Biến đổi sau dịch mã


Chu Hữu Tín

08 tháng 12 năm 2005

 

Proteins bài tiết và liên kết màng

Chia cắt phân giải protein

Glycoproteins

Cơ chế liên kết đường

Xác định mục tiêu lysosomal của enzymes

Sự có ý nghĩa lâm sàng của Glycoproteins

Khuyết tật phân huỷ Glycoprotein

Acyl-hoá

Methyl-hoá

Phosphoryl-hoá

Sulfate-hoá

Prenyl-hoá

Biến đổi lệ thuộc Vitamin C

Biến đổi lệ thuộc Vitamin K

Selenoproteins

 

 

Proteins bài tiết và liên kết màng

 

Proteins, là màng liên kết hoặc được chỉ định trong việc bài tiết được tổng hợp bởi ribosomes liên kết với những màng của mô lưới nội chất (ER). ER liên kết với ribosomes được gọi là ER thô (RER). Lớp protein này tất cả có một đầu N- được gọi là một chuỗi tín hiệu hoặc peptide tín hiệu. Peptide tín hiệu thường là 13-36 chất tồn lưu kỵ nước nổi bật. Peptide tín hiệu được nhận biết bởi một phức protein nhiều yếu tố được gọi là hạt nhận biết tín hiệu (SRP). Peptide tín hiệu này bị lấy đi tiếp theo đi qua màng mô lưới nội chất. Việc lấy đi peptide tín hiệu được xúc tác bởi peptidase tín hiệu. Proteins có một peptide tín hiệu được gọi là preproteins để phân biệt chúng với proproteins. Tuy nhiên, vài proteins được trù định cho việc bài tiết cũng được phân giải proteins thêm tiếp theo bài tiết và, vì thế có chuỗi trước (pro sequences). Lớp protein này được gọi là preproproteins.

 

 

Cơ chế tổng hợp màng liên kết hoặc bài tiết proteins. Ribosomes cam kết màng ER thông qua phản ứng tương hỗ của hạt nhận biết tín hiệu, SRP trên ribosome có thể nhận cảm SRP trên màng ER. Khi protein được tổng hợp chuỗi tín hiệu được đi qua màng ER vào trong lumen của ER.. Sau tổng hợp đầy đủ peptide tín hiệu bị lấy đi bởi hành động của peptidase tín hiệu. Sự tổng hợp sẽ tiếp tục và nếu protein được bài tiết nó sẽ kết thúc hoàn toàn trong lumen của ER. Nếu protein là màng liên kết thúc một mô típ chuyển giao kết thúc trên protein sẽ kết thúc chuyển giao protein thông qua màng ER. Điều này sẽ trở thành màng nối miền của protein.

 

Phương pháp chia cắt phân giải protein

Nhiều proteins tiến hành chia cắt phân giải protein theo sau dịch mã. Hình thức giản đơn nhất của điều này là việc lấy đi methionine bắt đầu. Nhiều proteins được tổng hợp như chất tiền tố bất động được hoạt hoá trong những điều kiện sinh lý thích hợp bởi phân giải protein giới hạn. Enzymes của tuyến tuỵ và những enzymes liên quan kết von là những ví dụ của điều trình bày sau. Những proteins tiền tố bất động được hoạt hoá bằng cách lấy đi polypeptides được gọi là proproteins.

Một ví dụ phức tạp của quá trình hậu dịch mã của một proprotein là sự chia cắt prepro-opiomelanocortin (POMC) tổng hợp trong tuyến yên (xem trang Peptide Hormones trong phần thảo luận về POMC). Preproprotein này tiến hành chia cắt phức tạp, đường dẫn của chất khác nhau lệ thuộc vào vị trí của tế bào của tổng hợp POMC.

Một ví dụ khác là một preproprotein là insulin. Vì insulin được bài tiết từ tuyến tuỵ nó có một prepepride. Tiếp theo sự chia cắt peptide tín hiệu amino acid 24 protein xếp thành proinsulin. Proinsulin được chia cắt thêm cho insulin hoạt động gồm có hai chuỗi peptide liên kết với nhau qua liên kết disulfide.

 

Lại những proteins khác (của lớp enzyme) được tổng hợp như chất tiền tố không hoạt động được gọi là zymogens. Zymogens được hoạt hoá bởi chia cắt phân giải protein như là tình huống trong vài proteins của thác đông  máu

Glycoproteins

Màng liên kết carbohydrate độc quyền ở dưới hình thức oligosaccharides cùng hoá trị liên kết với proteins tạo ra glycoproteins, và chừng mực cùng hoá trị liên kết với lipid tạo ra glycolipids. Glycoproteins gồm có proteins cùng hoá tri liên kết carbohydrate. Những đường nổi bật tìm thấy trong glycoproteins là glucose, galactose, mannose, fucose, GalNac, GlcNAc và NANA.Sự riêng biệt giữa proteoglycans và glycoproteins thường trú trong chừng mực và kiểu biến đổi carbohydrate. Những biến đổi carbohydrate tìm thấy trong glycoproteins ít phức tạp: carbohydrates được liên kết với thành phần protein thông qua có hoặc không liên kết O- glycosidic hoặc N-glycosidic. Sự liên kết N-glycosidic thông qua nhóm amide của asparagine. Sự liên kết O-glycosidic với hydroxyl của serine, threonine hoặc hydroxylysine. Sự liên kết của carbohydrate với hydroxylysine thường được tìm thấy chỉ trên collagens. Sự liên kết của carbohydrate với 5-hydroxylysine có hoặc không đường galactose riêng hoặc díaccharide glycosygalactose. Trên glycoproteins liên kết O- kiểu ser- hoặc thr-, carbohydrate trực tiếp gắn với protein là GalNAc. Trên glycoproteins liên kết N, đó là GlcNAc.

Sự liên kết carbohydrate nổi bật trên glycoproteins cuả tế bào động vật có vú là thông qua liên kết N-glycosidic. Điểm liên kết carbohydrate với glycoproteins liên kết N được tìm thấy trong chuỗi liên ứng của amino acids, N-X-S(T), nơi X là amino acid bất kỳ trừ proline. Khi một phân tích proteins trong cơ sở dữ liệu công cộng được thực hiện, điều này có thể được trình bày là ước chừng 65% của mọi proteins có ít nhất một lần xuất hiện glycỏpoteins liên kết N liên ứng Asn-X-Ser/Thr tất cả đều có một lõi chung của carbohydrate gắn với polypeptide. Lõi này gồm có ba chất tồn lưu mannose và hai GlcNAc. Nhiều đường khác gắn với lõi này và gồm có ba họ liên kết N chính.

1. Kiểu mannose liều lượng cao gồm có tất cả mannose bên ngoài lõi với những liều lượng khác nhau.

2. Kiểu lai có nhiều đường và đường amino.

 3. Kiểu phức giống như kiểu lai, nhng ngoài ra, có sialic acids ở chừng mực khác nhau.

 

Cấu trúc của oligosaccharides của 3 lớp chính glycoprotein

Vuông mở: GlcNAc; vòng tròn mở: mannose; kim cương mở: galactose; vuông đầy: fucose; tam giác đầy: sialic acid; những ký hiệu Hi Lạp “ và “ theo sau bởi số liên quan kiểu liên kết.

 Nhiều proteins được bài tiết, hoặc liên kết với màng plasma, được biến đổi bởi gắn kết carbohydrate. Bộ phận được biến đổi, trên proteins liên kết màng plasma, là phần ngoại bào của protein được sửa đổi. Những proteins nội bào thường ít bị biến đổi bởi liên kết carbohydrate. Tuy nhiên, liên kết của carbohydrate với proteins nội bào mang những hoạt động chức năng độc nhất trên những proteins này.Sự liên kết của carbohydrate với cytosolic và/hoặc proteins hạch xuất hiện thông qua liên kết O và liên quan liên kết của GlcNAc với những chất tồn lưu serine hoặc threonine. Sự liên kết được xúc tác bởi enzyme O-GlcNAc transferase, OGT. Vài yếu tố phiên mã và RNA polymerase II đã được trình bày sẽ được biến đổi bởi liên kết O-GlcNAc.

 

Cơ chế liên kết carbohydrate với protein

 

Thành phần protein của tất cả glycoproteins được tổng hợp từ polyribosomes liên kết với mô lưới nội chất (ER). Việc xử lý nhóm đường xuất hiện cùng dịch mã trên lumen của ER và tiếp tục trong máy Golgi trong glycoproteins liên kết N. Liên kết của đường trên glycoproteins O xuất hiện sau dịch mã trên máy Golgi. Đường dùng trong tổng hợp glycoprotein (liên kết N- và liên kết O-) được hoạt hóa bằng cách ghép đôi với nucleotides. Glucose và GlcNAc được ghép đôi với UDP và mannose được ghép đôi với GDP.

 

Đường liên kết O: Việc tổng hợp glycoproteins liên kết O xuất hiện thông qua việc thêm từng nước đường hoạt hóa nucleotide trực tiếp trên polypeptide. Những đường hoạt hóa nucleotide được ghép đôi với UDP, GDP (như với mannose) hoặc CMP (ví dụ NANA). Việc liên kết đường được xúc tác bởi glycoprotein glycosyltransferases. Chứng cứ chỉ dấu là mỗi kiểu đặc biệt của liên kết carbohydrate trên glycoproteins liên kết O là kết quả của một glycosyltransferase khác nhau.

Đường liên kết N: Như đã chỉ dấu trước, ba lớp chính biến đổi carbohydrate liên kết N là mannose cao, lai và phức. Đặc tính phân biệt biệt chính của lớp phức là sự hiện diện của sialic acid, nhưng trái lại lớp lại không có sialic acid.

 

Ngược lại với việc thêm từng bước nhóm đường vào lớp liên kết O- của glycoproteins, tổng hợp glycoprotein liên kết N- đòi hỏi một trung gian lipid: dolichol phosphate. Dolichols là những polyprenols (C80-C100) có 17 đến 21 đơn vị isoprene, trong đó đơn vị đầu bảo hòa.

 

Dolichol

Dấu ngoặc đen cho biết đơn vị isoprene. Phosphate trên dolichol phosphate được gắn với hydroxyl.

Như đã chỉ dấu, sự hình thành liên kết GlcNAc--Asn trên proteins xuất hiện trên mô lưới nôi chất (ER) thông qua việc thêm cùng dịch mã của một cấu trúc lõi carbohydrate tập hợp trước được cấp thông qua trung gian lipid carbohydrate dolichol. Cấu trúc lõi carbohydrate tập hợp trước gồm có ba chất tồn lưu đầu của glucose liên kết với một nhóm phân cành của 9 chất tồn lưu mannose đến lượt liên kết với hai chất lưu tồn GlcNAc gắn với dolicholpyrophosphate. Cấu trúc được viết gọn Glc3Man9GlcNAc2-P-P-dolichol. Cấu trúc này thường được tham khảo như là oligosaccharide liên kết lipid (LLO), nhưng trái lại cấu trúc oligosaccharide chính nó được gọi là oligosaccharide en bloc (theo khối lượng). Trên những tế bào của động vật có vú tầm quan trọng của chất tồn lưu cuối hiển nhiên phát sinh từ sự việc là sự chuyển giao của Man9GlcNAc1-P-P-dolichol gấp 25-lần ít hiệu quả so với cấu trúc hoàn hoàn. Ngoài ra, những cấu trúc có ba chất tồn lưu glucose cuối, nhưng không cấu trúc hoàn toàn Man9GlcNAc2, được chuyển giao có hiệu quả sang protein bởi oligosaccharyltransferase. Sự tổng hợp đơn vị en bloc dolichol-P-P-oligosaccharide bắt đầu trên mặt tế bào chất của màng ER và trước khi chuyển giao sang protein, cấu trúc "búng" qua phia lumen.

 

Ngay sau khi chuyển giao đơn vị en bloc oligosaccharide sang protein, việc xử lý và làm thay đổi thành phần oligosaccharide xảy ra và tiếp tục khi protein đi qua ER sau đó đi vào và qua máy Golgi. Ban đầu, glucose cuối bị lấy đị qua hành động của glucosidase I (GI), một enzyme liên kết màng nhận biết glucose liên kết 1,2. Hai chất tồn lưu glucose còn lại sau đó bị lấy đi b[it glucosidase II (GII), một enzyme hòa tan của chất tồn lưu glucose, tác động của những a-mannosidases lấy đi vài chất tồn lưu mannose khi protein tiến dần về Golgi. Tác động của nhiều glucosidases và mannosidases để lại những glycosidases liên kết N có một lõi chung của carbohydrate gồm có ba chất tồn lưu mannose và hai GlcNAc. Thông qua tác động của nhiều glucosyltransferases và glucosidases, nhiều đường khác được gắn vào lõi này khi protein tiến dần qua Golgi. Những phản ứng sau phát sinh ba họ chính của gluoproteins liên kết N trình bày trên.

 

Xác định mục tiêu lysomosal của enzymes

Enzymes được trù định trước cho lysosomes (lysosomal enzymes) được định hướng ở đó  bởi một biến đổi carbohydrate đặc biệt. Trong quá trình trung chuyển qua máy Golgi một chất tồn lưu của GlcNAc-1-phosphate (GlcNAc-1-P) được thêm vào nhóm carbon-6 hydroxyl của một hoặc nhiều hơn chất tồn lưu mannose đặc biệt đã được thêm vào những enzymes này. GlcNAc được hoạt hóa bởi việc ghép đôi với UDP và được chuyển giao bởi UDP-GlcNAc:lysosomal enzyme GlcNAc-1-phosphotransferase (GlcNAc-phosphotransferase), cho một trung gian phosphodiester: GlcNAc-1-P-6-Man-protein. Một phản ứng thứ hai (xúc tác bởi GlcNAc 1-phosphodiester-N-acetylglucosaminidase lấy đi GlcNAc để lại chất tồn lưu mannose phosphoryl-hóa ở vị trí 6: Man-6-P-protein. Một chất nhận đặc biệt Man-6-P receptor (MPR) hiện diện trên những màng của máy Golgi. Kết nối Man-6-P với thể nhận này xác định mục tiêu cho proteins đi đến lysosomes.

Hai MPRs riêng biệt đã được nhận diện và cả hai là thành phần của họ lectin kiểu P. Cả hai là glycoproteins màng hoàn toàn kiểu I có một miền ngoại bào đầu N-riêng, và một dịch màng riêng và một miền tế bào chất đầu C-. Một thể nhận lớn có một trọng lượng nguyên tử khoảng 300 kDa, một thể nhận khác nhỏ có một trọng lượng phân tử khoảng 46 kDa. Tính đồng nhất cấu trúc giữa hai thể nhận này chỉ dấu chúng phát sinh từ một gien tổ tiên riêng có thể nhận lớn phát sinh qua việc sao gien nhiều yếu tố. Phần ngoại bào của thể nhận lớn có 15 yếu tố đang lập lại, mỗi yếu tố trong số đồng nhất cao với miền ngoại bào của thể nhận nhỏ. Cả hai thể nhận hiện có như là dimers (chất nhị phân) gắn vào màng.

 Thể nhận lớn liên kết hai mols của Man-6-P và thể nhận nhỏ liên kết một mole Man-6-P mỗi đơn vị phụ, vì thế 4 và 2 moles của Man-6-P mỗi dimer, tương ứng. Những phiên bản của bò và của chuột của thể nhận nhỏ cần cations lưỡng trị trong việc liên kết cột thắt và vì thế thể nhận được gọi là thể nhận Man-6-P lệ thuộc cation (CD-MPR). Tuy nhiên, đối tác người có thể không cần cations cho hoạt động của nó. Thể nhận lớn không đòi hỏi cations lưỡng trị trong liên kết cột thắt và vì thế, thường được tham khảo như thể nhận Man-6-P không lệ thuộc cation (CI-MPR). Tuy nhiên, CI-MPR đã được trình bày liên kết homon polypeptide phi-glycosyl-hóa, yếu tố phát triển II giống insulin (IGF-II) và như trên MPR thường được nhận diện nhiều hơn như IGF-II/MPR. IGF-II/MPR có thể ử dụng ở trên mặt tế bào và vai trò của nó trong việc liên kết IGF-II là để xác định mục tiêu homon này trong việc phân hủy trong lysosomes. Thêm vào IGF-II, IGF-II/MPR đã được trình bày trong việc liên kết nhiều Man-6-P có proteins cũng như vài proteins phi-glucosyl-hóa. Mặc dù IGF-II/MPR và CD-MPR thể hiện những hoạt động riêng biệt, cả hai thể nhận hoạt động xác định mục tiêu enzymes lysosomal mới tổng hợp với lysosomes.

 

Sự có ý nghĩa lâm sàng của Glycoproteins

Glycoproteins trên bề mặt tế bào quan trọng trong việc thông tin giữa những tế bào, để bảo quản cấu trúc tế bào và trong việc tự nhận biết bởi hệ thống miễn nhiễm. Sự thay đổi của glycoproteins trên bề mặt tế bào có thể, vì thế, tạo ra hiệu ứng sinh lý sâu, trong đó vài hiệu ứng được trình bày dưới đây.

1. Kháng thể của nhóm máu ABO là những nửa carbohydrate của glucolipids trên bề mặt của tế bào cũng như phần carbohydrate của glycoproteins huyết tương. Khi hiện diện trên bề mặt tế bào của carbohydrates ABO được liên kết với lớp sphingolipid và vì thế của lớp glycosphingolipids. Khi carbohydrates ABO được liên kết với protein dưới hình thức glycoproteins chúng được tìm thấy trong huyết tương và được tham khảo như hình thức bài tiết. Vài cá thể tạo ra những hình thức  glycoprotein của kháng thể ABO trong khi những cá thể khác thì không. Đặc tính này phân biệt những thể bài tiết với những thể không bài tiết, một đặc tính có tầm quan trọng pháp lý như là trường hợp cưỡng hiếp. Để biết thêm chi tiết về kháng thể nhóm máu, gồm có ABO vào trang website SCARF.

 

Phương pháp sửa đổi hậu dịch mã- Chuỗi peptide

Lần trước tôi đã nói về phương pháp sửa đổi proteins, hôm nay tôi sẽ bắt đầu nói về phương pháp hậu dịch mã. Phương pháp sửa đổi dịch mã và hậu dịch mã, sửa đổi hóa học protein, và phát sinh đột biến có định hướng điểm có thể ở một chừng mực sâu được nhóm lại với nhau; chúng là tất cả những phương pháp tạo ra một protein, điều gì khác nhiều hơn là điều mà gien kiểu hoang đã mô tả đặc tính, với mã của nó trong 20 amino acids "tự nhiên". Hai phương pháp sâu nhất chia chúng là, có hoặc không sửa đổi dịch mã – trong quá trình tổng hợp protein thường bởi ribosomes- hoặc hậu dịch mã, sau khi tổng hợp chuỗi protein? Có hoặc không phương pháp sửa đổi tự nhiên, điều mà chúng ta quan sát trong thiên nhiên, điều mà chúng ta làm cho protein để tìm ra nhiều hơn về làm cách nào protein tự nhiên hoạt động, hoặc để cải tiến phương pháp hoạt động của nó, tính ổn định của nó hoặc hiệu quả? Những sửa đổi hậu dịch mã có thể được chia thêm thành sửa đổi những chuỗi phụ và sửa đổi chuỗi peptide, bao gồm việc phân giải protein- ví dụ, tạo ra insulin từ proinsulin, sự hoạt hóa proteases- nà còn những sửa đổi của amino và đầu carboxyl, sắp xếp lại chuỗi protein, và cả đảo đoạn của một amino acid, L đến D.

 

Chúng tôi đã trình bày từ trước những thay đổi dịch mã, tự nhiện hoặc nhân tạo, sửa đổi hóa học chuỗi phụ, và vài sửa đổi tự nhiên chuỗi phụ. Hôm nay tôi sẽ nói về những sửa đổi liên quan chuỗi peptide chính, đưa đến protein có chuỗi khác nhau so với chuỗi mã hóa bởi gien; điều đáng chú ý nhất của những chuỗi này, việc cắt hoặc nối chuỗi protein trong được gọi là inteins, phần lớn được khám phá ở Phòng Thí nghiệm Sinh học New England và được chuyển chúng vào sản phẩm-  Tôi đang cho bạn vật bay của chúng trên đề tài. Phần trình bày sau tôi sẽ nói về sửa đổi hậu dịch mã tự nhiên, như với sửa đổi hóa học, tôi không thể nói mọi điều, nhưng tôi sẽ cho bạn những bản sao của bản nội dung của ba cuốn sách Những Phương pháp trong Enzym học (=Methods in Enzymology) vì ít nhất một danh sách những sửa đổi hiện nay đã biết. Tôi sẽ nói về prenyl-hóa và acyl-hóa chất béo, là những đề tài nóng hiện nay, và tôi hi vọng về việc trao đổi lẫn nhau liên kết disulfide, có tầm quan trọng cơ bản.

Những thay đổi tự nhiên có thể được phân loại thêm theo ít nhất hai phương pháp: hoặc trao đổi qua lại hoặc không trao đổi qua lại, và  thay đổi những đặc tính của protein- những cấp hạng cuối này không tách riêng hoàn toàn. Phương pháp sửa đổi qua lại như là phosphoryl-hóa thường thực hiện với mục đích kiểm tra, để hoạt hoá hoặc khử hoạt hoá một enzyme, tuy nhiên có vài qui trình trao đổi không qua lại, đặc biệt là sự hoạt hóa proteases bằng cách chia cắt một liên kết peptide. Vài sửa đổi như là glycosid-hóa, prenyl-hóa và acyl-hóa chất béo hình như sẽ là để xác định phương hướng đến một vị trí đặc biệt trong hoặc ngoài tế bào, như trong màng tế bào. Trong nhiều tình huống, như là chuyển giao một nửa aminobutyl đặc biệt vào yếu tố bắt đầu eIF-5A và sự hydroxyl-hóa của nó để tạo ra một chất tồn lưu hypousine, mà Dr K.Y. Chen đang nghiên cứu, chúng tôi không biết điều gì là chức năng sửa đổi, nhưng điều đó phải là quan trọng, khi bị gián đoạn, gây tử vong.

Tôi bắt đầu với những sửa đổi những đầu N- và C- của protein. Những chuỗi polypeptide được tổng hợp bắt đâù với formylmethionine, nhưng nhóm formyl luôn, và dĩ nhiên thường là methionine, bị lâý đi trong protein trưởng thành. Khá thường là protein trưởng thành có đầu amino acetyl-hoá, thường là nếu amino acid là alanine hoặc serine, thỉnh thoảng glycine, methionine hoặc aspartic acid; nghĩa là một đau nhức bạn đang cố gắng xác định chuỗi đầu của amino bởi sự phân huỷ Edman. Glutamine đầu amino thường chu kỳ hoá để tạo ra pyroglutamic acid, trong đó nhóm amino-  thay nitrogen tách riêng trong liên kết amide với carboxyl- . Thỉnh thoảng điều này là một sản phẩm của protein, nhưng thường điều này là thật. Một sửa đổi khác của đầu amino, như của các chuỗi phụ lysine, histidine, và arginine là sự methyl-hoá. Trong vài proteins vi sinh, như là histidine decarboxylase của LactobacillusClostridium perfringens, serine hoặc threonine của đầu amino bị khử amin để phát sinh một pyruvol hoặc đầu ketobutyryl- , chất này được sử dụng như một đồng dạng của pyridoxal 5'-phosphate trong hiện tượng chuyển amin-hoá amino acid và phản ứng carboxyl-hoá. Enzyme được tổng hợp như một protein tiền tố bất động với một chuỗi Ser-Ser, carboxyl của serine đầu chuyển dịch đến hydroxyl-  và sau đó bị loại, sử dụng oxy với nó và để lại một chất tồn lưu aminocrylate- , liên kết đôi chắc là chuyển dịch về nitrogen, cho một imino acid và =NH dễ thay bởi Oxy từ nước, cho keto acid cuối. Chuỗi trước khi chia vẫn là phức trưởng thành như một đơn vị phụ tách riêng (phức hiện là một thể năm (pentamer) có hai mỗi trong những đơn vị phụ nhỏ và lớn này). Nhóm-  cũng phản ứng với đường, như trong glucuronylglycine trong vài enzyme vi sinh và và glycyl-hoá phi-enzym khi số lượng đường trong máu cao trên những bệnh nhân tiểu đường.

Có nhiều trường hợp trong đó nhóm carboxyl đầu C của polypeptide được qui đổi thành một amide. Không có nhiều sửa đổi khác của đầu C, dù có sự lấy đi vài amino acids liên kết với farnesyl-hoá hoặc geranylgeranyl-hoá của một chuỗi phụ cystein ba chất tồn lưu trong và từ đầu C, mà tôi sẽ nói về liên quan phản ứng đó.

 

Cũng có những trường hợp trong đó một amino acid phụ, phần lớn thường là arginine, được đặt trên một protein tổng hợp, thường là ở đầu amino nhưng trong một trường hợp ở đầu C (tyrosine thêm vào tubulin), thường là từ tRNA có điện tích, nhưng không có ribosomes hoặc mã di truyền, kết quả là một protein có một chuỗi như thường nhưng gồm có một amino acid không tìm thấy trong gen! Điều này cũng có thể thực hiện một cách nhân tạo. Một protein có thể được chia ở một vị trí đặc biệt bởi một protease đặc biệt, một amino acid đơn ở đầu C mới bị lấy đi bởi một carboxypeptidase, và protein đã ủ trong một dung môi hữu cơ với một protease ổn định trong điều kiện đó và một nồng độ cao của một amino acid khác. Trong những điều kiện này phân chia phân giải protein chạy ngược chiều, vì nước ở một nồng độ thấp ít hơn là 55 M, và amino acid thêm được chèn và liên kết peptide tái tạo lại.

Chủ yếu tôi muốn nói về những điều xuất hiện ở liên kết peptide. Dĩ nhiên trường hợp giản đơn nhất là việc lấy đi methionine đầu-N gốc, trường hợp giản đơn nhất kế tiếp là việc xử lý những peptides tín hiệu. Đây là một đề tài chính một toàn bộ bài giảng chính có thể được dùng, và bạn có thể tìm thấy nó trong những sách giáo khoa sinh hoá học đại cương. Polypeptide khi được tổng hợp gồm có một chuỗi đầu amino giàu amino acids kỵ nước, có thể liên kết đến hạt nhận biết tín hiệu và được cấp cho màng của mô lưới nội nhũ, nơi glycosyl-hoá xảy ra và peptide tín hiệu được chia hết. Hoặc chất protein trước này đi đến hoặc vào màng tế bào của thể hạt sợi hoặc hạt lục. Trong những trường hợp này peptide tín hiệu được chia hết trong hai giai đoạn, một trong khi đi qua màng ngoài đến không gian màng gian, một di từ màng trong, chỉ khi cả hai chuỗi tín hiệu bị lấy đi nó xếp thành cấu trúc cuối của nó. Hoặc, như với cytochrome (sắc bào) c1 protein có thể đi trước hết đến thể mẹ trong màng trong, sau đó trở lại không gian màng gian. Có một peptidase tín hiệu đặc biệt, hoặc vài, nhận biết một chuỗi đặc biệt của peptide tín hiệu để chia nó, bởi những máy vi tính hiện nay được lập trình để nhận biết điều này trong một chuỗi gien. Chứng cứ của một peptide tín hiệu nhận bằng cách so sánh chuỗi amino acid của protein trưởng thành với điều đó từ gien, chuỗi tín hiệu là sự khác biệt.

 

Một đề tài khác rộng nhiều hơn là sự chia của một hình thức chất tiển tố, gọi tên là tiền-protein, để cho hình thức hoạt động cuối. Ngay trong 20 năm qua có một cuốn sách rất lớn, Proteases and Biological Control (Proteases và kiểm tra sinh học) về đề tài này. Những trường hợp cổ điển là sự hoạt hoá chymotrypsinogen đến chymotrypsin và sự hình thành homon của peptide như là insulin. Chymotrypsinogen được tổng hợp trong tuyến tuỵ như là chymotrypsin zymogen không hoạt động và bài tiết vào trong ruột dưới hình thức này. Sự phân chia tới hạn, bởi trypsin, là liên kết peptide arg15-ile16, thả nhóm amino- của ile16 để phản ứng tương hỗ với chuỗi phụ carboxyl của asp-184; điều này cho phép những thay đổi thích ứng nhỏ làm cho những điểm hoạt động, hoạt động theo những phương pháp tôi sẽ trình bày sau. Hình thức này được gọi là chymotrypsin-, peptide cuối của amino vẫn được gắn với phần còn lại của protein bởi một liên kết disulfide của cys1. Việc phân chia phân giải protein thêm nữa lấy đi ser14-arg15, cho -chymotrypsin, và những phân chia khác lấy đi thr147-asn148, cho sản phẩm cuối -chymotrypsin, hình thức thường được khảo nghiệm.

Insulin được tổng hợp như một chất tiền-protein 105 amino acids dài. Một peptide tín hiệu 24-a được khi nó đi vào mô lưới nội nhũ, cho chất tiền-insulin. Điều này xếp và tạo ra những liên kết disulfide giữa cysteins 7 và 67 và giữa 19 và 80. Một protease giống trypsin phân chia arg31 và arg80. Chuỗi 32-60 đi xa, và arg31 được cắt tỉa hết bởi một carboxypeptidase để cho insulin trưởng thành, với những chuỗi A và B giữ chung nhau bởi liên kết disulfide. Điều này sẽ không xếp lại một cách tự nhiên trên việc làm giảm disulfides, vì việc xếp thông tin trong chuỗi 32-60 không còn hiện diện nữa. Homon của peptide và những peptides hoạt động sinh học khác thường được tạo ra một cách giống nhau, bằng cách cắt hết một protein lớn tổng hợp đầu, ví dụ, chất tiền tố proproopiomelanocortin có thể cho, trên những phân chia khác nhau, corticotropin - và g-lipotropin, a-, b- và g-MSH, enkephalin và endorphin.

Điều này đúng là sự chia những liên kết peptide, có thể hoặc không thể hình thành những liên kết peptide mới? Hiển nhiên là chúng có thể, vài trường hợp được tóm tắt bởi Coooper và Stevensii(2). Trong vài trường hợp, đáng chú ý là protein RecA của Mycobacterium tubercolusisiii (3) và đơn vị phụ xúc tác Tfp1p của H+ khổng ATPase của Saccharomyces cerevisiae (men)iv (4), protein có cùng kích thước như trên những vi sinh khác, nhưng khung đọc mở (ORF) trên gien thì lớn nhiều hơn, và tính đồng nhất ở đầu và cuối chuỗi. Điều này có thể là do việc hiệu chỉnh RNA, nhưng chỉ RNA đã quan sát là kích thước mong đợi từ ORF. Trong trường hợp vi sinh điều này được trình bày là việc dịch mã đưa đến một bản sao mỗi bản sao có 69 kDa Tfp1p và của một protein đệm 50 kDa. Những mất đoạn trong xê dịch khung trong miếng đệm đưa đến một protein cụt, phần cuối NH2 của protein trưởng thành + phần của miếng đệm, trong khi mất đoạn của một codon hoàn toàn vẫn cho một protein trưởng thành. Việc tạo ra peptide thích hợp của protein trưởng thành cho một chuỗi chạy qua điểm nối, chứng tỏ là có thể có một liên kết peptide đã hình thành. Trong cả hai trường hợp việc nối thay một cystein từ đầu amino của miền cuối C- trong một cystein của miếng đệm (spacer).

Lectin nổi tiếng (protein liên kết carbohydrate) concanavalin A làm nhiều hơnv(5). Chất này được tổng hợp như một chất tiền tố 261-a-a đi vào mô lưới nội nhũ. Ở đây nó bị kẹp ở những chất tồn lưu 119 và 130, peptide nhỏ đi xa, nhưng hình thức chuỗi hai được xếp lại một cách thích hợp và liên kết carbohydrates. Trong hình thức xếp đầu amino là chất tồn lưu rất gần 252; chất này thay thế nhóm amino của chất tồn lưu 253, với việc tạo ra một liên kết peptide mới. Kế tiếp peptide 131-134 bị cắt xén. Vì thế protein trưởng thành có chất tồn lưu gốc 135 khi đầu amino và chất tồn lưu gốc 119 giống như đầu C-. Concanavalin A thực hiện trên E. coli với một peptide tín hiệu vi sinh gắn kết đi đến không gian chất bao và không sắp xếp lại, nhưng một proteinlieen quan ở lại trong tế bào chất không sắp xếp lại theo phương pháp này. Tất cả những thay đổi xuất hiện ở phía carboxyl của một asparagine, những chất tồn lưu tiếp theo không được mô tả đặc tính trong báo cáo của Cooper và Stevens. Điều này hiện nay đã được biết là chất tồn lưu trên phía đầu C- của sự phân chia luôn là một cysteine, serine hoặc theorine.

Trường hợp được khảo nghiệm nhiều nhất là DNA polymerases từ cổ sinh vật ưa nước Thermococcus littoralis và Pyrococcus sp. GB-D, mà Francine Perler ở Phòng Thí nghiệm Sinh học New England đang cố gắng vô tính. Tính đồng nhất của gien với DNA polymerases khác cho biết trên Thermococcus hai chuỗi xenvi (6), (những chuỗi này hiện nay được gọi là inteinsvii (7) bởi tính đồng nhất với introns; những mảnh nối với nhau được gọi là exteins), và biểu hiện của gien trên E. coli cho một chất hỗ độn. Việc lấy đi một trong những inteins đưa đến polymerase 90 kDa mong đợi và một protein 45 kDa tiêu biểu intein khác. Điều này là tính đồng nhất chuỗi với việc tạo nơi trú ẩn cho endonucleases mã bởi introns và lắp đặt chuỗi DNA của chúng trong những gien có alen thiếu introns, và trong vài trường hợp hoạt động của endonucleases đã được trình bày, hình như là có liên quan trong việc di chuyển chuỗi DNA intein chung quanh bộ genome của sinh vật.

Nhóm Perler đã khảo nghiệmviii (8) Pyrococcus intein bằng cách lắp đặt nó trong một gien ghép trong protein liên kết maltose + paramyosin DSa1, những proteins có miền liên kết maltose có thể được tinh chế bằng sự hấp thụ trên amylose. Để cho E. coli tổng hợp protein qua đêm ở 12o=20o tạo ra nhiều protein ghép 132 kDa ba-phần, MIP, cũng như một hình thức 180 kDa hiển nhiên họ đặt tên là MIP*, và sản phẩm chia ở những đầu N- hoặc C- của intein (M+IP, MI+P). Giả định MIP có thể tích tụ vì nhiệt độ đến nay dưới nhiệt độ phát triển của chất ưa nhiệt từ đó nó đến. Việc hâm nóng chất tiền tố MIP đến 37o đưa đến việc nối, cho chủ yếu protein-paramyosin liên kết nối (MP) + intein (I), cùng với vài IP. Việc nối nhânh nhất ở pH 6, chậm lại ở pH cao nhièu hơn. Hình thức di trú chậm, MIP*, là một trung gian phân cành của phản ứng nối, chất này có hai chuỗi đầu amino, những chất của protein liên kết maltose và intein. Ở pH cao (10) nó quay lại hình thức tuyến tính MIP.

Việc nối MIP thực hiện trên E. coli và tinh chế bởi sắc ký trên amylose chỉ dấu là chất này không yêu cầu bất kỳ enzym khác, chỉ chuỗi intein, theo sau bởi serine, cysteine hoặc trong một trường hợp threonine, cần để có thể nối. Giả định là intein xếp để mang những điểm nối trong vùng lân cận gần, và giả định cấu trúc extein phải cho phép việc xếp này. Chuỗi intein bắt đầu với một cys hoặc ser và kết thúc, trong bảy inteins đã biết, với ba amino acids kỵ nước, sau đó hisasn (Vài inteins “giả định” khác đã được tìm thấy bởi tính đồng nhất chuỗi, tuy nhiên có một glycine, hoặc trong một trường hợp một phenylalanine thay vì histidine. Điều này không kiết có hoặc không những inteins giả định của chúng hiện nay nối). Intein thả đã được trình bàyix (9) bởi phổ kế khối lượng sẽ được thả với succinimide đầu C- tạo ra từ asparagine. Trung gian phân cành được xem như là liên quan một liên kết ester với OH hoặc SH của ser hoặc cys đầu N- của extein đầu C-, paramyosin (P) trong ví dụ. Báo cáo này tìm thấy là việc ủ chất trung gian phân cành biến chất guanidine ở pH 9 cho M + IP, chỉ dấu laflieen kết ester không bền kiềm nhiều hơn đến từ extein đầu amino đến extein đầu C-, đúng ra là từ intein.

Cơ chế khá được chấp nhận hiện nay trong việc nốix (10), xi (11), được trình bày trong Hình 2 của tài liệu phát. Điều này liên quan (i) sự tấn công ưa nước của intein ser hoặc cys trên carboxyl đầu C- của extein đầu amino, một N-S hoặc N-O xê dịch sao cho nó có thể được thấy trong việc tạo ra nhóm -keto trên histidine decarboxylase, và khi được quan sát với peptide thường trong điều kiện chua; (ii) sự dịch este-hoá xuống cuối nguồn ser hoặc cys, tạo ra chất trung gian phân cành; (iii) sự tấn công của NH2 của asparagine đầu G- của intein trên carboxyl này, cho succinimide đầu C- của intein, (iv) O (hoặc S) đến dịch N của carboxyl trở lại nhóm amino của extein cuối nguồn. Dịch O-N này phải là nhanh, vì sản phẩm MP ổn định kiềm. Histidine gần asparagine hình như sẽ có liên quan ở giai đoan iii nhưng không ở i hoặc ii, vì khi được thay thế bởi những aminoacids khác chất trung gian phân cành được tạo ra những việc nối không thực hiện. Cơ chế còn được khảo sát về VMA intein của ATPase khổng của Saccharomyces cerevisiaexii (12). Gọi tắt là Sce VMA intein.

 

Từ khi Xu và Perler làm việc ở một công ty, họ đã phát triển một sản phẩm, một hệ thống tinh chế protein giống như hệ thống với một chất glutathione-S-transferase có thể chia hoặc protein liên kết maltose nhưng không đòi hỏi enzym phân giải protein, nó dùng intein trong việc chia cắt, nhưng không nối chuỗi đầu C- trở lại. Protein được vô tính trên một vectơ với đầu C- của nó gần cysteine đầu amino của Sce VMA intein, với một miền liên kết chitin ngoài intein. Protein hoà được tạo ra trên E. coli và hấp thụ trên cột chitin. Cột sau đó được ủ qua đêm ở 4o với dithiothreitol hoặc -mercaptoethanol, giữ vai trò của Cys455, đầu N- của extein thứ hai- nó thay intein cysteine bởi dich-este-hoá. Protein sau đó được thả, với dithiothreitol trong liên kết thioester với đầi C-. Có thể chia cắt dễ chất này với hydroxylamine, hoặc thay nó với [14C]-cysteine ccó thể dịch-este-hoá và sau đó tiến hành chuyển dịch để tạo ra một liên kết peptide, vì thế nhãn protein một cách ổn định.

Vài phản ứng liên quan được trình bày bởi Sao và Kent. Protein tiền tố "hàng rào âm thanh"- một tên phát sinh từ tưởng tượng của những nhà di truyền học Drosophila- quan trọng trong việc tạo mô hình cấu trúc phôi, tự chia thành hai proteins ở chất tồn lưu cysteine. Trong trường hợp này dịch-ester-hoá kế tiếp không phải là một cysteine khác, nhưng với hydroxyl của một cholesterol, tạo ra một protein kỵ nước nhiều hơnxiii (13). Vì thế những nhà sinh học phân tử cần biết hoá học protein.

 

Còn lai để kết tinh thể việc chia cắt protein tiền tố để đặt những amino acids khác nhau trong không gian và xác định có hoặc không chỉ những amino acids lân cận là cần trong việc xúc tác phản ứng, hoặc những phản ứng khác xa nhiều hơn trong không gian cũng tác động. Nếu có, chúng có thể chỉ ở trong intein, vì thế có nghĩa là tất cả là cần, và ngoại hình thường xuyên của phản ứng tự chia cắt để lại một serine đầu amino, threonine hoặc cysteine gợi ý là ít nhất chuyển dịch N-O hoặc N-S không đòi hỏi cấu trúc bất thường.

Một sửa sai mới của một amino acid trên một protein là đảo đoạn của một L-amino acid đến một D-amino acidxiv (14), xv (15). Nhện mạng phễu Agelenopsis aperta tạo ra một nọc độc có toxins peptide làm tê liệt con mồi của nó bằng cách ngăn chặn kênh Ca++ nhạy điện thế. Toxins được tổng hợp khi những chất tiền tố lớn hơn cũng có những chuỗi tín hiệu trong việc vận chuyển ngoại bào và chuỗi acidic chia cắt hết để tạo ra toxins trưởng thành. Hai trong những toxins này, IVB và IBC, có những chuỗi đồng nhất 48 a.a dài và cùng những liên kết đồng nhất, nhưng có thể tách riêng trên hplc. IVB có độc tính nhiều hơn rất nhiều. Việc chia cắt protease ở Glu42 hoặc chia cắt CNBr tử Met43 cho hexa- hoặc polypeotides đầu C- từ hai toxins có thể tách riêng bởi hplc, trong khi peptides từ phần còn lại của toxin không thể phân biệt. Peptides với chuỗi đầu C-, Gly-Leu-Ser-Phe-Ala, được tổng hợp với có hoặc không L- hoặc D-ser ở vị trí 46 (hắn là chúng cố gắng những D-amino acids khác nữa, nhưng báo cáo cấu trúc chưa được công bố) và cùng tách rửa với peptides của toxins, leptide L-ser có chất của IVC, peptide D-ser có chất của IVB hoạt động nhiều hơn. Sau đó chúng tổng hợp toxins hoàn toàn có L- hoặc D-ser ở vị trí 46, và cho biết là chất gì xếp đúng giống nhau so với chất toxin tự nhiên.

 

Nọc độc thô qui đổi IVC thành IVB, điều này được minh chứng tốt nhiều hơn khi nọc độ bị chia bởi lọc gel, tách riêng isomerase 30 kDa khỏi một metalloprotease 86 kDA trái lại làm xuống cấp IVC. Điều này chỉ rõ một lý do vè đảo đoạn trên. Những liên kết peptide D-amino acid không được chia cắt bởi proteases chia cắt những liên kết peptide L-amino acid tự nhiên, con mồi côn trùng có thể dùng để khử độc tố IVC. Nhưng quan trọng nhiều hơn, đảo đoạn cho phép độc tố sẽ thích hợp nhiều hơn với những kênh Ca++ nó ngăn cản, làm cho nó một độc tố mạnh nhiều hơn, kho chứa thể cấu tạo protein được thêm vào. Tôi có thể cho các bạn nhiều ví dụ tương tự nhưng peptides nhỏ nhiều hơn với D-amino acids, nhưng chúng được trình bày trong báo cáo của Kreil tôi sẽ gửi đến các bạn

Liên kết với điều tôi vừa nói về liên kết peptide D-amino acid đang ổn định với proteases, tôi trình bày là những công ty dược phẩm quan tâm nhiều hơn đến peptides hoạt động về mặt sinh học với có hoặc không D-amino acids hoặc nitrogen methyl-hoá trên liên kết peptide, vì những điều này sẽ là kháng lại sự chia cắt phân giải protein để cho viên thuốc có thể uống được, pepdide sẽ không bị nghiền trong dạ dày.

 

Biến đổi sau dịch mã

 

Việc thả 1 chuỗi palypeptide hoàn tất từ 1 ribosome thường không phải là bước hóa học cuối cùng trong việc hình thành 1 protein. Biến đổi lưỡng trị khác nhau thường xảy ra, trong hoặc sau khi tập hợp chuỗi polypeptide. Nhiều protein tiến hành biến đổi đồng thời hoặc sau dịch mã. Tri thức về những biến đổi này cực kì là quan trọng vì chúng có thể làm thay đổi những đặc tính vật lý và hóa học, xếp, phân bố cấu hình, tính ổn định, hoạt động, và kết quả, chức năng của protein. Hơn nữa sự biến đổi tự nó có thể hành động như 1 nhóm chức năng phụ. Những ví dụ về hiệu ứng sinh học biến đổi protein gồm có phosphoryl-hóa trong dẫn truyền tín hiệu, thích nghi hóa trong phân giải protein, liên kết axit béo trong khi bỏ neo màng và tập hợp, glycosyl-hóa trong phản ứng tuyên hổ nửa cuộc sống protein, xác định mục tiêu, tế bào- tế bào và tế bào-thể gốc. Về mặt hệ quả phân tích protein và biến đổi sau dịch mã của chúng là quan trọng đặc biệt trong việc nghiên cứu bệnh tim, bệnh ung thư, bệnh thần kinh và bệnh tiểu đường.

 

Glycosyl-hóa

Glycosyl-hóa protein nhận biết như là 1 trong những biến đổi sau dịch mã chính với những hiệu ứng có ý nghĩa trong việc xếp protein, phân bố cấu hình, tính ổn định và hoạt động. Carbohydrates dưới hình thức oligosaccharides liên kết aspargine (N-liên kết) hoặc serine/threonine (O-liên kết ) là những thành phần cấu trúc chính của nhiều protein bề mặt tế bào và bài tiết.

Tính chất phức tạp của glycosyl-hóa trình bày những vấn đề phân tích proteomic. Việc đục lỗ giản đơn hóa phân tích glycoprotein bằng cách dùng O-GlcNAc Western Blot Detection Kit, GelCode Glycoprotein Staining Kit và Glycoprote in Carbohydrate Estimation Kit.

 

O-GlcNAc Western Blot Detection Kit

ß-O-Linked N-acetylglucosamine (O-GlcNAc) là 1 hình thức nhận diện mới của glycosyl-hóa nội bào độc nhất với protein tiếp xúc với những ngăn hạch và tế bào chất. Không giống như glycosyl-hóa protein O cổ điển hoặc liên kết N, biến đổi O-GlcNAc chỉ liên quan 1 nửa GlcNAc đơn liên kết với nhóm hyđroxyl của chất tồn lưu Ser/Thr. Chứng cứ tăng lên gợi ý là biến đổi O-GlcNAc là 1 biến đổi điều hòa giống như phosphoryl-hóa, vì điều này có động thái cao với việc quay vòng nhanh phản ứng lại những tính hiệu tế bào hoặc những giai đoạn tế bào.

 

O-GlcNAc Western Blot Detection Kit (Product # 24565 ) mới được tạo ra trong việc khám phá đặc biệt protein biến đổi O-GlcNAc. Bộ dụng cụ gồm có kháng thể vô tính đơn đặc biệt cao nhất trên chuột có thể sử dụng và chỉ phản ứng với gien liên kết ß-O hoặc biến đổi threonine GlcNAc. Không có tái hoạt động tréo với liên kết a-O-GLcNAC, biến đổi , a/ß-O-GalNAc hoặc oligosaccharides liên kết N khác.

 

GelCode Glycoprotein Staining Kit

The GelCode Glycoprotein Staining Kit (Product # 24562) khám phá những nửa đường glycoprotein trên gel polyacrylamide và trên màng tế bào nitơ. Khi xử lý với thuốc thử oxyt hóa được oxyt hóa (chua định kỳ), glycols hiện diện trên glycoproteins được oxyt hóa thành aldehydes. Sau khi hoàn tất qui trình, glycols bị nhuộm, cho những băng magenta có nền màu hồng nhạt hoặc không màu.

 

Glycoprotein Carbohydrate Estimation Kit

Glycoprotein Carbohydrate Estimation Kit (Sản phẩm # 23260) là một phương pháp giản đơn, nhanh trong việc khám phá glycoprotein và trong việc ước lượng hàm lượng carbohydrate trên glycoproteins, Glycoprotein trước hết được oxxyt hóa với sodium metaperiodate và aldehyde đã hình thành được khám phá bằng cách dùng thuốc thử sở hữu. Việc khám phá đưa đến một màu tím có một tỷ lệ hấp thụ với phần trăm thành phần carbohydrate trên glycoproteins.

 

Phosphoryl-hóa

Việc phosphoryl-hóa protein qua lại, chủ yếu trên những chất tồn lưu serine, threonine hoặc tyrosine, là một trong những biến đổi sau dịch mã nghiên cứu kỹ và quan trọng nhất. Phosphoryl-hóa giữ vai trò tới hạn trong việc điều hòa nhiều quá trình tế bào gồm có chu kỳ tế bào, phát triển, apoptosis (bệnh đột ngất?) và dường dẫn truyền tải tín hiệu. Để hiểu rõ cơ sở phân tử của nhưng cơ chế điều hòa này, điều cần là nhận diện và mô tả đặc tính những điểm phosphoryl-hóa này trên proteins. Việc đục lỗ cho vài sản phẩm gồm có GelCode Phosphoprotein Stain Kit, Phosphopeptide Isolation Kit và PhosphoProbe-HRP trong việc khám phá và khảo nghiệm proteins phosphoryl-hóa.

 

GelCode Phosphoprotein Stain Kit

GelCode Phosphoprotein Stain Kit (Sản phẩm # 24550) được tạo ra cho việc nhuộm đặc biệt proteins phosphoryl-hóa trực tiếp trên jel. Phương pháp lệ thuộc vào sự thủy phân liên kết protein phosphoester bằng cách dùng 0,5 N NAOH với sự hiện diện của ions canxi. Sử dụng bộ công cụ này làm dễ dàng khám phá phosphoserine và phosphothreonine nhưng không phosphotyrosine. Jel có calcium phosphate không hòa tan mới tạo ra sau đó được xử lý với ammonium molybdate trong nitric acid lỏng. Chất phức nitrophospho-molybdate không hòa tan kết quả cuối cùng được nhuộm với một dung dịch nhuộm cơ bản có xanh methyl.

 

Phosphopeptide Isolation Kit

Phosphopeptide Isolation Kit (Sản phẩm # 89853) được tạo ra để giản đơn hóa việc phân lập và nhận diện phosphopeptide với protein tiêu hóa thông qua phản ứng tương hỗ chuyên tính của nhóm phosphate với gallium bất động. Phosphopeptide tinh chế có thể được phân tích bởi phương pháp cổ điển (ví dụ nhãn 32P, sắc ký lớp mỏng/áp suất cao sắc ký lỏng và thoái hóa Edman) và số lượng vật liệu cao và phổ kế sắc ký khối lượng lỏng mạnh nhiều hơn (LC-MS) và phân tích phổ kế khối lượng khử hấp thu/ion-hóa hỗ trợ bởi chất gốc (MALDI-MS). Phosphopeptides có thể được tách rửa bằng cách dùng điều kiện kiềm như là 0,1 N ammonium bicarbonate (pH 9), cho phép phân tích trực tiếp bởi phổ kế không dùng mẫu vật phụ.

 

PhosphoProbe-HRP

PhosphoProbe-HRP và Bộ công cụ (Sản phẩm # 15166, 15167) dùng một chất dẫn xuất hoạt hóa bởi Sắt (Fe3+) của horseradish peroxidase (HRP) có thể được dùng để khám phá phân tử phosphoryl-hóa. Sắt tam (Fe3+) phản ứng tương hỗ với ái lực cao với nhóm phospho (Ka >101 3/M) và, vì thế, có thể dùng để khám phá phosphoproteins, phosphopeptides, organophosphates và những phân tử phosphoryl-hóa. Sản phẩm này có thể được dùng trong những ứng dụng ELISA, immunohistochemistry (hóa học mô miễn dịch) và thấm Western,

 

Phosphoprotein Phosphate Estimation Assay Kit

Phosphoprotein Phosphate Estimation Assay Kit (Sản phẩm # 23270) là phương pháp nhanh và dễ sử dụng trong việc xác định phạm vi phosphoryl-hóa một protein tinh chế. Khảo nghiệm được dựa trên thủy phân kiềm phosphate khỏi chất tồn lưu seryl và threonyl trên phosphoproteins và xác định số lượng của phosphate thả bằng cách dùng xanh malachite và ammonium molybdate. Phương pháp này có thể nhận diện nột protein không biết đang quan tâm như một phosphoprotein có phosphoserine hoặc phosphothreonine và phạm vi phosphoryl-hóa. Mẫu protein tinh chế được so với một bộ tiêu chuẩn liều lượng đặc biệt của phosvitin, một phosphoprotein của chừng mực phosphoryl-hóa đã biết. Tuy nhiên, phương pháp này không thả phosphate khỏi chất tồn lưu phosphotyrosine.

RGC ngày 27-11-2005

Common Postranslational Modifications 

Sulphydryls

(C)           Disulphide bond   -2.0159      Oxidation                       +15.9994

                Cysteinylation     +119.1442   Glutathionylation           +305.3117

 

Amines

(K/N-terminus)

               Methylation          +14.0269     Formylation                    +28.0104

               Acetylation           +42.0373     Lipoic acid                      +188.3147

               Farnesylation        +204.3556   Myristoylation                 +210.3598

               Biotinylation         +226.2994   Palmitoylation                 +238.4136

               Stearoylation         +266.4674  Geranylgeranylation         +272.4741

 

Acids & amides (E/D/Q/N)

              Pyroglutamic

              acid (Q)                  -17.0306     Deamidation (Q/N)           +0.9847

Carboxylation (E/D)                                                                          +44.0098

 

Hydroxyl groups

(S/T/Y)

             Phosphorylation      +79.9799    Sulphation                         +80.0642

 

Carbohydrates

(S/T/N)

            Pentoses                   +132.1161  Deoxyhexoses                   +146.1430

            Hexosamines            +161.1577  Hexoses                             +162.1424

            N-acetylhexosamines +203.1950 Sialic acid                          +291.2579

 

 

 

--------------------------------------------------------------------------------

If you don't see your modification here, try the modifications list from the University of Melbourne, Delta mass 2.0.

 

 

Trở về Trang Chính