|
I. Phần dẫn nhập
Cá nược (Dugong
dugon) là một loài trong Họ Dugongidae, Bộ
Sirenia. Nó chỉ là một động vật có vú ăn cỏ sống một cách
nghiêm khắc ngoài biển. Những họ hàng của cá nược trong Họ
Trichechidae, giống cá nược Amazone (Trichechus
inunguis), đều sống một cách nghiêm khắc trong sông.
Trong khi giống cá nược Tây Ấn (Trichechus manatus)
và giống cá nược Tây Phi (Trichechus senegalensis),
mặc dù chúng mạo hiểm ra biển, chúng được xem như cá sông thứ
cấp. Tuy nhiên, có 5 họ phụ đã biết dưới Họ Dugongidae.
Giống lợn biển Steller (Hydromalis gigas) trở nên
bị tuyệt chủng trong thời gian gần đây, để lại những con lợn
biển như vật sống sót hiện nay. Mặc dù động vật được phân bố
rộng trong nước ven bờ và đảo của miền Ấn Độ dương và Thái Bình
dương, những quần thể đã được phân loại như có nguy cơ tuyệt
chủng bởi Liên hiệp Bảo tồn Thế giới (IUCN) và lập danh sách
trong Phụ bản 1 của CITES (Qui ước Thương mại Quốc tế Động vật
và Thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng). Theo Marsh (1993),
trong phạm vi lợn biển, nay được đại diện bởi những quần thể cổ
bị cách ly bởi những diện tích lớn trong đó gần như là tuyệt
chủng nếu chưa tuyệt chủng hẳn.
Ở những bang Đông Mã
Lai Sabah và Sarawak, lợn biển được biết ở địa phương như là
"duyung", có nghĩa là người cá (mermaid), và nhiều người già tin
là động vật đã được phát sinh từ con người (Jaaman và Lah Anyi
2002). Thỉnh thoảng, nó cũng được biết như là "babi laut"
(lợn biển) hoặc "lembu laut" (bò biển, lợn biển). Duyung
cũng đã được trình bày trong báo cáo của Reeves et al. (1992) là
tên Mã Lai-Java chắc có nghiã là "lợn biển" và Kataoka (1994)
báo cáo là điều này có nghĩa là "cô gái đẹp". Quần thể lợn biển
trong nước ven bờ của Sabah thường trú và hẳn đang thực hiện chỉ
di chuyển cục bộ.. Quần thể hình như có thể bị chia sẻ ở miền
Bắc Đảo Palawan và ở miền Đông với Nam Sulu (Philippin) và
Kalimantan, Indonexia. Trên khắp đảo Borneo, lợn biển được ghi
chép từ Mũi Datu, Lawas, và Limbang ở Sarawak (Bank, 1931;
Jaaman et al. 2000a; Jaaman et al. 2001), Muara, Brunei
Darassalam (Elkin 1992), đảo Labuan và Sabah (Jaaman 22t al.
2000; Jaaman et al. 1999, 2000b) và Kalimantan (Tas'an et al.
1979; Marsh et al. đang in). Báo cáo này biên tập thông tin về
việc phân bố lợn biển và sự phong phú, và thắp sáng mối đe doạ
ảnh hưởng đến động vật trong nước miền Đông Mã Lai.
II. Sự thật về lợn
biển
Bộ: Sirenia
Giống: Dugong
Loài : Dugong dugon
Lợn biển, hoặc bò biển
như chúng thỉnh thoảng được gọi, là động vật biển có thể phát
triển đến khoảng 3 mét dài và cân nặng nhiều bằng 400 kilô.
Chúng chỉ là những động vật biển ở Úc châu sống chủ yếu trên
thực vật. Tên bò biển liên quan đến sự việc là chúng ăn cỏ trên
cỏ biển, tạo ra những cánh đồng cỏ trong nước ven bờ có nơi trú
ẩn. Khi lợn biển ăn cỏ, cả cây bị nhỏ rễ và một đường mòn ăn lộ
ra cỏ còn để lại.
Quan hệ họ hàng
Lợn biển có liên quan
gần đến voi nhiều hơn là những động vật biển như là cá voi và cá
heo mỏ, nhưng những họ hàng thủy sinh sống gần nhất là lợn biển.
Lợn biển là động vật có vú thủy sinh sống trong những sông nước
ngọt và nước ven bờ của Tây Phi, Caribê, Nam Mỹ và miền Nam Mỹ
(Florida). Một họ hàng gần khác là bò biển (lợn biển) Steller,
được tìm thấy trước ở miền Bắc Thái Bình Dương. Chúng bị săn bắt
đến tuyệt chủng vào những năm 1700 bởi những người săn chó biển
(sealers) để lấy thịt. Nó lớn phần lớn ba thời kỳ lâu bằng lợn
biển và ăn mồi trên những tảo lớn (kelp=tảo bẹ).
Phân bố
Lợn biển sống ở trong
nước cạn, nhiệt đới trên khắp miền Ấn Độ-Thái Bình Dương. Phần
lớn quần thể lợn biển trên thế giới hiện nay được tìm thấy trong
nước miền Bắc nước Úc giữa Vịnh Shark ở miền Tây Úc và Vịnh
Moreton ở Queensland.
Đời sống ở ngoài
biển
Lợn biển bơi bằng cách
sử dụng đuôi có thùy (fluked) giống như cá voi và chúng sử dụng
chân chèo (flippers) trước để giữ cân bằng và đổi hướng. Những
di chuyển của chúng thường là chậm và duyên dáng. Những nhà khai
thác đầu tiên và thủy thủ tin là chúng là những người cá vì cơ
thể thon thả của chúng và núm vú (teats) lớn ở cuối chân chèo
của chúng.
Chúng có một đầu tròn
với mắt nhỏ và một cái mõm lớn. Lỗ mũi ở trên đầu mõm và giống
như những động vật có vú khác, lợn biển phải có bề mặt thở. Tuy
nhiên, không giống như những động vật thủy sinh khác như cá voi,
cá heo mỏ và cá heo, lợn biển không thể nín thở dưới nước trong
thời gian dài. Điều này thường là chỉ vài phút, đặc biệt nếu
chúng đang bơi nhanh.
Lợn biển có đôi mắt kém
nhưng nghe rất rõ. Chúng tìm ra và nắm bắt cỏ biển nhờ vào những
gai thô, nhạy cảm, che phủ phần môi trên của mõm lớn và đầy
thịt. Những răng nanh nhỏ có thể được thấy trên những cá đực
trưởng thành và vài cá cái già. Trong mùa giao phối, lợn biển
đực sử dụng răng nanh của chúng để đánh nhau.
Lịch sử đời sống
Lịch sử đời sống lợn
biển được thực hiện bằng những tham số quần thể cân bằng tinh vi
Tuổi thọ tối đa (phần
lớn chết tuổi trẻ) ~ 70 năm
Thời gian trước sinh
sản (cái) 6-17 năm
Thời gian trước sinh
sản (đực) 4-16 năm
Thời gian thai nghén
13-15 tháng
Kích thước lứa đẻ 1
Thời
kỳ cho con bú 14-18 tháng
Khoảng cách đẻ 3-7 năm
Tỷ
lệ tăng có thể thực hiện tối đa (ví dụ tỷ lệ tử vong tự nhiên
thấp và không tử vong do con người) ~ 5% mỗi năm
Tỷ
lệ tử vong tự nhiên tính toán ~ 5% mỗi năm
Tỷ
lệ sinh sản chậm và khoảng cách đời sống dài có nghĩa là lợn
biển đặc biệt nhạy cảm với những yếu tố đe dọa sự tồn sinh của
chúng. Trên khắp thế giới chúng bị đe dọa bởi va chạm của con
người, đặc biệt nơi ở của chúng.
Hydrodamalis cuestae
Dugong Seacow
Dugongidae
Mô tả đặc tính
Tuyến thời gian: Pliocene Epoch
Hydrodamalis cuestae
là một loài tuyệt chủng của lợn biển (bò
biển), có quan hệ xa với dugong sống và manatee (lợn biển). Nó
là một động vật thủy sinh ăn cỏ và là thành phần của động vật có
vú Bộ Sirenia. Nó thiếu răng, thiếu xương ngón tay, và là
rất lớn. Cũng giống như lợn biển Steller H. cuestae
có thể đạt đến một chiều dài cơ thể tối đa khoảng 9 mét (30 bộ
ạnh) và trọng lượng có thể đến 10 tấn.
Lợn
biển tràn lan khắp nước nhiệt đới và cận nhiệt đới của
Eocene Epoch từ Nhật Bản đến Baja California, Những quần
thể của chúng cao nhất trong Miocene Epoch. Hiện
nay, dugong (Dugong dugon) chỉ là thành phần đang sống sót của
Họ Digongidae.
Trong miền này
Hóa
thạch của Hydrodamalis cuestae đã được thu gom từ đá cát đời
Pliocene ở Chula Vista và San Diego, California.
Ngày
23-5-2000 Pat Sena, một nhà cổ sinh vật học ngoài đồng ruộng với
Bảo tàng viện Lịch sử tự nhiên San Diego, đã phát hiện một hộp
sọ hoàn toàn của lợn biển Pliocene khổng lồ (bò biển)
Hydrodamalis cuestae ở một điểm xây dựng ở trang trại
Otay ở Chula Vista.
Dugongs
- Dugongs sống trong nước ấm cạn của
miền Bắc Úc
- Chúng ăn cỏ biển
- Dugongs phủ một lớp da
- Chúng sống chung thành nhóm gọi là
đàn.
Dugongs là những động
vật có vú biển sống trong nước ấm cạn ở miền Bắc Úc. Chúng sống
thành từng nhóm nhỏ gọi là đàn. Chúng ăn cỏ biển và phát triển ở
đấy. Khi chúng gặm cỏ, chúng "đi" bằng chân chèo dọc theo cát,
nhô lên mặt nước thường là để thở.
Một lợn biển cái có một
cá lợn con mối bône hoặc năm năm. Thời gian
mang thai kéo dài trong một năm. Để giữ cá mới sinh an toàn khỏi
cá mập, cá cái di chuyển đến vùng nước cạn được bảo vệ bởi những
rào cản cát khi nó sẵn sàng sinh nở. Cá con sống cùng cá mẹ
trong một đến hai năm. Nó bú sữa từ núm vú mẹ. Cá cái chỉ có một
núm vú dưới mỗi chân chèo.
Cá
lợn biển bị săn bắt bởi cá mập, cá sấu và cá voi sát thủ. Tuy
nhiên. mối đe dọa chính đối với cá lợn biển đến từ con người,
những người săn bắt cá lợn biển để lấy thịt và lấy da. Lại,
những cá lợn biển thường bị đánh bắt trong lưới và chết đuối.
Những thảm cỏ biển trong đó chúng ăn mồi đang cạn dần. Tình
trạng này xảy ra là do sự ô nhiễm dọc ven bờ và trong biển đang
tiêu diệt cỏ biển.
Đầu
cá lợn biển có những má lớn gọi là má giúp nó đẩy xát ra xa khỏi
miệng khi nó ăn để cho nó không bao giờ nuốt cát. Nó có những
răng nanh, nhưng răng nanh của cá cái không phát triển nhiều.
Hình dạng đuôi cá lợn biển giống như đuôi của cá heo mỏ.
Cá
lợn biển có một họ hàng gần gọi là manatee, tìm thấy trong nước
ngoài khơi Florida, T. S. A. Cá Manatee lớn và đuôi của nó có
hình dạng như đuôi của một con hải ly (beaver's). Chúng cũng có
nguy cơ bị tuyệt chủng nhiều so với cá lợn biển Úc.
Cá
lợn biển đã một lần phổ biến trên khắp Ấn Độ Dương nhưng hiện
nay chỉ có vài ngàn còn lại ở Vịnh Ba Tư (Persian Gulf) và Hồng
Hải (Red Sea), và cả vài trăm ở châu Á. Cá lợn biển đang được
bảo vệ trọng khu bảo tồn và Vườn quốc gia biển ở Úc. Cá lợn biển
được tìm thấy số lượng lớn nhất ở trong nước thuộc Úc.
Những thủy thủ thường kể truyện đã thấy người cá (mermaids)
trong nước ở Bắc Úc, nhưng động vật mà họ đã thấy hẳn là cá lợn
biển. Kích thước khoảng dài 3m, nặng đến 400 kg. Màu: nâu xám.
Ngày 30-07-2005
RGC
Trở về Trang Chính
|