Địa lý sinh học và đa dạng sinh học biển


Chu Hữu Tín

13 tháng 10 năm 2005

 

Vùng biển của những biển Đông Á châu gồm có những nước sau: Brunei Darussalam, Kampuchea, Indonexia, Malaixia, Phillippin, Singapo, Thái Lan và Việt Nam. Thông tin bị giới hạn có thể sử dụng với Brunei và không dữ liệu có thể sử dụng đối với Kampuchea.

 

Hải Dương học

Bản mô tả dưới đây được trích ra từ Gomez và tác giả khác (1990), người trích ra từ công trình nghiên cứu của Soegiarto (1985).

Vùng biển của những biển Đông Á châu gồm có Biển Andaman, Eo biển của Malacca, Eo biển của Singapo, Nam Hải, Biển Java, Biển Flores, Biển Banda, Biển Arufura, Biển Timor, Biển Celebes, Biển Sulu, và Biển Philippin. Miền gồm có thềm lục địa cạn, vực biển sâu, vịnh nhỏ, hào, dốc lục địa và đảo núi lửa và san hô. Nhiều đảo lớn và nhỏ chia nước thành những biển khác nhau liên kết bởi nhiều kênh, hành lang và eo biển.

 

Miền chịu ảnh hưởng mạnh bởi gió mùa. Gió bấc kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 và gió nồm từ tháng 6 đến tháng 8. Phần còn lại trong năm biểu hiện sự chuyển tiếp gió mùa từ Bắc xuống Nam (tháng 3 đến tháng 5) và gió mùa từ Nam lên Bắc (tháng 9 đến tháng 11).

 

 

Mô hình dòng chảy trên mặt trong miền cho biết là khối lượng nước trong miền phát sinh từ Thái Bình Dương. Dòng chảy nhiệt đới Bắc chảy từ phía Tây đi qua Thái Bình Dương và khi đến những đảo Philippin, chia ra thành hai nhánh chính. Nhánh phía Bắc trở thành dòng chảy Kuroshio, và nhánh phía Nam, dòng chảy Mindanao. Dòng chảy Kuroshio bắt đầu từ phía Đông của miền Bắc Luzon như con thằn lằn (swift) và đoạn hẹp của dòng chảy biên giới phía Tây và chảy về bờ biển Đông của Đài Loan, Đông Hải Trung Quốc và biển Nhật Bản. Trong mùa gió bấc, Kuroshio chảy lệch hướng về Trung Hải. Dòng chảy Mindanao chảy chảy về phía Đông Nam với một tốc độ của một hoặc hai gút dọc theo bờ biển của đảo Mindanao với phần chính của nó đi vào biển Celebes qua eo biển giữa những đảo Mindanao, Sangir và Talaut

Thủy triều của Biển Đông Á chịu ảnh hưởng  bởi Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Thủy triều ban ngày bao trùm Nam Hải và Biển Java, nhưng trái lại thủy triều hỗn hợp chiếm ưu thế trên nước thuộc quần đảo Đông Indonexia, Philippin, Biển Andaman, Eo biển Malacca, và  vùng thềm lục địa Đông Bắc Úc.

Nước bề mặt trong miền có nhiệt độ cao và tỷ trọng thấp và độ mặn. Phần dư thừa lớn lượng mưa trong khi bốc hơi dẫn đến một độ mặn trung bình ít hơn 34o/oo trong phần lớn miền. Biến đổi nhiệt độ năm của nước bề mặt thì nhỏ. Trong mùa gió bấc, thường nhiệt độ bề mặt cao 28- 30oC chiếm ưu thế trên bờ biển phía Tây của Sumatra và nước phía Đông của quần đảo Indonexia. Tuy nhiên, dòng vào của những khối lượng nước lạnh từ vĩ tuyến cao, dẫn đến nhiệt độ nước thấp ở Nam Hải. Nhiệt độ 26-27oC cũng chiếm ưu thế trong Biển Arafura và bờ biển phía Nam Java. Trong những loại nước khác, nhiệt độ thay đổi giữa 27oC và 29oC. Nhiều nhiệt độ mặt biển năm trung bình trong miền nhiệt đới nhỏ hơn 2oC nhưng hơi cao, 3oC đến 4oC, trong Biển Banda, Biển Arufura và Biển Timor cũng như những nước phía Nam Java.

 

 

Độ mặn trong Biển Đông Á rất là thay đổi như là một kết quả của những hiệu ứng lượng mưa cao, chảy tràn từ nhiều sông lớn, và sự phân chia phụ địa lý của biển. Sự phân bố dòng chảy ra từ đất liền, sự hiện diện những vịnh lớn và kênh có ít trao đổi nước góp phần vào việc làm giảm bớt tổng hợp độ mặn. Chu kỳ gió mùa dẫn đến mùa mưa và mùa nắng cũng ảnh hưởng đến biến đổi độ mặn năm.

 

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến độ trong suốt của nước, ví dụ hàm lượng mùn, phiêu sinh vật và những chất dạng hạt khác trong nước. Độ trong suốt thấp của nước (sâu ít hơn 10 m) được tìm thấy ở những miền cửa sông và nước vùng ven bờ chung quanh Sumatra, Borneo và Vịnh Thái Lan. Nói chung, độ trong suốt cao ở nước sâu (giữa 10 và 20 mét) và trong biển khơi (20 đến 30 mét).

 

Địa lý vùng bờ biển và địa chất

Mô tả dưới đây được chấp nhận từ Schwartz (1982).

Bờ biển Đông Á phần lớn tiếp theo những miền hoạt động về mặt xây dựng nơi đó những phiến đá Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương va chạm với phiến đá châu Á đất liền (Inman và Nordstrom 1971). Cùng với những dải đất bờ biển, xu hướng cấu trúc thương đi song hành với bờ biển. Ngoai những vùng này, cách xa miền va chạm hoạt động về mặt xây dựng thường là ổn định và xu hướng cấu trúc thường không đi song hành với bờ biển, đây là trường hợp dọc theo đất liền châu Á từ Thái Lan đến Bắc Á.

 

So sánh bờ eo biển, nằm dọc theo những dãy núi, thỉnh thoảng với đồng bằng sông và mũi đất phù sa địa phương, được tìm thấy chủ yếu ở miền Tây Sumatra, miền Nam Java và miền Bắc Việt Nam. Một địa hình ngập nước, già cỗi có một tuyến bờ biển không đều hiện diện ở những phần miền Nam Việt Nam, phía Bắc bờ biển đất liền của Sông Hồng, trên những đảo của miền Đông Indonexia, ở miền Bắc Kalimantan (Borneo) và Philippin. Những bờ biển này chừng mực mô hình hóa lại bởi biển, với vịnh có bãi biển, mũi đất (spits) và rào cản, thỉnh thoảng được đổ đầy trầm tích và một phần bao quanh bởi mũi đất phù sa. Ở nơi khác, bờ biển lắng tụ nổi bật, gồm có những bãi biển, mũi đất, rào cản, tombolos, mudflats, đầm lầy, rừng đước, đầm lầy ngập nước, và rạn san hô.

Hướng tổng hợp của bãi biển, mũi đất, và rào cản có liên quan đến hướng của sóng nhồi (swell), giữa Philippin và Indonexia sóng nhồi đến chủ yếu từ hướng Bắc, và những bãi biển và mũi đất đối mặt phần lớn hướng đông và đông bắc. Nơi nào sóng nhồi theo hướng nam, như ở trong Ấn Độ Dương, những bãi biển đối mặt chủ yếu đông nam đến tây nam.

Rạn san hô và đá bãi biển phổ biến trong miền và rừng đước bao trùm những dải đất lớn bở biển Indonexia, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam và Myanmar, đặc biệt trong những miền có nơi trú ẩn tương đối khỏi mũi đất biển. Một phần quan trọng của bờ biển đất liền gồm có đồng bằng sông quan trọng như Sông Mê-Kông, sông Chao Phraya, và sông Hồng.

 

Tính đa dạng của hệ sinh thái

Vùng biển của những biển Đông Á gồm có một số lượng phong phú động vật và thực vật biển. Phong phú vè mặt san hô, rừng đước vf thảm cỏ biển chắc là hỗ trợ thực vật và động vật biển đa dạng nhất trên thế giới.

Rạn san hô

 Miền là trung tâm toàn cầu đa dạng về rạn san hô. Ước chừng 70 giống san hô cứng ở vùng lân cận miền Đông Indonexia, Philippine và những đảo Spratly, trong khi 50 hiện diện ở những phần khác của Đông Nam Á (Veron 1986). Trên khắp những rạn ven của Biển Đông Á phổ biến nhất và hiện diện chung quanh những đảo có kích thước nhỏ và trung bình. Rạn ít phổ biến ở bờ biển đất liền và trên những đảo lớn, đặc biệt chung quanh sông. Philippin và Indonexia hỗ trợ những miền rộng nhất có rạn san hô trong miền. Những rạn phát triển tốt còn được tìm thấy ngoài khơi bờ biển phía Nam Myanmar và Thái Lan, trên những đảo ngoài khơi của Việt Nam, trên bờ biển phía Đông của Bán dảo Mã Lai và ngoài Sabah (UNEP/IUCN 1988).

 

Những rạn của Biển Đông Á ủng hộ một tập hợp giàu của đời sống biển. Chúng cung cấp cá, động vật thân mềm và động vật giáp xác trên đó nhiều cộng đồng ven bờ lệ thuộc và, những nơi ở ven bờ khác, cung cấp chất dinh dưỡng và nền lai tạo cho nhiểu loài thương phẩm (UNEP/IUCN 1988). Trong vài tình huống cá đánh bắt từ những cộng đồng rạn cung cấp trên nửa số lượng protein hấp thụ của những cộng đồng địa phương. UNEP/IUCN (1988) ghi chép là việc đánh bắt cá trên rạn san hô đã được tính toán gồm có 8-10% sản lượng cá tổng hợp ở Philippin, 5% ở Indonexia và trên 20% ở Sabah, Malaixia. Du lịch liên kết với rạn san hô cung cấp lợi ích kinh tế chính trong miền.

 

Những cộng đồng rạn và phi rạn trong vòng 15 cây số ven bờ thường là trên những đảo san hô vòng (atolls) đánh bắt cá, trong khi ngoài khơi đảo san hô ngầm và những rạn cao nhất (pinnacle) thường vượt xa phạm vi đánh bắt cá cưa ngư dân nhỏ. Lực lượng tàn phá chủ yếu gồm có quá trình lắng đọng trầm tích dư thừa và chất dinh dưỡng liên quan đến sự phá rừng và những hoạt động nông nghiệp, và những hình thức khác nhau của đánh bắt cá tàn phá, nhất là đánh bắt cá bằng chất nổ (blast fishing).

Rừng đước

Trong so sánh với thực vật trong rừng đước của những vĩ tuyến giống nhau ở vùng ven bờ Đại Tây Dương của châu Phi và châu Mỹ rừng đước của miền Ấn Độ- Thái Bình Dương, và Đông Nam Á nói riêng, cực kỳ là đa dạng. Rừng đước là cộng đồng ven bờ nổi trội ở châu Á nhiệt đới, với miền Mã Lai-Indonexia trung tâm phân bố của nó.

Việt Nam

Việt Nam có chiều dài bờ biển 3.000 km được mô tả đặc tính bởi nhiều điều kiện địa lý hình thái, thời tiết, thuỷ văn, và kinh tế-xã hội (Cheung 1992). Chỉ mới vài khu vực ven bờ bao gồm bên trong số ít khu vực ven bờ như là Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Sơn Trà, Côn Đảo và và Cà Mâu. Chiến lược Bảo tồn Quóc gia Việt Nam (1985), Báo cáo về Hệ Thống Bảo Tồn Thiên nhiên, những Vườn Quốc gia và khu vực Bảo Tồn (Mackinnon 1990) và Kế hoạch Nhà nước về việc phát triển môi trường và bền vững 1991+2000 (SCS và tác giả khác 1991) tất cả đã nhận diện yêu cầu bức xúc về việc bảo tồn ven bờ và biển ở Việt Nam.

 

 Hai trong những khu vực bảo tồn ven bờ này bao gồm một thành phần biển, có bốn điểm phụ đề xuất như là đang tiêu biểu những đặc tính sinh địa lý của môi trường biển của nó. Vấn đề bảo tồn tính đa dạng sinh học biển Việt Nam đang là một vấn đề cấp bách do việc sử dụng quá mức tài nguyên biển và sự xuống cấp nặng nề của những hệ sinh thái ven bờ như là rừng đước và rạn san hô (Thanh, thư riêng).

 

 Phần lớn những rạn san hô ven bờ Việt Nam bị đe doạ bởi sự lắng tụ bùn và việc đánh bắt cá tàn phá và thặng dư, đặc biệt là những rạn ở Cát Bà và gần bờ biển Nha Trang, nhưng san hô chung quanh những đảo vùng sâu ngoài khơi Nha Trang và Phú Quốc vẫn ở trong tình trạng tốt (Cheung 1992).

Dưới đây là những MPAs được ghi chép ở Việt Nam:

Vườn Quóc gia đảo Cát Bà

Vườn Quốc gia đảo Côn Đảo

Sáng kiến quốc tế và Vùng liên quan đến MPAs

Bảng 13.2 tóm tắt sự tham gia của những nước vùng biển Đông Á trong những sáng kiến quốc tế chủ yếu có liên quan đến những khu vực bảo tồn. Thông tin cơ bản phát sinh từ IUCN (1992).

Chương trình biển cấp vùng UNEP

Kế hoạch hành động Biển Đông Á được chấp nhận bởi Indonexia, Malaixia, Philippin, Singapo và Thái Lan năm 1981 về việc phát triển và bảo tồn môi trường biển và những khu vực ven bờ trong việc thúc đảy sức khoẻ và phúc lợi của những thế hệ hiện tại và trong tương lai. Đơn vị điều phối cấp vùng trong Bộ phận Điều phối Biển Đông Á (COBSEA) phục vụ như Ban Thư ký của Chương trình. Những nước tham gia đã tiến hoá thường là những cơ chế  có hiệu quả trong việc quản lý chương trình và việc thực thi dự án với sự hỗ trợ chuyên môn từ UNEP. Họ cũng đã thiết lập một quỹ uỷ thác cung cấp hỗ trợ từng phần cho nh hoạt động của chương trình (Gomez 1988). COBSEA thực hiện nhiều dự án nhằm hỗ trợ việc quản lý môi trường biển ven bờ và khu vực bảo tồn biển, gồm có những dự án EAS 19 và EAS25 đào tạo cho cấp quản lý Vườn Biển. Những hoạt động xa hơn được hoạch định để giải quyết việc quản lý vùng ven bờ và việc sử dụng bền vững tài nguyên biển trong vùng Biển Đông Á.

 

 Những sáng kiến cấp vùng khác

Các bên trong Hội nghị ASEAN (Brunei, Indonexia, Malaixia, Philippin, Singapo và Thái Lan) thực hiện nhiều biện pháp hợp tác có liên quan đến việc bảo tồn tính đa dạng sinh học biển. Những ví dụ đặc hiệu là tuyên bố Điểm Di sản ASEAN (Vườn quốc gia Tarutao ở Thái Lan đã được chỉ định) và những biện pháp nhằm để tránh hoặc đấu tranh chống lại trường hợp tràn dầu, như là Kế hoạch Hành động Chuẩn bị và Phản ứng Tràn Dầu ASEAN (OSPAR).

 

Cũng có một số lượng thoả hiệp song phương và đa phương giải quyết việc ô nhiễm do dầu như là Phương pháp Tách riêng Giao thông ở eo biển Malacca và Singapo, Thoả hiệp Ba Bên để đấu tranh chống lại Tràn Dầu ở eo biển Malacca và Singapo, Kế hoạch ASCOPE về việc kiểm tra và giảm nhẹ ô nhiễm Dầu và Kế hoạch cấp vùng để đấu tranh lại Dầu trong eo biển Lombok/Makasar và biển Celebes. Gomez (1990) cung cấp chi tiết thêm về việc tham gia của những nước trong miền trong những sáng kiến cấp quốc tế và cấp vùng khác.                                                                    

Đánh giá tính chất đại diện của miền sinh địa lý trong MPAS

Một đánh giá tính chất đại diện của phân chia phụ sinh địa lý chủ yếu của miền đã được thực hiện (Bảng 13.3). Vị trí của MPAs hiện có được trình bày trong Hình 13.1)

 

Số lượng MPAs có cấp quản lý "cao" được trình bày trong ngoặc (nơi>0)

 Tất cả những miền có ít nhất một MPA, mặc dù sự phân bố của chúng không đều. Những miền IV, V, VII và VIII có ít hơn năm MPAs mỗi miền trong khi miền II có 11 MPAs và những miền I, III, và VI có ước chừng 20 MPAs hoặc nhiều hơn. Những miền I, II, III và VI gồm có 83 trong số 92 MPAs trong miền. Chỉ hai miền (III và VI) được trình bày bởi MPAs đã đánh giá như cócấp quản lý "cao". Bốn miền gồm có cấp quản lý "cao" hoặc "trung bình".

 

Trong phương pháp phân loại sinh địa lý chấp nhận trong miền này vài trong những miền sinh địa lý loại 1 được chia ra thêm thành miền sinh địa lý loại 2. Một đánh giá những miền này cho thấy là bên trong những miền loại 1 trình bày tương đối tốt (I, II, III và VI) có những chênh lệch về cấp hạng theo đó phân chia phụ loại 2 được trình bày (Bảng 13.4)

 

Những miền ưu tiên và khuyến cáo

Những miền ưu tiên quốc gia về việc bảo tồn tính đa dạng sinh học biển

21 miền được trình bày dưới đây được chọn bởi những thành phần của Nhóm Làm việc IUCN-CNPPA trong vùng biển Đông Á có sử dụng những tiêu chuẩn trình bày trong phần dẫn nhập báo cáo này. Tính chất đại diện của miền sinh địa lý (xem phần trên) là một xem xét quan trọng không những chỉ tiêu chuẩn đã dùng. Việc đánh giá được thực hiện bởi những thành phần của nhóm làm việc bằng cách chia cấp MPAs hiện có và đề xuất trong mỗi nước chống lại tiêu chuẩn chọn trình bày trong phần dẫn nhập của báo cáo này. Những miền này chấm điểm cao nhất được nhận diện như ưu tiên cấp quốc gia, số lượng lên đến 4 miền đang chọn trong mỗi nước.  Đối với từng miền ưu tiên, những cơ hội kinh tế-xã hội và chính trị như là việc thiết lập và quản lý một MPA được xem là có thể khả thi, và có thể góp một phần quan trọng vào tính đa dạng sinh học biển trong miền. Nhóm đã nhấn mạnh yêu cầu tập trung vào việc hỗ trợ việc quản lý MPAs hiện có, vơi 16 trong số 21 miền ưu tiên quốc gia đang thiết lập MPAs. Năm miền ưu tiên được đề xuất MPAs mới.

Những miền được nhận diện tiêu biểu cho những hệ sinh thái chủ yếu về việc bảo tồn tính đa dạng sinh học biển trong một số lượng phân chia phụ sinh địa lý của vùng biển Đông Á. Sáu trong tám phân chia phụ sinh địa lý cấp 1 được trình bày bởi những miền đề xuất, trường hợp biệt lệ là những miền IV và VIII, nơi không có điểm ưu tiên có thể nhận diện.

Phần lớn những nước trong miền đang thực hiện những chương trình hỗ trợ việc thiết lập và quản lý MPAs và điều này được nhận biết là MPAs phụ vào những MPAs đã nhận diên dưới đây sẽ là cần để bảo tồn đầy đủ tất cả những kiểu sinh địa lý.

RGC 20-09-2005

Trở về Trang Chính