|
Trong hàng ngàn năm
ở hai nước Trung Quốc và Ấn Độ, gừng đi đến Miền Tây ít nhất hai
nghìn năm qua, được ghi chép như một chủ thể của thuế La Mã
trong thế kỷ thứ hai sau khi nhập khẩu thông qua Biển Đỏ đến
Alexandria. Thuế nhấp khẩu xuất hiện trong tài liệu ghi chép
Marseilles trong năm 1228 và ở Paris năm 1296. Gừng được biết
đến ở nước Anh trước cuộc chinh phục Norman Conquest, khi gừng
thường được tìm thấy trong những cuốn sách thầy lang Anglo-Saxon
thế kỷ thứ 11. Gừng được mô tả chi tiết trong một công trình thế
kỷ 13, "Physicians of Myddvai," một bộ sưu tập toa thuốc và đơn
thuốc do bác sĩ kê toa, Rhiwallon, và ba người con trai của ông,
theo sự ủy thác của Rhys Gryg, hoàng tử xứ South Wales (người đã
chết năm 1233). Trước thế kỷ 13 và thế kỷ 14 gừng quen thuộc với
khẩu vị của người Anh, và sau hồ tiêu, là đồ gia vị phổ biến
nhất. Một cân Anh gừng lúc đó có giá tiền bằng một con cừu.
Gừng, như một sản phẩm của Viễn Đông, có ảnh hưởng sâu sắc không
thể gột rửa khẩu vị mới của người Miền Tây trước khoai tây.
Gừng
Lương thực của bạn là Dược liệu của bạn
Steven Foster
Mọi người chúng ta
ai cũng có kỷ niệm về toa thuốc gia đình của mẹ, điều gì mà bà
cho chúng ta bất kể khi nào chúng ta than van tình trạng khó ở
nhỏ nhất, xổ mũi, đau bụng hay điều tương tự. Với anh chị em
ruột và tôi đó không phải là cháo gà, mà là rượu bia gừng. Rượu
bia Gừng phục vụ cho hai mục đích, chữa bệnh và trấn an. Chữa
bệnh, ở điều là số ít lương thực hoặc gia vị, trong đó gừng được
biết đến nhiều, được sưu tầm như là cây dược thảo và cây lương
thực. Ảnh hưởng trấn an phát triển từ thuở nhỏ của tôi liên kết
với gừng với bánh kẹo có gừng. Tôi nghĩ tôi đang chữa bệnh với
thuốc mà kẹo bánh được tạo ra!
Gừng là gì? (Ginger
- What is it?)
Gừng, gồm có rễ tươi
hoặc rễ khô của Zingiber officinale. Nhà thực vật học
người Anh William Roscoe (1753-1831) cho loại cây trồng tên
Zingiber officinale trong một báo cáo năm 1807. Họ gừng là
một nhóm cây nhiệt đới đặc biệt phong phú ở Indo-Malaysia (Ấn
Độ-Malaixia), gồm có trên 1200 loài thực vật trong 53 giống.
Giống Zingiber gồm có ước chừng 85 loài thảo mộc thơm từ
Đông Á và Úc châu nhiệt đới. Tên của giống, Zingiber,
phát sinh từ từ tiếng Phạn có nghĩa là "horn-shaped," (hình thức
sừng) tham khảo về sự nhô ra của thân rễ.
Cây gừng là một loài
cây đa niên thẳng phát sinh từ một đến ba bộ anh (ft) chiều cao.
Thân được bao quanh bởi những cơ sở bẹ của những lá hai-hàng.
Một cụm hoa hình thức nhép những hoa màu vàng nhạt, tím có môi
có những lá bắc vàng xanh lòe loẹt bên dưới. Chẳng may, gừng ít
khi trổ hoa trong trồng trọt.
Gừng thương phẩm gồm
có những thân rễ có vảy dày (thân ngầm) của cây. Chúng chia
nhánh nhô ra như ngón tay cái dày, vì thế những phần chia cá thể
của thân rễ được biết như là "hands" (buồng). Gừng cả rễ tươi và
rễ khô, ngày càng phổ biến ở Hoa Kỳ trong những năm gần đây.
Trong những năm 1990s, tính trung bình, Hoa Kỳ nhập khẩu nhiều
hơn 4.000 tấn gừng mỗi năm. Những nước sản xuất chính trên thế
giới gồm có Fiji, Ấn Độ, Jamaica, Nigeria, Sierra Leone, và
Trung Quốc. Nhập khẩu Mỹ phát sinh từ Trung Quốc, vài đảo
Caribbean Islands, châu Phi, Trung Mỹ, Braxin, và Úc châu. Gừng
hiện nay được trồng thương phẩm gần như ở mỗi nước nhiệt đới và
cận nhiệt đới trên thế giới với đất có thể canh tác cho cây
trồng xuất khẩu. Trong khi đa phần gừng được nhập khẩu, gừng tốt
nhất người viết đã lấy mẫu là gừng hữu cơ trồng trên một phạm vi
giới hạn ở Ha-Oai.
Gừng trong lịch sử
(Ginger in History)
Gừng đã được trồng
trong thời gian dài có xuất xứ đúng không rõ ràng. Được trồng cà
chua và ngô đã được biết hiện có bởi những người châu Âu.
Kinh nghiệm của
người Trung Quốc (The Chinese Experience)
Ở Trung Quốc, gừng
được trình bày sớm nhất trong thảo mộc. Gừng khô được trình bày
đầu trong Shen Nong Ben Cao Jing, thuộc về Hoàng Đế Thần
Nông, Shen Nong, người đã sống khoảng 2,000 BC. Gừng tươi được
trình bày lần đầu tiên trong Ming Yi Bie Lu (Miscellaneous
Records of Famous Physicians) và Ben Cao Jing Ji Zhu
(Collection of Commentaries on the Classics of Materia Medica)
cả hai là thuộc tính của Tao Hongjing, công bố trong những triều
đại của những vương quốc Bắc và Nam khoảng năm 500 AD.
Gừng tươi và gừng
khô được xem như hai lọai hàng hóa khác nhau. Thật vật, một tác
giả của một "ben cao" (dược thảo Trung Quốc) mới có cảm giác là
chúng rất là khác nhau chúng phải phát sinh từ hai loại cây
trồng khác nhau! Rễ khô được biết như Gan-jiang. Rễ tươi được
gọi là Sheng-jiang. Rễ tươi được dùng trong việc xua đuổi mầm
bệnh thông qua khả năng của nó bắt đầu đổ mồ hôi. Gừng chữa trị
bệnh cảm, làm giảm ói mửa và "làm sạch" những chất có độc tố. Rễ
khô điều trị tình trạng dương suy, cảm lạnh, thường được dùng
trong "lạnh" dạ dày và bụng, thường được dùng trong tiêu chảy do
lạnh, ho, thấp khớp và nhiều công dụng khác. Những kết quả thực
nghiệm phát triển bởi những người khoa học Trung Quốc xác minh
khả năng của rễ khô trong việc "tăng cường" dạ dày trong khi tác
động như một dạ dày trung bình và chất kích thích đường ruột.
Điều này còn được trình bày ức chế bệnh nôn. Công trình nghiên
cứu với rễ tươi cho thấy là trong vài giờ đầu trà gừng làm giảm
bài tiết trong dạ dày, tiếp theo là một thời gian dài kích thích
Những thí nghiệm trên động vật cũng đã trình bày hoạt động gây
tê và chống viêm nhiễm.
Cả ở trong nước
Trung quốc hiện đại, trong khi một thành phần chính trong hầu
hết bất kể bữa ăn, gừng còn là một loại thuốc tiêu dùng rộng rãi
nhất. Cả rễ tươi và rễ khô là những loại thuốc chính thức của
trong dược thư Trung Quốc đương đại, như là một chất trích nước
và rượu gừng. Gừng được dùng trong hàng tá toa thuốc Trung Quốc
truyền thống như là một "thuốc hướng dẫn" trung hòa những ảnh
hưởng của thành phần có độc tố tiềm tàng. Thật vậy, ở Trung Quốc
đương đại, Gừng được tin là được dùng nửa trong những toa thuốc
dược thảo.
Công dụng ở Ấn Độ và
nơi khác (Use in India and Elsewhere )
Như Trung Quốc cổ
xưa, ở Ấn Độ rễ tươi và khô được xem như sản phẩm dược thảo
riêng biệt. Gừng tươi đã được dùng trong bệnh do cảm lạnh, nôn
mửa, hen suyễn, ho, đau bụng, nhịp đập nhanh của tim, sưng
phồng, chứng khó tiêu, ăn không ngon và bệnh thấp khớp. Nói tóm
lại, trong cùng những mục đích như ở Trung Quốc cổ xưa. Trong
thế kỷ 19 Ấn Độ, một nhà văn người Anh đã quan sát là một đơn
thuốc phổ biến chữa trị bệnh ho và hen suyễn gồm có nước gừng
tươi với ít nước tỏi tươi trộn với mật ong. Một kem nhão gừng
khô bột được dán hai bên thái dương để làm giảm bệnh đau đầu. Để
làm giảm trạng thái buồn nôn, gừng tươi được trộn chung với một
ít mật ong, trên có liều lượng nhỏ lông công đốt. Một hướng dẫn
viên y tế chính quyền đương đại ở Ấn Độ gợi ý 1-2 muỗng trà của
nước gừng với mật ong dùng để giảm cơn ho. Gừng phổ biến trong
toa thuốc gia đình hiện nay ở Ấn Độ, như đã là 2,000 năm qua.
Gừng thật là một bài
thuốc gia đình trên thế giới. Bài thuốc đã nổi tiếng ở các gia
đình châu Âu trong một ngàn năm. Trồng trọt châu Á đã dùng nó
hàng thế kỷ. Những nhóm dân bản xứ trên các đảo Carribean nhanh
chóng chấp nhận nó như một phương thuốc sau khi du nhập vào Mỹ
bởi Francisco de Mendoca. Năm 1585, thật vậy, gừng được xuất
khẩu từ Santa Domingo. Ở Jamaica xông khói hơi nóng trà gừng
nóng được dùng như một loại thuốc xông để làm giảm nhức đầu xổ
mũi.
Gừng trong truyền
thống châu Âu (Ginger in European Traditions)
Truyền thống châu Âu
xác đinh giá trị trà gừng trong rối loạn tiêu hóa. Family
Herbal (1814) bởi bác sĩ người Anh, Robert Thorton, tán
dương những đặc tính tốt của gừng, nhưng những tuyên bố của ông
có thể nói nhiều hơn về tập tính xã hội của người Anh trong hai
thế kỷ qua so với việc sử dụng gừng. "Những bệnh nhân khó tiêu
do uống rượu nồng độ cao, là những chủ thể ấy là đối tượng của
chứng đầy hơi và táo bón, đã biết nhận lợi ích rất lớn bằng việc
sử dụng trà gừng; dùng hai hoặc ba muỗng đầy trong bữa ăn sáng,
thích hợp với khẩu vị"..."Như việc gừng thúc đẩy thông lưu máu
qua những mạch cực kỳ, điều được khuyến cáo trong những tập tính
uể oải và phớt tỉnh, trường hợp dạ dày là chủ thể tải chất nhầy,
và ruột phình lên do đầy hơi."
Mặc dù Thorton gợi ý
một lợi ích tiềm tàng khác của gừng - hỗ trợ tim. Công trình
nghiên cứu bởi các nhà khoa học Nhật Bản chỉ dấu là gừng có một
ảnh hưởng bổ cho tim, và có thể làm giảm huyết áp bằng cách giới
hạn dòng chảy của máu trong vùng ngoại biên của cơ thể. Công
trình nghiên cứu xa hơn cho biết là gừng có thể làm giảm mức
cholesterol bằng cách giảm sự hấp thụ cholesterol trong máu và
trong gan.
Công dụng hiện đại
(Modern Use)
Chất trích từ gừng
đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều hoạt động sinh học gồm
có thuốc kháng vi khuẩn (antibacterial), thuốc kháng co giật
(anticonvulsant), thuốc thuốc giảm đau (analgesic), thuốc chống
loét (antiulcer), thuốc chống bài tiết trong dạ dày (gastric
antisecretory), thuốc chống khối u (antitumor), thuốc kháng nấm
(antifungal), thuốc trị co thắt (antispasmodic), thuốc chống
phát sinh dị ứng (antiallergenic), và những hoạt động khác.
Gingerols đã được trình bày sẽ là chất ức chế sinh tổng hợp
prostaglandin. Những nhà nghiên cứu Đan Mạch ở trường đại học
Odense đã nghiên cứu những đặc tính chống đông tụ của gừng và
tìm thấy gừng là một tác nhân kết von máu mạnh nhiều hơn so với
tỏi và hành tây. Cùng nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu việc sử dụng
tiềm tàng gừng trong trị liệu chứng đau nửa đầu (migraine), dựa
trên lịch sử lâu dài sử dụng gừng trong rối loạn thần kinh bởi
các bác sĩ trong hệ thống y học truyền thống của Ấ Độ đã biết
như là Ayurveda. Những nhà nghiên cứu đề xuất ý kiến là gừng có
thể tác động làm giảm chứng đau nửa đầu và hoạt động phờng ngừa
ngoài ảnh hưởng phụ.
Những công trình
nghiên cứu khoa học khác cho biết là gingerol, một trong những
nguyên tắc hăng cơ bản, hỗ trợ việc đối kháng thính có độc tố
trong gan bằng cách gia tăng bài tiết ra mật. Gừng cũng có những
tính chất kháng vi trùng mạnh và chống oxyt hóa bảo quản lương
thực). Một công trình nghiên cứu mới, đẩy mạnh sự nổi tiếng của
gừng như là một loại thuốc dễ tiêu, cho biết là những chất trích
acetone và methanol của gừng ức chế mạnh loét bao tử.
Ảnh hưởng chống ói
mửa và khó chịu khi di chuyển (Antinauseant and Anti-motion
sickness Effects)
Vài công trình
nghiên cứu đã công bố trong hai chục năm qua đã xác nhận những
yêu cầu truyền thống về việc sử dụng như một loại thuốc chống ói
mửa hoặc khó chịu khi di chuyển. Trong một công trình nghiên cứu
công bố trong The Lancet những nhà nghiên cứu D.B. Mourey
và D.E. Clayson tìm thấy là những viên thuốc nang có 940 mg. bột
gừng khô khi cho những người ói mửa khi di chuyển, hiện nay cho
kết quả tốt nhiều hơn so với dimenhydrinate, một loại thuốc
antihistamine dùng trong khi di chuyển để chống ói mửa. 36 tình
nguyện viên liên quan trong khảo nghiệm là bị bịt mắt và đặt
trên một chiếc ghế quay tròn trong sáu phút. Những người nhân
gừng viên nang kéo dài trung bình 5,5 phút. Những người có
antihistamine chịu dựng trong 3,5 phút. Một thử nghiệm mới thuốc
trấn an chọn ngẫu nhiên bịt mắt hai lần với viên nang gừng trong
khi đi tàu biển. 80 học viên trường hải quân, không thường đi xa
trên tàu biển có liên quan trong khảo nghiệm. Những người dùng
thuốc trấn an (placebo) trải nghiệm những triệu chứng say sóng.
Những người nhận viên nang rễ gừng khô đã giảm xu hướng đổ mồ
hôi lạnh và ói mửa.
Những nhà khoa học
khác, trong khi tìm ra những khảo nghiệm này có triển vọng, tin
tưởng là nhiều công trình nghiên cứu phải được thực hiện nhiều
hơn trước khi đi đến kết luận về giá trị của gừng trong cảm giác
buồn nôn khi di chuyển.
Một công trình
nghiên cứu được bảo trợ bởi NASA những nhà nghiên cứu ở trường
đại học bang Louisiana, công bố năm 1988, kết luận là gừng bột
khô trong viên nang hai giờ trước khi khảo nghiệm, hoặc gừng
tươi thái lát mỏng dùng nửa giờ trước khi khảo nghiệm, không
hiệu quả khi dùng như thuốc chống nôn mửa khi di chuyển. Bốn
mươi hai nam và nữ có liên quan trong khảo nghiệm. Họ là những
đối tượng của thời gian nghiên cứu trên một chiếc ghế quay vòng
đặc biệt. Khảo nghiệm được tiến hành phản ứng lại sự việc là 50%
thành phần nhân viên tàu con thoi không gian trải nghiệm nôn mửa
khi di chuyển.. Khảo nghiệm không liên quan đến gừng chính nó
xác định nếu có số lượng đáng kể gừng được tin sẽ là thành phần
hóa học tích cực cơ bản, gingerol, tìm thấy trong dầu chính, và
chịu trách nhiệm về vị "nóng" tạo ra bởi gừng.
Trong việc thiết kế
những khảo nghiệm trong tương lai những nhà khoa học phải đào
sâu thêm chút ít về lịch sử cnh tác đã từ lâu sử dụng gừng như
chất chống nôn mửa. Ở đó học có thể khám phá là rễ gừng tươi
hoặc nước gừng được dùng cho mục đích này ở Trung Quốc không
phải rễ khô như những nhà khảo nghiệm mới đã dùng. Trong
khảo nghiệm tài trợ bởi NASA, một nửa đến một gam rễ khô được
dùng và chỉ một gam rễ tươi. Trong y học truyền thống Trung Quốc
một liều đơn gừng tươi trong toa thuốc trà dược thảo y học thay
đổi từ 3-9 gam. Sáu công trình nghiên cứu trên người về ảnh
hưởng của gừng trên nôn mửa khi đi tàu xe đã được thực hiện từ
năm 1982, bốn nghiên cứu châu Âu báo cáo kết quả tích cực và hai
nghiên cứu của Mỹ báo cáo kết quả tiêu cực. Vật liệu thực vật số
lượng thấp không thích hợp và chất lượng kém có thể góp phần vào
kết quả tiêu cực.
Những khả năng khác
(Other possibilities)
Chống ói mửa của
gừng làm giảm những hoạt động thuộc về khả năng của nó làm tăng
nước tiêu hóa, cộng với việc hấp thụ và trung hòa những chất có
độc tố và axit dạ dày. Gừng được trình bày làm tăng bài tiết
mật, cũng như làm tăng hoạt động và sức khỏe của ruột. Gừng được
trình bày làm giảm sự kết dính của tiểu hồng cầu (stickiness of
blood platelets), vì thế có thể hỗ trợ trong việc làm giảm rủi
ro của chứng vữa xơ động mạch (atherosclerosis). Công trình
nghiên cứu ó giới hạn đã gợi ý gừng có thể làm giảm bệnh buổi
sáng, cũng như ói mửa sau giải phẫu. Cả hai cần sự giám sát của
bác sĩ.
Rễ khô có một tác
động hiệp trợ giữa những hợp chất trong dầu cần và đặc trưng
hăng như gingerol. Vài sản phẩm hiện nay được tiêu chuẩn hóa
với hàm lượng gingerol.
Ở Đức, sản phẩm gừng
được phép nhãn trong điều trị chứng khó tiêu và ngăn ngừa triệu
chứng bệnh di chuyển tàu xe. Liều lượng ngày trung bình là 2 g
thân rễ khô. Chuyên khảo trị liệu pháp Đức cảnh báo bệnh nhân
mắc phải bệnh túi mật tránh sử dụng gừng. Họ cũng gợi ý không
vượt quá liều lượng khuyến cáo. Những cá nhân dự tính sử dụng
trong bệnh buổi sáng (chỉ ngắn hơi) tránh dùng khi bệnh túi mật
hiện diện.
Gừng có giá trị toàn
cầu, như thảo mộc nấu nướng, đồ gia vị, thuốc gia đình và thuốc
gia đình. Có thể là gừng sẽ được thụ hưởng và có giá trị trong
thiên niên kỷ tới, và nghiên cứu mới sẽ tiết lộ một cách không
ngờ giá trị mới cho loại thảo mộc cổ xưa này.
Sử dụng gừng (Using
Ginger)
Với một tách trà
gừng tươi, người ta phải ngâm năm hoặc sáu lát mỏng rễ gừng. Một
muỗng trà rễ khô có thể dùng trong một nửa lít nước nóng. Đậy và
ngâm trong 30 phút. Những nhà thảo mộc học đã khuyến cáo trà rễ
gừng khô nóng, trong liều lượng một cốc rượu vang mỗi vài giờ,
hỗ trợ trong việc làn giảm những triệu chứng khi xuất hiện cảm
lạnh, làm giảm tình trạng buồn nôn trung bình hoặc tiêu chảy
trung bình. Rượu thuốc gừng (trong đó rễ được ngâm trong một
dung môi cồn và nước), thỉnh thoảng nhãn như "giọt" hoặc
"trích," có thể dùng trong y tế và tồn trữ lưong thực thiên
nhiên. Những nhà thảo mộc học khuyến cáo mười đến hai mươi giọt
rượu thuốc gừng trong một ít nước với bữa ăn phản ứng lại sj
không tiêu và hỗ trợ trong việc chống lại triệu chứng đầu cảm
cúm. Tuy nhiên, vì người có thể không chịu dựng cảm giác nóng
bỏng trong dạ dày. Sản phẩm rễ gừng khô trong viên nang, và sản
phẩm viên nang với số lượng tiêu chuẩn hóa gingerol cũng có thể
được dùng rộng rãi. Đọc nhãn trên sản phẩm về liều lượng và sử
dụng thông tin.
References
Awang, D.V.C.
Ginger. Can. Pharm. J., (July); 309, 1992.
Bisset, N. G. and M.
Wichtl. Herbal Drugs and Phytopharmaceuticals. Stuttgart,
Medpharm Scientific Publishers, 1994.
Blumenthal, M. et al. eds., S. Klein, trans.
German Commission E
Therapeutic Monographs on Medicinal Herbs for Human Use.
(English translation). Austin, Texas: American Botanical
Council, (in edit). 1997.
Bone, M.E. et al.
Ginger root - A new Antiemetic. The effect of ginger root on
postoperative nausea and vomiting after major gynecological
surgery. Anesthesia 45(8):669, 1990.
Bradly, P. R., ed.
British Herbal Compendium. Vol. 1., Dorset, England:
British Herbal Medicine Association, 1992.
Grontved, A., et
al.. Ginger Root Against Seasickness. Acta Otolaryngol
(Stockh), 105:45-49, 1988.
Foster, S. and C. X.
Yue. Herbal Emissaries: Bringing Chinese Herbs to the
West. Rochester, Vt: Healing Arts Press, 1992.
Holtmann, S., et al.
The anti-motion sickness mechanism of ginger. Acta
Otolaryngol (Stockh), 108, 168, 1989.
Leung, A. and S.
Foster. Encyclopedia of Common Natural Ingredients Used in
Foods, Drugs and Cosmetics. 2nd. ed. New York: John Wiley &
Sons, 1996.
Mowrey, D. B. and D.
E. Clayson . Motion Sickness, Ginger and Pyschophysics.
Lancet 20, 655-667, 1982
Tyler, VE. Herbs
of Choice: The Therapeutic Use of Phytomedicinals.
Binghamton, NY: Pharmaceutical Products Press; 1994.
Wood, C. D., et al.
Comparison of Efficacy of Ginger with Various Antimotion
Sickness Drugs.
Clinical Research
Practices and Drug Regulatory Affairs,
6(2):129-136, 1988.
Yamahara, et. al.
1990. Gastrointestinal Motility Enhancing Effect of Ginger and
its Active Constituents. Chem. Pharm. Bull.
38(2):430-431.
All photos and text
on this site copyright © 2000 Steven Foster
RGC 30-11-2006
Trở về Trang Chính
|