|
1.
Sức khoẻ được định nghĩa trong hiến ước của Tổ chức Y tế Quốc tế
như là: tình trạng vật lý, tinh thần và phúc lợi xã hội hoàn
toàn và không chỉ là không bệnh tật hoặc khuyết tật. Tình trạng
sức khoẻ của một cá nhân hoặc tập thể phụ thuộc vào phản ứng
tương hỗ phức tạp của các lãnh vực vật lý, sinh học, chính trị
và xã hội. Trong thế kỷ qua, những hoạt động và tập tính của con
người đã giữ một vai trò chính trong việc thay đổi môi trường,
làm tăng những chất khí nhà kính trong khí quyển, thiếu tầng lớp
ozone, mất đi tính đa dạng sinh học, ô nhiễm tài nguyên nước, và
phân huỷ đất. Đến lượt, những điều này và những thay đổi môi
trường toàn cầu khác đang bắt đầu ảnh hưởng đến sức khoẻ và phúc
lợi của quần chúng nhân dân. Theo Chương trình Môi Trường của
Liên Hiệp Quốc (1992) trong Saving Our Planet “ Tất cả những yếu
tố cấu thành môi trường của hành tinh của chúng ta cuối cùng tác
động một ảnh hưởng lên trên sức khoẻ con người và phúc lơi.” Chỉ
những nhà khoa học mới bắt đầu khai thác những ảnh hưởng này, và
nhiều tài liệu tham khảo có thể sử dụng tập trung vào hiệu ứng
của thay đổi thời tiết.
Nhiều
phương pháp y tế mạn tính có thể liên hệ trực tiếp với quá trình
của Quả Đất và môi trường. Khi cơ quan khoa học tài nguyên thiên
nhiên nhà nước có thể giữ một vai trò có ý nghĩa trong việc hiểu
rõ phần góp của môi trường và bệnh tật và sức khoẻ con người
(thuỷ văn, đất, thảm thực vật) cần để duy trì mầm bệnh đặc hiệu
trong thiên nhiên, ngườI ta có thể sử dụng cảnh quan để nhận
diện sự phân bố không gian và thời gian của những tính trạng đất
sử dụng rủi ro bệnh và ngưỡng thời tiết sinh học để vẽ bản đồ
nơi ở của tác nhân gây bệnh và ký chủ động vật.
2.
Công trình nghiên cứu của USGS đã góp phần vào việc quán triệt
những hiệu ứng của radon, asbestos, selenium, chromium, và
uranium trên sức khoẻ con người. Những khảo nghiệm hiện hành về
việc vận chuyển vi khuẩn và vi rút trên nước mặt và tích tụ sinh
học kim loại như là thạch tín, thuỷ ngân và chì cũng giảI quyết
sức khoẻ của con người. USGS có kinh nghiệm rất lớn trong việc
thực hiện những nghiên cứu về sự xuất hiện và phân bố của những
hoá chất tự nhiên và do người có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của
con người. Con người tiếp xúc với hoá chất có độc tố tiềm tàng
trong chuỗi lương thực là một lãnh vực khác quan tâm trong đó
USGS có thể cho mượn chuyên gia của họ. Chất lượng nước vẫn là
một quan tâm quan trọng về sức khoẻ và y học, và USGS đã có một
vai trò có ý nghĩa trong việc hỗ trợ những người khác xác định
phương pháp tốt nhất để kiểm tra chất lượng nước uống.
Đối tác
mạnh với cơ quan sức khoẻ truyền thống và môi trường là cần để
hợp tác về việc giải quyết vấn đề. USGS đang xây dựng những đối
tác này thông qua việc hợp tác với cơ quan như là những trung
tâm y tế dự phòng, cơ quan bảo vệ môi trường, Viện nghiên cứu
bệnh học quân đội, Viện Khoa học, Sức, khỏe, Môi trường nhà nước
và Viện Ung thư Quốc Gia.
3.
Hàng ngàn công trình nghiên cứu PCB y học cho thấy là
polychlorinated biphenyls (PCBs) tạo ra rất nhiều hiệu ứng
trên sức khoẻ, thường ở mức độ rất thấp khi tiếp xúc. Trung bình
một người Mỹ đã mang đủ PCB trong cơ thể của chàng hoặc nàng để
thoả mãn hoặc vượt quá ngưỡng tối thiểu đề bắt đầu bài toán y tế
do PCBs. Ở Đông Bắc Wisconsin, chúng tôi đã tiếp xúc PCB liều
lượng cao và có rủi ro về sức khoẻ.
Không
phải tất cả 209 kiểu PCB có cùng một hiệu ứng. Vài trong
số có những đặc tính như dioxin (một trong những hợp chất nhân
tạo có độc tố nhiều nhất trên thế giới), và kiểu PCBs có tác
dụng như homon, và những PCBs khác là thần kinh độc tố. Chúng
tôi có một hỗn hợp gồm có tất cả những loại trong sông Fox và
vịnh Green.
PCBs
làm thay đổi những hệ thống chính trong cơ thể (hệ thống miễn
nhiễm, homon, thần kinh và enzym); vì thế, PCBs ảnh hưởng rất
nhiều cơ quan và chức năng của cơ thể.
Sự lây
nhiễm PCB là một khủng hoảng y tế công cộng đã bị bỏ qua từ lâu.
4.
Bài toán:
Hàng
trăm công trình nghiên cứu sử dụng những phương pháp khoa học đã
cho thấy là nhiều loại thuốc trừ sâu làm thay đổi hệ thống miễn
nhiễm trên động vật khảo nghiệm và làm chúng dễ nhiễm bệnh nhiều
hơn. Loại thuốc trừ dịch hại đã được tìm thấy làm giảm số lượng
tế bào bạch huyết và bạch cầu đấu tranh bệnh và làm không thích
hợp khả năng của chúng phản ứng lại và tiêu diệt vi khuẩn và vi
rút. Chúng cũng làm thay đổi sự phát triển của tuyến yên và lá
lách, cơ quan miễn nhiễm chính. Những công trình nghiên cứu đã
sưu tầm tài liệu những hiệu ứng này với nhiều loại thuốc trừ
dịch hại dùng trong nước này và trên thế giới: organochlorines
(ví dụ DDT, lindane, chlordane), organophosphates (ví dụ,
malathion, parathion, diazinon), carbamates (ví dụ aldicarb,
carbofuran, carbaryl) và những loại thuốc khác (2,4-D, atrazine,
captan). Nhiều loại thuốc trừ dịch hại hiện nay ngoài thị trường
chưa được khảo nghiệm đầy đủ trong phòng thí nghiệm về ảnh hưởng
miễn nhiễm độc tố.
Ít công
trình nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ dịch hại
trên hệ thống miễn nhiễm của con người, một phần là vì khảo
nghiệm trên cực kỳ là khó thiết kế và thực hiện. Mặc dù phần lớn
nhân dân tiếp xúc với nồng độ thấp mạn tính nhiều hơn là nồng độ
cao dùng cho khảo nghiệm trong phòng thí nghiệm, hiện không có
cơ sở để giả định là con người được miễn trừ khỏi rủi ro.
Công
trình nghiên cứu dịch tễ học từ Canada và Liên bang Xô viết cũ
tìm ra là trẻ em và người trưởng thành tiếp xúc với thuốc trừ
dịch hại chịu đựng những thay đổi hệ miễn nhiễm tương tự và tỷ
lệ cao bệnh lây nhiễm. Rủi ro loại trừ miễn nhiễm do thuốc trừ
dịch hại đã biết lớn nhất trẻ sơ sinh và trẻ em, người cao tuổi,
người thiếu dinh dưỡng hoặc bệnh mạn tính.
Việc
sản xuất thuốc trừ dịch hại là công nghiệp 30 tỉ và 62 phần trăm
số lượng bán là ở Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản. Nhưng thuốc trừ
dịch hại được áp dụng rộng rãi từng phần của thế giới đang phát
triển và việc sử dụng tăng lên nhanh nhiều hơn.
Tính có
độc tố cấp tính và rủi ro ung thư có thể mắc phải của nhiều loại
thuốc trừ dịch hại đã đưa đến việc nghiêm cấm hoặc giới hạn sử
dụng ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Nhiều loại thuốc trừ dịch hại này vẫn
đang được sản xuất và sử dụng ở thế giới đang phát triển và
trong Liên Bang Xô Viết cũ.
Hàng
trăm triệu người đang tiếp xúc một cách có ý nghĩa với thuốc trừ
dịch hại mỗi ngày, hoặc là trực tiếp sử dụng trong trang trại
hay trong vườn hoặc chất tồn lưu trong nước, không khí và lương
thực. Tính toán về mặt cơ thể tiếp xúc cho thấy ngay cả trẻ em ở
vùng nông thôn và trẻ sơ sinh đang bú từ người mẹ tiếp xúc có
thể nhận những liều lượng quan trọng.
Nhiều
bằng 85 đến 90% số lượng thuốc trừ dịch hại dùng trong nông
nghiệp không bao giờ đạt mục tiêu, nhưng thay vì phân tán trong
không khí, đất và nước và vào trong cơ thể động vật và con người
ở gần. Nông dân và cư dân ở vùng nông thôn tiếp xúc ngay, những
người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp ở xa và cá cũng ở trong
tình trạng rủi ro.
Thuốc
trừ dịch hại tích tụ trong chuỗi thực phẩm vẫn còn được sử dụng
ở nhiều nước. Tính toán máu, mỡ và sữa của những người ở xa miền
nông nghiệp thường cho thấy chất tồn lưu thuốc trừ dịch hại và
thiếu enzym do vài loại thuốc trừ dịch hại. Ở xa miền Bắc cực,
người Innuit (Esquimo) Canada mang một nồng độ cao của những hợp
chất này trong mỡ như gấu cực và cá voi beluga mang.
5.
Từ khi cuộc cách mạng công nghiệp và việc nhập nội không ngừng
những loại hóa chất vào trong cuộc sống của chúng ta, tỷ lệ bệnh
ung thư đã tăng lên đến mức độ đáng chú ý, nên hiện nay khoảng 1
trong 2 người đàn ông Mỹ và 1 trong 3 người đàn bà Mỹ sẽ mắc
bệnh ung thư ở vài điểm trong cuộc sống của họ. Năm 1989, EPA
xác định hóa chất có độc tố tìm thấy chất rửa nhà cửa phổ biến,
thường phân tán trong khói, nhân lên 3 lần có thể gây ra bệnh
ung thư nhiều hơn so với những chất gây ô nhiễm không khí khác.
Những yếu tố môi trường, xác định gồm có trong hóa chất một tính
toán 75% trong tất cả những trường hợp bệnh ở Hoa Kỳ.
Sản
phẩm làm sạch đã được gán cho rất nhiều bệnh và rối loạn khộng
thích hợp với sức khoẻ, gồm có: làm thay đổi chuyển hoá của cơ
thể, làm mất chức năng của enzym, thiếu dinh dưỡng, thay đổi
homon, khuyết tật sinh đẻ, và rối loạn phát triển cùng với những
rối loạn phát triển cùng với vài rối loạn học tập và tập tính
hiếm. Ngoài ra, năm 2002 riêng những trung tâm độc tố Hoa Kỳ đã
sử dụng 212.660 lần tiếp xúc tổng cộng với những chất làm sạch
trong hộ gia đình, 121.841 trong số trên trẻ em dưới 6 tuổi theo
Báo cáo Hệ thống Theo dõi Tiếp xúc với Độc tố, của AAPCC (Hiệp
hội Hoa kỳ Trung tâm Phòng trừ Độc tố) (Báo cáo TESS ).
Những
chất làm sạch gia dụng mọi mục đích thường có vật liệu clo hoá,
đến lượt có thể tạo ra hợp chất clo hữu cơ, đến lượt được lưu
trữ trên tế bào mỡ và có thể đi vào sữa mẹ. Morpholine là rất
độc và một độc tố gan và thận. Glycol ether, chất dung môi
Stoddard, naphtha và dầu lửa là những độc tố thần kinh và chất
làm suy giảm hệ thần kinh trung tâm có thể tạo ra lẫn lộn, đau
đầu, thiếu tập trung, và những triệu chứng của bệnh tâm thần..
Glycol ether cũng là một độc tố thận và gan. Sodium bromide có
thể gây ra những rối loạn.
Cân-đối-cân của trọng lượng cơ thể, trẻ em uống nhiều nước, ăn
nhiều thực phẩm, và thở không khí nhiều hơn so với người trưởng
thành. Nhiều hệ cơ quan trên trẻ em nhỏ- hệ thần kinh, cơ quan
sinh sản, hệ miễn dịch- phát triển rất nhanh, và sự phát triển ở
những tháng và năm đầu của cuộc sống. Hệ thần kinh không thể sửa
chữa tốt bất kỳ hư hỏng cấu trúc tạo ra bởi những chất độc tố
môi trường. Nếu tế bào trong đại não đang phát triển bị phá huỷ
bởi hoá chất như là chì, thuỷ ngân, hoặc chất dung môi, hoặc
những liên kết sinh động giữa tế bào thần kinh để tạo ra, có rủi
ro cao là trường hợp loạn chức năng tập tính thần kinh kết quả
sẽ là thường xuyên và không thể đảo ngược. Những hậu quả có thể
bị mất đi thông minh và thay đổi tập tính bình thường.
Trong
20 năm qua, xây dựng năng lượng “kín” những toà nhà cao ốc hiệu
quả đã dẫn đến một mức giảm sắc bén về số lượng không khí mát mẻ
trong nhà của chúng ta. Trong cùng hai thập niên này, những cao
ốc của chúng ta đã đầy ắp khói từ sơn, nhuộm, đồ gỗ, những loại
sản phẩm rửa trong hộ gia đình, và những vật liệu khác, và kết
quả là đáng chú ý. Theo khảo nghiệm thực hiện bởi EPA, không khí
bên trong nhà điển hình là nhân lên 2-5 lần ô nhiễm nhiều hơn
không khí ngay ở ngoài những bức tường. Công trình nghiên cứu 5
năm tìm thấy là mức độ của vài hoá chất trong nhiều nhà là 70
lần cao hơn số lượng của chúng ngoài trời. Một khảo nghiệm khác
về chất lượng không khí trong nhà ở 6 thành phố phát hiện là
nồng độ đỉnh của 20 hoá chất có độc tố gấp lên 200-500 lần cao
hơn bên trong so với nồng độ cao nhất ghi chép được ở bên ngoài.
Khi Uỷ ban An toàn Sản phẩm Người tiêu dùng, điều tìm thấy là
không khí ngoài trời có trung bình ít hơn 10 lần hợp chất hữu cơ
thăng hoa (hoặc VOCs) trong khi không khí trong nhà có khoảng
150.
Thở
chất ô nhiễm không khí có thể một cách tiềm tàng đưa đến phản
ứng dị ứng và hen suyễn, lây nhiễm, và những bài toán y tế khác
liên quan đến phổi, mũi, và cổ họng. Tiếp xúc với chất ô mhiễm
không khí trong nhà như là VOCs tìm thấy trong chất tẩy rửa
trong hộ gia đình có thể ảnh hưởng âm đến phổi, đại não, và hệ
thần kinh.
Sản
phẩm trong hộ gia đình gồm có phun aerosol, tẩy rửa và khử
trùng, xua đuổi bướm đêm và nước hoa xịt phòng, chất dung môi,
cung cấp sở thích, và quần áo giặt khô có thể gây viêm nhiễm
mắt, mũi, và cổ họng, đau đầu, mất khả năng phối hợp, buồn nôn,
hư hỏng gan, thận, và hệ thần kinh trung tâm. VOCs đã được trình
bày gây ra bệnh ưng thư trên động vật và vài chất nghi hoặc đã
biết gây ra bệnh ung thư trên con người.
6.
Tỷ lệ tử vong từ bệnh lây nhiễm phổ biến, đến nay đã là sát thủ
lớn nhất trong những nước đang phát triển, có thể được điều
khiển từng phần bởi tiếp xúc với thuốc trừ dịch hại.
Bệnh có
thể truyền lan tạo ra gần nửa tổng số lượng trường hợp tử vong
trên thế giới đang phát triển so với ít hơn 10% trong những nước
công nghiệp hoá. Thiếu dinh dưỡng mạn tính, dịch vụ y tế không
đầy đủ, và vệ sinh tồi đã là mối đe doạ nghiêm trọng cho sức
khoẻ. Bất kể trường hợp không thích hợp phụ nào về việc bảo vệ
miễn nhiễm tự nhiên có thể tiêu diệt.
Trong
những nước đang phát triển, biện pháp phòng trừ trong công tác
tiếp thị thuốc trừ dịch hại, sản xuất, và sử dụng yếu một cách
điển hình. Dự phòng an toàn bỏ qua một cách rộng rãi. Những
triệu chứng trong việc tiếp xúc quá mức như là rối loạn hô hấp,
bệnh đường ruột, phát ban, chóng mặt, “thần kinh” và suy yếu
thường không được xem xét hoặc được chẩn đoán lầm. Bác sĩ chuyên
ngành tìm ra là tiếp xúc quá mức ba lần như chúng thường thấy đã
có báo cáo.
Ở miền
Trung Luzon, Philippin, việc sử dụng thuốc trừ dịch hại tăng lên
mạnh trong một thời kỳ 5 năm, và tỷ lệ tử vong tăng lên một cách
trực tiếp với nó trong số nông dân nam trưởng thành.. Tỷ lệ rơi
đối với nữ trưởng thành và với nam gần thành thị.
Người
dân Inuit Canada phân lập chủ yếu ăn cá và động vật có vú biển
bị nhiễm nặng với thuốc trừ dịch hại tích tụ cho thấy thiếu hệ
miễn dịch nổi bật, đặc biệt là trẻ sơ sinh đang bú và trẻ em.
Bệnh viêm màng não và lây nhiễm tai trong xuất hiện ở tỷ lệ 30
lần tỷ lệ ở trẻ em Mỹ. Nhiều trẻ sơ sinh Inuit không được chủng
khuẩn, nên chúng không tạo ra một phản ứng kháng thể.
Bệnh
lao phổi đã phát triển mạnh ở Trung Âu và Liên bang Xô viết cũ
nơi ô nhiễm chất hoá học là phổ biến. Sự bùng nổ bệnh lao phổi
là phổ biến trong số nhóm mất hệ miễn nhiễm.
Nông
đân trồng bông vải ở Uzbekistan đã không tương thích với tính
miễn nhiễm có trung gian tế bào và chịu đựng tỷ lệ lây nhiễm cao
bệnh hô hấp, bệnh thận, và bệnh đường ruột nhiều hơnúo với cư
dân ở miền khác sử dung ít thuốc trừ dịch hại.
Trẻ em
đặc biệt dễ nhiễm với ảnh hưởng của thuốc trừ dịch hại trên hệ
miễn nhiễm của chúng. Trong những quận nông nghiệp của miền
Trung Moldova, nơi thuốc trừ dịch hại đã được sử dụng rất nhiều,
80 phần trăm trẻ em khỏe đã làm suy giảm hệ miễn nhiệm. Trẻ em ở
những vùng này có thể ba lần nhiều hơn mắc bệnh lây nhiễm về
đường tiêu hóa, và có thể hai đến năm lần nhiều hơn mắc bệnh lây
nhiễm về đường hô hấp. Công nhân làm việc trong nhà máy sản xuất
thuốc trừ dịch hại và nông trang trong vùng thể hiện tỷ lệ cao
bệnh lây nhiễm của những đường tiêu hóa, tiểu tiện, hô hấp, và
đường sinh dục nữ.
Công
nhân xí nghiệp Ấn Độ tiếp xúc một cách mạn tính với thuốc trừ
dịch hại cho thấy 66 phần trăm giảm về mức độ bạch cầu, nhưng
khảo nghiệm bình thường sau ba tháng nghỉ hè.
Một
bệnh dịch mới tiêu diệt cá heo ở Địa Trung Hải, Biển Bắc và Bắc
Đại Tây Dương chuyển sang vi rút thường với nó động vật kháng
một cách bình thường. Những mẫu máu từ cá heo ngoài khơi bãi
biển Florida cho thấy động vật có vú có mức độ cao về chất tồn
lưu thuốc trừ dịch hại, lây nhiễm vi rút chính và hệ miễn nhiễm
yếu.
Hải cẩu
con đánh bắt ngoài khơi bãi biển Tây Bắc tương đối không ô nhiễm
ở Thụy Điển được nuôi dưỡng bằng cá không bị ô nhiễm trong một
năm. Một nửa sau đó được nuôi dưỡng cá trích (herring) từ biển
Ban-tích bị ô nhiễm. Những hải cẩu này phát triển nồng độ cơ thể
cao thuốc trừ dịch hại và những loại hóa chất clo hữu cơ khác và
phản ứng hệ miễn nhiễm một phần ba mạnh như trên một nhóm đối
chứng, Cá trích được mua từ chợ địa phương và có ý đồ để con
người tiêu dùng.
Thuốc
trừ dịch hại có thể gia tăng tính nhiễm với vài bệnh ung thư
bằng cách làm giảm sự cảnh giác về hệ miễn nhiễm chống lại tế
bào ung thư. Khám nghiệm tử thi (autopsies) trên cá voi chết từ
St Lauwrence Seaway bị ô nhiễm nặng cho thấy nồng độ mô cao của
vài loại thuốc trừ dịch hại và PCBs, cũng như nhiễm vi khuẩn
nghiêm trọng và khối u thường xuyên.
Nông
dân thường có rủi ro thấp nhiều hơn về bệnh ung thư so với những
người đàn ông khác, nhưng có rủi ro cao hơn về các kiểu bệnh ung
thư tìm ra trên những bệnh nhân thiếu khả năng miễn nhiễm (những
người với bệnh AIDS và những người sử dụng thuốc làm suy giảm
miễn nhiễm): bệnh Hodgkin, bệnh loạn chuyển hóa melanin, bệnh u
tủy nhiều yếu tố, bệnh bạch cầu (tất cả ung thư của hệ miễn
nhiễm) và ung thư môi, dạ dày và tuyến tiền liệt. Nông dân tiếp
xúc nhiều nhất với thuốc trừ dịch hại có tỷ lệ tương đối cao
nhất. Vài loại thuốc trừ dịch hại được liên kết có sức thuyết
phục với việc sản xuất kháng thể tự miễn nhiễm, tấn công cơ thể
trên chính nó. Khảo nghiệm Liên Xô về cây bông vải, thuốc lá ,
và những vùng chuyên canh rau xanh ở Samarkand cho thấy là nhiều
người tiếp xúc với các loại thuốc trừ dich hại organo chloride
và organo phosphate cung cấp nơi ở cho những kháng thể tự miễn
nhiễm. Công nhân nhà máy nơi khác ở Nga cho thấy những triệu
chứng tương tự.
7. Làm
cách nào chúng tôi bản thân cảm thấy về Quả Đất và quan hệ của
chúng tôi với nó điều này gọi là đạo lý môi trường. Một đạo lý
môi trường cung cấp hướng dẫn cho những quyết định cá nhân, hoạt
động như một hệ thống giá trị trong đó để giải trình những vấn
đề môi trường. Vì đạo lý môi trường của chúng ta ảnh hưởng đến
chọn lựa khi giải quyết môi trường, điều này quan trọng để cho
vài nghĩ suy làm cách nào chúng ta nghĩ suy không gian tự nhiên
và làm cách nào chúng ta sống. Ví dụ, chúng ta có thể có cảm
giác mạnh là không gian tự nhiên phải được bảo tồn như chúng
hiện có. Điều này có thể đưa đến việc lựa chọn cá nhân sẽ khuyến
khích hoặc hỗ trợ lối thoát trên như thời gian cho và năng lượng
cho trong việc bảo tồn đất, một chính sách cắm trại “không dấu
vết”, sống trong môi trường thành thị nhiều hơn để giảm mở rộng
thành thị, hoặc đi không có vài sản phẩm có thể cần phá hủy nơi
ở. Bạn có thể cũng có cảm giác khá mạnh là con người là ưu tiên
đỉnh cao (ví dụ nếu DDT cứu hộ cuộc sống bởi hàng ngàn ở châu
Phi, xứng đáng số ít chim chết, hoặc phát triển để hỗ trợ con
người là cần ngay cả nếu nó loại trừ đất ngập nước hoặc nơi ở
khác). Bạn có thể cũng rơi đâu đó ở giữa.
Đạo lý
môi trường của bạn có thể cũng hướng dẫn bạn đến những ý kiến
khác nhau trong những tình huống khác nhau. Sự phát triển có thể
không thích hợp khi khoan dầu, nhưng có thể là thích hợp để xây
dựng một bệnh viện. Tất cả phụ thuộc vào điều gì bạn tin. Và vì
điều này là một triết lý trên nền giá trị, điều quan trọng là
bao gồm khoa học và điều gì đã biết để đi đến một kết luận.
Có hoặc
không đất ngập nước thật là bị hiểm nguy bởi một dự án phát
triển có thể ảnh hưởng quyết định của bạn trong việc hỗ trợ hoặc
phản đối dự án. Số lượng hươu bị giảm là bao nhiêu khi chúng có
mật số quá mức trong một miền có thể thay đổi hoàn toàn ý kiến
của bạn về săn bắn. Vì vài người có niềm tin rất mạnh về làm
cách nào chúng ta phải phản ứng tương hỗ với môi trường và niềm
tin của họ có thể không thống nhất với ý kiến của bạn, không nên
để ý đến điều gì ai đó nói vê nó, tìm ra chứng cứ họ đang sử
dụng để hỗ trợ lời trình bày của họ, Một bài báo khoa học có thể
có trọng lượng nhiều hơn so với một câu chuyện vui. Một hoặc
nhiều người có thể có tiêu chí là phải nói lệch đi những điều họ
phải nói? Khi bạn có thông tin càng nhiều càng tốt, và cảnh giác
về những điều lệch lạc có thể hiện có, bạn có thể ra một quyết
định.
Như với
quyết định trên nền khoa học, nhiều công trình nghiên cứu được
thực hiện theo thời gian. Những khảo nghiệm này có thể thay đổi
hoặc ngay cả phản bác thông tin từ cuộc khảo sát trước. Khảo
nghiệm lại này là bộ phận của phương pháp khoa học để đảm bảo
giá trị của thông tin, nhưng hơn nữa điều này cho thấy sự cần
thiết với một công dân có thông tin tốt khi quyết định.
Tên chất liệu.
Những hợp chất organotin số lượng CASR không thể áp dụng
công thức phân tử.
Một số
lượng lớn hợp chất organotin hiện có. Những hợp chất organotin
quan trọng có thể thuộc về bất kể một trong bốn lớp. Những lớp
này có liên quan đến số lượng nhóm hữu cơ, như là
tetraorganotins (nhóm bốn). triorganotins (nhóm ba),
diorganotins (nhóm hai) và monoorganotins (nhóm một).
Từ đồng nghĩa:
hợp chất organotin gồm có tributyltin hoặc tributylstannane
(CSAR#688-73-3), tributylin oxide hoặc TBTO, tributylsstannane,
Metatin 50, Biomet (CASR#56-35-9), triphenyltin (CASR#668-34-8),
triphenyltin acetate hoặc fentin acetate, Batasan, Brestan,
Libromatin, Lirostarol, Phenostat A, Phentinoacetate, Suzu
(CASR# 900-95-8), triphenyltin oxide hoặc fentin hydroxide,
hydroxytriphenylstannane, hydroxytriphenyltin, triphenylstannium
hydroxide, triphenyltin oxide, Haitin, Tubotin (CASR#76-87-9),
triphenyltin chloride hoặc fentin chloride, TPTC,
chlorotriphenylstannane, chlorotriphenyltin,
triphenylchlorostannane, triphenylchlorotin, Aquatin, Brestanol,
Phenostat-C, Tinmate (CASR# 639-58-7) fenbutatin oxide hoặc
Bendex, Neoxtanox, Osdaran, Torque, Vendex, Shell
(CASR#13356-08-6), azocyclotin hoặc Bay blue 1452, Peropal
(CASR# 41083-11-8), và cyhexatin hoặc TCTH, plictran,
tricyclohexylhydroxystannane, tricyclohexylhydroxytin,
tricyclohexylstannanol, tricyclohexylstannium hydroxide (CASR#
13121-70-5)
Đặc
tính vật lý và hóa học
Đặc
tính vật lý
Hợp
chất organotin thay đổi về đặc tính vật lý của chúng. Đặc tính
của organotins chọn như sau:
Tributyltin oxide là một chất lỏng không màu đến màu vàng có mùi
yếu. Trọng lượng riêng là 1,17.
Triphenyltin acetate là một thể rắn tinh thể màu trắng ngà. Nó
nung chảy ở 124-126oC.
Triphenyltin chloride là một thể rắn tinh thể trắng nung chảy ở
103-106oC.
Triphenyltin hydroxide là một dạng bột màu trắng ngà nung chảy ở
124-126oC.
Fenbutatin oxide là một thể rắn tinh thể trắng rất ổn định với
nhiệt, ánh sáng và oxygen trong quyển khí. Nung chảy ở 138-139oC
và có trọng lượng riêng là 1,29-1,33.
Azocyclotin là một thể rắn tinh thể không màu nung chảy 219oC.
Cyhexatin là một thể rắn tinh thể trắng nung chảy ở 195-198oC.
Đặc
tính hóa học:
Hợp
chất organotin thay đổi về đặc tính hóa học và sinh học. Phần
lớn organotins thương phẩm có một độ hòa tan trong nước rất
thấp. Vài đặc tính tổng hợp với những lớp organotin khác nhau
theo sau
Tetraorganotins là rất ổn định. Chúng không hiệu quả như chất
tiêu diệt sinh vật) (biocides= chất có thể tiêu diệt những sinh
vật sống) và không gây độc tương đối. Tuy nhiên chúng có thể bị
phân hủy chậm hoặc chuyển hóa thành những hợp chất triorganotin
có độc tố nhiều hơn.
Những hợp
chất triorganotin thường có độc tố nhiều hơn so với organotins
trong những lớp khác. Trialkyltins với nhóm hữu cơ tuyến tính
không thể được sử dụng như chất tiêu diệt sinh vật trong nông
nghiệp do tính có độc tố cao của chúng với cây trồng (tính có
độc tố thực vật). Hoạt động kháng vi khuẩn và có độc tố của
chúng thì thấp, trừ trường hợp với chất dẫn xuất diphenyl.
Monoorganotins cho thấy không hoạt động diệt sinh vật và tính có
độc tố rất thấp với động vật có vú. Những điều kiện bắt buộc
chính môi trường có liên quan đến triorganotins dùng như thuốc
diệt sinh vật trong nông nghiệp và công nghiệp và chừng mực ít
hơn đến việc áp dụng vài hợp chất diorganotin và monoorganotin
trong PVC cứng. Đặc tính với hợp chất organotin đã chọn như sau.
Độ hòa tan
của tributyltin oxide trong nước nhỏ hơn 20 ppm. Nó được trộn
chung với chất dung môi hữu cơ.
Triphenyltin aqcetate không trộn chung với nước.
Nó hòa tan trong ether.
Triphenyltin chloride phản ứng với nước.
Triphenyltin hydroxide không trộn chung với nước.
Fenbutatin oxide là một hợp chất triorganotin và phần lớn không
hòa tan trong nước (0,005 millỉgam/L ở 23oC). Nó hòa
tan trong acetone, benzene và dichloromethane.
Azocyclotin là một hợp chất triorganotin. Độ hòa tan trong nước
nhỏ hơn 1 ppm.
Cyhexatin là một hợp chất triorgnotin. Độ hòa tan trong nước nhỏ
hơn 1 ppm ở 25oC.
Nó hơi hòa tan trong acetone và hòa tan trong
methanol và chloroform.
Sử
dụng phổ biến:
Organotins với 4 nhóm organo, ví dụ tetrabutyltin, tetraoctyltin
và tetraphenyltin, có thể được sử dụng như vật liệu bắt đầu hoặc
xúc tác, Organotins có ba nhóm organo có thể là thuốc trừ dịch
hại mạnh và thuốc diệt vi khuẩn, phụ thuộc vào nhóm organo R.
Tributyltins (ví dụ TBTO, Incidin) là loại thuốc trừ sâu sinh
học công nghiệp dùng trong sơn chống gỉ và trong việc xử lý và
bảo tồn gỗ. Họ tìm thấy việc sử dụng như chất khử trùng và tác
nhân để tiêu diệt loài nhuyễn thể như là ốc bươu (thuốc diệt
ốc). Nhưng phương pháp sử dụng khác gồm có tác dụng kháng nấm
trong những hệ thống nước tơ sợi và công nghiệp như bồn làm mát
và hệ thống nước làm lạnh, bột giấy và hệ thống nhà máy giấy,
nước giải khát. Chúng có thể còn được dùng để phòng trừ bệnh sán
máng (schistosomiasis) (một bệnh nhiệt đới mạn tính).
Triphenyltins (ví dụ Fentin, Tinmate, Brestanol) được dùng như
thuốc diệt nấm trong nông nghiệp và trong sơn chống gỉ. Những
organotins khác trong lớp này gồm có Plictran, Bay Bue 1452,
Vendex và Torque được dùng như thuốc diệt ve/thuốc diệt nhện
(chất dùng để tiêu diệt ve hoặc tích). Organotins với hai nhóm
hữu cơ ví dụ dimethyltin, dibutyltin và diestertín, có thể sử
dụng như là chất ổn định nhiệt PVC, như chất xúc tác, trên sự
hình thành polyurethane và silicon curing, và như chất ổn định
nhiệt cho PVC đóng gói thực phẩm cứng. Organotins có một nhóm
hữu cơ ví dụ metyltin, butyltin, octyltin, và monoestertins,
được dùng như chất ổn định nhiệt PVC. Thường dùng với hợp chất
organotin đã chọn theo sau. Tributyltin oxide được dùng như một
loại thuốc diệt nấm và thuốc trừ dịch hại trong việc xử lý gỗ.
Chất này đã được dùng trong sơn chống gỉ nhưng áp dụng này nay
bị cấm bởi qui định quốc tế. Triphenyltin acetate được dùng như
một tác nhân phòng trừ côn trùng và thuốc diệt nấm. Triphenyltin
choride được dùng như một loại thuốc diệt sinh vật và một loại
thuốc trung gian. Triphenylin oxide được dùng như một hóa chất
để vô sinh hóa côn trùng và như một loại thuốc diệt nấm.
Fenbutatin oxide được dùng để phòng trừ rất nhiều loại ve, bét
ăn mồi trên cây trồng. Azocyclotin là một loại thuốc diệt nhện
có tác động lâu dài để phòng trừ nhện, ve trên cây ăn quả (gồm
có cam quít), nho, bia, bông vải, rau xanh và cây hoa kiểng.
Cyhexatin được dùng như một loại thuốc diệt nhện.ve.
Nguồn phát xạ:
Điểm
nguồn
Hợp
chất organotin có thể được thả từ các phương tiện nhà máy công
nghiệp (trong sông nhánh công nghiệp hoặc không khí) hoặc từ
việc phun thuốc trong ứng dụng công nghiệp.
Nguồn phân tán, và nguồn điểm gồm có trong dữ liệu phát xạ tích
tụ.
Triorganotins có thể đi vào sông rạch từ lớp sơn chống gỉ, thuốc
diệt động vật thân mềm để phòng trừ ốc bươu, bằng cách phun
thuốc diệt sinh vật nông nghiệp, và do xói mòn đất khỏi ruộng có
phun thuốc diệt sịnh vật. Ứng dụng thuốc diệt sinh vật là phần
góp chính vào hợp chất organotin trong môi trường.
Nguồn tự nhiên:
Hợp
chất orfanotin không tìm thấy một cách tự nhiên.
Nguồn di động:
Lớp phủ
sơn chống gỉ trên tàu thuyền.
Sản
phẩm tiêu dùng có thể có hợp chất organotin:
Vài
loại sơn chống gỉ, vài loại thuốc diệt nấm, vài loại thuốc diệt
vi khuẩn, vài sản phẩm có nhựa dẻo PVC (ví dụ đóng gói thực phẩm
PVC) có thể có hợp chất organotin
Hiệu
ứng trên sức khỏe
Làm
cách nào có thể tôi bị tiếp xúc với hợp chất organotin?
Tiếp
xúc nghề nghiệp có thể là điểm tiếp xúc nhiều nhất với hợp chất
organotin. Theo sau những phương pháp sử dụng thích hợp sẽ giữ ở
mức thấp nhất bất kỳ rủi ro nào tiếp xúc có hại. Một nguồn tiềm
tàng của organotins trong lương thực và nước uống phát sinh từ
việc sử dụng thuốcểtừ sâu sinh học trong nông nghiêp
triorganotin và của diorganotins như chất ổn định nhiệt trên vật
liệu đóng gói PVC. Điều đã được tìm ra là lương thực thường
không có bất kể chất tồn lưu triorganotin có thể khám phá được.
Trong biến cố không thể xảy ra của lương thực bị nhiễm dấu vết
của triorganotins, qui trình chế biến lương thực thường sẽ phân
hủy nhiều bất kỳ organotins còn lại. Diorganotins có thể trôi
khỏi đóng gói thực phẩm, nhưng nồng độ kết quả thường là rất
thấp. Điều đã được kết luận là tiếp xúc với diorganotins dùng
trên PVC thì nhỏ.
Theo
đường dẫn nào hợp chất organo-tin đi vào cơ thể của tôi?
Hợp
chất organotin có thể được hít vào trong môi trường hoạt động
thương mại/công nghiệp, nơi hợp chất organotin được tạo ra hoặc
được sử dụng Sự tiêu hóa được xem là đường vào không thể xảy ra
trong môi trường này. Vài trường hợp hấp thu trên da với
organotins xảu ra. Tiếp xúc với quần chúng tổng hợp được mong
đợi dẽ là ít nhất.
Nguy
hiểm tương đối cho sức khỏe
Trong
phổ có cơ nguy cho sức khỏe của đăng ký 1. 2 hợp chất organo-tin
0 – 3. Chấm điểm số 3 đại diện một cơ nguy rất cao cho sức khỏe,
2 đại diện một cơ nguy trung bình và 1 có hại cho sức khỏe.
Những nhân tố được giải trình để nhận số điểm này gồm có phạm vi
của tính có độc tố của vật liệu hoặc thiếu tính có độc tố, và
đánh giá xu hướng tạo ra của nó hoặc không tạo ra bệnh ung thư
và.hoặc khuyết tật sinh sản. Điều này không giải trình sự tiếp
xúc với chất liệu. Tiếp xúc của con người được phản ánh trong
cấp hạng NPI với chất liệu này (xem dữ liệu so sánh dưới đây).
Một chất liệu chấm điểm cao như là hiểm nguy cho sức khỏe là
thạch tín ở mức 2, 3 và 1 trong điểm chấm thấp nhất là 1.0.
Hướng dẫn về sức khỏe
Australian Drinking Water Guidelines (NHMRC and ARMCANZ, 1996):
Mức tối
đa 0.001 mg/L (i.e. 0.000001 g/L) với tributyltin oxide.
Worksafe Australia đã xác định tiêu chuẩn tiếp xúc với
hợp chất organotin đến 0.1 milligram/m3 (TWA, as tin)
và mức tiếp xúc trong thời gian ngắn phải không vượt quá 0.2
milligram /m3 (STEL).
Xem trang
Additional Information
về thông tin về sức khỏe mới. Liên hệ với The Australian NOHSC
National Exposure Standards Database bẳn là nguồn thông tin có
ích nhất.
Chú
ý là dữ liệu bức xạ trong cơ sở dữ liệu không thể so sánh trực
tiếp với những hướng dẫn này.
Hiệu
ứng nào hợp chất organotin có trên sức khỏe của tôi?
Tiếp
xúc ngắn với hợp chất dialkyltin và trialkyltin hây viêm nhiễm
cho da và đường hô hấp. Sự ngộ độc cấp tính có thể gây ói mửa,
nhức đầu, khuyết tật thị giác và hoạt động điện bất thường của
đại não. Những triệu chứng này không thể xảy ra nếu có biện pháp
bảo vệ thích hợp. Vài hợp chất organotin đã được báo cáo thể
hiện hoạt động kháng khối u. Hợp chất tributyltin có độc tố
trung bình thông qua cả hai tiêu hóa và hấp thụ trên da. Những
hợp chất tributyltin có thể gây viêm nhiễm mạnh cho da và tiếp
xúc da có thể dẫn đến phồng da do hóa chất trong trường hợp
nghiêm trọng. Màng nhầy như là mắt và đường thông lưu mũi có thể
cũng bị viêm nhiễm khi tiếp xúc. Công nhân xưởng đóng tàu tiếp
xúc vì nghề nghiệp với bụi và hơi của tributyltin phát triển
những triệu chứng bệnh viêm da, chóng mặt, khó thở và như bệnh
cúm.
Hiệu
ứng môi trường
Số
phận môi trường
Organotins có một tỷ lệ hòa tan trong nước thấp và một xu hướng
mạnh kết dính vào vật liệu huyền phù và trầm tích. Những hạt
organotin cuối cùng xác lập ở đáy, làm cho lây nhiễm nước mặt
phổ biến không thể xảy ra. Những hợp chất organotin hình như sẽ
có tính bền trung bình với nửa sống đã báo cáo thay đổi từ vài
ngày trong nước ngọt đến vài tuần lễ trong nước biển và vị trí
cửa sông, lệ thuộc vào nồng độ đầu. Organotins cũng hấp thu mạnh
vào đất.
Mặc dù
rửa trôi khỏi đất và vận chuyển trong đất có thể được thực hiện,
điều này không thể xảy ra. Sự phân hủy organotins thành sản phẩm
có ít độc tố (nghĩa là phi organotin không độc tố) phụ thuộc vào
hợp chất organotin và thường được tăng tốc bởi ánh sáng mặt trời
và nhiệt độ cao. Sự phân hủy vi sinh là một cơ chế biến đổi quan
trọng khác. Methyl hóa sinh học hình như không phải là một đường
dẫn có ý nghĩa cho sự biến đổi loài organotin. Như là một ví dụ,
sự phân hủy tributyltin có thể xảy ra từ vài tháng đến lâu hơn
hai năm lệ thuộc vào điều kiện.
Vận
chuyển trong môi trường
Hợp
chất organotin có thể được vận chuyển trong nước. Lây nhiễm
không khí bởi organotins không được báo cáo tính đến nay.
Hiểm
nguy tương đối cho môi trường
Trong
một phổ môi trường 0-3 hợp chất organotin đăng ký 1,8. Một điểm
số 3 thể hiện một cơ nguy rất cao cho môi trường và 0 một cơ
nguy bỏ qua. Những yếu tố được giải trình để nhận cấp hạng này
gồm có phạm vi tính chất có độc tố hoặc gây độc của vật liệu
và/hoặc thiếu tính có độc tố của chúng, và tính toán khả năng
của nó để vẫn còn hoạt động trong môi trường và xem là nó tích
tụ trong sinh vật sống. Tiếp xúc với môi trường được phản ánh
trong cấp hạng NPI về chất liệu này (xem dữ liệu so sánh dưới
đây). Một chất liệu có số điểm cao khi một cơ nguy môi trường là
oxides của nitrogen ở 3,0 và một trong những điểm số thấp là
carbon monoxide ở 0,8.
Hướng dẫn về môi trường
Australian Water Quality Guidelines for Fresh and
Marine Waters (ANZECC, 1992):
Hướng dẫn về tributyltin là 0,008 microgram/L (i.e. 0,00000000
g/L) trong nước ngọt và 0,002 microgram/L (i.e. 0,000000002 g/L)
trong nước biển tương ứng,
Xem
trang Thông Tin phụ về hướng dẫn môi trường mới.
Chú ý
những dữ liệu phát hành trong cơ sở dữ liệu không thể so sánh
trực tiếp với những hướng dẫn này.
Ảnh
hưởng nào hợp chất orgatin có trên môi trường?
Không
có chứng cứ tích tụ hợp chất organotin trong môi trường. Tuy
nhiên, tributyltin và triphenyltin, cả hai hoạt chất của sơn tàu
chống gỉ, hình như có độc tố rất nhiều với nhiều loại sinh vật
thủy sinh ở bộ phận mỗi cấp phần triệu hoặc thấp hơn. Sinh vật
thủy sinh không tiêu chí như là động vật giáp xác, thân mềm,
trai, cua, và sò hến, có thể thay đổi những cấu trúc, chậm phát
triển và tử vong. Tributyltin oxide đã được cho thấy ức chế sự
tồn sinh của tế bào nấm đơn bào biển. Tributyltin có thể là một
đứt quãng nội tiết (một chất có thể can thiệp với homon tự nhiên
của cơ thể), với sự phát triển tính trạng đực trên con cái khảo
sát trên vài loài ốc bươu và sò hến tiếp xúc với tributyltin.
Thường ấu trùng của bất kể loài nhạy cảm với tiếp xúc
tributyltin nhiều hơn sinh vật trưởng thành. Tributyltin có xu
hướng tích tụ trên các loại sò hến, trai, thân vỏ, thân mềm, cá
và tảo. Những loài nước ngọt sẽ tích tụ sinh học trên
tributyltin nhiều hơn với sinh vật biển. Trên động vật có vú,
chừng mực cao tributyltin oxide có thể ảnh hưởng tuyến nội tiết
(endocrine glands), làm đảo lộn mức độ homon trên tuyến yên
(pituitary), tuyến sinh dục (gonad), và tuyến giáp (thyroid
glands). Liều lượng lớn trubutyltin đã được trình bày gây thiệt
hại cho những hệ thống sinh sản và thần kinh trung tâm, cấu trúc
xương, và ống dẫn mật gan của động vật có vú. Hợp chất
tributyltin có thể còn gây thiệt hại cho hệ miễn nhiễm.
Tributyltin có thể được xem như có độc tố trung bình với loài
chim. Tính có độc tố cấp tính của hợp chất organotin với động
vật có vú giảm theo thứ tự trialkyltins > dialkyltins >
monoalkyltins. Chất trích có độc tố nhiều nhất trong nhóm alkyl,
với triethyltin acetate có độc tố nhiều nhất với tất cả hợp chất
organotin. Organotins hình như có ít độc tố khi tăng độ dài
chuỗi của nhóm hữu cơ, với trioctyltin chloride thấy rõ không có
độc tố đối với động vật.
Dữ
liệu so sánh
Cấp
hạng NPI
Khoảng
400 chất được xem xét để đưa vào danh sách báo cáo NPI. Một cấp
hạng rủi ro được cho dựa trên việc nhận diện cơ nguy sức khỏe và
môi trường và con người và tiếp xúc môi trường với chất liệu.
Vài chất liệu được chia nhóm cùng nhau ở cùng cấp hạng với 208
cấp hạng trên tổng số. Hợp chất organotin được chia cấp hạng như
là 71 trong số 208 cấp hạng. Chấm điểm cơ nguy tổng số (sức khỏe
con người + tiêu chuẩn môi trường) = 3.
RGC (04-09-2006)
Trở về Trang Chính
|