Nhận thức về hệ thống bạch huyết


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

11 tháng 01 năm 2007

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Phần dẫn nhập

Việc điều trị bệnh bạch huyết dựa trên nhận thức về làm cách nào hệ thống bạch huyết hoạt động. Bác sĩ điều trị phải thấu hiểu hệ thống này sâu sắc. Những bệnh nhân và các người khác liên quan trong các bước tự chăm sóc, cần có ít nhất một nhận thức cơ bản về các hoạt động này. Trình độ nhận thức cơ bản này được trình bày ở đây.

Hoạt động của hệ thống bạch huyết có liên chặt với hoạt động của hệ thống tuần hoàn. Để nhận thức rõ về làm cách nào các hệ thống này thay đổi, xem  The Circulatory and Lymphatic Systems Compared.

 

Xuất xứ của bạch huyết

Bạch huyết có nguồn gốc như huyết tương. Huyết tương của động mạch giàu "tạp phẩm" cho các tế bào. Trên nền mao mạch khắp cơ thể dòng chảy của máu bị chậm để cho huyết tương có thể rời khỏi và trở thành lưu chất mô. Lưu chất mô cũng được biết như lưu chất gian bào và lưu chất giữa kẽ (intercellular fluid or interstitial fluid.)

Lưu chất mô phân phối chất dinh dưỡng, ô-xy, và homon cần cho tế bào.

Lưu chất mô thu gom và mang đi và sản phẩm rác thải tế bào.

90% lưu chất mô trở lại nền mao mạch. Ở đây một lần nữa trở thành huyết tương  (plasma) và tiếp tục chuyến đi của nó khắp cơ thể như một phần lưu thông trong tĩnh mạch.

Bạch cầu 10% là lưu chất mô để lại phía sau. Thường số lượng bạch huyết lưu thông trong cơ thể là một đến hai phần tư và nó tạo ra một đến ba phần trăm trọng lượng cơ thể (6)

 

Vai trò của bạch huyết

Vai trò của lưu chất bạch huyết là việc phân phối tạp phẩm cho tế bào. Vai trò của bạch cầu là sử dụng hết bã để lại phía sau và xử lý nó.

Khi bạch huyết tiếp tục lưu thông giữa các tế bào nó thu gom sản phẩm rác thải để lại phía sau gồm có tế bào máu chết, mầm bệnh, và tế bào ung thư. Lưu chất trong suốt này còn trở thành giàu protein khi nó hấp thụ protein hòa tan từ giữa các tế bào.

 

Mao mạch bạch huyết

Các mao mạch bạch huyết từ mạng giống như mắt lưới của các ống rất nhỏ phân phối trên khắp không gian mô và được đặt ngay dưới da. Các mạo mạch này chia nhánh và liên kết lẫn nhau một cách tự do sao cho chúng phát triển đa phần mọi mô.

Mao mạch bạch huyết là các ống đầu mù không có đầu mở cho phép bạch cầu tiếp cận dễ dàng. Phần cuối của mao mạch chỉ là một-tế bào về bề dầy và những tế bào này được sắp xếp trong một mô hình hơi chồng chéo nhau- giống như bệnh zona trên một mái nhà.

Áp lực từ lưu chất chung quanh mao mạch bắt buộc những tế bào này tách riêng nhau trong một lúc. Điều này cho phép lưu chất đi vào, những không rời khỏi, mao mạch.

Có những van một chiều trong mao mạch bạch cầu. Những van này đăm bảo lưu chất thường xuyên của bạch cầu đi khỏi mô.

Sự náo nhiệt này, trình bày hành động này, là một tặng phẩm của John Ross, Senior Teaching Fellow.

 

Mạch bạch cầu

Sâu nhiều hơn bên trong cơ thể các mạch bạch cầu lớn dần và được đặt gẫn tĩnh mạch. Giống như các tĩnh mạch, mạch bạch cầu có các van ngăn cản bất kể lưu chất chảy ngược. Angions là các đoạn tạo ra bởi không gian giữa hai bộ van. Các cơ trơn trên vách mạch bạch huyết tạo ra các angions (u mạch) co lại liên tục trong việc hỗ trợ lưu chất bạch huyết về phía miền ngực.

 

U bạch huyết

Afferent lymphatic vessels các mạch bạch huyết hướng tâm mang bạch huyết vào các u nơi đó các sản phẩm rác thải và vài lưu chất được tinh lọc.

Lymphocytes, các tế bào lympho được mô tả đặc tính tế bò máu trắng nằm trong u bạch huyết, tiêu diệt mầm bệnh có thể hiện diện. Các u bạch huyết còn đánh bãy các tế bào ung thư và làm chậm sự lan truyền ung thư cho đến khi chúng bị áp đảo bởi nó.

Efferent lymphatic vessels các mạch bạch huyết ly tâm mang bạch huyết ra khỏi u tiếp tục trở lại hệ tuần hoàn.

Các tế bào ung thư đã rời bỏ vị trí gốc của chúng di chuyển trước hết đến gần u bạch huyết. Vì lý do này các u bạch huyết giữ một vai trò quan trọng trong việc khám phá và điều trị bệnh ung thư.

 

Miền tiêu thoát phải lấy đi bạch huyết khỏi:

Bên phải đầu và cổ

Cánh tay phải

Phần tư phải trên của cơ thể.

Bạch huyết từ miền này chảy vào ống bạch huyết phải (right lymphatic duct). Ống dẫn này trả lại bạch huyết về hệ tuần hoàn bằng cách tiêu thoát vào tĩnh mạch dưới xương đòn phải.

 

Miền tiêu thoát trái lấy đi bạch huyết khỏi:

phía trái đầu và cổ

cánh tay trái và phần tư trên trái

thân dưới

hai chân

cisterna chyli (túi nhũ trấp) tồn trữ tạm thời bạch huyết khi nó di chuyển lên trên từ miền dưới của cơ thể. Ống dẫn ngực mang bạch huyết lên trên từ ống dẫn bạch huyết trái. Ống dẫn bạch huyết trái  (left lymphatic duct) trả lại bạch huyết cho hệ tuần hoàn bằng cách tiêu thoát vào tĩnh mạch dưới xương đòn trái.

 

Tại sao điều này quan trọng

Thiệt hại làm rối loạn dòng chảy. Khi các mô bạch huyết hoặc u bạch huyết đã bị thiệt hại, tiêu hủy hoặc lấy đi, bạch huyết không thể tiêu thoát một cách bình thường từ miền bị lây nhiễm. Khi điều này xuất hiên bạch huyết dư thừa tích lũy và đưa đến tình trạng trương phồng đặc trưng của bệnh u bạch huyết lymphedema.

 

Miền tiêu thoát. Việc điều trị bệnh bạch huyết dựa trên các cơ cấu thiên nhiên và dòng chảy bạch huyết. Miền tiêu thoát bị lây nhiễm xác định mô hình tiêu thoát bạch huyết bằng tay (MLD) và trong việc tự xoa bóp. Mặc dù bạch huyết một cách bình thường không đi qua từ miền này sang miền khác, MLD kích thích dòng chảy từ một miền sang miền khác. Điều này còn kích thích sự hình thành đường dẫn tiêu thoát bạch huyết.

 

Trị liệu pháp MLD và tự xoa bóp. Bắt đầu bằng cách kích thích miền gần tận cùng (terminus) và các mạch bạch huyết lớn nhiều hơn. Điều này kích thích dòng chảy bạch huyết sẵn sngf trong hệ thống và phóng thích không gian trong dòng chảy bạch huyết đang đi vào ống mao dẫn trong khi điều trị. Xem Lymphedema Treatment Methods (Phương pháp điều trị bệnh bạch huyết).

 

Điều trị MLD tiếp tục như một phương pháp xoa bóp nhẹ để kích thích di chuyển bạch huyết dư thừa trong mô bị lây nhiễm. Những cái vỗ nhẹ, nhịp nhàng của phương pháp MLD tạo ra áp lực đủ trong việc kích thích bạch huyết dư thừa này chảy vào các ống mao dẫn bạch huyết.

 

Quần áo, dụng cụ hỗ trợ và băng được mạng giữa những lần điều trị giúp kiểm tra sự trương phồng bằng cách tạo ra áp lực cần trong việc kích thích dòng chảy bạch huyết vào ống mao dẫn. Xem thêm Compression Methods.

 

Luyện tập (Exercise)  quan trọng trong phương pháp điều trị bệnh bạch huyết vì các di chuyển của cơ bắp kích thích dòng chảy bạch huyết vào các ống mao dẫn. Việc mang bộ quần áo nén trong khi luyện tập cũng tạo ra tính kháng việc kích thích thêm dòng chảy này.

 

RGC 16-12-2006

Trở về Trang Chính