. Trong một công trình nghiên cứu công bố trong The Lancet những nhà nghiên cứu D.B. Mourey và D.E. Clayson tìm thấy là những viên thuốc nang có 940 mg. bột gừng khô khi cho những người ói mửa khi di chuyển, hiện nay cho kết quả tốt nhiều hơn so với dimenhydrinate, một loại thuốc antihistamine dùng trong khi di chuyển để chống ói mửa. 36 tình nguyện viên liên quan trong khảo nghiệm là bị bịt mắt và đặt trên một chiếc ghế quay tròn trong sáu phút. Những người nhân gừng viên nang kéo dài trung bình 5,5 phút. Những người có antihistamine chịu dựng trong 3,5 phút. Một thử nghiệm mới thuốc trấn an chọn ngẫu nhiên bịt mắt hai lần với viên nang gừng trong khi đi tàu biển. 80 học viên trường hải quân, không thường đi xa trên tàu biển có liên quan trong khảo nghiệm. Những người dùng thuốc trấn an (placebo) trải nghiệm những triệu chứng say sóng. Những người nhận viên nang rễ gừng khô đã giảm xu hướng đổ mồ hôi lạnh và ói mửa.

Những nhà khoa học khác, trong khi tìm ra những khảo nghiệm này có triển vọng, tin tưởng là nhiều công trình nghiên cứu phải được thực hiện nhiều hơn trước khi đi đến kết luận về giá trị của gừng trong cảm giác buồn nôn khi di chuyển.

Một công trình nghiên cứu được bảo trợ bởi NASA những nhà nghiên cứu ở trường đại học bang Louisiana, công bố năm 1988, kết luận là gừng bột khô trong viên nang hai giờ trước khi khảo nghiệm, hoặc gừng tươi thái lát mỏng dùng nửa giờ trước khi khảo nghiệm, không hiệu quả khi dùng như thuốc chống nôn mửa khi di chuyển. Bốn mươi hai nam và nữ có liên quan trong khảo nghiệm. Họ là những đối tượng của thời gian nghiên cứu trên một chiếc ghế quay vòng đặc biệt. Khảo nghiệm được tiến hành phản ứng lại sự việc là 50% thành phần nhân viên tàu con thoi không gian trải nghiệm nôn mửa khi di chuyển.. Khảo nghiệm không liên quan đến gừng chính nó xác định nếu có số lượng đáng kể gừng được tin sẽ là thành phần hóa học tích cực cơ bản, gingerol, tìm thấy trong dầu chính, và chịu trách nhiệm về vị "nóng" tạo ra bởi gừng.

Trong việc thiết kế những khảo nghiệm trong tương lai những nhà khoa học phải đào sâu thêm chút ít về lịch sử cnh tác đã từ lâu sử dụng gừng như chất chống nôn mửa. Ở đó học có thể khám phá là rễ gừng tươi hoặc nước gừng được dùng cho mục đích này ở Trung Quốc không phải rễ khô như những nhà khảo nghiệm mới đã dùng. Trong khảo nghiệm tài trợ bởi NASA, một nửa đến một gam rễ khô được dùng và chỉ một gam rễ tươi. Trong y học truyền thống Trung Quốc một liều đơn gừng tươi trong toa thuốc trà dược thảo y học thay đổi từ 3-9 gam. Sáu công trình nghiên cứu trên người về ảnh hưởng của gừng trên nôn mửa khi đi tàu xe đã được thực hiện từ năm 1982, bốn nghiên cứu châu Âu báo cáo kết quả tích cực và hai nghiên cứu của Mỹ báo cáo kết quả tiêu cực. Vật liệu thực vật số lượng thấp không thích hợp và chất lượng kém có thể góp phần vào kết quả tiêu cực.

 

Những khả năng khác (Other  possibilities)

Chống ói mửa của gừng làm giảm những hoạt động thuộc về khả năng của nó làm tăng nước tiêu hóa, cộng với việc hấp thụ và trung hòa những chất có độc tố và axit dạ dày. Gừng được trình bày làm tăng bài tiết mật, cũng như làm tăng hoạt động và sức khỏe của ruột. Gừng được trình bày làm giảm sự kết dính của tiểu hồng cầu (stickiness of blood platelets), vì thế có thể hỗ trợ trong việc làm giảm rủi ro của chứng vữa xơ động mạch (atherosclerosis). Công trình nghiên cứu ó giới hạn đã gợi ý gừng có thể làm giảm bệnh buổi sáng, cũng như ói mửa sau giải phẫu. Cả hai cần sự giám sát của bác sĩ.

Rễ khô có một tác động hiệp trợ giữa những hợp chất trong dầu cần và đặc trưng hăng như  gingerol. Vài sản phẩm hiện nay được tiêu chuẩn hóa với hàm lượng gingerol.

Ở Đức, sản phẩm gừng được phép nhãn trong điều trị chứng khó tiêu và ngăn ngừa triệu chứng bệnh di chuyển tàu xe. Liều lượng ngày trung bình là 2 g thân rễ khô. Chuyên khảo trị liệu pháp Đức cảnh báo bệnh nhân mắc phải bệnh túi mật tránh sử dụng gừng. Họ cũng gợi ý không vượt quá liều lượng khuyến cáo. Những cá nhân dự tính sử dụng trong bệnh buổi sáng (chỉ ngắn hơi) tránh dùng khi bệnh túi mật hiện diện.

Gừng có giá trị toàn cầu, như thảo mộc nấu nướng, đồ gia vị, thuốc gia đình và thuốc gia đình. Có thể là gừng sẽ được thụ hưởng và có giá trị trong thiên niên kỷ tới, và nghiên cứu mới sẽ tiết lộ một cách không ngờ giá trị mới cho loại thảo mộc cổ xưa này.

 

Sử dụng gừng (Using Ginger)

Với một tách trà gừng tươi, người ta phải ngâm năm hoặc sáu lát mỏng rễ gừng. Một muỗng trà rễ khô có thể dùng trong một nửa lít nước nóng. Đậy và ngâm trong 30 phút. Những nhà thảo mộc học đã khuyến cáo trà rễ gừng khô nóng, trong liều lượng một cốc rượu vang mỗi vài giờ, hỗ trợ trong việc làn giảm những triệu chứng khi xuất hiện cảm lạnh, làm giảm tình trạng buồn nôn trung bình hoặc tiêu chảy trung bình. Rượu thuốc  gừng (trong đó rễ được ngâm trong một dung môi cồn và nước), thỉnh thoảng nhãn như "giọt" hoặc "trích," có thể dùng trong y tế và tồn trữ lưong thực thiên nhiên. Những nhà thảo mộc học khuyến cáo mười đến hai mươi giọt rượu thuốc gừng trong một ít nước với bữa ăn phản ứng lại sj không tiêu và hỗ trợ trong việc chống lại triệu chứng đầu cảm cúm. Tuy nhiên, vì người có thể không chịu dựng cảm giác nóng bỏng trong dạ dày. Sản phẩm rễ gừng khô trong viên nang, và sản phẩm viên nang với số lượng tiêu chuẩn hóa  gingerol cũng có thể được dùng rộng rãi. Đọc nhãn trên sản phẩm về liều lượng và sử dụng thông tin.

 

References

Awang, D.V.C. Ginger. Can. Pharm. J., (July); 309, 1992.

Bisset, N. G. and M. Wichtl. Herbal Drugs and Phytopharmaceuticals. Stuttgart, Medpharm Scientific Publishers, 1994.

Blumenthal, M. et al. eds., S. Klein, trans. German Commission E Therapeutic Monographs on Medicinal Herbs for Human Use. (English translation). Austin, Texas: American Botanical Council, (in edit). 1997.

Bone, M.E. et al. Ginger root - A new Antiemetic. The effect of ginger root on postoperative nausea and vomiting after major gynecological surgery. Anesthesia 45(8):669, 1990.

Bradly, P. R., ed. British Herbal Compendium. Vol. 1., Dorset, England: British Herbal Medicine Association, 1992.

Grontved, A., et al.. Ginger Root Against Seasickness. Acta Otolaryngol (Stockh), 105:45-49, 1988.

Foster, S. and C. X. Yue. Herbal Emissaries: Bringing Chinese Herbs to the West. Rochester, Vt: Healing Arts Press, 1992.

Holtmann, S., et al. The anti-motion sickness mechanism of ginger. Acta Otolaryngol (Stockh), 108, 168, 1989.

Leung, A. and S. Foster. Encyclopedia of Common Natural Ingredients Used in Foods, Drugs and Cosmetics. 2nd. ed. New York: John Wiley & Sons, 1996.

Mowrey, D. B. and D. E. Clayson . Motion Sickness, Ginger and Pyschophysics. Lancet 20, 655-667, 1982

Tyler, VE. Herbs of Choice: The Therapeutic Use of Phytomedicinals. Binghamton, NY: Pharmaceutical Products Press; 1994.

Wood, C. D., et al. Comparison of Efficacy of Ginger with Various Antimotion Sickness Drugs.

Clinical Research Practices and Drug Regulatory Affairs, 6(2):129-136, 1988.

Yamahara, et. al. 1990. Gastrointestinal Motility Enhancing Effect of Ginger and its Active Constituents. Chem. Pharm. Bull. 38(2):430-431.

All photos and text on this site copyright © 2000 Steven Foster

RGC 30-11-2006

 

Trở về Trang Chính