|
Dẫn luận
Trong thập niên vừa qua, lây lan nghiêm trọng của
bệnh cháy lá đã xảy ra năm 1988 và 1991 trong các vùng ôn đới
của Nhật Bản gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế nông
nghiệp tại chỗ ở đó. Biến đổi về tính nghiêm trọng lây lan lệ
thuộc chủ yếu vào điều kiện thời tiết trong quá trình lây lan.
Việc chọn tạo giống cây trồng để phòng trừ bệnh cháy lá đã đi
đến một ngõ cụt, và không chắc là các giống lúa trồng mới, có
thể chấp nhận về mặt nông học có tính kháng sẽ có thể sử dụng
đối với nhà trồng trọt trong 10 năm tới. Điều nói trên có nghĩa
là các nhà trồng trọt phải sử dụng các loại thuốc trừ nấm để
quản lý bệnh. Các loại thuốc trừ nấm có thể cần được sử dụng đến
5 lần trong thời gian lây lan (Ishiguro và Hashimoto, 1991). Hơn
10 loại thuốc trừ nấm (không tính trường hợp xử lý hạt giống) đã
được đăng ký đối với bệnh cháy lá tại Nhật Bản (Bảng 25.1), và
hầu hết trong số có hiệu quả ngay cả khi được sử dụng sau khi
bệnh xuất hiện.
Trong số nhiều quyết định của nhà trồng trọt đầu
mùa, một số có thể ảnh hưởng dến tính nghiêm trọng của các
trường hợp lây lan tới. Trước khi xuất hiện lây lan, họ phải
quyết định giống nào để trồng, bao nhiêu phân đạm cần sử dụng
như là bón lót, và nên hay không sử dụng sớm một loại thuốc trừ
nấm nội hấp (như là loại thuốc có thể sử dụng trong các hộp ươm
hay trên mặt nước ngoài ruộng lúa). Sau khi bệnh xuất hiện,
nhưng trước khi lây lan trở nên nghiêm trọng, các nhà trồng trọt
phải xác định khi nào, bao lâu, và loại thuốc trừ nấm cần sử
dụng, và khi nào rải phân đạm. Vì vậy, các nhà trồng trọt cần
tạo ra nhiều quyết định và tối ưu hoá chúng theo thứ tự ưu tiên.
Thứ tự ưu tiên có thể khác nhau giữa các người ra quyết định.
Thí dụ, một nhà trồng trọt có thể đặt ưu tiên về năng suất, và
người khác về việc ổn định lợi tức, về việc sử dụng ít lao động,
về việc sử dụng thuốc trừ nấm ít, hay một số lượng phức của các
yếu tố trên.
Vì quan hệ phức tạp giữa những thành phần hệ
thống của bệnh cháy lá, ảnh hưởng của các biện pháp phòng trừ
trường hợp lây lan bệnh có thể là phi tuyến tính. Thật vậy các
quyết định phòng trừ phái có cơ sở trên sự hiểu rõ tại sao lây
lan sẽ tiến triển, một biến cố không chắc trong tương lai; và
các lời dự báo phải cải thiện thông tin về biến cố không chắc
trong tương lai. Một phương pháp tiếp cận phân tích - hệ thống
vi sinh vật có thể là một biện pháp thích hợp để giải quyết các
vấn đề này. May thay, có đủ tri thức về hầu hết các thành phần
của các hệ thống bệnh cháy lá để tạo thuận lợi cho chúng ta phát
triển một mô hình tái tạo lây lan bệnh cháy lá.
Gần nửa thế kỷ đã qua từ khi Waggoner và Horsfall
(1969) đã chứng minh mô hình tái tạo đầu tiên các trường hợp lây
lan bệnh cây. Campbell và Madden (1990) chỉ cho thấy là hầu hết
các mô hình tái tạo chưa đạt đến tiềm năng của chúng như dụng cụ
của môn lây lan học. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tin là phương pháp
thực tiễn nhất để cải thiện các phương pháp quản lý bệnh cháy lá
là thông qua việc sử dụng phương pháp tạo mô hình tái tạo. Mục
tiêu cuối của chúng tôi là để phát triển các phương pháp tốt hơn
đối với việc quản lý bệnh cháy lá, gồm có thiết kế của các hệ
thống dự báo bệnh mới, và chúng tôi đã sử dụng mô hình tái tạo
để đạt được mục tiêu này.
Mô hình bệnh cháy lá, BLASTL (Hashimoto et al.
1984) và mô hình bệnh thúi bông PBLAST, (Ishiguro và Hashimoto,
1988, 1990) đã được phát triển tại Nhật Bản và, dù cho có thể
được sử dụng cuối trong việc phát triển các phương pháp quản lý
thay đổi, độ tin cậy và hiệu lực của các mô hình này phải được
xác định. Mô hình phải có hiệu lực chủ quan bằng cách sử dụng
các bộ dữ liệu không được sử dụng trong việc phát triển mô hình.
Các mô hình tái tạo phải được cải thiện để gia tăng tính thực tế
của năng suất. Các mã số của chương trình gốc của mô hình phải
được viết lại thành một ngôn ngữ lập trình tinh tế hơn để tạo
thuận lợi cho việc sửa đổi kế tiếp của các chương trinh.
Cuối cùng, mô hình phụ đối với các biện pháp đối
kháng để phòng trừ lây lan phải được triển khai. Chúng tôi vừa
tổ chức nghiên cứu quanh các ưu tiên trên.
Bảng 25.1 Các loại thuốc trừ nấm gây bệnh cháy
lá tại Nhật Bản
|
Tên thường gọi |
Chế phẩm /Sử dụng
a |
Ghi chú |
|
Blasticin-5
EDDP
Ferimzone b
Fthalide
IBP
Isoprothiolane
Kasugamycin
Probenazole
Pyroquilon
Tricyclazole |
Phun
Phun
Phun
Phun
Phun/hạt
Phun/ hạt
Phun
Hạt
hạt
Phun |
Kháng sinh
Lân hữu cơ
MBI c
Lân hữu cơ
Kháng sinh
MBI
MBI |
|
a
Phun có nghĩa là bất kỳ chế phẩm dùng để phun. Thuốc trừ
nấm chế phẩm dạng hạt đước sử dụng trên mặt nước của
ruộng lúa hay trong hộp ươm.
b
Được phối hợp với MBIs trong tất cả sử dụng thương phẩm.
c
ưc chế sinh tổng hợp Malanin |
Mô hình cháy lá, BLASTL
Mô hình lần đầu tiên được viết bởi Hashimoto et
al. (1984) tại FORTRAN. Mô hình này giả định một kiểu hình trung
gian của cây lúa và sự hiện diện của chủng gốc. Mô hình tính
toán sinh trưởng của cây một lần /ngày và tập tính của nấm (tạo
bào tử, giải phóng bào tử, phát tán, đáp xuống, sống sót, sự nẩy
mầm, sự thâm nhập, khuẩn lạc hoá, và sự phát triển vết thương)
tám lần /ngày dựa trên nhiều yếu tố thời tiết (nhiệt độ, tốc độ
gió, thời gian chiếu sáng, vũ lượng, và độ ẩm của lá). Mô hình
khi đó tính toán mức nghiêm trọng bệnh, và số vết thương hay
diện tích bị thương của từng vị trí lá.
Hiệu lực đầu tiên của BLASTL được thực hiện bởi
Hashomoto et al. (1993a) cho biết một tương quan chặt giữa các
số vết thương trên mỗi cây được dự báo bởi BLASTL bằng cách sử
dụng các ghi chép về thời tiết trong 19 năm, và diện tích bệnh
hiện tại dựa trên các khảo sát trên các ruộng lúa gần bên
(33.000 ha tính chung) trong các năm tương ứng. Điều này giả
định một quan hệ định lượng giữa mức nghiêm trọng bệnh và diện
tích bị bệnh vẫn chưa biết được. Ishiguro et al. (1989) gợi ý là
số ruộng trong đó mức nghiêm trọng bệnh nhiều hơn một giá trị
chuyên biệt hoá đã gia tăng như mức nghiêm trọng bệnh trung bình
đã gia tăng, dựa trên các dữ liệu trên 5 năm của khoảng 150
ruộng lúa. Chúng cho thấy là sự phân bố tần số của số ruộng và
mức nghiêm trọng bệnh cháy lá lúa thường tuân thủ theo một sự
phân bố luỹ thừa với hàm số tỷ trọng xác suất dưới đây:
g(x) = (xem công thức trang 437)
trong đó x là mức nghiêm trọng bệnh, số nguyên
xác định của g (x) là tần số tương đối của ruộng lúa với một
biên đã biết, vfa 1/l
là trung bình và lệch chuẩn của x. Phương trình này có nghĩa là
vùng ở đó bệnh xảy ra nghiêm trọng hơn một giá trị ngưỡng trung
gian gia tăng khi mức nghiêm trọng bệnh gia tăng. Vì vậy, tập
tính tổng hợp của mô hình có đủ thực tế sinh học để dự báo trên
ruộng hữu quan và vùng lân cận.
Ishiguro et al. (1991) đã hợp thức hoá mô hình
một cách chủ quan, và phần kế tiếp mô tả hiệu lực của nó. Chúng
tôi đã xác định hiệu lực theo Teng (1981): “sự so sánh định
lượng đầu ra từ mô hình tái tạo với các kết quả thực nghiệm
không được sử dụng trong việc phát triển mô hình.
BLASTL có nhiều tham số có thể được chỉnh một
cách trung gian bởi người sử dụng. Người sử dụng có thể chỉnh
bao nhiêu lá của một cây lúa xuất hiện trong khi tạo mô hình và
diện tích bao nhiêu mỗi lá có. Các tham số còn có thể xác định
bằng cách sử dung các dữ liệu thật. Trong mô hình, chúng tôi còn
có thể chỉnh tính nhiễm của từng vị trí lá, một tính trạng thay
đổi theo giống trồng và là quan trọng đối với việc tạo mô hình
(đánh giá tính nhiễm của lá và giống trồng trong điều kiện ngoài
đồng vẫn còn là khó). Nếu một mô hình chỉ được thí nghiệm trên
các dữ liệu trên đó nó được xây dựng, giá trị dự báo của mô hình
không biết. Để xác định tính lợi ích dự báo của BLASTL, chúng
tôi đã sử dụng phượng pháp định giá trị dưới đây.
Một là, để ước tính các tham số của tính nhiễm,
chúng tôi đã xem xét mô hình như một hàm
Y =
ò(t;
q1;
q2;
q3)
Trong đó, t, một biến độc lập, là thời gian từ từ
lúc bắt đầu tạo mô hình (ngày), y, một biến lệ thuộc, là số vết
thương mỗi cây, và
qI,
các tham số không biết, là tính nhiễm của ba vị trí lá trên (chữ
i, tham khảo như từng vị trí của lá). Các tham số của ham phi
tuyến tính được ước tính bằng cách sử dụng một phương pháp bình
phương nhỏ nhất phi tuyến tính (non-linear least squares method)
( chúng tôi đã sử dụng phương pháp quasi-Newton) với một bộ thay
đổi về thời gian trên số lượng vết thương mỗi cây ở ngoài đồng.
Trong trường hợp này, số điểm dữ liệu đã quan sát phải là nhiều
hơn số điểm của số tham số, để nhận đủ thông tin từ hàm hệ quả.
Bằng cách sử dụng các tham số được xác định bởi tham số trên,
chúng tôi đã dự báo lây lan trong các năm khác bằng cách sử dụng
các dữ liệu thời tiết không được sử dụng để nhận các tham số.
Hiệu lực cuối cùng được thực hiện bởi sự so sánh
bằng mắt các sơ đồ được dự báo và đường biểu diễn tiến triển
bệnh đã quan sát (Hình 25.1). Dù cho kết quả không thoả đáng
tích hợp, có một sự tương đồng giữa các đường đã quan sát và
đường đã ước tính. Vì vậy, chúng tôi cảm thấy là thích hợp để sử
dụng phương pháp này.
Sự biến đổi chương trình BLASTL
Sau khi giới thiệu mô hình của chúng tôi, nhiều
vấn đề đã nảy sinh. Ngôn ngữ máy tính chúng tôi đã sử dụng không
quen thuộc với các nhà nghiên cứu, và các ý kiến được viết tay
bằng tiếng Nhật thay vì tiếng Anh. Ngoài ra, chương trình quá
phức tạp đối với các nhà khoa học khác để hiểu dễ dàng. Vì vậy,
chúng tôi quyết định viết lại chương trình theo ngôn ngữ Pascal,
vì hầu hết sinh viên đã học tập ngôn ngữ này trong các khoá học
lập trình trên máy tính nhập môn; thích hợp với việc lập trình
có cấu trúc (Kernighan và Plauger, 1978; thí dụ dễ đọc và sửa
đổi); phần mềm rẻ tiền, điều nói trên có thể được sử dụng trên
hầu hết các PCs; và khá dễ để dịch sang ngôn ngữ C. Tất cả các
nghiên cứu được báo cáo ở đây được thực hiện với phiên bản
Pascal của BLASTL.
Chủng đầu tiên trên mô hình
Mô hình BLASTL giả định là chủng đầu tiên hiện
diện. Có một cuộc tranh luận về giả thuyết này. Hashimoto et al.
(1984) đã tìm thấy là thời gian của chủng đầu tiên là một yếu tố
quan trọng trong tập tính của mô hình. Tỷ trọng của chủng còn
được tìm thấy ảnh hưởng đến tiến triển bệnh trên mô hình, dù cho
ảnh hưởng nhỏ. Các kết quả như trên được mong muốn đối với các
bệnh nhiều vòng (polycyclic diseases) (Fry, 1982). Các tham số
của chủng đầu tiên được cung cấp như là đầu vào của các người sử
dụng và không được xác định bởi mô hình.
May thay, Kobayashi (1984) đã báo cáo thông tin
chi tiết về giai đoạn đầu tiên lây lan bệnh cháy lá. ông đã quan
sát hai giai đoạn lây lan bệnh cháy lá trong một vùng chuyên
canh lúa ôn đới tại Nhật Bản: một lây lan trung tâm tiếp theo là
một lây lan tổng hợp. Ông gợi ý là điều nói trên thuận lợi để
xem xét sự xuất hiện lây lan bệnh cháy lá trong một vùng. Tin là
hầu hết (nếu không phải là tất cả) nguồn chủng phát xuất từ các
thảm cây con để lại ngoài ruộng lúa để lấp đầy các khoảng trống
trên hàng. Có thể là nấm trên các thảm được đưa vào hạt giống,
qua đông trên rơm rạ bệnh được đánh thành đống gần nương mạ, hay
nơi nào đó khác. Các trung tâm lây lan đầu tiên ở quanh các thảm
cây con này (lây lan trung tâm). Tỷ trọng của các trung tâm
trong một vùng thì thấp (1, 0 tiêu điểm cho 10 ha, theo Ishiguro
và Hashimoto, 1991), và chúng mở rộng chậm.
Vài tuần sau khi xuất hiện lây lan trung tâm, lây
lan tổng hợp có thể phát triển. Zadoks và Schein (1979) đã xác
định điều này như sau: “một trường hợp lây lan tổng hợp xuất
hiện tất cả cùng một lúc, trên các diện rộng, phân bố đều trong
và giữa ruộng. Sự phát triển lây lan tổng hợp của bệnh cháy lá
lúa được đánh dấu bởi sự xuất hiện đồng thời của các vết thương
riêng trong một mô hình không gian ngẫu nhiên trong hầu hết các
ruộng trong một vùng. Các trường hợp lây lan này có thể là một
hiện tượng chừng mực trung gian. Kobayashi đề xuất là các tiêu
chuẩn dựa trên điều kiện thời tiết phải được sử dụng để dự báo
sự bắt đầu lây lan tổng hợp. Các tiêu chuẩn là thời gian ẩm là
10 giờ hay nhiều hơn; thời gian ẩm xảy ra do mưa; thời gian gồm
có một đêm, và nhiệt độ khí quyển tối thiểu trong thời gian cao
hơn 16oC (Kobayashi, 1984; Ishiguro và Hashimoto,
1991). Kobayashi (1985) đề xuất là 10 ngày sau các điều kiện
thời tiết thuận lợi đối với sự lây lan (sau thời gian ủ lây
lan), thế hệ đầu tiên của bệnh cháy lá lúa có thể được phát hiện
trong hầu hết các ruộng lúa trong một vùng. Ruộng lúa phải được
khảo sát đựa trên phương pháp của ông (đi bộ trong một ruộng lúa
và quan sát chậm dọc theo hàng khoảng 100m một hay hai lần). Nếu
số ít vết thương riêng được tìm thấy (như là phổ biến), có thể
đề xuất là một trường hợp lây lan tổng hợp đã bắt đầu. Tuy
nhiên, có các khả năng khác. Nếu các quần tụ (aggregation) của
một bố mẹ và các vết thương chị em (trung tâm) đã được tìm thấy,
khi đó trường hợp lây lan tổng hợp nhiều hơn một tuần tuổi. Lại,
nếu không có vết thương được tìm thấy, trường hợp lây lan tổng
hợp chưa xảy ra. Với việc sử dụng các tiêu chuẩn này và phương
pháp, các nhà sử dụng BLASTL có thể tính toán các tham số của
chủng đầu tiên.
Một vấn đề quan trọng là nguồn chủng đối với lây
lan tổng hợp, Kobayashi (Nhật Bản, 1991, thư riêng) có thể nhận
dạng một hay nhiều nguồn chủng có thể trên mỗi diện tích nhỏ khi
nào ông phát hiện một trường hợp lây lan tổng hợp. Điển hình một
trung tâm quanh một hay nhiều thảm cây con bị bệnh trên một cánh
đồng là một hay nhiều nguồn chủng cho một vùng. Tadeka (1992)
vừa báo cáo là trong một vùng (thí dụ một xã) ở đó không có
nguồn chủng có thể nhận dạng, lây lan tổng hợp bắt đầu muộn hơn
so với dự báo bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn Kobayashi. Các
khảo sát này gợi ý là các điều kiện thời tiết tạo ra lây lan
tổng hợp xảy ra trên một chừng mực trung gian, nhưng phần góp
của một nguồn chủng với một trương hợp lây lan trên một chừng
mực nhỏ (trong vòng 1km2). Vì vậy không chính xác để
dự báo sự bắt đầu lây lan tổng hợp chỉ dựa trên các điều kiện
thời tiết không tính toán các khảo sát ngoài đồng.
Các mô hình phụ về thuốc trừ nấm
Mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là để tạo mô hinh
hệ thống bệnh không khảo sát ảnh hưởng của bất kỳ phương pháp
phòng trừ, và hiệu lực và sự xác minh được thực hiện như trên.
Tuy nhiên, cả một mô hình giải trình cao hay dự báo thất bại
trong việc cải thiện các phương pháp quản lý bệnh có lợi ích
thực tiễn giới hạn. Vì vậy, chúng tôi đã xây dựng các mô hình
phụ đối với các biện pháp phòng trừ và đưa chúng vào BLASTL.
Biện pháp cơ bản phòng trừ bệnh cháy lá sau khi
trồng thông qua việc sử dụng thuốc trừ nấm. Có nhiều phương pháp
để phân loại thuốc trừ nấm, và chúng tôi đã chọn để phân loại
mười hoạt chất (Bảng 25.1) dựa trên các chế phẩm/sử dụng vì điều
nói trên thuận lợi với quan điểm lây lan học. Các loại thuốc trừ
nấm được chia ra thành các chế phẩm dạng hạt và phun.
Các loại thuốc trừ nấm dạng hạt có tính nội hấp
và được sử dụng trên mặt nước của ruộng lúa hay trên các hộp ươm
trước khi lây lan bắt đầu. Một thí dụ là probenazole. Thuốc trừ
nấm được sử dụng trên mặt nước 7-10 ngày trước khi xuất hiện
bệnh cháy lá. Các nhà trồng trọt không thể dự báo sự bắt đầu một
trường hợp lây lan, và vì vậy có thể sử dụng loại thuốc trừ nấm
này theo lịch. Các loại thuốc trừ nấm được khuyến cáo với các
nhà trồng trọt ưa thích việc trồng lúa ít tốn lao động, những
người có ruộng thường bị lây lan bệnh cháy lá, hay né tránh rủi
ro (bảo thủ). Các dự báo được công bố sau khi xuất hiện lây lan.
Như các dự báo chúng ta đang cố gắng cung cấp bằng cách sử dụng
các mô hình tái tạo, không lợi ích đối với thời gian sử dụng
thuốc trừ nấm dạng hạt. Vì vậy, chúng tôi không trình bày nhóm
thuốc trừ nấm này trong mô hình phụ của chúng tôi.
Thuốc trừ nấm được phun trên cây trồng được sử
dụng điiển hình sau khi lây lan đã bắt đầu. Kobayashi (1984) đã
đề xuất là lần sử dụng đầu tiên phải được thực hiện để ức chế
các vết thương thuộc thế hệ thứ ba. Tuy nhiên, ông đã hiểu rõ
là điều nói trên là một phương pháp tiếp cận bảo thủ. Thí nghiệm
của chúng tôi đề xuất là thời gian này hiệu quả nhiều hơn các
thời gian khác; tuy nhiên, thỉnh thoảng không sử dụng thuốc cho
kết quả kinh tế nhất. Mục đích của chúng tôi là để tìm ra các
phương pháp sử dụng thuốc trừ nấm hiệu quả và hiệu năng nhất.,
và phương pháp tạo mô hình động thái và phương cách tác động của
các lần phun thuốc trừ nấm là một bước cần thiết. Các loại thuốc
trừ nấm được chia thành thuốc có hoạt động bảo vệ và thuốc có
hoạt động sau lây lan (Szkolnik, 1978). Chúng tôi đã cố gắng để
tạo mô hình cho cả hai kiểu hoạt động trên.
Một loại thuốc trừ nấm điển hình là một chất ức
chế sinh tổng hợp melanin (MBI, Bảng 25.1). Nhóm này chủ yếu ức
chế sự thâm nhập của giác bám (Woloshock và Sisler, 1982). Để
tạo mô hình các hoạt động của nhóm, Ishiguro et al. (1988,
1992a) đã khảo sát động thái và hiệu lực của hai MBIs, ftalide
và tricyclazole, được phun trên lá. Họ đã tính toán các tham số
về lần đáp đầu tiên, quan hệ của thời tiết và đáp ứng với nồng
độ của MBIs trên lá lúa (Hình 25.2), và tìm ra là sự phân bố lại
của thuốc trừ nấm xảy ra từ lá đã mở rộng đến lá mới xuất hiện
trong các điều kiện ngoài đồng, và là hiện tượng quan trọng đối
với tuổi thọ của hiệu lực. Các tham số này giúp họ có thể tạo mô
hình về các hoạt động của các loại thuốc trừ nấm trên. Một số
nhà nghiên cứu than phiền là tricyclazole có phương cách hành
động khác. Nasuda (1977) cho biết là loại thuốc trừ nấm này ức
chế sự hình thành bào tử. Okuno et al. (1983) đã đề xuất là
tricyclazole làm giảm bớt sự thâm nhập của bào tử được tạo ra
trên các vết thương. Tuy nhiên, chúng tôi chưa định lượng các
hoạt động ấy trong các điều kiện ngoài đồng.
Hình 25.1 Hiệu lực hoá chủ quan của BLASTL. (A)
Các chấm (tiến triển bệnh được quan sát và tuyến (tiến triển
bệnh được dự báo) vụ trồng 1989. Các tham số về tính nhiễm của
lá trên BLASTL được điều chỉnh băng cách sử dụng phương pháp
bình phương nhỏ nhất phi tuyến tính. (B) Sự tiến triển của bệnh
quan sát (điểm) và dự báo (tuyến) của một vụ trồng khác (1987).
Giá trị của các tham số cũng giống như trên. Các mũi tên cho
biết bắt đầu lây lan tổng hợp bệnh cháy lá (Ishiguro và
Hashimoto, 1991). (xem Hình trang 439)
Hình 25.2 Động thái tạm thời của chất tồn lưu
tricyclazole trên lá tại mỗi vị trí trong điều kiện ngoài đồng
(Ishiguro et al. 1992a). Các chữ, n và n -1, n-2 và n -3 có
nghĩa là lá cờ, vị trí lá thứ hai, thứ ba, thứ tư. Lá cờ chưa
xuất hiện khi phun thuốc trừ nấm.
Bảng 25-2 Các hoạt động sau triệu chứng của
nhiều loại thuốc trừ nấm đối với bệnh cháy lá (trang 442)
|
Tên thường dùng |
Chế phẩm |
Tỷ lệ mở rộng vết thương (mm2
d-1) |
Khả năng tạo bào tử (bào tử x 103
vết thương–1) |
|
Blastcidin 5
EDDP
Ferimzone
IBP
Isoprothiolane
Kasugamycin
Đối chứng |
1% dung dịch
30% nhũ dầu
30% bột thấm nước
48% nhũ dầu
40% nhũ dầu
2% dung dịch |
2,33
1,49 (6)b
1,76 (6)
1,17
1,31
2,84 (4)
4,18 (6) |
-0,026 t2 + 0,30 t + 0,86
c
1, 4 luỹ thừa (-0,17t)
0, 28 luỹ thừa (-0,35t)
0,025 t2 – 0,34 t + 1,4
-0,024 t + 0,44
-0,088 t + 2,6
0,031 t + 2,9 |
a
Mỗi loại thuốc trừ nấm được hoà tan x 1000 với nước và được phun
7 ml mỗi chậu ngay sau khi xuất hiện vết thương.
b
Số ngày phát triển của vết thương đạt kích cỡ tối đa sau khi
xuất hiện vết thương.
c
t ngày sau khi phun thuốc trừ nấm
Các loại thuốc trừ nấm khác thường có hoạt động
sau khi lây lan, gồm có hoạt động trước và sau triệu chứng
(Szkolnik, 1978), nhưng tại Nhật Bản các loại thuốc này thường
được tham khảo như là “thuốc chữa bệnh”. Một số thuốc này có cả
hai hoạt động bảo vệ và sau lây lan. Ishiguro et al. (1992c) đã
đánh giá hoạt động sau triệu chứng của nhiều loại thuốc trừ nấm
với nồng độ các nhà trồng trọt thường sử dụng. Các loại thuốc
trừ nấm laọi bỏ sự hình thành bào tử cũng như sự mở rộng vết
thương giới hạn (Bảng 25.2). Các nhà nghiên cứu còn đánh giá
hoạt động trước -triệu chứng của các loại thuốc trừ nấm trên
(không công bố, số liệu lhông được trình bày). Một số các loại
thuốc trừ nấm trên hầu hết loại bỏ hoàn toàn sự xuất hiện của
các vết thương mới khi chúng được phun 2-3 ngày sâu khi lây lan.
Các loại thuốc trừ nấm này có hoạt động bảo vệ khi được phun
trước khi lây lan.
Kết quả của các thí nghiệm này cho biết là các
đặc tính của thuốc trừ nấm đa dạng. Điều còn phức tạp hơn là có
nhiều chế phẩm phối hợp các loại thuốc trừ nấm nên chế phẩm có
cả hoạt động bảo vệ và hoạt động sau lây lan. Khi các mô hình
được hoàn thiện, chúng tôi sẽ đưa chúng vào trong BLASTL và kế
đó đánh giá nhiều phương pháp sử dụng thuốc trừ nấm thông qua
trắc nghiệm và mô hình tái tạo của sai số. Bước kế tiếp sau điều
này là tối ưu hoá các phương pháp phun bằng cách sử dụng BLASTL.
Có rất nhiều thuật số thích hợp để tối ưu hoá (Reynolds, 1993).
Giải pháp tối ưu có thể nhận dạng các nguyên tắc tổng hợp có thể
khi đó được thí nghiệm trong các thí nghiệm ngoài ruộng.
Mô hình phụ bón phân đạm
Có một thống nhất chung là việc bón dư phân đạm
trên lúa có thể tạo ra các bùng nổ nghiêm trọng bệnh cháy lá
(Hori, 1898; 1965). Trên quan điểm nông học, bón đạm nhiều lần
với việc chẩn đoán cẩn thận được khuyến cáo để đạt năng suất cao
và để phòng ngừa đổ ngã nghiêm trọng (Matsushima, 1976). Lại,
phương pháp bón phân đạm nhiều lần thường được xem như là phương
pháp để quản lý bệnh cháy lá tốt hơn so với phương pháp bón đạm
một lần như là bón lót. Chẳng may, việc rải phân đạm thỉnh
thoảng làm tăng sự phát triển của bệnh (Kozaka, 1965). Dù cho có
nhiều nghiên cứu liên quan đến quan hệ giữa thời kỳ bón đạm và
mức nghiêm trọng bệnh (Kurschner et al. 1992), chẳng may hầu hết
các nghiên cứu không mô tả đặc tính về điều kiện thời tiết trong
khi thí nghiệm. Nếu điều kiện thời tiết có nét đặc trưng, chúng
tôi có thể phân tích thời kỳ bón đạm nào làm tăng sự lây lan. Vì
rải phân đạm, cũng như phun thuốc trừ nấm, là một phương pháp
quan trọng để quản lý sức khoẻ của cây lúa và nhà trồng trọt
phải quyết định về các vấn đề này, chúng tôi đang cố gắng thiết
kế một mô hình phụ về hiệu ứng của việc rải phân đạm.
Chúng tôi đã nhận quan hệ khá đơn giản giữa tính
nhiễm của cây lúa với bệnh cháy lá và thời kỳ rải phân đạm bằng
cách sử dụng các thí nghiệm chủng khuẩn có kiểm tra (Ishiguro et
al. 1992b; Ishiguro và Naito, 1993; Hình 25.3). Tính nhiễm gia
tăng ngay sau khi bón đạm (suynphat ammôn), đạt đến một mức cao
nhất sau một tuần, giữ chừng mực của nó trong nhiều ngày tiếp
theo, và giảm xuống đến một chừng mực cao hơn chừng mực đầu
tiên. Số Lượng sử dụng đạm đã ảnh hưởng đến mức cao nhất và mức
nhiễm cuối và thời kỳ tính nhiễm cao nhất được giữ vững (Hình
25.3). Việc rải đạm trong 4 ngày trước hay sau khi chủng đã làm
tăng khả năng tạo ra bào tử, dù cho hiệu ứng không có ý nghĩa
(không công bố, số liệu không được trình bày).
Các tương quan được tạo mô hình và đưa vào trong
BLASL. Các kết quả của sự tái tạo đề xuất là rải phân đạm sớm
trong giai đoạn lây lan cháy lá có thể tạo ra phát triển bệnh
nghiêm trọng nhiều hơn vào giai đoạn cuối (Hình 25.4). Kết quả
thí nghiệm ngoài đồng của chúng tôi phù hợp với xu thế này. Tuy
nhiên, chúng tôi không xác nhận là quan hệ có thể là vạn năng.
Giống như thời kỳ sử dụng thuốc trừ nấm, điều này phải là quan
trọng để xác lập nguyên tắc tổng hợp về thời kỳ sử dụng thuốc
trừ nấm. Phối hợp cẩn thận của sự tái tạo và các thí nghiệm
ngoài đồng trong một quá trình lập lại phải giúp chúng tôi tiếp
cận với mục tiêu cuối cùng.
Hình 25.3 Hiệu ứng của thời kỳ rải đạm (N) trên
tính nhiễm của cây lúa với nấm gây bệnh cháy lá. Tính nhiễm được
đánh giá bởi số vết thương sơ cấp mỗi cây (Ishiguro và Naito,
1993)(trang 443)
Hình 25.4 Nghiêm trọng lây lan dự báo vào ngày
31-7 về thời kỳ bón đạm khác nhau bằng cách sử dụng mô hình
BLASTL. Mũi tên có nghĩa là sự xuất hiện lây lan cháy lá
(Ishiguro và Naito, 1993)
Mô hình bệnh thúi cổ gié (Panicle blast), PBLAST
Dù cho bệnh cháy lá có thể làm giảm năng suất
chừng mực, bệnh thúi cổ gié là nguyên nhân chính của thiệt hại
năng suất (Katsube, 1987). Bệnh lá chủ yếu giữ một vai trò cung
cấp chủng (bào tử của các vết thương trên lá) đến bông. Nên việc
phát triển một mô hình được mong muốn nhiều hơn mô hình bệnh
cháy lá. Ishiguro và Hashimoto (1998-1990) đã phát triển một mô
hình thúi cổ gié, PBLAST, được viết trên Fortran 77. Các yếu tố
thời tiết được sử dụng trong BLASTL hay PBLAST giống nhau.
PBLAST cho đầu ra là năng suất (hay thiệt hại năng suất) của
từng bông lúa hay số hạt bị hư mỗi bông.
PBLAST là một mô hình có tham vọng hơn so với
BLASTL, vì mô hình BLASTL là một mô hình quyết đoán
(deterministic model) nhưng trái lại mô hình PBLAST là một mô
hình “stochastic”. Quá trình “stochastic” được đưa vào trong các
thành phần bào tử đáp và thâm nhập của PBLAST. Điều nói trên là
vì cấu trúc của bông quá phức tạp để tạo mô hình phát triển bệnh
một cách quyết đoán. Mô hình được thực hiện bằng cách sử dụng
một máy phát bằng số ngẫu nhiên (random number generator) và
phương pháp tái tạo Monte Carlo. Các kết quả nhận được từ mối
phương pháp tái tạo đã thưc hiện khác nhau. Ishiguro và
Hashimoto (1990) cho thấy là ít nhất mười lần lập lại có thể là
đủ để nhận một ước tính phi lệch (unbiased) của đường tiến triển
bệnh trung bình.
Hiệu lực của mô hình
Phương pháp đánh giá chủ quan của PBLASTL là cần
để xác nhận hiệu lực của nó như là một trợ lực quyết định về
việc quản lý bệnh. Ishiguro và Hashimoto (1990) cho thấy là tập
tính tổng hợp của mô hình giống như tập tính của một hệ thống
thật bằng cách sử dụng các số liệu thời tiết 5 năm. Để thí
nghiệm thêm mô hình, Hashimoto et al. (1993b) đã sử dụng các số
liệu thời tiết 5 năm nhận được sau khi mô hình được công bố, và
cho biết là mô hình mô phỏng theo hệ thống thật, dù cho tính
thích ứng của mô hình với tiến triển bệnh thật không đầy đủ.
Điều này có thể là do mô hình chứa nhiều thành phần thử không
được xác định thực nghiệm (thí dụ mô hình còn cần cải thiện
thêm).
Phân tích tính nhạy cảm và cải thiện mô hình
So với hệ thống bệnh cháy lá, kiến thức về định
lượng kém hơn đã được tích luỹ về các thành phần của bệnh thúi
cổ gié, có thể là vì các thí nghiệm về bệnh thúi cổ gié khó hơn
so với bệnh cháy lá. Để cải thiện năng suất của mô hình, nhiều
thí nghiệm đối với từng thành phần sẽ là cần. Tuy nhiên, không
thực tế để định lượng hầu hết các thành phần này bằng các thí
nghiệm. Một phương pháp khác là để chọn lọc các thành phần quan
trọng năng suất của mô hình thông qua việc phân tích tính nhạy
cảm và kế đó thực hiện các thí nghiệm chi tiết để chỉ định lượng
các thành phần ấy.
Phương pháp trước hết là hơi thay đổi các giá trị
của các tham số, và để đánh giá hiệu ứng tương đối của từng tham
số trên sự đáp ứng của mô hình. Sự có ý nghĩa tương đối của các
tham số trên tập tính của mô hình phải được phán đoán bằng tính
nhạy cảm tương đối, R, như sau:
R = (¶z/z)
(¶Xi/Xi)
trong đó z và Xi là các giá trị đáp ứng của mô
hình (tiến triển bệnh) và từng thông số, tương ứng. Ishiguro và
Hashimoto (1990) đã đánh giá tính nhạy cảm tương đối của nhiều
tham số. Kết quả của các phân tích tính nhạy cảm cho biết là ba
quá trình, quá trình từ tạo bào tử trên lá đến bào tử đáp trên
bông, quá trình lây lan bào tử, và quá trình “dieback” (sự mở
rộng vết thương về phía hướng gần tâm từ một phần đặc biệt trên
một bông; Hirano và Goto, 1963) là các quá trình nhạy cảm nhất.
Sự phân tích tính nhạy cảm cho biết là việc mở
rộng vết thương từ các gié trên cuống phụ là thành phần quan
trọng nhất trong hiện tượng “dieback” (Ssiguro và Hashimoto,
1990). Hiện tượng “dieback” được nghiên cứu bởi Harasawa et al.
(Hình 25.5, không công bố), và các kết quả của họ cho phép ta
xác định nguyên nhân chính của tiến triển bệnh trong giai đoạn
cuối của lây lan bệnh thúi cổ gié. Trong giai đoan đầu của lây
lan bệnh thúi cổ gié, chúng tôi biết là các vết thương được bắt
đầu bằng bào tử. Tuy nhiên, không rõ là nguyên nhân chính của
tiến triển bệnh trong giai đoạn cuối: lây lan bởi bào tử trong
giai đoạn cuối hay “dieback”. Trong lây lan bào tử cuối làm cho
bệnh phát triển, kế đó các biện pháp kháng hiệu quả nhất phải là
để phòng ngừa lây lan muộn, và một lần sử dụng thuốc trừ nấm bảo
vệ phải là hiệu quả. Mặt khác, nếu “dieback” là nguyên nhân
chính của tiến triển bệnh trong giai đoạn cuối, khi đó các lần
sử dụng thuốc trừ nấm có thể là không hiệu quả vì không có thuốc
trừ nấm nào có thể ngăn ngừa “dieback”.
Các phương pháp còn lại và triển vọng trong tương
lai
Cả hai BLASTL và PBLAST tái tạo tiến triển bệnh
tạm thời, và không tiến triển trong không gian. Bệnh cháy lá là
một bệnh nhiều vòng, tỷ lệ chủng đầu tiên tương đối thấp, và mô
hình không gian của thế hệ đầu tiên của các vết thương lây lan
tổng hợp là không cần trong mô hình BLASTL, vì mục tiêu của
chúng tôi là để dự báo mức nghiêm trọng bệnh có hay không các
biện pháp phòng trừ. Mặt khác, bệnh thúi cổ gié có nhiều chu kỳ
bệnh, số lượng chủng đầu tiên (các bào tử từ vết thương trên lá)
có thể là phong phú và giữ một vai trò quan trọng trong quá
trình lây lan (Ishiguro và Hashimoto, 1990; Hanzawa et al.
1993), và các mô nhiễm (bông) thường tiếp xúc lâu dài với chủng;
khảo sát không gian có thể là quan trọng đối với PBLAST.
Sự xuất hiện của các lây lan tổng hợp bệnh cháy
lá không được giải trình băng mô hình BLASTL. Các vấn đề phụ cần
nhận được trả lời. Thí dụ, chủng của lây lan tổng hợp bệnh cháy
lá là gì; chủng có thể phát tán bao xa? Các tiến bộ vừa qua về
môn sinh học phân tử (Hamer et al. 1989) có thể cung cấp một
công cụ đổi mới để trả lời các câu hỏi trên.
…………………………………………………………………………………………….. (không đọc
rõ) (chủ yếu về quan điểm kinh tế). Các phương pháp tối ưu hoá
có thể là thích hợp cho mục đích ấy, dù cho điều này ít được sử
dụng trong các chương trình quản lý bệnh (Reynolds, 1993).
Không tính các phương pháp tối ưu hoá được sử
dụng, các mô hình tái tạo dự báo cao luôn là điều mong muốn. Để
dự báo tiến triển bệnh trong tương lai trong mùa hiện tại, chúng
tôi thường sử dụng các số liệu thời tiết cho đến nay, tiếp theo
là một trong các bộ số liệu thời tiết lịch sử như là số liệu
thời tiết kế tiếp trong tương lai trong các mô hình của chúng
tôi. Phương pháp này cho một xác suất của tiến triển bệnh trong
tương lai (một biến cố trong tương lai không chắc). Xác suất này
là thông tin không hoàn hảo về biến cố trong tương lai không
chắc (chúng tôi không bao giờ có thể nhận thông tin hoàn hảo về
biến cố trong tương lai), và vì vậy thỉnh thoảng không thỏa
đáng. Để đưa việc dự báo thời tiết (Vincelli và Lorbeer, 1989:
Bergeron và Fry, 1992; Raposo et al., 1993) vào trong mô hình
của chúng tôi sẽ là một phương pháp hấp dẫn để cải thiện năng
suất của các mô hình, và phải là một bước kế tiếp.
RGC 07-07-2006
|