|
Cây ngải là một loài hòa bản đa niên thân cứng có xuất xứ từ
châu Âu nhưng ngày nay tìm thấy trên khắp thế giới. Bụi cây ngải
có thể tăng trưởng đến một bề cao 2 mét, và tạo ra nhiều thân
bụi có lớp phủ lông mịn, tơ xám xanh. Cây ngải tạo ra những hoa
vàng tím nhỏ từ mùa hè đến đầu mùa thu (1).
Việc dùng cây ngải thông qua ăn uống trong trường hợp ăn không
ngon, không tiêu hóa và có vấn đề đường ruột (2) (3). Cây ngải
thường được dùng kết hợp với những loài hòa bản khác để giải
quyết những rối loạn túi mật và sự đầy hơi (4).
Những thành phần trong cây ngải gồm có absinthin, anabsinthin
(cả hai là hợp chất đắng), và một loại dầu thăng hoa nghĩa là
70% thujone (4).

Số lượng lớn thường dùng cây ngải có thể tạo ra nhiều ảnh hưởng
không mong đợi. Những ảnh hưởng này có thể gồm có thao thức, mất
ngủ, ác mộng, nôn mửa, đau bụng, chóng mặt, rùng mình, co giật
và loạn chức năng đường tiểu.
Tình trạng ngộ độc Thujone có thể tạo ra những ảnh hưởng khác
nhau khi số lượng ngải tiêu dùng gia tăng, gồm có bệnh ngập máu,
hoang tưởng và ảo giác trong những trường hợp cực kỳ. Vài nhà
nghiên cứu tin tưởng là ảnh hưởng làm thay đổi tinh thần của
thujone giống nhau so với THC trong cần sa (4).
Tuy nhiên, có vài công dụng bổ ích của thành phần cây ngải này,
khi thujone cho biết triển vọng mhư một chất kháng oxyt hóa.
Điều này hình như còn có những đặc tính kháng sinh và kháng nấm
trung bình (5).
Không nghi ngờ công dụng trị liệu nổi tiếng nhất của cây ngải là
sự sổ giun ký sinh. Nhiều tài liệu tham khảo tiếp tục trình bày
danh sách cây ngải như là một loại thuốc giun hiệu quả, và vài
tài liệu còn trình bày ngải như là có tác dụng kháng sinh và
kháng nấm (6), (7), (8), (9), (10).
Về mặt lịch sử cây ngải đã được dùng như thuốc diệt giun ký
sinh, một loại thuốc kích thích tình dục, thuốc bổ và làm toát
mồ hôi (4). Những công dụng truyền thống khác gồm có việc điều
hòa kinh nguyệt và làm giảm sốt rét (7). Sổ tay dược thảo của
Duke trình bày những đặc tính kháng sinh và kháng nấm trong cây
ngải (10).
Trong quá khứ cây ngải được nghĩ phản ứng chống độc tố. Cây ngải
còn được vãi trong buồng để xua đuổi bướm đêm, bọ chét và những
loài côn trùng khác. Khi lời đồn về bệnh dịch bùng nổ ở Luân Đôn
ngoài đường phố năm 1760, những người mua bán đã báo cáo tình
trạng hết ngải do yêu cầu rất lớn của quần chúng.
Việc dùng cây ngải trong thức uống ghi ngày tháng lui lại nhiều
thế kỷ, có thể lùi xa thời du mục Saracens. Những cách tiêu dùng
khác nhau đã được dùng trong suôt lịch sử, gồm có việc trộn lẫn
dầu chính với bia hoặc thêm hạt ngải cho việc chưng cất rượu
huýt-ki (1).
Tuy nhiên, nổi tiếng nhất là việc trộn lẫn thuốc ngải absinthol
với anise để tạo ra thức uống làm say được biết như là absinthe.
Việc sử dụng quá mức loại thức uống này có những ảnh hưởng gây
hại ở châu Âu trong thế kỷ 18, sự ham mê quá mức được biết đã
mang lại bệnh tê liệt (1).
Cây ngải được dùng ngày nay trong việc điều chế vermuth, và giải
trình vị đắng đặc trưng của loại nước uống này (1).
Hình như là cây ngải có thể còn có và đặc tính kháng sốt rét,
với những khảo nghiệm trên động vật xác nhận là chất trích rượu
của lá khô có tiềm năng kháng sốt rét rất lớn (11), với loài cây
ngải Artemisia annua cho biết tiềm năng kháng sốt rét lớn nhiều
so với chất trích từ trên 30 loài khác trong khảo nghiệm trong
phòng thí nghiệm (12).
Cây ngải thường được xem là an toàn khi được dùng một cách thích
hợp và trong thời gian ngắn. Cây ngải phải không được dùng số
lượng lớn hoặc lâu dài.
Loài hòa bản này được tuyên bố không an toàn trong sử dụng trong
thời gian mang thai do uterine của nó và ảnh hưởng kích thích
kinh nguyêt. Do thiếu thông tin đáng tin cậy đủ, cây ngải phải
không được dùng trong khi cho con bú (4).
Bài báo này là thuộc về bản quyền của Mark Porter năm 2003. Tác
giả giữ bản quyền.
http://www.idealhealthservices.com/shopcartbrowse.asp?categoryname=Parasites
and Candida
http://www.idealhealthservices.com/shopcartbrowse.asp?categoryname=Parasites
and Candida
REFERENCES
(1) Gordon L. A Country Herbal. Devon, England: Webb & Bower
(Publishers) Ltd. 1980.
(2) Blumenthal M, et. al. ed. The Complete German Commission E
Monographs: Therapeutic Guide to Herbal Medicines. Austin:
American Botanical Council, 1998.
(3) British Herbal Pharmacopoeia (1996). Fourth Edition. British
Herbal Medicine Association Scientific Committee, West Yorks,
England.
(4) Jellin JM, Batz F, Hitchens K. Natural Medicines
Comprehensive Database. Third Edition. Stockton, California:
Therapeutic Research Faculty, 2000.
(5) McGuffin M, et. al. American Herbal Product’s Association’s
Botanical Safety Handbook. CRC Press. 1997.
(6) Lueng AY, Foster S. Encyclopedia of Common Natural
Ingredients Used in Foord, Drugs and Cosmetics. Second Edition.
New York, NY: Wiley & Sons, 1996.
(7) Gruenwald J, et.al. PDR for Herbal Medicines. First Edition.
Montvale, NJ: Medical Economics Company, Inc., 1998.
(8) Bisset NG. ed. Herbal Drugs and Phytopharmaceuticals.
Translated from Second Edition. Boca Raton: CRC Press, 1994.
(9) Moerman, DE. American Medical Ethnobotany: A Reference
Dictionary. New York, NY: Garland Publishing. 1977.
(10) Duke JA, et. al. Handbook of Medicinal Herbs. Second
Edition. Boca Raton, FL: CRC Press. 2002.]
(11) “Artemisia absinthium.” Clarkia. (Accessed May 1, 2003).
http://www.drclarkia.com/wormwood.asp
(12) Abdin MZ, Israr M, Rehman RU, Jain SK. Artemisin, a Novel
Antimalrial Drug: Biochemical and Molecular Approaches for
Enhanced Production. Planta Med 2003; 69: 289-299
Genesis Health Products © 1999 - 2006 |
Home |
FAQs |
Contact |
Site Map
DISCLAIMER
Thông tin trong WEBSITE này không cung cấp bất kể chẩn đoán, xử
lý, trị liệu trong bất kể bệnh hoặc điều kiện y học, cũng không
cung cấp như lời khuyến cáo y học. Dịch vụ Y tế lý tưởng không
cung cấp bất kể lời khuyến cao y học, chẩn đoán hoặc chữa bệnh
trong trị liệu bất kể loại bệnh. Nếu bạn đang mắc phải bất kể
chứng bệnh hoặc điều kiện y học hoặc đang dùng thuốc theo toa,
chúng tôi khuyến cáo bạn đi khám một bác sĩ có đủ tư cách trước
khi bắt đầu bất kể chế độ ăn kiêng, kế hoạch dinh dưỡng và
chương trình tập luyện. Duyệt thuận bởi TGAA (the Therapeutic
Goods Administration of Australia) về việc trình bày danh sách
bất kể sản phẩm trong Australian Register of Therapeutic Goods
không cần có nghĩa là mọi người có thể sử dụng sản phẩm đã trình
bày.
RGC ngày 22-06-2006
|