|
Mọi
quần thể được điều hòa bởi những yếu tố sinh học và vô
sinh, thường có phản ứng tương hỗ rõ nét giữa nhiều yếu
tố. Có một xu hướng trong việc khảo sát điều hòa quần
thể về việc phòng trừ động vật chân khớp (arthropods).
Những sinh vật này hành động như là dịch hại trên cây cọ
dừa thương phẩm đã thu hút sự chú ý nhiều hơn về côn
trùng trên cây cọ dừa trong đời sống hoang dã. Trong
điều kiện hoang dã, sự thành công lệ thuộc vào sự sống
sót của quần thể và, nếu cây cọ dừa trong một hệ sinh
thái đặc biệt tự duy trì mình trong một thời gian dài,
ngay cả khi có biến động rõ nét về số lượng, và chúng đã
vượt qua cuộc khảo nghiệm. Thiệt hại rất lớn có thể chịu
đựng, và việc điều chỉnh động vật ăn cỏ và thù địch của
chúng xuất hiện với tỷ lệ không thay đổi về mặt sinh
thái. Với cây cọ dừa thương phẩm, một thặng dư thích hợp
là cần. Động vật chân khớp làm giảm mức thặng dư này có
thể được kiểm soát với tính nghiêm chỉnh nhân tạo, chừng
mực và tốc độ kiểm soát quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên,
nhiều thông tin chuyên tính về việc điều khiển quần thể
động vật chân khớp trên cây cọ dừa phát sinh, không thể
tránh được, từ những thí dụ về cây cọ dừa thương phẩm.
Thường chúng có thể liên hệ với tình hình tự nhiên khi
nhiều phương pháp kỹ thuật nông nghiệp xây dựng trên
điều gì xuất hiện trong thiên nhiên, nhưng nhiều trong
số nhắm vào việc tạo ra sản lượng cao nhất, mà không cần
kiểm soát động vật chân khớp. Những hóa chất phòng trừ
dịch hại có triển vọng làm cho dịch hại không liên quan,
nhưng những vấn đề liên quan đến hóa chất đảm bảo là
việc điều khiển động vật chân khớp có định hướng sinh
học là nổi bật. Để có tiện ích, quần thể động vật chân
khớp có thể được coi như là việc phòng trừ tự nhiên hoặc
quản lý dịch hại trong nông nghiệp. Việc phòng trừ tự
nhiên theo nội dung này gồm có điều kiện vô sinh (thí dụ
thời tiết và loại đất) và sinh học (thí dụ tính kháng ký
chủ-cây trồng, thiên địch, quần thể ký chủ). Những đặc
tính khác nhau phản ứng tương hỗ một cách rõ nét. Thí
dụ, hạn hán có thể dẫn đến việc nâng cao chừng mực đạm
hòa tan trên cây trồng ký chủ. Chừng mực này sẽ liên
quan đến cấu trúc đất và mức thủy dung của nó. Việc nâng
cao chừng mực đạm hòa tan có thể dẫn đến những bùng nổ
động vật ăn cỏ. Cùng với nạn hạn hán trên những loại đất
khác nhau có thể dẫn đến chừng mực silic cao tương đối
trên mô thực vật, bảo vệ chống lại động vật chân khớp.
Phức thiên địch sẽ có hiệu quả nhiều, hoặc ít, chống
lại tỷ lệ gia tăng quần thể . Việc quản lý dịch hại
trong nông nghiệp sử dụng tất cả điều nói trên một cách
có ý thức hoặc trái lại. Kiến thức về nông nghiệp và
nghề trồng hoa tạo thuận lợi cho cây cọ dừa khỏe sẽ được
tạo ra thường là kháng hoặc chịu phần lớn sự tấn công
của động vật ăn cỏ, nhưng hấp dẫn nhiều với một số loài.
Việc lai tạo cây trồng có xu hướng làm tăng khả năng gây
hại của vài dịch hại và bệnh, nhưng tạo ra những phản
ứng có thể chống lại một vài dịch hại. Mật độ trồng và
thành phần của loài trong một phương pháp canh tác
(nghĩa là đơn canh hoặc hỗn canh), sử dụng lớp che phủ
đất, phân bón, tưới tiêu và những yếu tố khác ảnh hưởng
đến số lượng động vật chân khớp, thường thông qua phản
ứng phức tạp với thiên địch. Thiên địch bản địa có thể
là hiệu quả tự chúng, hoặc có thể dùng để nâng cao hiệu
quả của chúng. Trong một vài trường hợp, thiên địch được
nhập nội bởi con người để phòng trừ sinh học.
Thiên địch
Theo kinh điển, thiên địch được chia
thành những nhóm động vật ăn thịt, động vật ký sinh, và
mầm bệnh (thường mầm bệnh gồm có tuyến trùng). Về mặt
thực tiễn, nhiều động vật chân khớp cũng sẽ hành động
như động vật đấu tranh và vài như động vật ký sinh,
nhưng ảnh hưởng của chúng thường là khó đánh giá. Những
thí dụ về tác nhân đang sử dụng chống lại động vật chân
khớp có cơ sở quanh cây cọ dừa đang bị tấn công này.
Thường, đặc biệt trong chương trình phòng trừ sinh học,
một hoặc hai tác nhân được khảo sát như động vật điều
chỉnh chủ yếu, nhưng thường nhiều tác nhân hữu quan rõ
là ở chừng mực thấp. Có thể có những phức mở rộng. Thí
dụ, Oryctes rhinoceros có 82 loài thiên
địch động vật chân khớp, năm loài tuyến trùng, hai loài
động vật nguyên sinh (protozoan), hai loài nấm, một loài
vi khuẩn, một Rickettsiales và ba loài vi rút. Mười chín
nước được trình bày như nhận tác nhân động vật chân khớp
trong suốt chương trình phòng trừ sinh học. Thành công
có thể tin cậy duy nhất với việc phòng trừ sinh học
chống lại O. rhinoceros là với một
baculovirus (Waterhouse và Horris, 1987). Waterhouse và
Horris (1987) cũng có giải trình chi tiết về phòng trừ
sinh học và phức tự nhiên đối với một số lượng dịch hại
trên cọ dừa, gồm có Brontispa longissima,
Graeffea crouani, Aspidiotus
destructor và Agonoxena argaula.
Đối với Tirathaba rufivena, chín hình thức
ký sinh cơ bản (bảy loài Hymenoptera và hai loài
Diptera), tấn công những giai đoạn khác nhau từ trứng
đến nhộng, và ba loài siêu ký sinh cánh màng được ghi
chép từ Nam Dương. Những vật này được xem như là quan
trọng và một số bằng nhau loài khuyết danh được xem là
không quan trọng.
Mô hình một cách không nghi ngờ giống như
động vật chân khớp trên cây cọ dừa hoang dã. Mỗi động
vật ăn cỏ cá thể có thể được giả định sẽ gắn với một số
lượng lớn thiên địch, với nhiều phản ứng tương hỗ phức
tạp xuất hiện. Hai thí dụ sẽ được sử dụng để trình bày
việc phòng trừ tự nhiên: Limacodidae ở Đông Nam Á (Cock
et al. 1987) và Opisina arenosella, một
loài động vật ăn cỏ trên cây cọ dừa nhận chú ý nhiều
trong khảo nghiệm (CAB International, 1996). Dù cho
những thí dụ đã hiểu tương đối rõ không hoàn toàn, nhưng
chúng cho những chỉ dấu về điều có thể mong muốn cũng
xuất hiện trên động vật chân khớp của cây cọ dừa hoang
dã. Những phức hợp tấn công một vật ăn cỏ đơn thường là
rất lớn. Tương tự, hình thức ký sinh và động vật ăn thịt
sẽ bị tấn công bởi những hệ thống phức tạp. Một loài
động vật ăn thịt như là O. arenosella có thể bị tấn công
bởi hàng tá động vật ký sinh sơ cấp, có thể đến lượt, tự
chúng bị tê liệt hóa. Động vật ăn cỏ vì thế gắn với
nhiều tài liệu ghi chép về động vật ký sinh. Cùng với
động vật ăn thịt, mạng trở nên lớn. Theo cùng phương
pháp động vật ăn cỏ trên cây cọ dừa hoang dã bị bỏ qua,
nên là thiên địch của chúng.
Mầm bệnh
Bệnh trên côn trùng do vi rút, vi khuẩn,
nấm và động vật nguyên sinh thường là quan trọng trong
việc điều hòa quần thể côn trùng. Nhiều thông tin liên
quan vi rút và nấm và công trình nghiên cứu tương đối
nhỏ đã được thực hiện trên những nhóm khác của mầm bệnh
trong vùng nhiệt đới liên quan động vật ăn cỏ trên cây
cọ dừa.
Vi rút
Sáu họ chính của vi rút gây bệnh trên côn
trùng (Entwistle, 1983), trong số Baculoviridae, gồm có
vi rút nhiều mặt của nhân và vi rút phân hủy hạch (NPVs
vaø GVs), thường được xem thích hợp nhất như là tác nhân
phòng trừ. Từng phần, điều này phản ánh nhiều ký chủ của
chúng trong thiên nhiên (trên 1000 tập hợp Baculoviridae
-côn trùng đã biết, gồm có nhiều loài của Diptera,
Hymenoptera, và Lepidoptera) và sự kiện là chúng không
bao giờ được tìm thấy xuất hiện trên động vật có xương
sống hoặc thực vật. Lây lan bắt đầu với tiêu hóa. Những
cơ thể vùi protein (protein inclusion bodies) của NPVs
và GVs phá hủy trong điều kiện ruột giữa kiềm của động
vật ký chủ và sao mã virion xảy ra trong tế bào ruột
hoặc bất kỳ nơi nào trên côn trùng.
Sự phân phát vi rút xuất hiện theo nhiều
phương pháp trong thiên nhiên. Côn trùng tử vong hay hấp
hối bài tiết ra hoặc ói mửa ra chất nước nhiễm
(Entwistle, 1983). Những thành trùng nhiễm của O.
rhinoceros có thể bài tiết ra đến 1 mg vi rút
mỗi ngày. Hình thức ký sinh thuộc Braconidae,
Encyrtidae, Ichneumonidae và Tachinidae có thể lan
truyền bacoloviruses trong khi tấn công ký chủ và vi
rút bị hút giữ có thể sống sót trên đương đi qua ruột
của vật ăn thịt có xương sống và không xương sống.
Những thành phần của 6 họ vi rút được
biết gây bệnh trên ấu trùng của khoảng 40 loài thuộc
Limacodidae (Entwistle 1987). Chúng được gắn với dịch
hại động vật (epizootics), thường xuất hiện khi thời
tiết ẩm bắt đầu. Điều này cho biết tính bền cao của
chủng trong hệ sinh thái, mặc dù những mặt môi trường
trái ngược, như là ánh sáng mặt trời.
Chừng mực lây lan tự nhiên bởi vi rút có
thể là cao. Khoảng 20% quần thể của Parasa lepida
ở Indonexia có hai loại vi rút khác nhau, gồm có một
baculovirus (Desmier de Chenon et al 1988). Ngoài ra, ba
kiểu vi rút được ghi chép của Darna trima
ở một chừng mực tự nhiên 24% và hai kiểu vi rút được tìm
ra của Setothosea asigna. Tốc độ với nó
dịch hại động vật xuất hiện có thể hiểu với chừng mực
cao trên xuất hiện tự nhiên. Một NPV gây tử vong phổ
biến được ghi chép từ O. arenosella ở
Kerala, Ấn Độ (Philip et al 1982). Tử vong xuất hiện 3-8
ngày sau khi lây lan. Những triệu chứng gồm có di chuyển
chậm (sluggishness), ăn mồi kém, hồng hóa và tối nhanh
đến đen sau khi chết. Hẳn là thành công trong việc phòng
trừ sinh học đáng chú ý với mầm bệnh chống lại côn trùng
trên cây cọ dừa là bọ cánh cứng sừng (rhinoceros beetle)
O. rhinoceros. Việc sử dụng vi rút, thỉnh
thoảng kết hợp với Metarhizium anisopliae,
đã hoàn tất việc điều hòa quần thể trên cây cọ dừa có
quản lý.
Nấm
Trên 700 loài nấm, hầu hết là nấm bào tử
nguyên nhiễm (mitosporic) và Entomophthorales của khoảng
90 giống, được biết sẽ là gây bệnh cho côn trùng và ve
(ảnh màu 16a,b, c). Không giống như những mầm bệnh khác,
vi rút và vi khuẩn nói trên, nấm không phải bị ăn vào
bụng để lây lan ký chủ của chúng. Đơn vị lây lan, bào tử
đính, bám vào vỏ của cây ký chủ và nẩy mầm. Ống mầm kết
quả xâm nhập vỏ bởi hoạt động vật lý và hóa học kết hợp
và nấm sản sinh và phát triển bên trong cây ký chủ. Sau
khi tử vong, nấm có thể phân hủy vỏ và phát sinh bào tử
bên ngoài, cho phép thiết lập lây lan thứ cấp. Một vài
loài nấm bị giới hạn nhiều trong nhiều ký chủ của chúng,
thí dụ, Aschersonia aleyrodis chỉ lây lan
ruồi trắng và côn trùng vảy mềm (soft scale). Những loài
khác có nhiều ký chủ ở cấp loài, mặc dù chủng cá thể có
thể là tuyển diệt. Beauveria bassiana có
trên 700 loài ký chủ đã ghi chép và M. anisopliae
đã được ghi chép từ trên 300 loài của Coleoptera,
Lepidoptera, Orthoptera và Hemiptera. Những giống khác
thường gặp gồm có Verticillium,
Aspergillus, Hirsutella,
Nomuraea và Paecilomyces. Tương
đối có ít tài liệu ghi chép xác thực của mầm bệnh vi
sinh từ Limacodidae, nhưng tài liệu ghi chép xuất hiện
phát sinh từ giống thường (Evans, 1987).
Aspergillus flavus đã được nhận diện từ
Thosea sp. và Parasa
philepida, nhưng chắc là một mầm bệnh cơ hội.
Điều này có thể là may mắn, vì nhóm A. flavus
tạo ra aflotoxins, có thể gây độc cho con người.
Beauveria bassiana đã được ghi chép từ P.
philepida và, như Isaria
sphaerocephala, từ Aphendala recta.
Ngạc nhiên là có một vài tài liệu ghi chép về M.
anisopliae, Paecilomyces javanicus,
Paecilomyces lilicanus và
Verticillium lecanii. Cordyceps
spp. hẳn là mầm bệnh phổ biến nhất trên limacodids.
Chẳng may, giống này được hiểu biết tồi. Việc phân loại
là một bài toán, như Evans (1987) gợi ý là những loài
khác hẳn nhau nói trước có thể là một loài đơn. Tuy
nhiên, Cordyceps chắc là một mầm bệnh rất chuyên tính và
đặc hữu của limacodids và chắc là một nguyên nhân quan
trọng tử vong nói chung, ngay cả khi không xem xét dịch
hại động vật. Những khảo nghiệm trong phòng thí nghiệm
đã minh chứng hiệu quả của, thí dụ, Paecilomyces
farinosus chống lại O. arenosella
và B. bassiana chống lại Merisa
plana. Những tiến bộ mới trong bệnh học côn
trùng đã minh chứng tầm quan trọng của công thức hóa và
ứng dụng sản phẩm phòng trừ côn trùng có nấm.
Những mầm bệnh khác
Tuyến trùng gây bệnh trên côn trùng phổ
biến nhưng ít được ghi chép từ ngay cả những dịch hại đã
biết trên cây cọ dừa. Không ngạc nhiên, vì phần lớn dịch
hại côn trùng trên cây cọ dừa chiếm tổ trên cây, trong
khi tuyến trùng gây bệnh côn trùng sống trong đất. Giống
Steinernema và Heterohabditis
là mối quan tâm chủ yếu trong mục đích phòng trừ sinh
học. Chúng một cách cộng sinh gắn với những loài vi
khuẩn của giống Xenorhabdus và
Photorhabdus. Tuyến trùng có một giai đoạn 3 lây
lan, tìm ra ký chủ của nó (với mức thành công thay đổi)
và xâm nhập nó trước khi thả vi khuẩn sản sinh ra và
tiêu diệt ký chủ. Tuyến trùng Mermithid được tìm ra,
thường là không thường xuyên, trên nhiều loài côn trùng,
nhưng hiếm trong dịch hại động vật. Steinernema
carpocapsae phòng trừ Sagalassa valida
(Glyphipterigidae), một dịch hại trên rễ cây cọ dừa.
Mặc dù delta endotoxin (protein) của vi
khuẩn phát sinh bào tử, Bacillus thuringiensis,
là một thành phần hoạt tính trên phần lớn thuốc trừ sâu
sinh học thành công về mặt thương phẩm, vi khuẩn ít được
ghi chép trên động vật ăn cỏ của hệ sinh thái cây cọ
dừa. Protozoa cũng đáng chú ý chủ yếu bởi sự vắng rõ nét
của chúng, mặc dù một cephaline gregarine, Leidyana
sp., đã được ghi chép từ ruột giữa của ấu trùng
O. arenosella (Rabindra, 1981). Rickettsia
rõ là không được ghi chép. Cock et al. (1987)
chỉ tham khảo vi rút và nấm liên quan dến Limacodidae và
chỉ loài trên bất kỳ chi tiết thật. Điều này hình như sẽ
là một phản ánh trung bình tình trạng hiểu biết hiện
nay. Tuy nhiên, những phương pháp khác đối với mầm bệnh
trong phòng trừ sinh học đã được mở trong những năm gần
đây, và được trình bày trong mục thuốc trừ dịch hại sinh
học.
Động vật ăn thịt
Động vật ăn thịt ăn nhiều con mồi trong
suốt đời sống và là tác nhân điều hòa có ý nghĩa, cả hai
trong chương trình phòng trừ sinh học và như là thành
phần bản địa của một hệ sinh thái. Vài loài động vật ăn
thịt côn trùng được tìm thấy trong số Coleoptera (e.g.
Carabidae, Staphylinidae, Coccinellidae), Neuroptera
(Chrysopidae), Diptera (Syrphidae) và Heteroptera
(Pentatomidae, Anthocoridae và Miridae). Nhện và ve cũng
là động vật ăn thịt quan trọng, thường rất tuyển diệt
chống lại quần thể dịch hại so với nghi ngờ trước. Trong
số loài ve, ve của giống Hemisarcoptes
(Hemisarcoptidae) là động vật ăn thịt không chuyên tính
trên côn trùng vảy cứng (armoured scale) (Hemiptera:
Diaspididae). Hemisarcoptes Coccophagus được ghi
chép như là có hiệu quả trong việc phòng trừ
Parlatoria blanchardi trên cây chà là (Gerson and
Smiley, 1990). Một số lượng ve ăn thịt được ghi chép như
là kẻ thù địch của ve trên cây dừa, Aceria
guerreronis, có ảnh hưởng nhỏ rõ nét trên quần thể.
Những vật ăn thịt công nhận thường hơn gồm có nhiều
coccinellids. Có những động vật ăn thịt chủ yếu dùng
trong chương trình phòng trừ sinh học Thí dụ,
Chilocorus spp. đã được dùng chống lại Aspidiotus
spp. scales. Stethorus utilis (Fig. 6.1)
thường gắn với ve tetranichid trên cây cọ dừa và có lẽ
ăn mồi trên chúng. Một loài bọ trĩ ăn thịt,
Aleurodothrips fasciapennis, cũng ăn mồi trên A.
destructor. ở Florida và chắc là ở những nơi khác,
coccnellids là động vật ăn thịt quan trọng của rệp cây
dừa du nhập, Cerataphis spp., mặc dù những loài
bọ cánh cứng này địa phương hay du nhập để phòng trừ
những dịch hại mục tiêu khác (ảnh màu 16d). Phức hợp
kiến giữ một vai trò sống động trong nhiều tình huống ăn
cỏ, phần lớn trình bày trang trọng trong những công
trình nghiên cứu về dịch hại dạng lõi (coreid) trên cây
dừa. Oecophylla smaragdina là một tác nhân phòng
trừ hiệu quả chống lại Amblypelta cocophaga, trừ
phi đến lượt bị tấn công bởi loài kiến khác, như là
Pheidole megacephala. Một mạng sinh thái tương tự
xuất hiện với Pseudotheraptus wayi ở châu Phi.
Tapinoma melanocephalum là một vật ăn trứng quan
trọng của côn trùng (bọ que) G.crouani. Hai mươi
sáu loài nhện thuộc sáu họ được đánh giá như là động vật
ăn thịt của O. arenosella ở Kerala, Ấn Độ
(Sathiamma et al., 1987). Những loài nhện, tất cả
xuất hiện tự nhiên trên cây dừa, là động vật ăn thịt
quanh năm, và bốn loài Rhene indicus, Marpissa
tigrina, Sparassus sp. và Cheiracanthium
sp. – được xem là động vật ăn thịt quan trọng.
Rhene khandalaensis cũng được ghi chép như là động
vật ăn thịt có giá trị. Mặc dù nhện được xem như là động
vật ăn thịt tổng hợp, chúng có thể thường có một ảnh
hưởng chủ yếu, và không ghi nhận trên quần thể tự nhiên
của loài côn trùng trên cây cọ dừa (Howard and Edwards,
1984). Tất cả Hemiptera ghi chép như là động vật ăn thịt
của limacodids ấu trùng được xem là động vật tổng hợp.
Dolling (1987) ghi chép 11 loài như động vật ăn thịt của
tám loài Limacodidae khác nhau từ Đông Nam Á. Bọ khiên
(shield-bug) ăn thịt của Pentatomidae được xem như sẽ là
“nhút nhát” (Dolling, 1987). Mồi của chúng gồm có những
ấu trùng của Lepidoptera, Cantheconidea spp. là
những động vật ăn thịt chính đã được ghi chép.
Dindymus rubiginosus (Pyrrhocoridae) ăn mồi trên
Hemiptera và Lepidoptera, gồm có limacodid S. asigna.
Loài động vật ăn thịt thuộc họ Reduviidae hiếu chiến
hơn. Cosmolestes picticeps, Syndus heros
và Sycanus spp. là những loài quan trọng.
Trong số nhóm động vật ăn thịt đã khảo
nghiệm kỹ, những động vật ăn thịt tấn công O.
arenosella gồm có một chrysopid,
Ankylopteryx octopunctata (Neuroptera), ăn mồi trên
trứng và ấu trùng non. ấu trùng Chrysopa scelestes
cũng tiêu dùng O. arenosella. Cardiastethus
exigius, Cardiastethus affinis và Alofa
sodalis (syn. Buchananiella sodalis)
(Hemiptera: Anthocoridae) tấn công trứng và giai đoạn ấu
trùng non. Carabids Parena nigrolineata và
Calleida splendidula tiêu dùng ấu trùng và nhộng.
Động vật ăn thịt bổ ích như tác nhân
phòng trừ sinh học thường có những thuộc tính chung
(Ehler, 1990). Chúng thường có một khả năng phát sinh
khuẩn lạc, ngay trong môi trường thay đổi và tạm thời.
Chúng có thể tồn tại khi vắng ký chủ mục tiêu (đòi hỏi
thiếu chuyên tính) và cho biết tập quán ăn mồi cơ hội
của chúng để sử dụng một quần thể dịch hại lớn. Sức chịu
đựng trong phòng thí nghiệm quan trọng đặc biệt, vì,
phía sau những đặc tính ly thuyết cần, có yêu cầu nuôi
dưỡng và khảo nghiệm thiên địch mục tiêu trước khi sử
dụng. Nhiều chương trình phòng trừ sinh học dịch hại đã
sử dụng những tác nhân chọn lần hai hoặc lần 3 chủ yếu
vì chúng có thể nuôi dưỡng và khảo nghiệm trong phòng
thí nghiệm. Hình 6.1. Stethorus utilis
(Coleoptera: Coccinellidae), nhận diện bởi M. C. Thomas.
Loại bọ cánh cứng đen này (1, 5 mm dài) hiển nhiên ăn
mồi trên rệp tetranychid. Điều này phổ biến trên bộ lá
cây cọ dừa lây lan với rệp ở Florida.
Dạng ký sinh
Những dạng ký sinh là côn trùng mà ấu
trùng phát triển bằng cách ăn mồi trên hoặc bên trong
một ký chủ động vật chân khớp, phần lớn luôn bị tiêu
diệt bởi quá trình (Gauld and Bolton, 1988). Kiểu đời
sống của dạng ký sinh được tìm thấy trên những thành
phần của Hymenoptera, Diptera, Strepsiptera và
Lepidoptera. Hai bộ đầu đến nay là giàu nhất trên loài
động vật ký sinh. Có ít hơn 600 loài đã biết trên thế
giới của Strepsiptera, nhưng Coriophagus (Halictophagus)
zanzibarae là một dạng ký sinh strepsipteran đã
phòng trừ thành công Sexava spp. (Acrididae:
Tettigoniidae) trên cây dừa (Lever, 1979).
Từ dạng ký sinh bao gồm một số lượng loài
rất lớn. Có thể 10-15% sinh vật đa bào (metazoan) là
dạng ký sinh, chắc là ít nhất 250.000 loài bao gồm trong
Hymenoptera. Parasitoids thay đổi từ vật ăn thịt trong
tất cả là côn trùng. Một cách ngạc nhiên, một vài thẩm
quyền phân loại tuyến trùng dạng dây (mermithid) như là
dạng ký sinh. Thành trùng của dạng ký sinh côn trùng
sống tự do, nhận nhiều dinh dưỡng của chúng từ vật liệu
thực vật, trong khi giai đoạn ấu trùng chịu trách nhiệm
về tình trạng ký sinh hiện tại của ký chủ. Điều này đã
biết từ đầu những năm 1800 là dạng ký sinh tấn công giai
đoạn trứng và ấu trùng là phổ biến, ký sinh trên nhộng
ít hơn và tình trạng ký sinh của ký chủ thành trùng rất
hiếm (Kirby and Spence, 1826). Một tình huống phản hồi
tiêu cực hẳn là hiện có với điều nói sau. Vì dạng ký
sinh của giai đoạn thành trùng hiếm, chúng hiếm thấy và
ít thấy thường xuyên (xem Phymastichus coffea).
Nhiều dạng ký sinh hymenopteran và
dipteran là dạng ký sinh ngoại (ectoparasitoids), với
trứng hay ấu trùng đang đẻ, và đồng thời đang phát
triển, bên ngoài cơ thể của ký chủ. Trái lại, dạng ký
sinh nội, thường gặp hơn, phát triển bên trong cơ thể
của động vật ký chủ. Điều này đòi hỏi một bộ phận đẻ
trứng đặc hiệu để khoan lỗ vỏ cây ký chủ. Dạng ký sinh
sơ cấp là những dạng tấn công một côn trùng không bị ký
sinh. Những dạng ký sinh này, đến lượt, có thể bị ký
sinh bởi siêu dạng ký sinh (hyperparasitoids). Những
dạng ký sinh lẻ loi, dù là dạng ngoại hoặc nội ký sinh
có thể đẻ nhiều. Siêu ký sinh (superparatism) và đa ký
sinh (multiparatism) liên quan đến hiện tượng ký sinh
của một ký chủ đã bị ký sinh bởi một thành phần cùng
loài hoặc khác loài, tương ứng. Dạng ký sinh cái phải
nằm trong ký chủ, khắc phục tự vệ vật lý bất kỳ, đánh
giá khả năng thích ứng của ký chủ và đẻ trứng thành
công. Trên nhiều dạng ký sinh côn trùng cánh màng
(hymenopterous), nhiều hoạt động đáng ngạc nhiên được
trình diễn để hoàn tất việc ký sinh. Vị trí của ký chủ
thường được xem như là một quá trình tìm kiếm nơi ở của
ký chủ theo nghĩa rộng và sau đó ẩn trú trên một myriad
cần để đến ký chủ tiềm tàng. (Thí dụ, Apanteles
taragamae (Hymenoptera: Braconidae) bị thu hút mạnh
đến phân của O. arenosella.) Một khi con cái đã
vào trong ký chủ, nó có thể thử nghiệm kích cỡ của nó và
tình trạng sinh lý và xác định xem là nó đã được ký
sinh.
Dạng ký sinh sống thành cụm điều chỉnh
số trứng chúng đẻ theo điều kiện. Con cái thường bám vào
ký chủ để hoàn tất việc làm tê liệt thường xuyên hay tạm
thời. Ký chủ thường không phải là không tự vệ và sự bảo
vệ có thể được tạo ra bởi các mặt tập tính của con cái
và con non cũng vậy. Microtylopteryx hebardi
(Acrididae) được khảo sát việc ăn mồi trên nhiều loài
cây ở một nơi ở rừng có mưa ở Costa Rica, nơi đó
Chamaedorea exorrhiza là một trong những động vật ký
chủ. Châu chấu có bộ phận đẻ trứng răng cưa để khoan lỗ
và đẻ trứng trong mô thực vật (Braker, 1989). Điều này
có thể có một vài mục đích, nhưng né tránh của dạng ký
sinh dễ sẽ là một. Những kiểu đa dạng khác của tự vệ ký
chủ chống lại ký sinh đã biết.
Việc ký sinh thường được đánh giá về số
phần trăm ký chủ lấy mẫu bị ký sinh. Điều này bị đánh
giá rất thấp những hiệu ứng của dạng ký sinh trên quần
thể ký chủ. Việc lấy mẫu để cho một đánh giá chính xác
thì khó thường không giải trình tuổi ký chủ và tính ưa
thích của dạng ký sinh. Một dạng ký sinh tấn công tuổi
ba của ký chủ của nó sẽ không được tìm thấy trong một
tuổi hai. Để khảo sát tuổi hai khi không ký sinh làm
giảm hiệu ứng ước tính của dạng ký sinh vì một phần của
dạng này sẽ bị ký sinh. Thường có ý nghĩa nhiều hơn là
những hành động gây tử vong cho ký chủ nhưng không trong
ký sinh. Một hành động có ý nghĩa nhất là ăn mồi ký chủ.
Mặc dù thành trùng thường nhận nhiều dinh dưỡng từ cây
trồng, nhiều dạng ký sinh cái ăn mồi trên những cá thể
của loài tạo ra ký chủ của nó, nhận lipids và proteins
một cách đặc biệt. Hành động này thường gây tử vong cho
ký chủ.
Dạng ký sinh có thể thăm dò với bộ phận
đẻ trứng của chúng trong cơ thể của một ký chủ tiềm
tàng để xác định xem là điều này có thể thích hợp với
việc ký sinh và điều này cũng có thể gây tử vong. Sự
hiện diện của một dạng ký sinh như là thưa thớt hay rụng
khỏi cây trồng, có thể gây tử vong.
Những dạng ký sinh cũng đã được gắn với
lây lan dịch hại côn trùng, thí dụ với vi rút. Tổng số
của những dạng này và hành động khác thường là lớn hơn
ký sinh thành công.
Tính chất tìm kiếm của một dạng ký sinh
cần cho một chương trình phòng trừ sinh học đã được
trình bày bởi nhiều tác giả, nhưng có thể tóm tắt rộng
rãi bởi những quan điểm của Huffaker et al.
(1977). Chúng gồm có tính thích hợp, tính thích ứng và
một khả năng tìm kiếm ký chủ cao, với ký sinh tùy thuộc
vào mật độ. Quan trọng là chuyên tính ký chủ. Dạng ký
sinh phải thường là đặc hiệu với một ký chủ riêng và số
ít loài hữu quan gần. Rất nhiều ký chủ có nguy cơ gây
thiệt hại cho sinh vật không mục tiêu và phòng trừ không
đầy đủ mục tiêu có ý đồ. Dù là dạng ký sinh dã chọn về
khả năng của chúng để điều hòa một quần thể dịch hại
trong một lần bùng nổ sẽ có những tính chất cần để giữ
ký chủ của chúng ở chừng mực thấp đủ thì khó xác định.
Trên thực tế, phòng trừ sinh học tin nhiều vào thực
tiễn. Thường dạng ký sinh đã chọn hoặc là một được tìm
ra sớm nhất hoặc dễ nhất để nuôi dưỡng hoặc vận chuyển,
so với dạng có tính chất tốt nhất. Vai trò của dạng ký
sinh quá mức (hyperparasitoids) là đề tài thảo luận. Qua
trực giác, chúng có thể hình như làm giảm hiệu quả của
dạng ký sinh. Dạng ký sinh quá mức bắt buộc thường được
thanh lọc khỏi dòng nhập nội dùng để phòng trừ sinh học.
Tuy nhiên, những dạng ký sinh quá mức tùy chọn, những
dạng phát triển nhờ vào hoặc là một ký chủ không -ký
sinh hoặc một dạng ký sinh sơ cấp, có thể là những tác
nhân quan trọng (Ehler, 1990). Một dang ký sinh quá mức
tùy ý có thể có giá trị dương trong việc phòng trừ sinh
học nếu ảnh hưởng tập thể của dạng ký sinh sơ cấp và thứ
cấp lớn hơn ảnh hưởng của dạng sơ cấp riêng và không có
một ảnh hưởng âm có ý nghĩa bên ngoài hệ thống mục tiêu
(Ehler, 1990). Tuy nhiên, hai trong những dự án phòng
trừ sinh học cổ điển đáng chú ý nhất của những năm gần
đây, chống lại rầy bột (mealbugs) Phenacoccus
manihoti và Rastrococcus invadens, được hoàn
tất mặc dù chừng mực rất cao trong ký sinh quá mức
(Agricola and Fischer, 1991).
Dạng ký sinh phòng trừ
tự nhiên
Đa số loài của Hymenoptera là dạng ký
sinh. Đây là một vai trò sinh thái gần như tất cả những
siêu họ Ichneumonoidea, Proctotrupoidea, Stephanoidea,
Ceraphronidea, Trigonaloidea, Megalyroidea và Orussoidea
(Gauld và Bolton, 1988). Nhiều trong họ Chalcidoidea,
Cynipoidea, Evanoidea và Chrysidoidea cũng là dạng ký
sinh. Số ít nhóm arachnid bị tấn công, nhưng động vật ký
chủ thường là côn trùng, chủ yếu bộ cánh trong
(endopterygote) Lepidoptera, Coleoptera, Diptera và
Hymenoptera và cánh ngoài (exopterygote) Hemiptera
(Gauld và Bolton, 1988). Côn trùng có giai đoạn non sống
trong nước hay hoạt động cao có ít dạng ký sinh kết hợp.
Phức tạp lớn của Hymenoptera như vậy là, mặc dù chừng
mực chuyên tính của ký chủ trong nhóm, thử trình bày
chúng vượt quá qui mô của phần này. Gauld và Bolton
(1988) cung cấp thông tin có thể đọc và chi tiết.
Diptera là bộ quan trọng thứ hai về dạng ký sinh. Một
vài họ ký sinh đặc hữu và có xu thế đã xác định rõ nhiều
ký chủ (Askew, 1971). Những trường hợp biệt lệ cho biết
đa dạng lớn ký chủ hoặc quán tính ăn mồi gồm có
Tachinidae và Calliphoridae, chắc là những họ dipteran
(cánh hai) thành công nhất trong công tác phòng trừ sinh
học. Số ít dạng ký sinh hai cánh ký sinh quá mức trên
Diptera khác. Một khác biệt nữa so với Hymenoptera là
trong một tỷ lệ lớn dạng ký sinh dipteran, ấu trùng tuổi
một, so với thành trùng, nằm bên trong ký chủ. Một vài
dạng ký sinh của Diptera đã biết, nhưng, một lần nữa đa
số tấn công côn trùng khác. Bombyliidae chủ yếu là dạng
ký sinh của Hymenoptera, nhưng một vài loài tấn công ấu
trùng của bọ cánh cứng và những loài khác tấn công nhộng
của Diptera hoặc Lepidoptera. Nemestrinidae tấn công ấu
trùng của bọ cánh cứng hoặc nhộng và một vài loài tấn
công châu chấu (locusts). Phoridae, như là một nhóm, có
vị giác toàn cầu, với con rết, bọ cánh cứng coccinellid,
Diptera, kiến, Lepidoptera và ong đếm số giữa những ký
chủ. Ngược lại, Pipunculidae là những dạng ký sinh nội
đơn độc của Cicadellidae, Cercopidae và Delphacidae.
Tachinidae có tầm vó quan trọng chủ yếu, với những ký
chủ chủ yếu giữa Lepidoptera và Coleoptera, mà còn giữa
Acrididae, Dermaptera và ấu trùng Tipulidae (Diptera).
Dạng ký sinh dùng trong công tác phòng
trừ cổ điển
Trong thực hành phòng trừ sinh học, ba
phân loại Ichneumonoidea, Chalcidoidea và Tachinidae, là
nguồn tác nhân chính. Greathead (1986) trình bày chi
tiết về những tính trạng của tác nhân đã dùng. Việc sử
dụng chúng không đòi hỏi là những nhóm khác không giữ
một vai trò có ý nghĩa trong hệ sinh thái tự nhiên.
Những dạng ký sinh tấn công nhiều loài không gây dịch
hại; một vài nhóm đặc hữu hoặc nổi bật ký sinh quá mức
và những dạng khác là loài tấn công số lượng ký chủ hạn
chế. Mô tả ngắn dưới đây của những nguồn chủ yếu tác
nhân phòng trừ sinh học đến từ Greathead (1986). Chúng
cho một chỉ dấu chừng mực chuyên tính, bổ ích đối với
nhà thực hành phòng trừ sinh học. Mặc dù những thành
công ngoạn mục đã hoàn tất với một hoặc hai loài thiên
địch, thường phòng trừ là do những phức hợp và với phản
ứng tương hỗ với những yếu tố vô sinh (Waterhouse and
Norris, 1987).
Ichneumonoidea
Braconidae (côn trùng cánh vảy) và
Ichneumonidae (ong bắp cày) là những họ lớn và đa dạng,
nhưng những thành công phát sinh từ những giống tương
đối ít. Trên họ Braconidae, giống nổi bật trong phòng
trừ sinh học là Apanteles, Bracon and
Opius. Chúng thành công nhất trong việc phòng trừ
Lepidoptera. Ichneumonidae là những dạng ký sinh đơn độc
của ấu trùng hoặc nhộng của côn trùng cánh trong
(endopterygote insects) đặc biệt là Lepidoptera, nhưng
riêng biệt thành công chống lại ấu trùng của bộ phụ ăn
thực vật (phytophagous suborder) Symphyta của
Hemenoptera (Gauld and Bolton, 1988), không thể hiện
trên cây cọ dừa. Những loài thuộc họ phụ Aphidiinae tấn
công đặc hữu rầy mềm.
Chalcidoidea
Siêu họ dùng thường dùng nhất và thành
công là Chalcidoidea. với Eulophidae,
Pteromalidae, Encyrtidae và Aphelinidae đang là những họ
quan trọng nhất. Eulophids đáng chú ý gồm có
Pediobius parvulus, dùng chống lại Promocotheca
coerulipennis (xem Box 2.2), P. coffea
(q.v.), và Phymasticus xylebori, tấn
công thành trùng của Xyleborus perforans
(q.v., Chương 5). Pteromalidae đã dùng thành công
trong việc chống lại dịch hại dipteran và lepidopteran,
trong khi Encyrtidae là những tác nhân rất thành công
trong việc chống lại dịch hại do Pseudococcidae và
Coccidae. Diaspididae, Aleyrodidae và Aphidoidea đã được
phòng trừ trong một vài trường hợp bởi những dạng ký
sinh trong họ Aphelinidae.
Diptera
(Côn trùng hai cánh)
Những tác nhân phòng trừ thành công đến
từ Cryptochetidae và Tachinidae, với tác nhân sau có ý
nghĩa hơn, xếp hạng dọc theo những họ quan trọng của
Hymenoptera về viêc phòng trừ sinh học cổ điển.
Tachinidae thể hiện một đa dạng đẻ trứng hoặc phương
pháp đẻ ấu trùng, tất cả trong số hình như có thể tác
động phòng trừ có ý nghĩa. Tachinids có liên quan đến
một vài thành công quan trọng nhất như là phòng trừ bướm
trên cây dừa. Levuana iridescens ở Fiji
bởi Bess remota (Hình 6.2, xem Box 2.1).
Chúng cũng được xem như là quan trọng trong việc chống
lại những dịch hại trên cây cọ dừa khác như là Phasmida
(e.g. động vật làm rụng lá Ophicrania leveri
và Megacrania phelaus), Lepidoptera
(e.g. Brassolis astyra, Omiodes
blackburni) và Coleoptera (e.g.
Parabillaea rhynchoporae là một
dạng ký sinh trên nhộng của Rhynchophorus palmarum).
Calliphorid Sarcophaga fuscicauda
là một dạng ký sinh thứ cấp của mọt Rhynchophorus
ferrugineus. Ruồi của Calliphoridae, Conopidae
và Phoridae là những dạng ký sinh cơ hội của
Neotermes rainbowi.
Hiệu ứng gây hại của phòng trừ sinh học
Mặc dù phòng trừ sinh học thường là một
dạng trung bình về mặt môi trường của công tác phòng trừ
vật chân khớp, điều này có những hệ quả sinh thái. Việc
điều hòa quần thể côn trùng bởi thiên địch xảy ra thường
xuyên trong thiên nhiên, nhưng hoạt động của con người
chịu trách nhiệm về những chuyển giao chủ yếu của loài
trên khắp thế giới. Việc phòng trừ cổ điển thường là đáp
ứng lại một côn trùng ngoại chứng tỏ sẽ là một dịch hại
kinh tế. Cả hai bùng nổ dịch hại và bất kỳ hình thức
phòng trừ khác cũng sẽ có những hệ quả sinh thái. Việc
phòng trừ sinh học, nếu thành công, không thể đảo ngược
và những điểm bất thuận có thể phải được tính toán
trước, nhưng tài liệu ghi chép về phòng trừ sinh học cổ
điển đặc biệt của dịch hại côn trùng, thì rất tốt. Có
những mối quan tâm chính đáng là động vật ăn thịt nhập
nội và dạng ký sinh có thể tấn công sinh vật không mục
tiêu. Chuyên tính là một trong những đặc tính chủ yếu
cần cho một tác nhân phòng trừ sinh học, nhưng chuyên
tính này không thể là hoàn toàn. Howard (1983) cho là
việc nhập nội nhiều loài dạng ký sinh vào đảo Ha Uy Di
làm giảm quần thể của loài bản địa. Có hoặc không là
chúng có thể bị làm giảm bớt nhiều hơn bởi quần thể cao
của loài dịch hại ngoại hoặc là bởi những dạng khác của
phòng trừ sinh học không thể xác định.
Thuốc trừ dịch hại sinh học
Việc thực hành lây lan côn trùng có bệnh
qua cây trồng có thể được thực hiện hàng ngàn năm qua.
Mặc dù trong thời gian hiện đại có mối quan tâm đến việc
sử dụng tác nhân gây bệnh côn trùng dành cho những mục
đích phòng trừ sinh học, thành công bị giới hạn. Về nội
dung thương phẩm, mầm bệnh chỉ thể hiện một tỷ lệ rất
nhỏ sản phẩm đã bán ra. Năm 1991, thị trường hóa chất
nông nghiệp trên thế giới được ước tính vào khoảng
27.000 triệu USD. Thuốc trừ dịch hại sinh học trên 2%
giá trị này. Trên 90% thuốc trừ dịch hại sinh học hán ra
có cơ sở trên độc tố B. thuringiensis như
là hoạt chất (Rodgers, 1993). Vi khuẩn, nấm, vi rút, đơn
bào (protozoa) và tuyến trùng là những thành phần hoạt
động của nhiều sản phẩm trừ dịch hại sinh học. Thuốc
được sử dụng chống lại dịch hại chính và phụ trên cây
trồng, thay đổi từ hòa thảo đến nghề rừng. Tốt nhất của
chúng, chúng phòng trừ bằng nhau hoặc tốt hơn phòng trừ
của thuốc trừ dịch hại nhưng có điểm bất thuận ít hơn.
Tuy nhiên, tất cả quá thường xuyên, triển vọng đã vượt
quá thực tiễn.
Hóa chất trừ dịch hại sinh học một cách
tiềm tàng có nhiều ưu thế trên hóa chất trừ dịch hại. Vì
thuốc an toàn hơn cho người sử dụng, sản xuất và ngưởi
tiêu dùng cũng như sinh vật không mục tiêu, chi phí đăng
ký thấp. Việc quản lý tính kháng phải là dễ hơn với tính
linh hoạt của sản phẩm. Sinh vòng thứ cấp từ xác chết
thỉnh thoảng đảm bảo tính bền lâu dài của thành phần
hoạt động về mặt thực hành (Thomas et al. 1995). Tuy
nhiên, thành công của thuốc trừ dịch hại sinh học chậm
đến. Từng phần, điều này là do một sự nhấn mạnh sai chỗ
về thành phần hoạt động, mầm bệnh, và chỉ mới tương đối
có nhấn mạnh bằng nhau trên chế phẩm và ứng dụng. Sản
phẩm B. thuringiensis thương phẩm đầu được
đưa ra thị trường ở Pháp năm 1938, nhưng thật ra chỉ
trong 20 năm qua hoặc tương đương những sản phẩm có thể
tin cậy đủ cho mục đích nông nghiệp thực hành. Nhiều
điểm bất thuận đã thấy và hiện tại của thuốc trừ dịch
hại sinh học đang được giải quyết. Một sản phẩm có đời
sống trên kệ 12-24 tháng ở nhiệt độ phòng (tùy thuộc vào
địa điểm) khả thi đối với nhiều sản phẩm. Một vài loại
thuốc trừ dịch hại sinh học hình như sẽ là quá đặc hiệu,
nhưng khảo nghiệm thường xuyên mang lại những dòng chủng
mới, phát triển mục tiêu tiềm tàng. Những chủng đầu của
B. thuringiensis hoạt tính chống lại
Lepidoptera, nhưng những dòng chủng chống lại Coleoptera
và Diptera đã được tìm thấy và sử dụng trong sản phẩm
thương phẩm. Những chủng hoạt động chống lại sán lá
(flukes), tuyến trùng và ve cũng được tìm thấy (Rodgers,
1993). Những kết quả nghiên cứu khích lệ. Nay có chứng
cứ là một vài loài nấm có thể rất thích hợp cho việc sử
dụng thuốc trừ dịch hại sinh học trong thời tiết nóng.
Morley -Davies et al. (1996) duy trì trên 80% sức sống
trên bào tử đính của nhiều Metarhizium
và Beauveria spp. lâu hơn 10
ngày ở 50oC. Một chủng của M.
anisopliae giữ lại mức sống này trên 60
ngày ở 50oC. Những thí dụ khác tiến triển
được trình bày bởi Feng et al. (1994), cũng trình bày
chương trình phòng trừ dịch hại sử dụng B.
bassiana ở Trung Quốc. Một số thuốc này được sử
dụng chống lại địch hại trên cây đại mộc. Trang trại dừa
thương phẩm đã sử dụng B.
thuringiensis chống lại dịch hại cánh vảy
(lepidopteran) và có nhiều, và thường là nhân đôi, khảo
nghiệm về virus và nấm để sử dụng như là thuốc trừ dịch
hại sinh học. Vì sản phẩm và phương pháp để phòng trừ có
định hướng sinh học phát triển, chúng rõ là trở nên có ý
nghiã nhiều hơn.
RGC 04-06-2006 |