Sức khỏe và thuốc trừ sâu


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

13 tháng 09 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

1. Sức khoẻ được định nghĩa trong hiến ước của Tổ chức Y tế Quốc tế như là: tình trạng vật lý, tinh thần và phúc lợi xã hội hoàn toàn và không chỉ là không bệnh tật hoặc khuyết tật. Tình trạng sức khoẻ của một cá nhân hoặc tập thể phụ thuộc vào phản ứng tương hỗ phức tạp của các lãnh vực vật lý, sinh học, chính trị và xã hội. Trong thế kỷ qua, những hoạt động và tập tính của con người đã giữ một vai trò chính trong việc thay đổi môi trường, làm tăng những chất khí nhà kính trong khí quyển, thiếu tầng lớp ozone, mất đi tính đa dạng sinh học, ô nhiễm tài nguyên nước, và phân huỷ đất. Đến lượt, những điều này và những thay đổi môi trường toàn cầu khác đang bắt đầu ảnh hưởng đến sức khoẻ và phúc lợi của quần chúng nhân dân. Theo Chương trình Môi Trường của Liên Hiệp Quốc (1992) trong Saving Our Planet “ Tất cả những yếu tố cấu thành môi trường của hành tinh của chúng ta cuối cùng tác động một ảnh hưởng lên trên sức khoẻ con người và phúc lơi.” Chỉ những nhà khoa học mới bắt đầu khai thác những ảnh hưởng này, và nhiều tài liệu tham khảo có thể sử dụng tập trung vào hiệu ứng của thay đổi thời tiết.

Nhiều phương pháp y tế mạn tính có thể liên hệ trực tiếp với quá trình của Quả Đất và môi trường. Khi cơ quan khoa học tài nguyên thiên nhiên nhà nước có thể giữ một vai trò có ý nghĩa trong việc hiểu rõ phần góp của môi trường và bệnh tật và sức khoẻ con người (thuỷ văn, đất, thảm thực vật) cần để duy trì mầm bệnh đặc hiệu trong thiên nhiên, ngườI ta có thể sử dụng cảnh quan để nhận diện sự phân bố không gian và thời gian của những tính trạng đất sử dụng rủi ro bệnh và ngưỡng thời tiết sinh học để vẽ bản đồ nơi ở của tác nhân gây bệnh và ký chủ động vật.

2.  Công trình nghiên cứu của USGS đã góp phần vào việc quán triệt những hiệu ứng của radon, asbestos, selenium, chromium, và uranium trên sức khoẻ con người. Những khảo nghiệm hiện hành về việc vận chuyển vi khuẩn và vi rút trên nước mặt và tích tụ sinh học kim loại như là thạch tín, thuỷ ngân và chì cũng giảI quyết sức khoẻ của con người. USGS  có kinh nghiệm rất lớn trong việc thực hiện những nghiên cứu về sự xuất hiện và phân bố của những hoá chất tự nhiên và do người có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Con người tiếp xúc với hoá chất có độc tố tiềm tàng trong chuỗi lương thực là một lãnh vực khác quan tâm trong đó USGS có thể cho mượn chuyên gia của họ. Chất lượng nước vẫn là một quan tâm quan trọng về sức khoẻ và y học, và USGS đã có một vai trò có ý nghĩa trong việc hỗ trợ những người khác xác định phương pháp tốt nhất để kiểm tra chất lượng nước uống.

Đối tác mạnh với cơ quan sức khoẻ truyền thống và môi trường là cần để hợp tác về việc giải quyết vấn đề. USGS đang xây dựng những đối tác này thông qua việc hợp tác với cơ quan như là những trung tâm y tế dự phòng, cơ quan bảo vệ môi trường, Viện nghiên cứu bệnh học quân đội, Viện Khoa học, Sức, khỏe, Môi trường nhà nước và Viện Ung thư Quốc Gia.

 

3. Hàng ngàn công trình nghiên cứu PCB y học cho thấy là polychlorinated biphenyls (PCBs) tạo ra rất nhiều hiệu ứng trên sức khoẻ, thường ở mức độ rất thấp khi tiếp xúc. Trung bình một người Mỹ đã mang đủ PCB trong cơ thể của chàng hoặc nàng để thoả mãn hoặc vượt quá ngưỡng tối thiểu đề bắt đầu bài toán y tế do PCBs. Ở Đông Bắc Wisconsin, chúng tôi đã tiếp xúc PCB liều lượng cao và có rủi ro về sức khoẻ.

Không phải tất cả 209 kiểu PCB có cùng một hiệu ứng. Vài trong số có những đặc tính như dioxin (một trong những hợp chất nhân tạo có độc tố nhiều nhất trên thế giới), và kiểu PCBs có tác dụng như homon, và những PCBs khác là thần kinh độc tố. Chúng tôi có một hỗn hợp gồm có tất cả những loại trong sông Fox và vịnh Green.

 

PCBs làm thay đổi những hệ thống chính trong cơ thể (hệ thống miễn nhiễm, homon, thần kinh và enzym); vì thế, PCBs ảnh hưởng rất nhiều cơ quan và chức năng của cơ thể.

Sự lây nhiễm PCB là một khủng hoảng y tế công cộng đã bị bỏ qua từ lâu.

 

4. Bài toán:

Hàng trăm công trình nghiên cứu sử dụng những phương pháp khoa học đã cho thấy là nhiều loại thuốc trừ sâu làm thay đổi hệ thống miễn nhiễm trên động vật khảo nghiệm và làm chúng dễ nhiễm bệnh nhiều hơn. Loại thuốc trừ dịch hại đã được tìm thấy làm giảm số lượng tế bào bạch huyết và bạch cầu đấu tranh bệnh và làm không thích hợp khả năng của chúng phản ứng lại và tiêu diệt vi khuẩn và vi rút. Chúng cũng làm thay đổi sự phát triển của tuyến yên và lá lách, cơ quan miễn nhiễm chính. Những công trình nghiên cứu đã sưu tầm tài liệu những hiệu ứng này với nhiều loại thuốc trừ dịch hại dùng trong nước này và trên thế giới: organochlorines (ví dụ DDT, lindane, chlordane), organophosphates (ví dụ, malathion, parathion, diazinon), carbamates (ví dụ aldicarb, carbofuran, carbaryl) và những loại thuốc khác (2,4-D, atrazine, captan). Nhiều loại thuốc trừ dịch hại hiện nay ngoài thị trường chưa được khảo nghiệm đầy đủ trong phòng thí nghiệm về ảnh hưởng miễn nhiễm độc tố.

Ít công trình nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ dịch hại trên hệ thống miễn nhiễm của con người, một phần là vì khảo nghiệm trên cực kỳ là khó thiết kế và thực hiện. Mặc dù phần lớn nhân dân tiếp xúc với nồng độ thấp mạn tính nhiều hơn là nồng độ cao dùng cho khảo nghiệm trong phòng thí nghiệm, hiện không có cơ sở để giả định là con người được miễn trừ khỏi rủi ro.

 

Công trình nghiên cứu dịch tễ học từ Canada và Liên bang Xô viết cũ tìm ra là trẻ em và người trưởng thành tiếp xúc với thuốc trừ dịch hại chịu đựng những thay đổi hệ miễn nhiễm tương tự và tỷ lệ cao bệnh lây nhiễm. Rủi ro loại trừ miễn nhiễm do thuốc trừ dịch hại đã biết lớn nhất trẻ sơ sinh và trẻ em, người cao tuổi, người thiếu dinh dưỡng hoặc bệnh mạn tính.

 

Việc sản xuất thuốc trừ dịch hại là công nghiệp 30 tỉ và 62 phần trăm số lượng bán là ở Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản. Nhưng thuốc trừ dịch hại được áp dụng rộng rãi từng phần của thế giới đang phát triển và việc sử dụng tăng lên nhanh nhiều hơn.

 

Tính có độc tố cấp tính và rủi ro ung thư có thể mắc phải của nhiều loại thuốc trừ dịch hại đã đưa đến việc nghiêm cấm hoặc giới hạn sử dụng ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Nhiều loại thuốc trừ dịch hại này vẫn đang được sản xuất và sử dụng ở thế giới đang phát triển và trong Liên Bang Xô Viết cũ.

 

Hàng trăm triệu người đang tiếp xúc một cách có ý nghĩa với thuốc trừ dịch hại mỗi ngày, hoặc là trực tiếp sử dụng trong trang trại hay trong vườn hoặc chất tồn lưu trong nước, không khí và lương thực. Tính toán về mặt cơ thể tiếp xúc cho thấy ngay cả trẻ em ở vùng nông thôn và trẻ sơ sinh đang bú từ người mẹ tiếp xúc có thể nhận những liều lượng quan trọng.

 

Nhiều bằng 85 đến 90% số lượng thuốc trừ dịch hại dùng trong nông nghiệp không bao giờ đạt mục tiêu, nhưng thay vì phân tán trong không khí, đất và nước và vào trong cơ thể động vật và con người ở gần. Nông dân và cư dân ở vùng nông thôn tiếp xúc ngay, những người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp ở xa và cá cũng ở trong tình trạng rủi ro.

 

Thuốc trừ dịch hại tích tụ trong chuỗi thực phẩm vẫn còn được sử dụng ở nhiều nước. Tính toán máu, mỡ và sữa của những người ở xa miền nông nghiệp thường cho thấy chất tồn lưu thuốc trừ dịch hại và thiếu enzym do vài loại thuốc trừ dịch hại. Ở xa miền Bắc cực, người Innuit (Esquimo) Canada mang một nồng độ cao của những hợp chất này trong mỡ như gấu cực và cá voi beluga mang.

 

5. Từ khi cuộc cách mạng công nghiệp và việc nhập nội không ngừng những loại hóa chất vào trong cuộc sống của chúng ta, tỷ lệ bệnh ung thư đã tăng lên đến mức độ đáng chú ý, nên hiện nay khoảng 1 trong 2 người đàn ông Mỹ và 1 trong 3 người đàn bà Mỹ sẽ mắc bệnh ung thư ở vài điểm trong cuộc sống của họ. Năm 1989, EPA xác định hóa chất có độc tố tìm thấy chất rửa nhà cửa phổ biến, thường phân tán trong khói, nhân lên 3 lần có thể gây ra bệnh ung thư nhiều hơn so với những chất gây ô nhiễm không khí khác. Những yếu tố môi trường, xác định gồm có trong hóa chất một tính toán 75% trong tất cả những trường hợp bệnh ở Hoa Kỳ.

 

Sản phẩm làm sạch đã được gán cho rất nhiều bệnh và rối loạn khộng thích hợp với sức khoẻ, gồm có: làm thay đổi chuyển hoá của cơ thể, làm mất chức năng của enzym, thiếu dinh dưỡng, thay đổi homon, khuyết tật sinh đẻ, và rối loạn phát triển cùng với những rối loạn phát triển cùng với vài rối loạn học tập và tập tính hiếm. Ngoài ra, năm 2002 riêng những trung tâm độc tố Hoa Kỳ đã sử dụng 212.660 lần tiếp xúc tổng cộng với những chất làm sạch trong hộ gia đình, 121.841 trong số trên trẻ em dưới 6 tuổi theo Báo cáo Hệ thống Theo dõi Tiếp xúc với Độc tố, của AAPCC (Hiệp hội Hoa kỳ Trung tâm Phòng trừ Độc tố) (Báo cáo TESS ).

 

Những chất làm sạch gia dụng mọi mục đích thường có vật liệu clo hoá, đến lượt có thể tạo ra hợp chất clo hữu cơ, đến lượt được lưu trữ trên tế bào mỡ và có thể đi vào sữa mẹ. Morpholine là rất độc và một độc tố gan và thận. Glycol ether, chất dung môi Stoddard, naphtha và dầu lửa là những độc tố thần kinh và chất làm suy giảm hệ thần kinh trung tâm có thể tạo ra lẫn lộn, đau đầu, thiếu tập trung, và những triệu chứng của bệnh tâm thần.. Glycol ether cũng là một độc tố thận và gan. Sodium bromide có thể gây ra những rối loạn.

 

Cân-đối-cân của trọng lượng cơ thể, trẻ em uống nhiều nước, ăn nhiều thực phẩm, và thở không khí nhiều hơn so với người trưởng thành. Nhiều hệ cơ quan trên trẻ em nhỏ- hệ thần kinh, cơ quan sinh sản, hệ miễn dịch- phát triển rất nhanh, và sự phát triển ở những tháng và năm đầu của cuộc sống. Hệ thần kinh không thể sửa chữa tốt bất kỳ hư hỏng cấu trúc tạo ra bởi những chất độc tố môi trường. Nếu tế bào trong đại não đang phát triển bị phá huỷ bởi hoá chất như là chì, thuỷ ngân, hoặc chất dung môi, hoặc những liên kết sinh động giữa tế bào thần kinh để tạo ra, có rủi ro cao là trường hợp loạn chức năng tập tính thần kinh kết quả sẽ là thường xuyên và không thể đảo ngược. Những hậu quả có thể bị mất đi thông minh và thay đổi tập tính bình thường.

 

Trong 20 năm qua, xây dựng năng lượng “kín” những toà nhà cao ốc hiệu quả đã dẫn đến một mức giảm sắc bén về số lượng không khí mát mẻ trong nhà của chúng ta. Trong cùng hai thập niên này, những cao ốc của chúng ta đã đầy ắp khói từ sơn, nhuộm, đồ gỗ, những loại sản phẩm rửa trong hộ gia đình, và những vật liệu khác, và kết quả là đáng chú ý. Theo khảo nghiệm thực hiện bởi EPA, không khí bên trong nhà điển hình là nhân lên 2-5 lần ô nhiễm nhiều hơn không khí ngay ở ngoài những bức tường. Công trình nghiên cứu 5 năm tìm thấy là mức độ của vài hoá chất trong nhiều nhà là 70 lần cao hơn số lượng của chúng ngoài trời. Một khảo nghiệm khác về chất lượng không khí trong nhà ở 6 thành phố phát hiện là nồng độ đỉnh của 20 hoá chất có độc tố gấp lên 200-500 lần cao hơn bên trong so với nồng độ cao nhất ghi chép được ở bên ngoài. Khi Uỷ ban An toàn Sản phẩm Người tiêu dùng, điều tìm thấy là không khí ngoài trời có trung bình ít hơn 10 lần hợp chất hữu cơ thăng hoa (hoặc VOCs) trong khi không khí trong nhà có khoảng 150.

 

Thở chất ô nhiễm không khí có thể một cách tiềm tàng đưa đến phản ứng dị ứng và hen suyễn, lây nhiễm, và những bài toán y tế khác liên quan đến phổi, mũi, và cổ họng. Tiếp xúc với chất ô mhiễm không khí trong nhà như là VOCs tìm thấy trong chất tẩy rửa trong hộ gia đình có thể ảnh hưởng âm đến phổi, đại não, và hệ thần kinh.

 

Sản phẩm trong hộ gia đình gồm có phun aerosol, tẩy rửa và khử trùng, xua đuổi bướm đêm và nước hoa xịt phòng, chất dung môi, cung cấp sở thích, và quần áo giặt khô có thể gây viêm nhiễm mắt, mũi, và cổ họng, đau đầu, mất khả năng phối hợp, buồn nôn, hư hỏng gan, thận, và hệ thần kinh trung tâm. VOCs đã được trình bày gây ra bệnh ưng thư trên động vật và vài chất nghi hoặc đã biết gây ra bệnh ung thư trên con người.

 

6.  Tỷ lệ tử vong từ bệnh lây nhiễm phổ biến, đến nay đã là sát thủ lớn nhất trong những nước đang phát triển, có thể được điều khiển từng phần bởi tiếp xúc với thuốc trừ dịch hại.

Bệnh có thể truyền lan tạo ra gần nửa tổng số lượng trường hợp tử vong trên thế giới đang phát triển so với ít hơn 10% trong những nước công nghiệp hoá. Thiếu dinh dưỡng mạn tính, dịch vụ y tế không đầy đủ, và vệ sinh tồi đã là mối đe doạ nghiêm trọng cho sức khoẻ. Bất kể trường hợp không thích hợp phụ nào về việc bảo vệ miễn nhiễm tự nhiên có thể tiêu diệt.

Trong những nước đang phát triển, biện pháp phòng trừ trong công tác tiếp thị thuốc trừ dịch hại, sản xuất, và sử dụng yếu một cách điển hình. Dự phòng an toàn bỏ qua một cách rộng rãi. Những triệu chứng trong việc tiếp xúc quá mức như là rối loạn hô hấp, bệnh đường ruột, phát ban, chóng mặt, “thần kinh” và suy yếu thường không được xem xét hoặc được chẩn đoán lầm. Bác sĩ chuyên ngành tìm ra là tiếp xúc quá mức ba lần như chúng thường thấy đã có báo cáo.

Ở miền Trung Luzon, Philippin, việc sử dụng thuốc trừ dịch hại tăng lên mạnh trong một thời kỳ 5 năm, và tỷ lệ tử vong tăng lên một cách trực tiếp với nó trong số nông dân nam trưởng thành.. Tỷ lệ rơi đối với nữ trưởng thành và với nam gần thành thị.

 

Người dân Inuit Canada phân lập chủ yếu ăn cá và động vật có vú biển bị nhiễm nặng với thuốc trừ dịch hại tích tụ cho thấy thiếu hệ miễn dịch nổi bật, đặc biệt là trẻ sơ sinh đang bú và trẻ em. Bệnh viêm màng não và lây nhiễm tai trong xuất hiện ở tỷ lệ 30 lần tỷ lệ ở trẻ em Mỹ. Nhiều trẻ sơ sinh Inuit không được chủng khuẩn, nên chúng không tạo ra một phản ứng kháng thể.

 

Bệnh lao phổi đã phát triển mạnh ở Trung Âu và Liên bang Xô viết cũ nơi ô nhiễm chất hoá học là phổ biến. Sự bùng nổ bệnh lao phổi là phổ biến trong số nhóm mất hệ miễn nhiễm.

 

Nông đân trồng bông vải ở Uzbekistan đã không tương thích với tính miễn nhiễm có trung gian tế bào và chịu đựng tỷ lệ lây nhiễm cao bệnh hô hấp, bệnh thận, và bệnh đường ruột nhiều hơnúo với cư dân ở miền khác sử dung ít thuốc trừ dịch hại.

Trẻ em đặc biệt dễ nhiễm với ảnh hưởng của thuốc trừ dịch hại trên hệ miễn nhiễm của chúng. Trong những quận nông nghiệp của miền Trung Moldova, nơi thuốc trừ dịch hại đã được sử dụng rất nhiều, 80 phần trăm trẻ em khỏe đã làm suy giảm hệ miễn nhiệm. Trẻ em ở những vùng này có thể ba lần nhiều hơn mắc bệnh lây nhiễm về đường tiêu hóa, và có thể hai đến năm lần nhiều hơn mắc bệnh lây nhiễm về đường hô hấp. Công nhân làm việc trong nhà máy sản xuất thuốc trừ dịch hại và nông trang trong vùng thể hiện tỷ lệ cao bệnh lây nhiễm của những đường tiêu hóa, tiểu tiện, hô hấp, và đường sinh dục nữ.

Công nhân xí nghiệp Ấn Độ tiếp xúc một cách mạn tính với thuốc trừ dịch hại cho thấy 66 phần trăm giảm về mức độ bạch cầu, nhưng khảo nghiệm bình thường sau ba tháng nghỉ hè.

Một bệnh dịch mới tiêu diệt cá heo ở Địa Trung Hải, Biển Bắc và Bắc Đại Tây Dương chuyển sang vi rút thường với nó động vật kháng một cách bình thường. Những mẫu máu từ cá heo ngoài khơi bãi biển Florida cho thấy động vật có vú có mức độ cao về chất tồn lưu thuốc trừ dịch hại, lây nhiễm vi rút chính và hệ miễn nhiễm yếu.

 

Hải cẩu con đánh bắt ngoài khơi bãi biển Tây Bắc tương đối không ô nhiễm ở Thụy Điển được nuôi dưỡng bằng cá không bị ô nhiễm trong một năm. Một nửa sau đó được nuôi dưỡng cá trích (herring) từ biển Ban-tích bị ô nhiễm. Những hải cẩu này phát triển nồng độ cơ thể cao thuốc trừ dịch hại và những loại hóa chất clo hữu cơ khác và phản ứng hệ miễn nhiễm một phần ba mạnh như trên một nhóm đối chứng, Cá trích được mua từ chợ địa phương và có ý đồ để con người tiêu dùng.

Thuốc trừ dịch hại có thể gia tăng tính nhiễm với vài bệnh ung thư bằng cách làm giảm sự cảnh giác về hệ miễn nhiễm chống lại tế bào ung thư. Khám nghiệm tử thi (autopsies) trên cá voi chết từ St Lauwrence Seaway bị ô nhiễm nặng cho thấy nồng độ mô cao của vài loại thuốc trừ dịch hại và PCBs, cũng như nhiễm vi khuẩn nghiêm trọng và khối u thường xuyên.

Nông dân thường có rủi ro thấp nhiều hơn về bệnh ung thư so với những người đàn ông khác, nhưng có rủi ro cao hơn về các kiểu bệnh ung thư tìm ra trên những bệnh nhân thiếu khả năng miễn nhiễm (những người với bệnh AIDS và những người sử dụng thuốc làm suy giảm miễn nhiễm): bệnh Hodgkin, bệnh loạn chuyển hóa melanin, bệnh u tủy nhiều yếu tố, bệnh bạch cầu (tất cả ung thư của hệ miễn nhiễm) và ung thư môi, dạ dày và tuyến tiền liệt. Nông dân tiếp xúc nhiều nhất với thuốc trừ dịch hại có tỷ lệ tương đối cao nhất. Vài loại thuốc trừ dịch hại được liên kết có sức thuyết phục với việc sản xuất kháng thể tự miễn nhiễm, tấn công cơ thể trên chính nó. Khảo nghiệm Liên Xô về cây bông vải, thuốc lá , và những vùng chuyên canh rau xanh ở Samarkand cho thấy là nhiều người tiếp xúc với các loại thuốc trừ dich hại organo chloride và organo phosphate cung cấp nơi ở cho những kháng thể tự miễn nhiễm. Công nhân nhà máy nơi khác ở Nga cho thấy những triệu chứng tương tự.

 

7. Làm cách  nào chúng tôi bản thân cảm thấy về Quả Đất và quan hệ của chúng tôi với nó điều này gọi là đạo lý môi trường. Một đạo lý môi trường cung cấp hướng dẫn cho những quyết định cá nhân, hoạt động như một hệ thống giá trị trong đó để giải trình những vấn đề môi trường. Vì đạo lý môi trường của chúng ta ảnh hưởng đến chọn lựa khi giải quyết môi trường, điều này quan trọng để cho vài nghĩ suy làm cách nào chúng ta nghĩ suy không gian tự nhiên và làm cách nào chúng ta sống. Ví dụ, chúng ta có thể có cảm giác mạnh là không gian tự nhiên phải được bảo tồn như chúng hiện có. Điều này có thể đưa đến việc lựa chọn cá nhân sẽ khuyến khích hoặc hỗ trợ lối thoát trên như thời gian cho và năng lượng cho trong việc bảo tồn đất, một chính sách cắm trại “không dấu vết”, sống trong môi trường thành thị nhiều hơn để giảm mở rộng thành thị, hoặc đi không có vài sản phẩm có thể cần phá hủy nơi ở. Bạn có thể cũng có cảm giác khá mạnh là con người là ưu tiên đỉnh cao (ví dụ nếu DDT cứu hộ cuộc sống bởi hàng ngàn ở châu Phi, xứng đáng số ít chim chết, hoặc phát triển để hỗ trợ con người là cần ngay cả nếu nó loại trừ đất ngập nước hoặc nơi ở khác). Bạn có thể cũng rơi đâu đó ở giữa.

Đạo lý môi trường của bạn có thể cũng hướng dẫn bạn đến những ý kiến khác nhau trong những tình huống khác nhau. Sự phát triển có thể không thích hợp khi khoan dầu, nhưng có thể là thích hợp để xây dựng một bệnh viện. Tất cả phụ thuộc vào điều gì bạn tin. Và vì điều này là một triết lý trên nền giá trị, điều quan trọng là bao gồm khoa học và điều gì đã biết để đi đến một kết luận.

Có hoặc không đất ngập nước thật là bị hiểm nguy bởi một dự án phát triển có thể ảnh hưởng quyết định của bạn trong việc hỗ trợ hoặc phản đối dự án. Số lượng hươu bị giảm là bao nhiêu khi chúng có mật số quá mức trong một miền có thể thay đổi hoàn toàn ý kiến của bạn về săn bắn. Vì vài người có niềm tin rất mạnh về làm cách nào chúng ta phải phản ứng tương hỗ với môi trường và niềm tin của họ có thể không thống nhất với ý kiến của bạn, không nên để ý đến điều gì ai đó nói vê nó, tìm ra  chứng cứ họ đang sử dụng để hỗ trợ lời trình bày của họ, Một bài báo khoa học có thể có trọng lượng nhiều hơn so với một câu chuyện vui. Một hoặc nhiều người có thể có tiêu chí là phải nói lệch đi những điều họ phải nói? Khi bạn có thông tin càng nhiều càng tốt, và cảnh giác về những điều lệch lạc có thể hiện có, bạn có thể ra một quyết định.

 

Như với quyết định trên nền khoa học, nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện theo thời gian. Những khảo nghiệm này có thể thay đổi hoặc ngay cả phản bác thông tin từ cuộc khảo sát trước. Khảo nghiệm lại này là bộ phận của phương pháp khoa học để đảm bảo giá trị của thông tin, nhưng hơn nữa điều này cho thấy sự cần thiết với một công dân có thông tin tốt khi quyết định.

 

Tên chất liệu. Những hợp chất organotin số lượng CASR không thể áp dụng công thức phân tử.

Một số lượng lớn hợp chất organotin hiện có. Những hợp chất organotin quan trọng có thể thuộc về bất kể một trong bốn lớp. Những lớp này có liên quan đến số lượng nhóm hữu cơ, như là tetraorganotins (nhóm bốn). triorganotins (nhóm ba), diorganotins (nhóm hai) và monoorganotins (nhóm một).

Từ đồng nghĩa: hợp chất organotin gồm có tributyltin hoặc tributylstannane (CSAR#688-73-3), tributylin oxide hoặc TBTO, tributylsstannane, Metatin 50, Biomet (CASR#56-35-9), triphenyltin (CASR#668-34-8), triphenyltin acetate hoặc fentin acetate, Batasan, Brestan, Libromatin, Lirostarol, Phenostat A, Phentinoacetate, Suzu (CASR# 900-95-8), triphenyltin oxide hoặc fentin hydroxide, hydroxytriphenylstannane, hydroxytriphenyltin, triphenylstannium hydroxide, triphenyltin oxide, Haitin, Tubotin (CASR#76-87-9), triphenyltin chloride hoặc fentin chloride, TPTC, chlorotriphenylstannane, chlorotriphenyltin, triphenylchlorostannane, triphenylchlorotin, Aquatin, Brestanol, Phenostat-C, Tinmate (CASR# 639-58-7) fenbutatin oxide hoặc Bendex, Neoxtanox, Osdaran, Torque, Vendex, Shell (CASR#13356-08-6), azocyclotin hoặc Bay blue 1452, Peropal (CASR# 41083-11-8), và cyhexatin hoặc TCTH, plictran, tricyclohexylhydroxystannane, tricyclohexylhydroxytin, tricyclohexylstannanol, tricyclohexylstannium hydroxide (CASR# 13121-70-5)

 

Đặc tính vật lý và hóa học

 

Đặc tính vật lý

Hợp chất organotin thay đổi về đặc tính vật lý của chúng. Đặc tính của organotins chọn như sau:

Tributyltin oxide là một chất lỏng không màu đến màu vàng có mùi yếu. Trọng lượng riêng là 1,17.

 

Triphenyltin acetate là một thể rắn tinh thể màu trắng ngà. Nó nung chảy ở 124-126oC.

Triphenyltin chloride là một thể rắn tinh thể trắng nung chảy ở 103-106oC.

Triphenyltin hydroxide là một dạng bột màu trắng ngà nung chảy ở 124-126oC.

Fenbutatin oxide là một thể rắn tinh thể trắng rất ổn định với nhiệt, ánh sáng và oxygen trong quyển khí. Nung chảy ở 138-139oC và có trọng lượng riêng là 1,29-1,33.

Azocyclotin là một thể rắn tinh thể không màu nung chảy 219oC.

Cyhexatin là một thể rắn tinh thể trắng nung chảy ở 195-198oC.

 

Đặc tính hóa học:

Hợp chất organotin thay đổi về đặc tính hóa học và sinh học. Phần lớn organotins thương phẩm có một độ hòa tan trong nước rất thấp. Vài đặc tính tổng hợp với những lớp organotin khác nhau theo sau

 

Tetraorganotins là rất ổn định. Chúng không hiệu quả như chất tiêu diệt sinh vật) (biocides= chất có thể tiêu diệt những sinh vật sống) và không gây độc tương đối. Tuy nhiên chúng có thể bị phân hủy chậm hoặc chuyển hóa thành những hợp chất triorganotin có độc tố nhiều hơn.

Những hợp chất triorganotin thường có độc tố nhiều hơn so với organotins trong những lớp khác. Trialkyltins với nhóm hữu cơ tuyến tính không thể được sử dụng như chất tiêu diệt sinh vật trong nông nghiệp do tính có độc tố cao của chúng với cây trồng (tính có độc tố thực vật). Hoạt động kháng vi khuẩn và có độc tố của chúng thì thấp, trừ trường hợp với chất dẫn xuất diphenyl.

Monoorganotins cho thấy không hoạt động diệt sinh vật và tính có độc tố rất thấp với động vật có vú. Những điều kiện bắt buộc chính môi trường có liên quan đến triorganotins dùng như thuốc diệt sinh vật trong nông nghiệp và công nghiệp và chừng mực ít hơn đến việc áp dụng vài hợp chất diorganotin và monoorganotin trong PVC cứng. Đặc tính với hợp chất organotin đã chọn như sau.

Độ hòa tan của tributyltin oxide trong nước nhỏ hơn 20 ppm. Nó được trộn chung với chất dung môi hữu cơ.

Triphenyltin aqcetate không trộn chung với nước. Nó hòa tan trong ether.

Triphenyltin chloride phản ứng với nước.

Triphenyltin hydroxide không trộn chung với nước.

Fenbutatin oxide là một hợp chất triorganotin và phần lớn không hòa tan trong nước (0,005 millỉgam/L ở 23oC). Nó hòa tan trong acetone, benzene và dichloromethane.

Azocyclotin là một hợp chất triorganotin. Độ hòa tan trong nước nhỏ hơn 1 ppm.

Cyhexatin là một hợp chất triorgnotin. Độ hòa tan trong nước nhỏ hơn 1 ppm ở 25oC. Nó hơi hòa tan trong acetone và hòa tan trong methanol và chloroform.

 

Sử dụng phổ biến:

Organotins với 4 nhóm organo, ví dụ tetrabutyltin, tetraoctyltin và tetraphenyltin, có thể được sử dụng như vật liệu bắt đầu hoặc xúc tác, Organotins có ba nhóm organo có thể là thuốc trừ dịch hại mạnh và thuốc diệt vi khuẩn, phụ thuộc vào nhóm organo R. Tributyltins (ví dụ TBTO, Incidin) là loại thuốc trừ sâu sinh học công nghiệp dùng trong sơn chống gỉ và trong việc xử lý và bảo tồn gỗ. Họ tìm thấy việc sử dụng như chất khử trùng và tác nhân để tiêu diệt loài nhuyễn thể như là ốc bươu (thuốc diệt ốc). Nhưng phương pháp sử dụng khác gồm có tác dụng kháng nấm trong những hệ thống nước tơ sợi và công nghiệp như bồn làm mát và hệ thống nước làm lạnh, bột giấy và hệ thống nhà máy giấy, nước giải khát. Chúng có thể còn được dùng để phòng trừ bệnh sán máng (schistosomiasis) (một bệnh nhiệt đới mạn tính). Triphenyltins (ví dụ Fentin, Tinmate, Brestanol) được dùng như thuốc diệt nấm trong nông nghiệp và trong sơn chống gỉ. Những organotins khác trong lớp này gồm có Plictran, Bay Bue 1452, Vendex và Torque được dùng như thuốc diệt  ve/thuốc  diệt  nhện (chất dùng để tiêu diệt ve hoặc tích). Organotins với hai nhóm hữu cơ ví dụ dimethyltin, dibutyltin và diestertín, có thể sử dụng như là chất ổn định nhiệt PVC, như chất xúc tác, trên sự hình thành polyurethane và silicon curing, và như chất ổn định nhiệt cho PVC đóng gói thực phẩm cứng. Organotins có một nhóm hữu cơ ví dụ metyltin, butyltin, octyltin, và monoestertins, được dùng như chất ổn định nhiệt PVC. Thường dùng với hợp chất organotin đã chọn theo sau. Tributyltin oxide được dùng như một loại thuốc diệt nấm và thuốc trừ dịch hại trong việc xử lý gỗ. Chất này đã được dùng trong sơn chống gỉ nhưng áp dụng này nay bị cấm bởi qui định quốc tế. Triphenyltin acetate được dùng như một tác nhân phòng trừ côn trùng và thuốc diệt nấm. Triphenyltin choride được dùng như một loại thuốc diệt sinh vật và một loại thuốc trung gian. Triphenylin oxide được dùng như một hóa chất để vô sinh hóa côn trùng và như một loại thuốc diệt nấm. Fenbutatin oxide được dùng để phòng trừ rất nhiều loại ve, bét ăn mồi trên cây trồng. Azocyclotin là một loại thuốc diệt nhện có tác động lâu dài để phòng trừ nhện, ve trên cây ăn quả (gồm có cam quít), nho, bia, bông vải, rau xanh và cây hoa kiểng. Cyhexatin được dùng như một loại thuốc diệt nhện.ve.

 

Nguồn phát xạ:

Điểm nguồn

Hợp chất organotin có thể được thả từ các phương tiện nhà máy công nghiệp (trong sông nhánh công nghiệp hoặc không khí) hoặc từ việc phun thuốc trong ứng dụng công nghiệp.

 

Nguồn phân tán, và nguồn điểm gồm có trong dữ liệu phát xạ tích tụ.

Triorganotins có thể đi vào sông rạch từ lớp sơn chống gỉ, thuốc diệt động vật thân mềm để phòng trừ ốc bươu, bằng cách phun thuốc diệt sinh vật nông nghiệp, và do xói mòn đất khỏi ruộng có phun thuốc diệt sịnh vật. Ứng dụng thuốc diệt sinh vật là phần góp chính vào hợp chất organotin trong môi trường.

 

Nguồn tự nhiên:

Hợp chất orfanotin không tìm thấy một cách tự nhiên.

 

Nguồn di động:

Lớp phủ sơn chống gỉ trên tàu thuyền.

 

Sản phẩm tiêu dùng có thể có hợp chất organotin:

Vài loại sơn chống gỉ, vài loại thuốc diệt nấm, vài loại thuốc diệt vi khuẩn, vài sản phẩm có nhựa dẻo PVC (ví dụ đóng gói thực phẩm PVC) có thể có hợp chất organotin

 

Hiệu ứng trên sức khỏe

Làm cách nào có thể tôi bị tiếp xúc với hợp chất organotin?

Tiếp xúc nghề nghiệp có thể là điểm tiếp xúc nhiều nhất với hợp chất organotin. Theo sau những phương pháp sử dụng thích hợp sẽ giữ ở mức thấp nhất bất kỳ rủi ro nào tiếp xúc có hại. Một nguồn tiềm tàng của organotins trong lương thực và nước uống phát sinh từ việc sử dụng thuốcểtừ sâu sinh học trong nông nghiêp triorganotin và của diorganotins như chất ổn định nhiệt trên vật liệu đóng gói PVC. Điều đã được tìm ra là lương thực thường không có bất kể chất tồn lưu triorganotin có thể khám phá được. Trong biến cố không thể xảy ra của lương thực bị nhiễm dấu vết của triorganotins, qui trình chế biến lương thực thường sẽ phân hủy nhiều bất kỳ organotins còn lại. Diorganotins có thể trôi khỏi đóng gói thực phẩm, nhưng nồng độ kết quả thường là rất thấp. Điều đã được kết luận là tiếp xúc với diorganotins dùng trên PVC thì nhỏ.

 

Theo đường dẫn nào hợp chất organo-tin đi vào cơ thể của tôi?

Hợp chất organotin có thể được hít vào trong môi trường hoạt động thương mại/công nghiệp, nơi hợp chất organotin được tạo ra hoặc được sử dụng Sự tiêu hóa được xem là đường vào không thể xảy ra trong môi trường này. Vài trường hợp hấp thu trên da với organotins xảu ra. Tiếp xúc với quần chúng tổng hợp được mong đợi dẽ là ít nhất.

 

Nguy hiểm tương đối cho sức khỏe

Trong phổ có cơ nguy cho sức khỏe của đăng ký 1. 2 hợp chất organo-tin 0 – 3. Chấm điểm số 3 đại diện một cơ nguy rất cao cho sức khỏe, 2 đại diện một cơ nguy trung bình và 1 có hại cho sức khỏe. Những nhân tố được giải trình để nhận số điểm này gồm có phạm vi của tính có độc tố của vật liệu hoặc thiếu tính có độc tố, và đánh giá xu hướng tạo ra của nó hoặc không tạo ra bệnh ung thư và.hoặc khuyết tật sinh sản. Điều này không giải trình sự tiếp xúc với chất liệu. Tiếp xúc của con người được phản ánh trong cấp hạng NPI với chất liệu này (xem dữ liệu so sánh dưới đây). Một chất liệu chấm điểm cao như là hiểm nguy cho sức khỏe là thạch tín ở mức 2, 3 và 1 trong điểm chấm thấp nhất là 1.0.

Hướng dẫn về sức khỏe

Australian Drinking Water Guidelines (NHMRC and ARMCANZ, 1996):

Mức tối đa 0.001 mg/L (i.e. 0.000001 g/L) với tributyltin oxide.
Worksafe Australia đã xác định tiêu chuẩn tiếp xúc với hợp chất organotin đến 0.1 milligram/m3 (TWA, as tin) và mức tiếp xúc trong thời gian ngắn phải không vượt quá 0.2 milligram /m3 (STEL).

 

Xem trang Additional Information về thông tin về sức khỏe mới. Liên hệ với The Australian NOHSC National Exposure Standards Database bẳn là nguồn thông tin có ích nhất.

 

Chú ý là dữ liệu bức xạ trong cơ sở dữ liệu không thể so sánh trực tiếp với những hướng dẫn này.

Hiệu ứng nào hợp chất organotin có trên sức khỏe của tôi?

Tiếp xúc ngắn với hợp chất dialkyltin và trialkyltin hây viêm nhiễm cho da và đường hô hấp. Sự ngộ độc cấp tính có thể gây ói mửa, nhức đầu, khuyết tật thị giác và hoạt động điện bất thường của đại não. Những triệu chứng này không thể xảy ra nếu có biện pháp bảo vệ thích hợp. Vài hợp chất organotin đã được báo cáo thể hiện hoạt động kháng khối u. Hợp chất tributyltin có độc tố trung bình thông qua cả hai tiêu hóa và hấp thụ trên da. Những hợp chất tributyltin có thể gây viêm nhiễm mạnh cho da và tiếp xúc da có thể dẫn đến phồng da do hóa chất trong trường hợp nghiêm trọng. Màng nhầy như là mắt và đường thông lưu mũi có thể cũng bị viêm nhiễm khi tiếp xúc. Công nhân xưởng đóng tàu tiếp xúc vì nghề nghiệp với bụi và hơi của tributyltin phát triển những triệu chứng bệnh viêm da, chóng mặt, khó thở và như bệnh cúm.

 

Hiệu ứng môi trường

Số phận môi trường

Organotins có một tỷ lệ hòa tan trong nước thấp và một xu hướng mạnh kết dính vào vật liệu huyền phù và trầm tích. Những hạt organotin cuối cùng xác lập ở đáy, làm cho lây nhiễm nước mặt phổ biến không thể xảy ra. Những hợp chất organotin hình như sẽ có tính bền trung bình với nửa sống đã báo cáo thay đổi từ vài ngày trong nước ngọt đến vài tuần lễ trong nước biển và vị trí cửa sông, lệ thuộc vào nồng độ đầu. Organotins cũng hấp thu mạnh vào đất.

Mặc dù rửa trôi khỏi đất và vận chuyển trong đất có thể được thực hiện, điều này không thể xảy ra. Sự phân hủy organotins thành sản phẩm có ít độc tố (nghĩa là phi organotin không độc tố) phụ thuộc vào hợp chất organotin và thường được tăng tốc bởi ánh sáng mặt trời và nhiệt độ cao. Sự phân hủy vi sinh là một cơ chế biến đổi quan trọng khác. Methyl hóa sinh học hình như không phải là một đường dẫn có ý nghĩa cho sự biến đổi loài organotin. Như là một ví dụ, sự phân hủy tributyltin có thể xảy ra từ vài tháng đến lâu hơn hai năm lệ thuộc vào điều kiện.

 

Vận chuyển trong môi trường

Hợp chất organotin có thể được vận chuyển trong nước. Lây nhiễm không khí bởi organotins không được báo cáo tính đến nay.

 

Hiểm nguy tương đối cho môi trường

Trong một phổ môi trường 0-3 hợp chất organotin đăng ký 1,8. Một điểm số 3 thể hiện một cơ nguy rất cao cho môi trường và 0 một cơ nguy bỏ qua. Những yếu tố được giải trình để nhận cấp hạng này gồm có phạm vi tính chất có độc tố hoặc gây độc của vật liệu và/hoặc thiếu tính có độc tố của chúng, và tính toán khả năng của nó để vẫn còn hoạt động trong môi trường và xem là nó tích tụ trong sinh vật sống. Tiếp xúc với môi trường được phản ánh trong cấp hạng NPI về chất liệu này (xem dữ liệu so sánh dưới đây). Một chất liệu có số điểm cao khi một cơ nguy môi trường là oxides của nitrogen ở 3,0 và một trong những điểm số thấp là carbon monoxide ở 0,8.

 

 

 

Hướng dẫn về môi trường

Australian Water Quality Guidelines for Fresh and Marine Waters (ANZECC, 1992):
Hướng dẫn về tributyltin là 0,008 microgram/L (i.e. 0,00000000 g/L) trong nước ngọt và 0,002 microgram/L (i.e. 0,000000002 g/L) trong nước biển tương ứng,

 

Xem trang Thông Tin phụ về hướng dẫn môi trường mới.

Chú ý những dữ liệu phát hành trong cơ sở dữ liệu không thể so sánh trực tiếp với những hướng dẫn này.

Ảnh hưởng nào hợp chất orgatin có trên môi trường?

Không có chứng cứ tích tụ hợp chất organotin trong môi trường. Tuy nhiên, tributyltin và triphenyltin, cả hai hoạt chất của sơn tàu chống gỉ, hình như có độc tố rất nhiều với nhiều loại sinh vật thủy sinh ở bộ phận mỗi cấp phần triệu hoặc thấp hơn. Sinh vật thủy sinh không tiêu chí như là động vật giáp xác, thân mềm, trai, cua, và sò hến, có thể thay đổi những cấu trúc, chậm phát triển và tử vong. Tributyltin oxide đã được cho thấy ức chế sự tồn sinh của tế bào nấm đơn bào biển. Tributyltin có thể là một đứt quãng nội tiết (một chất có thể can thiệp với homon tự nhiên của cơ thể), với sự phát triển tính trạng đực trên con cái khảo sát trên vài loài ốc bươu và sò hến tiếp xúc với tributyltin. Thường ấu trùng của bất kể loài nhạy cảm với tiếp xúc tributyltin nhiều hơn sinh vật trưởng thành. Tributyltin có xu hướng tích tụ trên các loại sò hến, trai, thân vỏ, thân mềm, cá và tảo. Những loài nước ngọt sẽ tích tụ sinh học trên tributyltin nhiều hơn với sinh vật biển. Trên động vật có vú, chừng mực cao tributyltin oxide có thể ảnh hưởng tuyến nội tiết (endocrine glands), làm đảo lộn mức độ homon trên tuyến yên (pituitary), tuyến sinh dục (gonad), và tuyến giáp (thyroid glands). Liều lượng lớn trubutyltin đã được trình bày gây thiệt hại cho những hệ thống sinh sản và thần kinh trung tâm, cấu trúc xương, và ống dẫn mật gan của động vật có vú. Hợp chất tributyltin có thể còn gây thiệt hại cho hệ miễn nhiễm. Tributyltin có thể được xem như có độc tố trung bình với loài chim. Tính có độc tố cấp tính của hợp chất organotin với động vật có vú giảm theo thứ tự trialkyltins > dialkyltins > monoalkyltins. Chất trích có độc tố nhiều nhất trong nhóm alkyl, với triethyltin acetate có độc tố nhiều nhất với tất cả hợp chất organotin. Organotins hình như có ít độc tố khi tăng độ dài chuỗi của nhóm hữu cơ, với trioctyltin chloride thấy rõ không có độc tố đối với động vật.

 

Dữ liệu so sánh

Cấp hạng NPI

Khoảng 400 chất được xem xét để đưa vào danh sách báo cáo NPI. Một cấp hạng rủi ro được cho dựa trên việc nhận diện cơ nguy sức khỏe và môi trường và con người và tiếp xúc môi trường với chất liệu. Vài chất liệu được chia nhóm cùng nhau ở cùng cấp hạng với 208 cấp hạng trên tổng số. Hợp chất organotin được chia cấp hạng như là 71 trong số 208 cấp hạng. Chấm điểm cơ nguy tổng số (sức khỏe con người + tiêu chuẩn môi trường) = 3.

 RGC (04-09-2006)

 

Trở về Trang Chính