Lợn biển (Dugong dugon)


Chu Hữu Tín

18 tháng 08 năm 2005

 

I. Phần dẫn nhập

Cá nược (Dugong dugon) là một loài trong Họ Dugongidae, Bộ Sirenia. Nó chỉ là một động vật có vú ăn cỏ sống một cách nghiêm khắc ngoài biển. Những họ hàng của cá nược trong Họ Trichechidae, giống cá nược Amazone (Trichechus inunguis), đều sống một cách nghiêm khắc trong sông. Trong khi giống cá nược Tây Ấn (Trichechus manatus) và giống cá nược Tây Phi (Trichechus senegalensis), mặc dù chúng mạo hiểm ra biển, chúng được xem như cá sông thứ cấp. Tuy nhiên, có 5 họ phụ đã biết dưới Họ Dugongidae. Giống lợn biển Steller (Hydromalis gigas) trở nên bị tuyệt chủng trong thời gian gần đây, để lại những con lợn biển như vật sống sót hiện nay. Mặc dù động vật được phân bố rộng trong nước ven bờ và đảo của miền Ấn Độ dương và Thái Bình dương, những quần thể đã được phân loại như có nguy cơ tuyệt chủng bởi Liên hiệp Bảo tồn Thế giới (IUCN) và lập danh sách trong Phụ bản 1 của CITES (Qui ước Thương mại Quốc tế Động vật và Thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng). Theo Marsh (1993), trong phạm vi lợn biển, nay được đại diện bởi những quần thể cổ bị cách ly bởi những diện tích lớn trong đó gần như là tuyệt chủng nếu chưa tuyệt chủng hẳn.

Ở những bang Đông Mã Lai Sabah và Sarawak, lợn biển được biết ở địa phương như là "duyung", có nghĩa là người cá (mermaid), và nhiều người già tin là động vật đã được phát sinh từ con người (Jaaman và Lah Anyi 2002). Thỉnh thoảng, nó cũng được biết như là "babi laut" (lợn biển) hoặc "lembu laut" (bò biển, lợn biển). Duyung cũng đã được trình bày trong báo cáo của Reeves et al. (1992) là tên Mã Lai-Java chắc có nghiã là "lợn biển" và Kataoka (1994) báo cáo là điều này có nghĩa là "cô gái đẹp". Quần thể lợn biển trong nước ven bờ của Sabah thường trú và hẳn đang thực hiện chỉ di chuyển cục bộ.. Quần thể hình như có thể bị chia sẻ ở miền Bắc Đảo Palawan và ở miền Đông với Nam Sulu (Philippin) và Kalimantan, Indonexia. Trên khắp đảo Borneo, lợn biển được ghi chép từ Mũi Datu, Lawas, và Limbang ở Sarawak (Bank, 1931; Jaaman et al. 2000a; Jaaman et al. 2001), Muara, Brunei Darassalam (Elkin 1992), đảo Labuan và Sabah (Jaaman 22t al. 2000; Jaaman et al. 1999, 2000b) và Kalimantan (Tas'an et al. 1979; Marsh et al. đang in). Báo cáo này biên tập thông tin về việc phân bố lợn biển và sự phong phú, và thắp sáng mối đe doạ ảnh hưởng đến động vật trong nước miền Đông Mã Lai.

II. Sự thật về lợn biển

Bộ: Sirenia

Giống: Dugong

Loài : Dugong dugon

Lợn biển, hoặc bò biển như chúng thỉnh thoảng được gọi, là động vật biển có thể phát triển đến khoảng 3 mét dài và cân nặng nhiều bằng 400 kilô. Chúng chỉ là những động vật biển ở Úc châu sống chủ yếu trên thực vật. Tên bò biển liên quan đến sự việc là chúng ăn cỏ trên cỏ biển, tạo ra những cánh đồng cỏ trong nước ven bờ có nơi trú ẩn. Khi lợn biển ăn cỏ, cả cây bị nhỏ rễ và một đường mòn ăn lộ ra cỏ còn để lại.

Quan hệ họ hàng

Lợn biển có liên quan gần đến voi nhiều hơn là những động vật biển như là cá voi và cá heo mỏ, nhưng những họ hàng thủy sinh sống gần nhất là lợn biển. Lợn biển là động vật có vú thủy sinh sống trong những sông nước ngọt và nước ven bờ của Tây Phi, Caribê, Nam Mỹ và miền Nam Mỹ (Florida). Một họ hàng gần khác là bò biển (lợn biển) Steller, được tìm thấy trước ở miền Bắc Thái Bình Dương. Chúng bị săn bắt đến tuyệt chủng vào những năm 1700 bởi những người săn chó biển (sealers) để lấy thịt. Nó lớn phần lớn ba thời kỳ lâu bằng lợn biển và ăn mồi trên những tảo lớn (kelp=tảo bẹ).

Phân bố

Lợn biển sống ở trong nước cạn, nhiệt đới trên khắp miền Ấn Độ-Thái Bình Dương. Phần lớn quần thể lợn biển trên thế giới hiện nay được tìm thấy trong nước miền Bắc nước Úc giữa Vịnh Shark ở miền Tây Úc và Vịnh Moreton ở Queensland.

Đời sống ở ngoài biển

Lợn biển bơi bằng cách sử dụng đuôi có thùy (fluked) giống như cá voi và chúng sử dụng chân chèo (flippers) trước để giữ cân bằng và đổi hướng. Những di chuyển của chúng thường là chậm và duyên dáng. Những nhà khai thác đầu tiên và thủy thủ tin là chúng là những người cá vì cơ thể thon thả của chúng và núm vú (teats) lớn ở cuối chân chèo của chúng.

Chúng có một đầu tròn với mắt nhỏ và một cái mõm lớn. Lỗ mũi ở trên đầu mõm và giống như những động vật có vú khác, lợn biển phải có bề mặt thở. Tuy nhiên, không giống như những động vật thủy sinh khác như cá voi, cá heo mỏ và cá heo, lợn biển không thể nín thở dưới nước trong thời gian dài. Điều này thường là chỉ vài phút, đặc biệt nếu chúng đang bơi nhanh.

Lợn biển có đôi mắt kém nhưng nghe rất rõ. Chúng tìm ra và nắm bắt cỏ biển nhờ vào những gai thô, nhạy cảm, che phủ phần môi trên của mõm lớn và đầy thịt. Những răng nanh nhỏ có thể được thấy trên những cá đực trưởng thành và vài cá cái già. Trong mùa giao phối, lợn biển đực sử dụng răng nanh của chúng để đánh nhau.

Lịch sử đời sống

Lịch sử đời sống lợn biển được thực hiện bằng những tham số quần thể cân bằng tinh vi

Tuổi thọ tối đa (phần lớn chết tuổi trẻ) ~ 70 năm

Thời gian trước sinh sản (cái) 6-17 năm

Thời gian trước sinh sản (đực) 4-16 năm

Thời gian thai nghén 13-15 tháng

Kích thước lứa đẻ 1

Thời kỳ cho con bú 14-18 tháng

Khoảng cách đẻ 3-7 năm

Tỷ lệ tăng có thể thực hiện tối đa (ví dụ tỷ lệ tử vong tự nhiên thấp và không tử vong do con người) ~ 5% mỗi năm

Tỷ lệ tử vong tự nhiên tính toán ~ 5% mỗi năm

Tỷ lệ sinh sản chậm và khoảng cách đời sống dài có nghĩa là lợn biển đặc biệt nhạy cảm với những yếu tố đe dọa sự tồn sinh của chúng. Trên khắp thế giới chúng bị đe dọa bởi va chạm của con người, đặc biệt nơi ở của chúng.

Hydrodamalis cuestae

Dugong Seacow

Dugongidae

Mô tả đặc tính

Tuyến thời gian: Pliocene Epoch

Hydrodamalis cuestae là một loài tuyệt chủng của lợn biển (bò biển), có quan hệ xa với dugong sống và manatee (lợn biển). Nó là một động vật thủy sinh ăn cỏ và là thành phần của động vật có vú Bộ Sirenia. Nó thiếu răng, thiếu xương ngón tay, và là rất lớn. Cũng giống như lợn biển Steller H. cuestae có thể đạt đến một chiều dài cơ thể tối đa khoảng 9 mét (30 bộ ạnh) và trọng lượng có thể đến 10 tấn.

Lợn biển tràn lan khắp nước nhiệt đới và cận nhiệt đới của Eocene Epoch từ Nhật Bản đến Baja California, Những quần thể của chúng cao nhất trong Miocene Epoch. Hiện nay, dugong (Dugong dugon) chỉ là thành phần đang sống sót của Họ Digongidae.

Trong miền này

Hóa thạch của Hydrodamalis cuestae đã được thu gom từ đá cát đời Pliocene ở Chula Vista và San Diego, California.

Ngày 23-5-2000 Pat Sena, một nhà cổ sinh vật học ngoài đồng ruộng với Bảo tàng viện Lịch sử tự nhiên San Diego, đã phát hiện một hộp sọ hoàn toàn của lợn biển Pliocene khổng lồ (bò biển) Hydrodamalis cuestae ở một điểm xây dựng ở trang trại Otay ở Chula Vista.

Dugongs

  • Dugongs sống trong nước ấm cạn của miền Bắc Úc
  • Chúng ăn cỏ biển
  • Dugongs phủ một lớp da
  • Chúng sống chung thành nhóm gọi là đàn.

Dugongs là những động vật có vú biển sống trong nước ấm cạn ở miền Bắc Úc. Chúng sống thành từng nhóm nhỏ gọi là đàn. Chúng ăn cỏ biển và phát triển ở đấy. Khi chúng gặm cỏ, chúng "đi" bằng chân chèo dọc theo cát, nhô lên mặt nước thường là để thở.

Một lợn biển cái có một cá lợn con mối bône hoặc năm năm. Thời gian mang thai kéo dài trong một năm. Để giữ cá mới sinh an toàn khỏi cá mập, cá cái di chuyển đến vùng nước cạn được bảo vệ bởi những rào cản cát khi nó sẵn sàng sinh nở. Cá con sống cùng cá mẹ trong một đến hai năm. Nó bú sữa từ núm vú mẹ. Cá cái chỉ có một núm vú dưới mỗi chân chèo.

Cá lợn biển bị săn bắt bởi cá mập, cá sấu và cá voi sát thủ. Tuy nhiên. mối đe dọa chính đối với cá lợn biển đến từ con người, những người săn bắt cá lợn biển để lấy thịt và lấy da. Lại, những cá lợn biển thường bị đánh bắt trong lưới và chết đuối. Những thảm cỏ biển trong đó chúng ăn mồi đang cạn dần. Tình trạng này xảy ra là do sự ô nhiễm dọc ven bờ và trong biển đang tiêu diệt cỏ biển.

Đầu cá lợn biển có những má lớn gọi là má giúp nó đẩy xát ra xa khỏi miệng khi nó ăn để cho nó không bao giờ nuốt cát. Nó có những răng nanh, nhưng răng nanh của cá cái không phát triển nhiều. Hình dạng đuôi cá lợn biển giống như đuôi của cá heo mỏ.

Cá lợn biển có một họ hàng gần gọi là manatee, tìm thấy trong nước ngoài khơi Florida, T. S. A. Cá Manatee lớn và đuôi của nó có hình dạng như đuôi của một con hải ly (beaver's). Chúng cũng có nguy cơ bị tuyệt chủng nhiều so với cá lợn biển Úc.

Cá lợn biển đã một lần phổ biến trên khắp Ấn Độ Dương nhưng hiện nay chỉ có vài ngàn còn lại ở Vịnh Ba Tư (Persian Gulf) và Hồng Hải (Red Sea), và cả vài trăm ở châu Á. Cá lợn biển đang được bảo vệ trọng khu bảo tồn và Vườn quốc gia biển ở Úc. Cá lợn biển được tìm thấy số lượng lớn nhất ở trong nước thuộc Úc.

Những thủy thủ thường kể truyện đã thấy người cá (mermaids) trong nước ở Bắc Úc, nhưng động vật mà họ đã thấy hẳn là cá lợn biển. Kích thước khoảng dài 3m, nặng đến 400 kg. Màu: nâu xám.

 

Ngày 30-07-2005

RGC

 

Trở về Trang Chính