Phản ứng tự vệ cây trồng lệ thuộc vào gien kháng

Kim E. Hammond và Jonathan D. G. Jones


Chu Hữu Tín

15 tháng 09 năm 2005

 

Phần nhập đề

Cây trồng đang luôn bị thách thức bởi những mầm bênh khao khát nhưng bệnh thì hiếm. Tại sao? Nói rộng, có ba lý do thất bại của mầm bệnh. Hoặc là (1) cây trồng không thể hỗ trợ yêu cầu thích hợp của một mầm bệnh tiềm tàng và vì thế không ký chủ; hoặc (2) cây trồng có rào cản cấu trúc thực hiện hoặc hợp chất có độc tố giới hạn lây lan thành công với những loài mầm bệnh chuyên hóa; hoặc (3) với sự nhận biết mầm bệnh tấn công, cơ chế tự vệ được sửa soạn công phu và sự xâm lăng bị cục bộ hóa. Tất cả ba kiểu phản ứng tương hỗ được nói không tương hợp, mà còn cơ chế kháng cuối lệ thuộc vào phản ứng do cảm ứng. Sự xâm nhập thành công của mầm bệnh và bệnh (tính tương hợp) tiếp tục khi tự vệ cây trồng đã thực hiện không thích hợp, cây trồng không phát hiện mầm bệnh, hoặc phản ứng tự vệ hoạt hóa không hiệu quả. Trong báo cáo này, chúng tôi khảo sát điều kiện tiên quyết cần trong việc nhận biết mầm bệnh và tạo cảm ứng phản ứng tự vệ cục bộ. Tự vệ thực hiện được xem như là bất kỳ nơi nào trong báo cáo này. (xem Osbourn, 1996, trong báo cáo này).

Sự nhận biết mầm bệnh chuyên tính nòi được giả định phát sinh từ phản ứng tương hỗ trực tiếp hoặc gián tiếp của sản phẩm của một gen kháng (R) thực vật trội hoặc nửa trội với một sản phẩm phát sinh từ gen không độc tố (Avr) của mầm bệnh trội tương ứng (Keen, 1992; Staskawicz et al. 1995). Trường hợp dẫn truyền tín hiệu kế tiếp được giả định hợp tác với sự hoạt hóa của nhiều phản ứng tự vệ.

Mô hình "giản đơn" này hình như giải trình nhiều nhưng còn nhiều vấn đề. Ví dụ, sản phẩm gien R có thể cung cấp thành phần chủ yếu trong sự nhận biết, nhưng làm cách nào những lớp riêng biệt của proteins R đã mô tả đặc tính đến nay (xem Bent. 1996, trong báo cáo này) có kích hoạt phản ứng tự vệ hoặc không? Những lớp gien R khác nhau hoạt hóa những phản ứng riêng biệt  có hoặc không?  Việc điều hòa vài thành phần của cơ chế tự vệ đã được khảo nghiệm trong những mẻ cấy tế bào thực vật đáp ứng lại thể khơi chuyên tính không-nòi nhưng chừng mực những khảo nghiệm trên có cung cấp một mô hình về họat động gen R hay không? Tính kháng thực vật thường có liên quan với sự hoạt hóa của phản ứng tự vệ chuyên tính, nhưng mà (nếu có) là cần để hủy bỏ hoặc làm chậm phát triển của mầm bệnh, và làm cách nào? Phản ứng nào sơ cấp, phản ứng nào thứ cấp? Phản ứng đầu có liên quan điều hòa sao chép, sự hoạt hóa của enzym tạo trước và/hoặc mở kênh ion hoặc những khả năng này không-độc quyền? Phản ứng chỉnh tốt (fine-tuned) với mầm bệnh đặc biệt moi nó? Những phản ứng tự vệ thay đối giữa những cơ quan thực vật, hoặc chúng biến đổi theo phương pháp tấn công của mầm bênh?

Để giải đáp những câu hỏi này, trước hết chúng tôi xem lại những phản ứng có tương quan với sự hoạt hóa của những cơ chế tự vệ trong tính kháng lệ thuộc vào gien R-Avr và trên loài cây trồng trong đó mầm bệnh không bao giờ gây bệnh, nghĩa là, tính kháng không-ký chủ. Sau đó chúng tôi đánh giá sự có ý nghĩa của những cơ chế này trong vì ví dụ đã chọn gồm có gien R. Sau khi xem xét cớ chế báo tín hiệu có thể thực hiện và cơ chế có thể đầu tiên phóng đại và sau đó giảm bớt phản ứng, chúng tôi trình bày những khó khăn có liên quan trong việc đánh giá sự có ý nghĩa hoạt động của phản ứng có tương quan với tính kháng. Vài đề tài thích thú có liên quan như quan hệ giữa cấu trúc gen R và hoạt động, sự có ý nghĩa của việc bắt chước vết bệnh, và hiện tượng SAR ít được chú ý ở đây và dược trình bày ở phần khác trong báo cáo này (xem những bài tiếp theo trong báo cáo: Bent 1996, Dangl et al. 1996, Ryais et al 1996). Trong Hình 1, phản ứng tự vệ nhân tạo khác nhau được giải trình bởi xâm nhập vi sinh được theo dõi.

Những cơ chế tự vệ

Phản ứng nhạy cảm quá mức

Phản ứng không tương hợp thường được liên kết với sự xuất hiện của những vết hoại sinh có tế bào thực vật chết ở những điểm xâm nhập của tế bào thử (Hình 1A). Về mặt cổ điển, phản ứng siêu cảm (HR) được xác định như sự chết của những tế bào ký chủ trong vài giờ tiếp xúc mầm bệnh (Agrios 1988), nhưng HR có thể đa dạng về mặt kiểu hình, thay đổi từ HR trong một tế bào riêng đến những vùng hoại sinh trải rộng cùng với sự tạo khuẩn lạc giới hạn của mầm bệnh (Holub et al 1994). Lại sự xuất hiện của HR có thể ngẫu nhiên về mặt môi trường và nói riêng có thể bị giảm ở ẩm độ cao (Klement 1982; Hammond-Kosack et al 1996). Trong quan hệ tương hỗ với mầm bệnh sinh dưỡng bắt buộc tạo ra tập hợp giác mút (haustorial) mật thiết có tế bào ký chủ, tỷ lệ tử vong của tế bào thực vật sẽ tước đoạt đường tiếp cận với chất dinh dưỡng xa hơn. Trong những phản ứng tương hỗ có liên quan đến những mầm bệnh nửa sinh dưỡng và hoại sinh dưỡng, vai trò của HR ít rõ nét vì những mầm bệnh này có thể nhận chất dinh dưỡng từ tế bào cây chết. Tuy nhiên, sự chia gian tế bào có thể dẫn đến việc thả những chất có hại dự trữ trong khổng  (xem Osbourn 1996 trong báo cáo này). Một cách đan xen, nhưng hừng mực phytoalexins cảm ứng thường chuyển nhanh sang tế bào thực vật (xem dưới đây), có thể tích tụ đến nồng độ ức chế vì chúng không chuyển hoá nữa.

HR có thể làm mầm bệnh dừng lại nhưng có thể cũng xuất hiện như một hậu quả của sự hoạt hoá những phản ứng tự vệ khác. Vài tính kháng có trung gian gien gien R-Avr hình như không liên quan đến một HR. Những tính kháng này gồm có tính kháng của cây lúa đại mạch chống lại tất cả những nòi của Erysiphe graminis f sp hordei, cũng xem Knogge 1996, trong báo cáo này), và tính kháng có trung gian gien Rx khoai tây với vi rút X của khoai tây (Kohm et al 1993). Có hoặc không một HR hiện diện hoặc vắng không chứng tỏ là kiểu cơ chế kháng riêng biệt về mặt số lương hiện có. Điều có thể thực hiện là tất cả gien R bắt đầu những phản ứng có thể dẫn đến HR, nhưng vài phản ứng có thể ngăn cản bệnh rất hiệu quả không để cho sự chết của tế bào bị hoạt hoá.

Điều gì là cơ chế nằm dưới sự hình thành HR? Có hoặc không tử vong phát sinh vì một cầu dao trong cơ chế tế bào đến những đường dẫn sinh hoá tạo ra nhiều hợp chất hoặc những gốc tự do (free radicals) có độc tố với mầm bệnh và tế bào thực vật, vì thế làm cho điều nói sau hoai sinh nhanh? Hoặc có hoặc không sự nhận biết mầm bệnh bắt đầu tế bào thực vật bị tấn công vào trong phản ứng chết đã lập trình về mặt di truyền của tế bào hoặc phản ứng đột ngất (apoptotic response)? Bằng chứng mới gợi ý là cả hai kiểu quá trình tử vong tế bào xuất hiện, trong cả hai kiểu phản ứng tương hỗ cây trồng - mầm bệnh không tương hợp và tương hợp (Dangl et al. 1996 trong báo cáo này; Mittler và Lam 1996).

 

 

Hình 1  Kiểu phản ứng tự vệ hoạt hóa

Loài oxy phản ứng

Việc sản xuất loài oxy phản ứng (ROS; xem Hình 2) hẳn giữ vai trò chính trên tự vệ cây trồng. Thường phản ứng đầu đã hoạt hoá trong nhiều phản ứng tương hỗ không tương hợp (Hình 1B), điều này có thể là cò lẩy bắt đầu HR. Dole và csv (1983, 1988) là người đầu tiên bó cáo là những anions superoxide (O2-) được tạo ra trong phản ứng tương hỗ không tương hợp, lúc đầu giữa khoai tây và Phytophthora infestans (nấm cháy bìa lá muộn) và sau đó giữa thuốc lá và TMV (nấm khảm thuốc lá:xem bên dưới). Từ những công trình mới có liên quan đến việc cấy tế bào thực vật (Levine et al. 1994; Murphy và Auh, 1996). Hình như rất có thể là cây trồng có một cơ chế tạo ra 02 gồm có một NAOPH oxidase giống như chất được dùng trên neutrophils của động vật có vú (Segal và Abo 1993; Groom et al. 1996). O2 đã phát sinh thường bị không đột biến nhanh về mặt enzym hoặc thông qua xúc tác superoxide dismutase (SOD) thành hydrogen peroxide (H2O2; Hình 2A và 2B, công thức 2 và 3), và như trong nhiều hệ thống thực vật, tích tụ H2O2 được phát hiện (Sutherland 1991; Levine et al. 1994; Mehdy 1994; Numberger. et al. 1994). Ở một pH chua, như pH trên vách tế bào thưc vật, nửa đời sống của superoxide là <1 sec (Sutherland 1991). Vì H2O2 không có điện tử không thích hợp, nó có thể đi qua màng sinh học, loài O2 có điện tích có thể chỉ thực hiện chậm (Halliwell và Gutterridge 1990).

Tuy nhiên, cả hai O2 và H2O2 chỉ hoạt động trung bình, và thiệt hại tế bào bởi ROS hình như sẽ là do sự qui đổi của chúng thành những loài hoạt động hơn. Việc protein-hóa O2, có thể xuất hiện dễ dàng ở pH thấp, cho gốc hydroperoxyl (HO2; hình 2b, công thức 1). Vì HO2 ít có cực so với O2. nó phải có thể đi qua màng sinh học hiệu quả cũng bằng H2O2. Không giống như O2, HO2 có thể tấn công những acid béo trực tiếp (Hình 2C, công thức 12) và đã được trình bày để qui đổi những acids linolenic, linoleic và arachidonic thành lipid peroxides (Halliwell và Gutteridge 1990). Vì thế, trong điều kiện thích hợp, sự phát sinh O2, dẫn đến hình thành HO2, có thể dẫn đến có thể dán đến thiẹt hại cho màng và hình thành nhiều phân tử tín hiệu lipid peroxide tiềm tàng (xem dưới đây).

Với sự hiện diện của Fe2+, H2O2 có thể thực hiện phản ứng Fenton làm tăng lên gốc tự do hydroxyl cực kỳ tàn phá (OH; Hình 2B, những công thức 4 đến 6), có thể bắt đầu peroxy-hóa lipid tự tồn tại (Hình 2C, những công thức 12 đến 14) (xem Hình 2). Nếu H2O2 đi vào nguyên sinh chất tế bào sống sót ở những liều lượng đạt đến nhân của cây trồng hoặc mầm bệnh, nó có thể phản ứng với ion kim loại trong tế bào để cho OH, được biết cắt đoạn DNA bằng tấn công chuyên tính điểm (Halliwell và Gutteridge 1990). Vì thế, việc sản xuất ROS có thể dẫn đến thiệt hại rất lớn cho cây ký chủ và mầm bệnh và cần tế bào thực vật để hoạt hóa nhiều cơ chế bảo vệ (xem bên dưới).

Hình 2  Qui đổi lẫn nhau của ROS phát sinh từ Oxygen phân tử.

Hai kiểu động thái cảm ứng ROS đã được khảo sát trong mẻ cấy huyền phù tế bào thực vật. Thể khơi phát sinh từ mầm bệnh bắt đầu sinh tổng hợp ROS rất nhanh (trong <5 phút), mà, trong ít nhất một ví dụ, cần Ca2+ ngoài và sự hoạt hóa kênh anion (Numberger et al. 1994). Ngược lại, vi khuẩn không độc tố khêu gợi một sự bùng nổ oxýt hóa đầu nhỏ (như những vi sinh có độc tố đẳng gien gần (near isogenic virulent bacteria) rất giống với động thái cảm ứng bởi những mẫu khơi, theo sau bởi sự bùng nổ khối lượng 2-4 giờ sau khi thêm vi sinh vào tế bào thực vật (Levine et al. 1994; Baker và Orlandi, 1995). Sự trì hoãn này có thể giản đơn phản ánh thời gian cần cho tín hiệu không độc tố vi sinh sẽ được cấp cho tế bào thực vật và được xử lý đên một hình thức có thể bắt đầu cơ chế nhận biết.

Có thể ghi nhớ là việc sản xuất ROS với kiểu động thái có thể bị ngăn cản bởi chất ức chế đặc biệt của NADPH oxidase của động vật có vú, như là diphenyleniodonium (Segal và Abo 1993; Jones 1994) Bộ máy tạo ra superoxide của động vật có vú cần một sắc bào cytochrome hai-thành phần gồm có một p22phox liên kết heme và một p91phox liên kết NADPH. Hoat động của phức chất này được điều hòa bởi tình trạng phosphoryl-hóa những proteins p47 và p67 của tế bào chất và GTP , hoặc tình trạng liên kết GDP của RAC2 G-protein. Những kháng thể vơi những thành phần NADPH oxidase khác nhau của động vật có vú lai tréo với proteins có kích cỡ giống nhau tìm thấy trên mẻ cấy tế bào thực vật (Dwyer et al. 1995; Tenhaken et al. 1995; Desikan et al. 1996). Hơn nữa, một gen lúa có đồng nhất chuỗi cao với gp91phox thành phần màng đã được cách ly (Groom          et al. 1996). Một cách tập thể, những dữ liệu này chỉ dấu là thực vật và động vật có vú phát sinh ROS theo những phương pháp giống nhau trong phản ứng tự vệ.

Tế bào thực vật có hai phương pháp khác phát sinh ROS. Một là, một protein oxalate oxidase giống germin có thể tạo ra H2O2 từ oxalic acid đã được phát hiện  trong những phản ứng tương hỗ lúa đại mạch- bệnh phấn trắng Mia1 không tương hợp (Zhang et al. 1995). Hai là, peroxidases của vách tế bào có thể tạo ra H2O2 (Hình 2B, công thức 7-9; Bowell et al. 1995). Mẻ cấy tế bào đậu cô ve bị thách thức bởi hai  mẫu khơi vi sinh khác nhau đã cho biết một gia tăng nhanh khác nhau, theo sau trong một thời gian ngắn bởi tạo ra tạm thời H2O2 đi kèm bởi gia tăng hoạt động enzyme peroxidase. Việc kiềm hoá tạm thời của apoplast, với ph 7,0-7,2, tuyệt đối là cần cho việc phát sinh H2O2 trong hệ thống này. Không có những lộ trình đan xen này để phát sinh ROS có thể bị câm bởi dephenyleniodonium, gợi ý là cây trồng đã tiến hoá ít nhất ba cơ chế để tạo ra ROS trong khi tự vệ. Điều có thể thực hiện sau đó là việc phát sinh ROS trong những phản ứng tương hỗ không tương hợp (cả hai cây ký chủ và phi ký chủ). sẽ xuất hiện thông qua những cơ chế khác nhau trong những loài khác nhau, Một cách đan xen những phần góp tương đối của mỗi cơ chế đến sự bùng nổ oxyt hoá có thể thay đổi từ loài sang loài.

Vài vai trò về ROS trong tự vệ thực vật đã được đề xuất ý kiến. Ví dụ, H2O2  có thể có độc tố trực tiếp cho vi sinh ở những chừng mực đã biết sẽ được tạo ra trên cây trồng (Feng và Kues.1992). H2O2 cũng có thể góp phần vào việc tăng cường cấu trúc của vách tế bào thực vật, H2O2 là cần cho sự hình thành chất tiền tố lignin polymer (đa phân gỗ) thông qua hoạt động của peroxidase (Bolwell et al. 1995); và Bradley et al (1992) đã minh chứng là glycoprotein vách tế bào giàu hydroxyproline và proline được liên kết tréo một cách oxýt hoá nhanh trên vách tế bào sau khi xử lý khơi vi sinh (fungal elicitor). Việc liên kết tréo protein này còn làm giảm "protoplastability" (=tính ổn định chất nguyên sinh) (Brisson et al. 1994), vì thế tạo ra nhanh vách tế bào thực vật cản sự thâm nhập của vi sinh và thoái hoá enzym.

Một vai trò báo tín hiệu về ROS còn có thể thực hiện. H2O2 làm tăng hoạt động enzym của benzoic acid-2 hydroxylase (BA2-H) (Leon et al. 1995), cần cho sinh tổng hợp salicylic acid (SA) (xem bên dưới) Hơn nữa, H2O2 hoạt hoá vài cơ chế bảo vệ ví dụ, biểu hiện gien glutathione S-transferase trên những tế bào lân cận (Levine et al. 1994). Hơn nữa, việc sử dụng trực tiếp H2O2 với mẻ cấy tế bào đậu nành không cảm ứng biểu hiện gien phenylalanine ammonia-lyase (PAL) hoặc chalcone synthase (CHS) (Levine et al. 1994). Vì thế, H2O2 không thể bắt đầu sự tổng hợp gia tăng của phytoalexines kháng vi sinh thông qua sự hoạt hoá những đường dẫn sinh tổng hợp của phenyl-propanoid hoặc flavonoid. Lipid peroxides tạo ra như là một hậu quả của việc phát sinh ROS có thể cũng có một vai trò báo tín hiệu trực tiếp trong tích tụ SA (Leon et al. 1995).

Có một sự rất giống nhau là việc phát sinh ROS sẽ dẫn đến một sự thay đổi về tình trạng cân bằng redox (khử-oxýt hoá) trong những tế bào phản ứng. Trên động vật có vú, nhiều yếu tố sao chép, như là yếu tố NF.kb phản ứng ROS, đã biết sẽ được điều hoà phản ứng redox (Schreck et al. 1991; Meyer et al. 1993). Cân bằng redox có thể còn điều hoà tính ổn định của sao mRNA có liên quan tự vệ đặc biệt trên cây trồng (Mehdy 1994). Trong vài hệ thống sinh học, thay đổi redox còn cảm ứng enzym với hoạt động dọn sạch gốc và sửa chữa nhưng bắt đầu ROS khác nhau phản ứng khác nhau (Herouart et al. 1993). Ví dụ, trên vi khuẩn, hai hệ thống yếu tố sao phản ứng ROS, có tên là oxyR với phản ứng H2O2 (xem lại bởi Storz et al. 1990) và oxyRS với phản ứng O2 (xem lại trong báo cáo Demple, 1991) đã biết. Trên động vật có vú, những tác nhân dẫn đến việc tạo ra O2 không hiệu quả trong việc hoạt hoá NF-kB, nhưng trái lại những tác nhân phát sinh H2O2 thì có hiệu quả (Schreck et al. 1992). Một cách thích thú, bắt chước vết bệnh lsd1, biểu hiện về mặt thành phần những phản ứng tự vệ khác nhau, tạo ra quá mức O2 trước khi vết bệnh hình thành (Dangl et al. 1996, trong báo cáo này), gợi ý là O2 có thể là một trong những tín hiệu phối hợp cảm ứng gien tự vệ thực vật.

Chỉ một khảo nghiệm cung cấp bằng chứng thuyết phục là H2O2 có liên quan trong việc mang tính kháng bệnh. Biểu hiện thành phần của một glucose oxidase phát sinh H2O2 từ Aspergillus niger trong apoplast (=hạt trong)  của khoai tây đột biến điểm dẫn đến tính kháng tốt chống lại mầm bệnh thối nhũn vi sinh Erwinia carotovora sp. carotovora và tính kháng nâng cao chống lại P. infestans (Wu et al. 1995). Tuy nhiên, cơ chế nằm dưới phương pháp bảo vệ tổng hợp này thì không biết.

Tăng cường vách tế bào

Vi sinh phải thoả hiệp với vỏ cây và/hoặc vách tế bào để đi đến tế bào, mặc dù sự xâm nhập thỉnh thoảng có thể xuất hiện qua một vết bệnh hoặc vết mở tự nhiên. Việc tăng cường vách tế bào thực vật có thể làm tăng tính kháng theo nhiều phương pháp. Đối với vi sinh sinh dưỡng ngoại bào, như là Pseudomonas syringae hoặc Gladosporium fulvum, làm lành sẹo vách có thể ngăn cản sự rò rỉ tế bào chất, vì thế lamg giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng đối với mầm bệnh. Đối với vi sinh hoại dưỡng như là Botrytis cinerea, có thể tin cậy vào sự thuỷ phân (hydrolysis) của vách tế bào thực vật trước sự phát triển của sợi nấm, sự phát tán chát có độc tố và enzymes với tế bào thực vật nhạy cảm có thể bị trì hoãn. Ngoài ra, chất tiền tố phenolic trọng lượng nguyên tử thấp của lignin và những gốc tự do tạo ra trong suốt phản ứng đa phân hoá (polymerization) trên vách tế bào có thể ảnh hưởngtính tạo hình của màng mầm bệnh hoặc enzymes mầm bệnh không hoạt hoá, chất có độc tố hoặc mẫu khơi (elicitor) Những sợi nấm tự chúng có thể cũng trở thành lignin-hoá (Mauch-Mani và Stusarenko, 1996). Đối với sinh dưỡng giác bám tinh vi, ngăn cản lối vào vách tế bào loại hiện tượng ký sinh.

Vi sinh tạo ra nhiều enzym thuỷ phân cutinases và vách tế bào, như là pectinases, cellulases, xylanases, và polygalacturonases (PGs), tấn công chất đa phân vách tế bào khác nhau. Áp lực cơ học có thể còn tạo thuận lợi cho vi sinh xâm nhập (Agrios 1988). Mặc dù từng cá thể không có enzym nào đã trình bày trên là tới hạn với những cách đặc biệt phát sinh bệnh (xem Knogge 1996 trong báo cáo này), những hoạt động này tạo ra những đoạn vách tế bào, nhất là vi phân (oligomers) của galacturonic acid, có thể khơi phản ứng tự vệ phụ hoặc phóng đại những phản ứng gốc (Farmer và Ryan 1992; Levine et al. 1994). Ví dụ, PGs được tingóp phần vào việc làm mềm vách tế bào bởi vài vi sinh hoại dưỡng. Proteins ức chế polygalacturonase (PGIPs) ức chế PGs, PGIPs được cảm ứng trên cây đậu- phản ứng tương hỗ của Colletotrichum lindemuthianum với động thái tương tự với proteins có liên quan phát sinh bệnh (PR) (Bell et al. 1986; Nuss et al. 1996). Điều đã được giả định là PGIPs có thể làm chậm hoạt động PG, có thể dẫn đến sự phong phú cao oligogalacturonides có một chiều dài chuỗi >8 đơn vị. Đến lượt, những chất này có thể bắt đầu phản ứng tự vệ phụ (De Lorenzo et al 1994). Một cách đan xen, PGIPs có thể làm chậm tỷ lệ phát triển sợi nấm sao cho những thành phần khác của phản ứng tự vệ có thể triển khai một cách hiệu quả nhiều hơn. Ví dụ, hiển thị thành phần của quả lê PGIP trên cây cà chua đội biến điểm nâng cao tính kháng hiện tượng khuấn lạc hoá của quả chín bởi B. cinerea (Powell et al. 1994). Điều gợi lên tính hiếu kỳ là PGIPs có một miền lập lại giàu leucine (LRR) giống như miền dự báo với vài sản phẩm gien R vô tính (xem Bent 1996 trong báo cáo này), mặc dù sự có ý nghĩa của khảo sát này không rõ nét (Jones và Jones 1996).

Một kiểu tăng cường vách tế bào xuất hiện nhanh trong phản ứng lại sự xâm nhập là sự hình thành những gai (Hình 1C). Gai thường hình thành ngay bên dưới moc thâm nhập và không đồng nhất về thành phần (Heath 1980); chúng được nghĩ ngăn cản về mặt vật lý xâm nhập vi sinh của tế bào ký chủ (Bayles et al. 1990). Tuy nhiên, điều cũng có thể thực hiện là sự hình thành của chúng là cần để cung cấp hỗ trợ đầy đủ về phát triển giác bám kế tiếp trong tình huống đó chúng có thể là cần trong việc phát sinh bệnh (Heath 1980).

Việc lắng tụ callose nhanh trên vách tế bào thường cũng được liên kết với những điểm không tương hợp của mầm bệnh (Hình 1E). Sự lắng tụ callose còn xuất hiện khi mẻ cấy tế bào thực vật bị thách thức với mẫu khơi phát sinh từ mầm bệnh hoặc khi mô thực vật bị tổn thương về mặt cơ học (Kauss 1990). Enzym callose synthase trên màng plasma thành phần xúc tác hình thành chất đa phân beta-1,3-glucan và cần chừng mực tăng của mẫu mồi beta-furfuryl-beta-glucoside và Ca2+ về hoạt động (Kauss 1990; Ohana et al. 1993). Sự ngăn cản plasmodesmata với callose là một thành phần cần của phản ứng tự vệ cần để ngăn cản di chuyển tế-bào-đối-tế-bào của vi sinh (Beffa et al. 1996).

Glycoproteins giàu hydroxyproline cơ bản (HRGPs; Hình 1D) được nghĩ giữ một vai trò chính trong tổ chức của cấu trúc vách tế bào sơ cấp và có thể tác động như tiêu điểm để bắt đầu đa phân hoá lignin (Shơaltler 1993; Bolwell et al. 1995), Một bộ phụ gien HRGP cũng bị cảm ứng chậm trong phản ứng với sự xâm nhập của mầm bệnh không tương hợp, chỉ dấu là một lần nữa sự tổng hợp HRGP là một phản ứng tương đối muộn (Showalter et al 1995). Ngược lại, liên kết tréo oxyt hoá nhanh của chất HRGPs đã thực hiện và proteins PR thông qua liên kết isodityrosine giưa những phân tử hoặc trong phân tử có thể tạo thành một trong những phản ứng sớm nhất kèm theo sự bùng nổ oxyt hoá (Bradley et al. 1992). Extensins có thể cũng tác động như một kiểu giấy ruồi (fly paper) của vách tế bào, có thể làm bất động vài mầm bệnh thực vật, có thể thông qua những phản ứng tương hỗ tĩnh điện (electrostatic interactions) (Showalter 1993).

Một cơ chế phụ nhưng chắc chắn chậm có thể làm cho vách tế bào thấm nước nhiều hơn là việc nâng cao tại chỗ hàm lượng lignin (Hình 1G; Whetten vad Sederoff, 1995). Bằng chứng bắt buộc nhiều nhất với một vai trò lignin hoá trên tính kháng đã được cung cấp bởi Moerschbacher et al (1990) về phản ứng tương hỗ không tương hợp có trung gian gien R giữa cây lúa mì (Triticum aestivum) và bệnh gỉ Puccinia graminis f. sp. tritici. Trong những khảo nghiêm này, việc sử dụng OH-phenylsulfinamoyl-tertiobutyl acetate (PAS) và NH2-PAS, hai chất ức chế tự tiêu diệt không qua lại chuyên tính cao của enzym sinh tổng hợp lignin cinnamyl alcohol dehydrogenase, làm giảm một cách có ý nghĩa tần số của những tế bào ký chủ lignin hoá và hoại sinh và đồng thời cho phép một gia tăng trên sinh khối vi sinh, ở chừng mực hình thành bào tử vi sinh thỉnh thoảng xuất hiện.

Benzoic acid và Salicylic acid

Những mầm bệnh không tương hợp, dù là nấm, vi rút hoặc vi khuẩn thường bắt đầu tích tụ BA và CA tự do và những chất tiếp hợp glucoside tương ứng của chúng, với những nồng độ cao nhất hình thành vùng lân cận liền ngay điểm lây lan. Sự cảm ứng nhưng hợp chất này thường liên kết với HR (Raskin, 1992; cũng xem Ryals et al. 1996 trong báo cáo này). Đường dẫn sinh hoá dẫn đến sinh tổng hợp SA trong quá trình phản ứng tự vệ hiện nay được thiết lập tương đối tốt, nhưng việc điều hoà nó có thể thay đổi giữa loài thực vật. SA phát sinh từ đường dẫn phenylpropanoid, nhưng hình như nó (ít nhất trên cây thuốc lá) là sự tổng hợp SA không điều hoà ở chừng mực sao dịch PAL. Thay vì, thả BA từ một chất tiếp hợp BA đã thực hiện cảm ứng một sắc bào tan P450 monoxygenase (BA2-H) qui đổi BA thành SA. Hoạt động của enzym BA2-H cảm ứng mạnh trước khi xuất hiện HR (Leon et al. 1995). Tuy nhiên, trên cây Arabodopsis (cải dầu) và những loài khác, chất tiếp hợp BA có trước có thể vắng. Trong những tình huống này, chừng mực SA tăng đòi hỏi gia tăng về hoạt động PAL (Mauch-Mani và Slusarenko, 1996). Một cách thích thú, stress oxyt hoá gây ra bởi ozone hoặc ánh sáng cực tím cũng bắt đầu sinh tổng hợp SA trên cây thuốc lá, có thể bởi hoá chất thả BA từ hình thức tiếp hợp của nó (Yalpani et al. 1994).

Điều không rõ có hoặc không sinh tổng hợp SA là một nguyên nhân hoặc một hậu quả của HR. Cả hai giả thuyết có thể có giá trị. Ví dụ, ở những liều lượng cao, SA đã được báo cáo ức chế hoạt động catalase. Điều này có thể làm tăng stress oxyt hoá phát sinh từ tổng hợp tăng ROS (Chen et al. 1993; Conrah et al. 1995). Hơn nữa, những phan ứng tương hỗ giữa SA và catalase và/hoặc ascorbate peroxidase có thể làm tăng thiệt hại gốc tự do SA (Durner và Klessig, 1995; 1996). Sự ức chế SA của catalase được nghĩ xuất hiện thông qua hiện tượng sun (shunting) của một trung gian catalase oxyt hoá. (Hợp chất 1) từ phản ứng quay vòng rất nhanh, thu hồi hoạt động enzym, vào trong vòng phản ứng oxyt hoa kép chậm (slower peroxidative reaction cycle), dẫn đến việc đánh bẫy catalase trong một tình trạng khử không hoạt động và từng phần (hợp chất II; Durner va Klessig, 1996; xem Hình 2D). Khi SA cho một electron cho catalase hợp chất I, điều này được qui đổi dưới hình thức oxyt hoá, SA. Gốc tự do SA này có thể bắt đầu oxyt hoa kép nhanh (Hình 2D) và có thể cũng sửa đổi những phân tử lớn khác (Savenkova et al. 1994). Tuy nhiên, gốc tự do SA không ức chế peroxidases liên quan trong việc phát sinh tổng hợp lignin.

Vài vai trò khác với SA và/hoặc BA trong tự vệ thực vật đẽ được đề xuất. Cả hai loại hợp chất có thể kháng sinh trực tiếp (Raskin, 1992; Kiessig và Malamy 1994). Hơn nữa,  việc sử dụng SA ngoài cảm ứng biểu hiện liên kết của một bộ phụ gien PR trên nhiều loài thực vật (Ryals et al. 1996, trong báo cáo này) Chừng mực SA cao có thể còn ức chế biểu hiện gien cảm ứng vết bệnh bằng cách ngăn cản sinh tổng hợp jasmonic acid (JA) (Pena-Cortes et al 1993; Farmer 1994). Vì thế, tất cả những điểm của không tương hợp vi sinh có trung gian R-Avr, chừng mực SA cao phải đảm bảo là phản ứng tự vệ cần để làm dừng phát triển vi sinh được hoạt hoá, nhưng trái lại những phản ứng chống lại côn trùng nhai và tuyến trùng di trú không đươc cảm ứng một cách không cần thiết.

Một yêu cầu tuyệt đối về SA đã được minh chứng trên tính kháng có trung gian gien R chống lại những loại vi sinh khác nhau. Cây thuốc lá đột biến điểm và những dòng Arabidopsis đã được thực hiện hiển thị về mặt thành phần một gien vi sinh nahG mã salicylate hydroxylase của enzym. Salicylate hydroxylase qui đổi SA tha`nh catechol, và những cây đột biến điểm có chừng mực khử rõ nét SA (Gaffney et al. 1993; Delaney et al. 1994). Thiếu tích tụ SA trên những cây hiển thị nahG tương quan với phản ứng kháng có trung gian gien R tại chỗ suy yếu (Hình 1F) và còn với một khối lượng trong cảm ứng gien tự vệ khác nhau (Ryals et al. 1996, trong báo cáo này). Tuy nhiên, trong phản ứng tương hỗ cà chua-C. fulvum, sự hiện diện của gen nahG không thoả hiệp với tính kháng có trung gian gien Cf (xem bên dưới). Rõ ràng, vai trò của SA trong tự vệ là phức hợp và có thể còn thay đổi từ loài sang loài. Trên cây lúa, không có gia tăng về chừng mực SA tương quan với tính kháng bệnh tổng hợp (Silverman etal. 1995).

Preteins PR và những proteins có liên quan tự vệ khác

Danh xưng protein PR được sử dụng đầu tiên để mô tả nhiều proteins ngoại bào tích tụ trong phản ứng với lây lan TMV của kiểu gien thuốc lá nhiễm. Sau đó, trong nhiều phản ứng tương hỗ cây trồng-mầm bệnh, Cảm ứng gien PR khác biệt được tìm thấy liên kết với tính không tương hợp (Hình 1I, xem lại trong báo cáo Bil. et al. 1990; Linthorst 1991). Mới nhất, định nghĩa của một protein PR đã được phát triển để bao gồm proteins đặt tại chỗ nội và ngoại bào tích tụ trong mô thực vật nguyên vẹn hoặc tế bào có cấy sau khi mầm bệnh tấn công hoặc xử lý mẫu khơi (Bowles, 1990).

Có hoặc không proteins PR giữ vai trò nguyên nhân trong tính kháng? Vài proteins PR có hoặc không có hoạt động kháng nấm hoặc kháng vi khuẩn in vitro và hiện nay đã biết sẽ là chitanases hoặc glucanases, hoặc kết nối chitin (Collinge et al. 1993; Melchers et al. 1994). Sự phân huỷ polysaccharides cấu trúc vách tế bào vi sinh hoặc sự thay đổi kiến trúc vách tế bào nấm, có thể làm dừng lại hoặc không phù hợp nghiêm ngặt với phát triển nấm. Hơn nữa, hiển thị thành phần của chức năng đã biết hoặc không biết của proteins PR trên cây chuyển gien đã dẫn đến tính kháng tăng đến vài mầm bệnh vi sinh (Broglie et al. 1991; Lui et al. 1994). Nói chung, hai sự việc đã xuất hiện từ thí nghiệm về những hiển thị quá mức này. Một là, những hình thức cơ bản của proteins PR, có mục tiêu là khổng (vacuole), hiển thị hoạt động kháng nấm hiệu quả nhiều hơn so với đối tác chua, được tiết ra từ tế bào thực vật (Sela Buurlage et al. 1993); trường hợp biệt lệ độc nhất tính đến nay là protein PR-1a trên cây thuốc lá (Alexander et al. 1993). Hai là, khi hai hoặc nhiều hơn protein PR cùng hiển thị về mặt thành phần, một gia tăng cộng đồng (synergetic) trong chừng mực phòng trị bệnh có thể đạt (Zhu et a;. 1994). Những phát hiện này gợi ý là hoạt động phối hợp của vài gien PR là cần cho tính kháng. Chúng còn chỉ dấu là proteins PR có mục tiêu khổng hoặc bên ngoài tế bò ít có thể sẽ là thành phần của hành động tự vệ tuyến đầu nhưng chắc là có hiệu quả chính của chúng, nhất là chống lại mầm bệnh sinh dưỡng, sau khi phân chia ngăn tế bào có ý nghĩa đã xảy ra. Tuy nhiên, gen mã vài PRs đặt tại chỗ về mặt tế bào chất được hoạt hoá rất nhanh sau khi xử lý mẫu khơi, có thể chỉ dấu là bộ phụ này gồm có những thành phần của phản ứng tự vệ tuyến đầu (Somssich et al 1989; Hahlbrock et al. 1995).

Những chất thionins giàu cysteine cơ bản, tìm thấy chủ yếu trên các loại cây mễ cốc, là một nhóm proteins khác liên quan đến tự vệ có hoạt động kháng sinh đã biết (xem lại báo cáo của Bohlmann, 1994). Giống như proteins PR, những thionins này cũng tích tụ một cách khác biệt trong suốt phản ứng tương hỗ không tương hợp. Một cách thích thú, đường dẫn truyền tải tín hiệu có trung gian JA, riêng biệt với đường dẫn có trung gian SA điển hình dấn đến hoạt hoá gen PR, kiểm tra hiển thị gien thionin trên Arabidopsis (Epple et al. 1995). Lại hiển thị quá mức của một gien alpha-hordothionin trên cây thuốc lá làm tăng tính kháng lại vài mầm bệnh vi sinh.

Công trình nghiên cứu về cảm ứng gien tự vệ trên mẻ cấy huyền phù tế bào ngò tây (parsley) với một mẫu khơi từ P. soja, một phản ứng tương hỗ phi ký chủ-mầm bệnh đã tiết lộ là ít nhất 19 gien EII (mẫu khơi hoạt hoá) riêng biệt được cảm ứng sao dịch trên tế bào thực vật, vài đồng thời với bùng nổ oxyt hoá (Somssich et al. 1999). Những công trình nghiên cứu kế tiếp đã cho biết là thêm vào gien PR cảm ứng một cách điển hình và sinh tổng hợp phytoalexins vài sản phẩm gien EII có liên quan trong chu kỳ nhóm methyl hoạt hoá thường liên kết với hiện tượng chuyển hoá cơ bản (Kawalleck et al. 1992). Cùng những phản ứng được cảm ứng ở những điểm xâm nhập thử của vi sinh vào lá parsley (ngò tây) (xem lị báo cáo Hahlbrock et al. 1995). Khảo nghiệm này thắp sáng sự việc là một đa dạng cực kỳ của proteins thực vật có mục tiêu đến những ngăn tế bào khác nhau tổng hợp hoá một cách phối hợp trong suốt phản ứng tự vệ và là những thay đổi về cả hai chuyển hoá sơ cấp và thứ cấp có liên quan. Ligand bắt đầu những phản ứng này trong những tế bào ngò tây hiện nay đang được xác định như một mẫu khơi 13-amino acid , Pep-13 (Numberger et al. 1994).

Lipoxygenases

            Gia tăng nhanh trên hoạt động của lipoxygenases (LOX) và/hoặc mRNA và chừng mực protein thường được tìm thấy liên kết đặc biệt với tính không tương hợp có trung gian gen R-Avr (xem lại báo cáo của Slusarenko 1996). Hoạt động LOX gia tăng có tể góp phần vào tính kháng theo nhiều phương pháp. Ví dụ, LOX có thể phát sinh phân tử tín hiệu như là JA, methyl-JA, hoặc lipid peroxides, phống đại một cách phối hợp những phản ứng đặc biệt (xem phần trên). Hoạt động LOX có thể cũng tạo ra  thiệt hại màng không thể đảo ngược, có thể dẫn đến rò rỉ hàm lượng tế bào và cuối cùng dẫn đến tử vong của tế bào thực vật (Keppler và Novacky, 1986). Một cách đan xen, những phản ứng có xúc tác LOX có thể dẫn đến việc tạo ra những chất chuyển hoá thứ cấp phát sinh từ acid béo thăng hoa và không thăng hoa có độc tố có thể trực  tiếp tấn công mầm bệnh đang xâm nhập (Croft et al. 1993). Tuy nhiên, hiện nay, chỉ bằng chứng tình huống hiện có với bất kỳ trong những vai trò trên.

            Phytoalexins

            Phytoalexins là những hợp chất có trọng lượng phân tử thấp, thích chất béo (lipophilic) kháng sinh tích tụ nhanh chung quanh những điểm lây lan của mầm bệnh không tương hợp và đáp ứng lại rất nhiều mẫu khơi sinh học và vô sinh (Smith 1996). Sinh tổng hợp phytoalexin xuất hiện sau khi những đường dẫn trệch hướng chất tiền tố chuyển hoá sơ cấp thành chuyển hoá thứ cấp mới. Sự trệch hướng này thường phát sinh từ cảm ứng mới của enzym, như là PAL, những điểm cành chủ yếu trong đường dẫn sinh tổng hợp (Dixon và Palva. 1995). Tuy nhiên, vì tổng hợp của nhiều phytoalexins đòi hỏi hoạt động của nhiều enzymes, biến cố tín hiệu phối hợp cao có thể là cần trên những tế bào bị tấn công để thiệt lập một cách thành công kiểu phản ứng tự vệ này. Một cách thích thú, yếu tố chuỗi cung đã được nhận diện trên những gen thúc đảy vài gen mã emzym cần cho những bước khác nhau trong sinh tổng hợp của flavonoid phytoalexins (Hahlbrock et al. 1995).

            Mặc dù phytoalexins có một hoạt động kháng sinh không thể chối bỏ in vitro, phạm vi vai trò của chúng trong phản ứng lệ thuốc vào gen R trên cây trồng vẫn cần được xác định (Mauch-Mani và Slusarenko 1996). Những khảo nghiệm di truyền mới đã giải quyết vấn đề này. Cây Arabidopsis kiểu hoang dã tạo ra phytoalexins camalexin (Browne et al. 1991), và nhiều đột biến thiếu phytoalexin (pad) đã được phân lập. Một cách thích thú, những đột biến pad1, pad2, và pad3 không can thiệp với tính kháng có trung gian gen RPS2 chống lại nòi P. syringae hiển thị avrRpt2 (Glazebrook và Ausubel 1994). Tuy nhiên, một khảo nghiệm cung cấp bằng chứng có một không hai là phytoalexins góp phần vào tính kháng bệnh. Sinh tổng hợp của phytoalexin resveratol được chuyển gen trên cây thuốc lá bằng cách hiển thị enzym sinh tổng hợp cuối stilbene synthase (Hain et al. 1993). Những cây chuyển gen (đột biến điểm) này biểu hiện tính kháng nâng cao cho nấm hoại dưỡng B. cinerea. Điều này có thể xuất hiện tốt đối với những phản ứng cây trồng-mầm bệnh mà mục đích tông hợp phytoalexins tăng là để làm giảm mức nghiêm trọng lây lan thứ cấp hoặc tỷ lệ phát triển tổng hợp của mầm bệnh có độc tố.

            Sulfur yếu tố, tạo ra như là octasulphur-vòng (S8) mới được tiết lộ sẽ là phyalexin có độc tố với nấm rất nhiều (Cooper et al 1996). Chừng mực cao S8 được trình bày,  bởi vi phân tích tia-x phát tán năng lượng, tích tụ trong tế bào nhu mô li be và mạch libe tiếp xúc với nấm Verticillium dahlia riêng trên kiểu gen kháng của ca cao (Theobroma cacao; Hình 1H). Xuất xứ sinh tổng hợp của S8 trên cây trồng không chắc chắn.

Những hệ thống khảo nghiệm những biến cố lệ thuộc vào gen R-Avr

            Trong phần này, việc sử dụng bốn phản ứng tương hỗ cây trồng-mầm bệnh mô tả đặc tính tốt, chúng tôi sử dụng thứ tự tạm và tầm quan trọng của phản ứng tự vệ riêng mô tả ở trên. Trong mỗi hệ thống, tính không tương hợp được mang bởi những phối hợp gen R-Avr chuyên tính, và trong ba trong những hệ thống này, chuỗi gen có hoặc không gien R và Avr đã biết.

            Tính kháng TMV có trung gian gien N trên cây thuốc lá

            Gien N trên cây thuốc lá mã một điểm liên kết nucleotid (NBS)/protein LRR gồm có trong một miền cuối-N  với vài đồng nhất với miền tế bào chất của Drosophila Toll và protein giống như thể nhận interleukin 1 trên động vật có vú (Witham et al. 1994). Ligand Avr tương ứng đã được nhận diện như là một replicase vi sinh (Padgett và Beachy 1993). Ở 20oC, tính kháng có trung gian N hoạt động, nhưng không hoạt động ở 30oC (Wetsteijin, 1981).Tính nhạy cảm nhiệt độ của phản ứng tương hỗ này cung cấp một cầu dao phân tử để khảo nghiệm hoạt hoá của phản ứng tự vệ lệ thuộc vào gien N trên lá. Vì thế, điều có thể thực hiện lây nhiễm lá của kiểu gen thuốc lá hiển thị N với TMV, cho phép vi sinh lây lan có hệ thống ở 30oC trong 24-48 h, và sau đó hạ thấp nhiệt độ, bắt buộc một cách đồng bộ tính không tương hợp trên rất nhiều tế bào nhiễm.

            Phương pháp tiếp cận này được dùng trong những khảo nghiệm của Doke và Ohashi (1988) về việc phát sinh O2. Khi cây trồng mang N đã bị lây nhiễm với TMV được bắt đầu từ 30oC đến 20oC, tạo ra peroxide gia tăng, và thử nghiệm bởi nhuộm nitroblue tetrazolium và giảm bớt sắc tố C SOD có thể loại, có thể được phát hiện với 2 phút. Sự xâm nhập của SOD, hoặc SOD và catalase, giảm bớt hình thành vết bệnh hoại sinh liên kết với tính kháng TMV. Cùng một hệ thống cũng đã được dùng để khảo nghiệm sinh tổng hợp SA, được bắt đầu trong 4-6 tiếng đồng hồ của chuyển dịch nhiệt độ và liên kết với một gia tăng đồng thời về hoạt động enzym BA2 (Léon et al. 1993).  Vì thế, việc tạo ra ROS đi trước cảm ứng SA, phù hợp với cảm ứng sinh tổng hợp SA bởi stress oxyt hoá (Léon et al. 1995). Vì sự suy sụp cảm ứng vi sinh của mô lá được quan sát lần đầu.ở 10,5 h, SA có thể là cần để phóng lớn phản ứng tự vệ đến điểm ở đó tử vong của tế bào xuất hiện.

            Trong miền xung quanh vết bệnh TMV-N, có tích tụ có ý nghĩa của nhiều protein PR (White và Antoniw, 1991). Tuy nhiên, trên nahG-biến đổi N-thuốc lá, hiển thị gen PR và tính kháng TMV tổn hại trầm trọng  (Hình 1F; Bi et al. 1995; Ryals et al. 1996 trong báo cáo này). Vì thế, SA có thể được xem như là một tín hiệu chính trong việc cảm ứng tại chỗ vài gien PR cũng như trong tính kháng..

Lignin hoá vách tế bào ký chủ ở rìa vết bệnh TMV và sự hình thành phytoalexins chung quanh mô luôn được liên kết với tính kháng có trung gian N (Jaeck et al. 1992). Tuy nhiên cây thuốc lá PAL phản cảm (antisense) (Maher et al. 1994) bị thách thức với TMV, động thái của sự hình thành vết bệnh tại chỗ, và số lượng cuối của chúng và kích thước, không thay đổi, dù cho trung tâm vết bệnh hiện nay xuất hiện màu trắng và không màu nâu do vắng phenolics oxyt hoá (Pallas et al. 1996). Vì tế, hình như không thể là sản phảm của đường dẫn phenylpropanoid (khác hơn SA) có liên quan trong việc giới hạn lây lan vi sinh. Những khảo nghiệm tế bào học có trước cũng đã tiết lộ là những hạt PMV có thể được tìm thấy trong tế bào khoẻ chung quanh vết bệnh hoại sinh, ngay cả khi phát triển vết bệnh đã dừng lại (De Graca và Martin, 1976).

            Chỉ 3-4 h ở nhiệt độ cho phép là cần để tiết lập hình thành vết bệnh tại chỗ bắt đầu N không thể đảo ngược (Dunigan và Madiener, 1995). Vì thế, tất cả những cơ chế báo tín hiệu cảm ứng nhiệt cần cho tính kháng được hoàn tất ít nhất 5 h trước khi HR có thể thấy. Dunigan và Mediener (1995) đã minh chứng là sự ức chế khử-phosphoryl-hoá protein serine/ threonine 1 h trước khi chuyển dịch nhiệt độ đến một mức giảm 80% trong việc hình thành vết bệnh tại chỗ. Vì thế, sự khử-phosphoryl-hoá protein không thể đảo ngược hình như sẽ là phần tới hạn của thác tín hiệu có trung gian N.

            Khi chuyển dịch nhiệt độ từ 30o xuống 20oC bị hoãn lại trên 4 ngày sau sau khi chủng khuẩn TMV, diện tích bị nhiễm lâu nhất vẫn màu xanh và một vòng hoại sinh hình thành chung quanh mỗi hòn đảo xanh (Da Graca và Martin 1976). Trên đảo xanh trung tâm, sự tổng hợp vi sinh đã dừng lại, nhưng trái lại ở rìa, sự tổng hợp vi sinh vẫn còn đang tực hiện. Vì thế, HR có trung gian N hình như đòi hỏi tổng hợp vi sinh hoạt động và không màng sự hiện diện của vi sinh trên tế bào, phù hợp với replicase vi sinh đang là yếu tố xác định Avr (Padgett và Beachy 1993). Một cách đan xen, tế bào ký chủ nhiễm có thể bị tổn hại bởi phát sinh bệnh vi sinh và không thể phản ứng lại tín hiệu vi sinh.

Tính kháng C. fulvum có trung gian gien Cf  trên cây cà chua

Những gien Cf-2, Cf-4, Cf-5 và Cf-9 mang tính kháng những nòi riêng biệt cua C. fulvum hiển tị gien không độc tố tương ứng Avr2, Avr4, Avr5 và Avr9, tương ứng (Hammond-Kosack và Jones, 1994). Bốn gien Cf này đã được vô tính, và mỗi chuỗi DNA dự báo một glycoprotein ngoài tế bào chất trội hơn hẳn, với nhiều LRRs và một neo màng cuối C ngắn (Jones et al. 1994; Dixon et al. 1996; J.D.G. Jones, M. Dixon và C. Thomas (số liệu không công bố). Sản phẩm gien Avr của C. fulvum là những proteins nhỏ <15kD tiết ra từ tế bào vi sinh. Phát triển sợi nấm C. fulvum là ngoại bào một cách độc quyền, cho nên những proteins này có thể nhận từ lá dễ nhiễm bị nhiễm (De Wit, 1992). Mỗi phối hợp gien Cf-Avr dẫn đến việc phát triển sợi nấm dừng lại ở một giai đoạn phát sinh khuẩn lạc riêng biệt, có hoặc không bên trong khoang dưới khổng (substomatal cavity) hoặc tế bào thịt lá kế cận Hình 1I; Hammond-Kosack và Jones, 1994). Việc sử dụng mẫu khơi để hoạt hoá phản ứng tự vệ một cách đồng bộ đã chứng tỏ không giá trị trong việc thắp sáng biến cố cần cho tính kháng có trung gian gen Cf-Avr. Sự hoạt hoá phản ứng tự vệ thực vật đã được khảo nghiệm trên lá nguyên vẹn và mô hai lá mầm, trong những mẻ cấy huyền phù tế bào, và trong những chế phẩm màng phân lập.

            Việc sử dung một khảo nghiệm hai lá mầm in vivo trong đó cây con cà chua 14 ngày tuổi Cf-0, Cf-2 và Cf-9  được thấm với một chế phẩm khơi có sản phẩm gien Avr9 và Avr2, thời gian của phản ứng tự vệ lệ tuộc vào gen Cf-Avr đã được xác định (Hammond-Kosack et al. 1996; May et al. 1996). Sự hình thành superoxide ngoại bào (xác định bởi phương pháp nhuộm nitroblue tetrazolium và ức chế SOD), lipid peroxidation, và làm tăng trong chững mực glutathione tổng số và oxýt hoá (GSH và GSSH) xuất hiện trong 2-4 h trên cả hai kiểu gien hiển thị Cf. Tuy nhiên, việc mở khí khổng tối ưu quá mức bắt đầu ở 3-4 h sau khi lây nhiễm Avr chuyên tính với kiểu gen Cf-9. Muộn hơn (6 h sau), biến cố cảm ứng lệ thuộc vào gien Cf-Avr gồm có hoạt động enzym LOX tăng, ethylene và sinh tổng hơp SA, tích tụ sao dịch gien PR khác nhau, và cuối cùng  tử vong của tế bào ký chủ. Nói chung, proteins Cf khác nhau mã bởi nhưng lô cút không liên kết về mặt di truyền hoạt hoá những phản ứng của ký chủ rất giống nhau, và đáng ngạc nhiên, những phản ứng này cũng xuất hiện rất giống với những phản ứng hoạt hoá bởi protein N trên cây thuốc lá.

            Những mẻ cấy tế bào hiển thị Cf-5 bị thách thức bởi một chế phẩm khơi có Avr5 cho biết một gia tăng nhanh, trong 10 phút, trọng việc tạo ra O2 và H2O2 ngoại bào (Vera-Estrella et al. 1992). Những gia tăng này đi kèm với chua hoá đồng thời của môi trường ngoại bào, tạo ra bởi một gia tăng trong hoạt động H+-ATPase của màng plasma (Vera-Estrella et al. 1994a). Ít lâu sau (1-3 h sau), nhất là những biến cố cảm ứng gồm có lipid peroxidation tăng, nâng cao hoạt động peroxidase ngoại bào và sự tích tụ phenolics ngoại bào. Tử vong của tế bào không bị cảm ứng. Những phần màng plasma giàu phát sinh từ những tế bào hiển thị Cf-5 này cũng đáp ứng đặc biệt mẫu khơi Avr5. Trong 20 phút, gia tăng nhiều trong hoạt động của NADH oxidase và sắc bào C reductase, nhưng một ức chế hoạt động ascorbate peroxidase là hiển nhiên. Những khảo nghiệm chất ức chế chỉ dấu là protein phosphatases và proteins liên kết GTP phải tham gia trong thác sao dịch tín hiêu tự vệ (Vera-Estrella et al. 1994b). Tuy nhiên, một dự trữ nghiêm trọng có liên quan đến những dữ liệu này với tính kháng có trung gian gien Cf5-Avr5 là thiếu thông tin về phản ứng của một dòng tế bào cà chua không hiển thị Cf-5 với chế phẩm khơi đồng nhất.

            Việc sử dụng peptide nhãn 125 , chuyên tính, có thể bảo hoà, và liên kết không thể đảo ngược với màng plasma phân lập từ những lá Cf-0 và Cf-9 đã được hé lộ. Một cách không mong đợi, cùng một số không thay đổi  phân ly thấp cực kỳ 0,07 nM, và một nồng độ nhận 0,8 pmol mỗi mg protein sô ma nhỏ (microsomal) được tìm thấy cả hai kiểu gen. Kooman-Gersmann et al. (1996) gợi ý là thể nhận thực vật đầu trong tín hiệu 28-amini acid Avr9 là một đồng nhất protein Cf-9. Tuy nhiên, như là một kết luận phải được xem xét một cách thận trọng cho đế khi khảo nghiêm nghiêm ngặt bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận thực nghiêm phụ. Vì những sản phẩm gien Avr giả định có một chức năng trong phát sinh bệnh vi sinh (xem Knogge, 1996, trong báo cáo này), thể nhận trong những khảo nghiệm liên kết có thể là mục tiêu tính tương hợp nhiều hơn chuyên tính không tương hợp.

            Để xác định phản ứng tự vệ có trung gian gien Cf-Avr về mặt nguyên nhân có liên quan tính kháng của C. fulvum, vài phương pháp tiếp cận di truyền phân tử đã được dùng. Ví dụ, những cây cà chua có Cf-2 và Cf-9 hiển thị đột biến gen  35S:nahG mà phần lớn loại hoàn toàn tích tụ SA được tìm thấy như là kháng lại C. fulvum như cây cùng cha mẹ không thừa hưởng đột biến gen nahG. Ngược lại, tính kháng có trung gian Tm22  chống lại TMV bị tổn hại trên những dòng cà chua hiển thị 35S:nahG (P. Brading, K.E. Hammond-Kosack, và J.D.G. Jones, dữ liệu không phổ biến). Những quan sát này gợi ý là SA không cần cho tính kháng có trung gian Cf.

            Một phương pháp tiếp cận đan xen là việc phát sinh đột biến Cf đồng nhất có những dòng trước khi chọn với C. fulvum để nhận diện cây đột biến có tính kháng giảm. Một lô cút đột biến dẫn đến tính nhiễm bệnh hoàn toàn và ba lô cút khác gây ra thiệt hại từng phần tính kháng, tất cả không-alen với gien Cf đã biết, đã được nhận diện (Hammond-Kosack et al. 1994; M. Dixon, K.E. Hammond-Kosack , và J.D.G. Jones dữ liệu không công bố). Những lô cút Rcr này (cần cho tính kháng lại Cladosporium; Bảng 1) phải giúp xác định có hoặc không proteins Cf riêng mang tính kháng thông qua cơ chế chung hoặc riêng biệt, và khi vô tính, để nhận diện proteins cần bởi proteins Cf để làm cho mầm bệnh dừng lại.

 

            Tính kháng R. syringae có trung gian gien R trên cây Arabidopsis

            Những nòi P. syringae pv maculicola hiển thị avrRpt2 không độc tố trên kiểu sinh thái Arabidopsis có RPS2, nhưng trái lại những nòi hiển thị avrRpm1 hoặc avrB không độc tố trên kiểu gien Arabidopsis có RPM1. Cả hai gien hình như mã về mặt tế bào chất proteins tại chỗ có một miền zipper leucine cuối N, một NBS, và một miền LRR (Bent etal. 1994;  Mindrinos et al. 1994; Grant et al. 1995; Bent 1996, trong báo cáo này). Tính chất phân tử của ligand phát sinh từ Avr vi sinh tương ứng vẫn là không rõ nhưng có thể là sản phẩm gen Avr chính nó (Gopalan et al. 1996).

            Những phối hợp gien avrRpm1-RPM1 và avrN-RPM1 tạo điều kiện cho một HR có thể thấy trong 5 h chủng khuẩn nhưng trái lại HR đã mang trong phản ứng tương hỗ có trung gian gien avrRpt2-RPS2 không rõ trong 16 h. Vì sự hình thành của HR sau lấn át gien (epistatic) trên HR trước, Ritter và Dangl (1996) gợi ý là vài bước đầu  trong đường dẫn truyền tải tín hiệu bắt đầu bởi cả hai sản phẩm gien R. Nhiều gien có liên quan tự vệ giống nhau cảm ứng về măt chuyên tính trên cả hai loại phản ứng tương hỗ không tương hợp. Tuy nhiên, một cách tò mò, sự hoạt hoá vài gien chức năng không biết riêng liên kết với tính kháng có trung gian RPM1 (ví dụ EII3; Ritter và Dangl, 1996) hoặc tính kháng có trung gian RPS2 (PR1,A/G1, và A/G2, trong gien cảm ứng avrRpt2; Reuber và Ausubel, 1996). Có hoặc không những gien cẳm ứng khác nhau này về mặt nguyên nhân cần cho tính kháng vi sinh không biết. Tuy nhiên, điều rõ ràng là vài mặt của tính kháng bệnh có trung gian bởi RPS2 và RPM1 phải tin cậy vào một đề tài chung vì đột biến ndr1 trên Arabidopsis ảnh hưởng đến tính kháng mang bởi cả hai kiểu gien R, cũng như vài gien RPP mang tính kháng lại Peronospora parasitica (Century et al. 1995; Bảng 1). Lại đột biến gien làm tổn hại cả hai kiểu tính kháng (Delaney et al. 1994). Hai kết quả âm cũng có thông tin: Một là, những đột biến npr1-1 trên cây Arabidopsis không thể hiển thị PR1, còn mang tính kháng có trung gian RPS2, dù cho phản ứng SAR                                 bị tổn hại và cây trồng dễ nhiễm nhiều hơn với những dòng khuẩn có độc  tố  (Cao et al. 1994). Hai là, Bent et al. (1992) cho biết là tính kháng mang bởi RPS2 và RPM7 không bị tổn hại bởi những đột biến  không cảm ứng ethylene ein1 và etr1, minh chứng là phát sinh tín hiệu ethylene không phải là điều kiện tiên quyết đối với tính không tương hợp.

            Tính kháng có trung gian gien Mia, Mig và mio trên cây lúa đại mạch

            E. graminis f. sp. hordei là một vật sinh dưỡng bắt buộc một cách độc quyền tấn công mô lá biểu bì của cây lúa đại mạch. Chúng tôi tập trung ở đây về tính kháng chuyên tính nòi mang bởi nhưng alen của lô cút Mia và Mig và so những lô cút này với những lô cút có trung gian phản ứng tự vệ bởi gien mio liệt chuyên tính không nòi (xem lại trong báo có Jorgensen, 1994; cũng xem Knogge, 1996, trong báo cáo này). Không có điều gì đã biết về tính chất của những yếu tố quyết định không độc tố của mầm bệnh  hoặc những chuỗi gien Mia hoặc Mig.

            Việc khảo sát tế bào học số lượng chỉ dấu là phản ứng tự vệ của tế bào ký chủ có trung gian gien R giả định có thể xuất hiện ở vài giai đoạn riêng biệt của swj phát sinh cá thể (ontogeny) vi sinh, lẹ thuộc vào lô cút R có liên quan. Tính kháng có trung gian alen Mia bao gồm một cách bao trùm HR của tế bào có giác bám, và việc cảm ứng nhiều gien có liên quan tự vệ (Freialdenhoven et al. 1994; Boyd et al. 1995). Tính kháng có trung gian alen Mig hành động sớm và bao gồm sự hình thành gai (papillae formation) (Hình 1C); HR xuất hiện quá muộn để xem như là nguyên nhân vi sinh dừng lại (Gorg et al. 1993). Tính kháng có trung gian mio hoạt động như sưh thâm nhập vi sinh trực tiếp của tế bào biểu bì được thử. Sự dừng lại của gai bao trùm (>99,5%), và chỉ HR ít khi xuất hiện (Wolters et al. 1993), những cây mio cũng một cách tự phát hình thành gai biểu bì trên mẻ cấy không ký chủ (axenik culture). Điều này gợi ý là phản ứng tự vệ trên cây mio có thể cao lên trước khi vi sinh tấn công.

            Sự phát sinh đột biến của những đồng hợp tử Mia và mio đã dẫn đến việc nhận diện vài lô cút lúa đại mạch khác cần cho hoạt động của gen kháng. Những đột biến ở lô cút Rar1 và Rar2 (ban đầu được gọi là Nar1 và Nar2) gây ttổn hại một cách có ý nghĩa tính kháng có trung gian Mia và tạo ra hình thành HR giảm và cảm ứng gen-tự vệ (Freialdenhoven et al. 1994). Tuy nhiên, những alen  rar đột biến không ảnh hưởng tính kháng có trung gian Mig (J. Jorgensen và P. Schulze-Lefert, dữ liệu không công bố). Hai lô  cút lúa đại mạch khác, Ror1 và Ror2 (Freialdenhoven et al. 1996), loại tính kháng và hình thành gai tự phát có trung gian bởi vài alen mio. Một cách thích thú, những đột biến không ở  lô cút ror ảnh hưởng tính kháng có trung gian bởi vài alen của lô cút Mia và Mig (P. Schulze-Lefert, dữ liệu không công bố). Vì thế, trên cây lúa đại mạch hình như là tính kháng mang bởi gien R khác nhau vẽ bản đồ đên những vị trí di truyền riêng biệt điều hành bởi những cơ chế không giống nhau. Trong vài nhưng không phải tát cả mọi trường hợp, lô cút trên cây lúa đại mạch cần cho tính kháng bệnh (rdr) liên kết với gien R tương ứng. (Bảng 1).

            Cơ chế phát sinh tín hiệu

            Một tổng quan về tính phức tạp của đường dẫn truyền tải tín hiệu cần để hoạt hoá và phối hợp phản ứng tự vệ thực vật được trình bày trong Hình 3. Đa được dự kiến là proteins R hành đông như thể nhận để phát hiện tín hiệu lệ thuộc vào Avr vi sinh và vì thế bắt đầu phát sinh tín hiệu cuối nguồn. Một cách đan xen, nhận biét tín hiệu Avr có thể liên quan một/nhiều protein khác, với hoạt động protein R cư trú ở bước giới hạn tỷ lệ sớm trong thác truyền tải tín hiệu hoặc tại một điểm xen tiếng (cross-talk) tiềm tàng giữa những đường dẫn phát sinh tín hiệu riêng biệt. Việc nhận diện vị trí tế bào đúng của những lớp protein R khác nhau trên cây khoẻ và cây bị thách đố được chờ đợi một cách thiết tha. Đối với tính kháng cảm ứng không ký chủ, những vai trò giống nhau về những proteins chủ yếu có thể thực hiện (Boller, 1995; Numberger et al. 1995; Mithofer et al. 1996), nhưng biến cố bắt đầu trước có tể là khác nhau.

            Ngay cuối nguồn của nhận thức mầm bệnh, sự hoạt hoá protein kinases hiên có trước, phosphatases, và proteins G có thể có nhiều trong những bước kế tiếp (Hình 3; Staskawicz et al. 1995; xem thêm Bent, 996, trong báo cáo này). Một protein kinase thứ hai, Pti, đã được trình bày phản ứng tương hỗ với protein Pto trên cây cà chua, vì thế việc bắt buộc một thác protein kinase trong hành động của protein R (Zhou et al. 1995). Những biến cảm ứng nhanh khác đâ được khám phá gồm có phosphoryl-hoá protein/khử phosphoryl-hoá, làm thay đổi trên nồng độ Ca2+, dòng ion, đã làm tăng chừng mực inositol triphosphate và diacylglycerol, và những thay đổi theo tỷ lệ protein với GTP hoặc GDP liên kết (Dixon et al. 1994; Low và Merida 1995; Ward et al. 1995).

            Có hoặc không những biến cố phát sinh tín hiệu đầu hoạt hoá hiên thị gen de novo (mới)? Hoặc chúng điều hoà lên enzym sinh tổng hợp có liên quan tự vệ có trước? Hoặc dẫn đến việc thả chất tiền tố dự trữ của những hợp chất tự vệ? Những câu hỏi này không được giải đáp, và những câu trả lời chắc là thay đổi từ phản ứng sang phản ứng.ếự cảm ứng nhanh cực kỳ của bùng nổ oxyt hoá và/hoặc sinh tổng hợp ethylene (Baker và Orlandi 1995; Bollẻ 1995) gợi ý là cảm ứng gien không cần cho những câu trả lời này. Việc liên kết tréo của protein vách tế bào và sự lắng tụ callose hinhi như cũng không liên quan đến sự hoạt hoá gen. Ngược lại, gia tăng nhanh trong những hoạt động PAL và CHS có liên hệ tương hỗ tốt với sự hoạt hoá gien (Logemann et al. 1995a). Chừng mực SA nâng cao chắc là xảy ra bằng cách gia tăng hoạt động BA2-H có trước để qui đổi BA dự trữ thành SA và/hoặc bằng cách tổng hợp proteins PAL và BA2-H de novo (Leon et al. 1995; Mauch Mani và Slusarenko, 1996).

            Khi những phản ứng tự vệ sớm nhát đã được hoạt hoá, tính phức tạp của đường dẫn sinh hoá học trong tế bào tương ứng có thể làm tăng rất nhiều khi những phân tử tín hiệu mới được phát sinh (Hình 3). Thứ tự này của những biến cố phát sinh tín hiệu chắc có thể cung cấp khung tổng hợp để cảm ứng một cách phối hợp nhiều phản ứng tự vệ khác nhau trong ngăn tế bào khác nhau. Việc phóng đại rất lớn phản ứng tự vệ chuyên tinh xảy ra sau đó, thông qua phản hồi đương hoặc xen tiếng tín hiệu. Sự cảm ứng gien giữ nhầ khác nhau cũng có thể đi kèm phản ứng tự vệ để đảm bảo là tập hợp đầy đủ hợp chất tiền tố được bảo quản (Kawalleck et al. 1992). Hơn nữa, trên những mô thực vật non, histone và hiển thị gien có điều hoà chu kỳ tế bào có thể bị ngăn chặn để đổi hướng lại tất cả những tài nguyên tế bào khả dụng cho chuyển hoá có liên quan tự vệ (Logemann et al. 1995b) hoặc loại từ tử vong tế bào.

            Ở vài giai đoạn trong phản ứng tương hỗ không tương hợp, thiệt hại phải chịu trên tế bào ký chủ phản ứng và mầm bệnh. Như là một kết quả, sự hình thành phân tử tín hiệu phụ xuất hiện ở liên diện ký chủ-mầm bệnh, chắc theo cách ít kiểm tra. Loài vi sinh riêng biệt và cach phát sinh bệnh của nó có thể ảnh hưởng tính đa dạng của mẫu khơi đời 2 được tạo ra. Những tín hiệu mới này, ví dụ, gồm có mảnh chitin, lipid peroxidé, arachidonic acid, mảnh oligosaccharide của vách tế bào, và một thay đổi tại chỗ trong tình trạng redox (khử-oxyt hoá) tế bào (Hình 3; Farmer và Ryan 1992; Baker và Orlandi, 1995; Boller 1995). Như là một hậu quả, một sóng thứ hai nhận biết tín hiệu và biến cố truyền dẫn có thể xuất hiện có thể hoạt hoá phản ứng tự vệ phụ, phóng đại/loại trừ phản ứng gốc, hoặc cảm ứng tử vong tế bào.

            Sự hoạt hoá của cơ chế bảo vệ tế bào chuyên tính có thể đi kèm phản ứng tự vệ. Những cơ chế này gồm có việc điều hoà lên chu kỳ Halliwell-Asada tế bào chất giữ ở mức thấp nhất  những hậu quả stress oxyt hoá (Hình 3). Hơn nữa, sao dịch tăng của SOD chuyên tính và gen catalase có thể xuất hiện để đảm bảo là hoạt động enzym tối đa được duy trì trong những ngăn tế bào thich hợp (Bowler et al. 1994). Ví dụ,  thể hiện những gien glutathione peroxidase, glutathione-S- transferase, và polyubiquitine đã được khám phá trong những phản ứng tương hỗ không tương hợp (Mauch và Dudler., 1993; Hahn và Strittmatter, 1994; Levine et al. 1994). Hoạt động glutathione peroxidase có thể ngăn cản tử vong tế bào trong những hệ thống động vật có vú (Kockenbery et al. 1993), nhưng trái lại glutathione - S- transferase khử độc những sản phẩm peroxit hoá màng lipid và những sản phẩm khác của stress oxyt hoá tế bào (Berhane et al. 1994). Polyubiquitin cần cho việc tái chế protein hư hại; cây thuốc lá hiển thị quá mức một đột biến tạo ra những vết bệnh hoại sinh phát triển tự phát (Becker et al. 1993). BA, SA, và những phenolics khác có thể hành động như những chất ăn gốc tự do bảo vệ tế bào khỏi  ngộ độc oxyt hoá (Leon et al. 1995). Vì thế những đột biến trên gien tạo điều kiện cho những đường dẫn tín hiệu trong việc hoạt hoá gien bảo vệ tế bào có thể giải trình kiểu hình lây lan vết bệnh không kiểm tra phản ứng lại mầm bệnh không độc tố tiêu biểu của vài bắt chước vết bệnh (xem Dangl et. 1996, trong báo này).

            Nói chung, sự phối hợp thời gian và không gian chính xác của phản ứng tự vệ cảm ứng là cần để tiêu diệt thành công hoặc có vi sinh xâm nhập trong khi đồng thời giữ ở mức thấp nhất thiệt hại mô cây ký chủ. Trên một/nhiều tế bào bị tấn công đầu tiên, phản ứng nhanh có thể cuối cùng dẫn đến tử vong tế bào, nhưng trái lại trên những tế bào chung quanh, tự vệ cảm ứng có thể là lệ thuộc vào sao dịch nhiều hơn. Tầm cỡ và kiểu tín hiệu nhận biết bởi những tế bào lân cận lệ thuộc vào tỷ lệ tương đối phát sinh tín hiệu, phát tán, phẩn ứng về phía những phân tử lớn. Lại, khi plasmodesmata liên kết với callose, khi những cơ chế bảo vệ tế bào trở thành ít bị quá tải, và khi cấu trúc vách tế bào bị sửa đổi bởi liên kết tréo của proteins vách tế bào và biến cố lignin hoá, những lộ trình symplastic và apoplastic trong những phân tử tín hiệu bị ngăn cản. Điều này có thể dẫn đến việc đóng dần đường dẫn phát sinh tín hiệu tự vệ sau khi vi sinh xâm nhập đã có một cách thành công.

            Đánh giá hoạt động của cơ chế tự vệ và phát sinh tín hiệu

            Điều gì là phản ứng liên quan tương hỗ với sự nhận biết có trung gian gen R-Avr hiện nay làm dừng phát triển của mầm bệnh? Để gán cho một chức năng vào mỗi phản ứng tự vệ, hai phương pháp tiếp cận di truyền phân tử phụ có thể được thực hiện. Một là, mất đi hoạt động có múc tiêu có thể được hoàn tất bằng cách loại antisense thành phần, cùng loại trừ, hoặc nhãn transposon để loại trừ một hoặc tất cả những thành phần của một họ gien tự vệ riêng biệt. Một cách đan xen, tổn thất có mục tiêu của phân tử tín hiệu riêng, thông qua cùng những phương pháp tiếp cận thực nghiệm có thể là giảmdòng chảy qua thác phát sinh tín hiệu chuyên tính và đồng thời loại trừ một bộ phụ phản ứng tự vệ. Tuy nhiên, vì sự dư thừa vốn có của nhiều phản ứng tự vệ, chắc là chỉ tính kháng không thích hợp từng phần sẽ nhận được theo bất kỳ lộ trình nào.

            Việc phát sinh đột biến không mục tiêu của những dòng hiển thị gien R, theo sau là việc chọn những đột biến nhạy cảm bệnh, đã chứng tỏ bổ ích trong việc nhận diệnnhững gien khác cần cho tính kháng bệnh (Bảng 1). Những đột biến trên cung cấp công cụ rất tốt để giải phẫu về mặt di truyền phần góp của phản ứng tự vệ khác nhau và đường dẫn phát sinh tín hiệu đến tính kháng. Trong nội dung này, những đột biến tìm thấy có ảnh hưởng tiềm tàng có liên quan đến qui trình sinh học, như là stress lạnh và tính nhạy cảm với độc tố của mầm bệnh, cũng phải được thử nghiệm về khả năng của chúng làm tổn hại tính kháng. Sự phát sinh lại đột biến của những đột biến để tìm ra thu hồi tính kháng, nghĩa là, nhận hoạt động, có thể nhận diện chất điều hoà âm trong đường dẫn phản ứng tự vệ. Một cách đan xen, những chất hoạt hoá (promoters) gien tự vệ có thể hoà với những gien báo cáo khác nhau, như là những gien mã beta-glucuronidase (GUS), protein phát quang xanh lá cây (GFP), hoặc luciferase (LUX). Cây đột biến gen đồng hợp tử có thể bị đột biến và chọn để nhận diện đột biến tạo điều kiện cho tính không phản ứng (nonresponsiveness) (ví dụ không hiển thị gien báo cáo) sau thách thức vi sinh hoặc mẫu khơi (elicitor). Việc khảo nghiệm kế tiếp sẽ xác định có hoặc không những đột biến trên cũng bị tổn hại về tính kháng bệnh.

            Để nhận diện mạng phát sinh tín hiệu cần để hoạt hoá tự vệ, phản ứng tương hỗ vô tính (Phizicky và Fields 1995) hoặc nhãn phân tử những sản phẩm gien R và/hoặc Avr phải nhận diện những proteins phản ứng tương hỗ cuối nguồn tức thời. Phương pháp tiếp cận quanh co là làm việc chậm tiến trong phản ứng tự vệ bằng cách nhận diện yếu tố sao dịch liên kết những miền hoạt hoá chuyên tính hoặc enzymes hoạt hoá phức protein riêng biệt. Tính phức tạp tăng và chuyên tính giảm của những phản ứng hoạt hoá khi tính không tương hợp tiến triển (Hình 3) gợi ý là việc chọn phản ứng cảm ứng tương đối nhanh như một điểm bắt đầu với chiến lược thứ hai không thể cho những kết quả có liên quan trực tiếp với hành động của protein R.

            Việc giản đơn hoá hệ thống khảo nghiệm phải về mặt lý thuyêt giup nhận diện phản ứng cảm ứng chủ yếu. Việc dùng mẫu khơi đã xác định hoặc việc đồng bộ hoá lây lan vi sinh đã giúp giải quyết tốt những biến cố cảm ứng nhanh nhiều hơn cũng như mục tiêu tiềm tàng về việc khảo nghiệm hạ gục (knockout) gien, Đánh dấu vi sinh với GUS, GFP, và LUX cho phép xác định vị trí không gian và xác định số lượng sinh khối của mầm bệnh. Điều này cho phép thời gian của phản ứng cảm ứng ký chủ sẽ bắt buộc quá mức trên việc phát sinh cá thể vi sinh (microbial ontogeny), srx chỉ dấu có hoặc không một phản ứng tự vệ chuyên tính hoạt hoá ở một địa điểm thích hợp và trước phân kỳ về tỷ lệ phát triển những chủng có độc tố và không độc tố. Những mẻ cấy tế bào thực vật thường được dùng để giản đơn hoá hệ thống khảo nghiệm xa hơn. Tuy nhiên, do hình thái học riêng biệt của tế bào đã cấy, có thể tạo ra những khác biệt về nồng độ oxy và tình trạng dinh dưỡng, và tiềm tàng trong một tỷ lệ lớn phát tán tín hiệu so với một hệ thống nguyên, ở nơi nào có thể thực hiện những kết quả đạt phải được xác minh bằng cách dùng mô thực vật nguyên vẹn.

Kết luận

Thời gian phấn khởi nằm phía trước hiện nay là vài gien R đã được vô tính và những lô cút rdr khác đã được nhận diện (Bảng 1). Một cách rõ ràng, có sự bảo tồn rất lớn những cơ chế phát sinh tín hiệu tự vệ giữa những loài thực vật vì vài lớp khác nhau gien R cũng mang tính kháng khi hiển thị trên những loài thực vật không đồng nhất. Những ví dụ gồm có gien N thuốc lá trên cây cà chua (Whitham et al. 1996); gien Pto cà chua trên cây thuốc lá (Rommens et al. 1995 Thilmony et al. 1995), và những gien Cf cà chua trên cây thuốc lá và khoai tây (K.E. Hammond-Kosack và J.D.G. Jones, dữ liệu không công bố). Nhưng có hoặc không những proteín R khác nhau hoạt hoá cơ chế kháng riêng biệt? Nói chung, bằng chứng cung cấp bởi những khảo nghiệm tình huống trình bày trên gợi ý điều ngược lại. Những dữ liệu này minh chứng là có thể có một hội tụ nhanh những biến cố phát sinh tín hiệu lệ thuộc vào gien Avr-R hoạt hoá đầu tiên thành một hoặc vài đường dẫn chung phối hợp phản ứng tự vệ tổng hợp. Có hoặc không cùng những đường dẫn này còn được hoạt hoá bởi mẫu khơi không chuyên tính thì không biết. Bất kỳ phương pháp nào, việc nhận diện và mô tả đặc tính của những đột biến phụ ảnh hưởng những lớp khác nhau của tính kháng có trung gian gien R và không ky chủ có thể giúp trả lời câu hỏi này.

Phát triển của mầm bệnh bị giới hạn ngay trong những phản ứng tương hỗ tương hợp về mặt di truyền. Một tỷ lệ lây nhiễm luôn không phát triển (Ashfield et al. 1994), và miền phát sinh khuẩn lạc/bào tử thường được xác đinh ranh giới bên trong vết bệnh (lesion), nốt mụn (pustule) hoặc thối mục (canker) (Agrios 1988). Tuy nhiên,  vài loài vi sinh như là Phytophthora sp, bệnh cháy lửa vi sinh, và vi rút tristeza trên cây có múi đều là những kẻ tàn phá thực vật. Tại sao? Bằng cách chọn những đột biến trên cây Arabidopsis với triệu chứng bệnh tăng đến R. syringae có độc tố. Glazebrook et al. (1996) đã nhận diện 10 lô cút eds làm cho tính nhiễm bệnh tăng. Ba trong những lô cút đột biến giống nhau với lô cút gây tổn hại các mặt riêng biệt của phản ứng tự vệ có trung gian gien R (ví dụ hai lô cút pad có liên quan trong sinh tổng hợp phytoalexin, và npr1, có thể có alen với nim1, gây tổn hại hiển thị gien PR1 và phản ứng SAR (Cao et al. 1994; Delaney et al. 1995). Vì thế, vài cơ chế tự vệ hình như giới hạn phát triển vi sinh trong những phản ứng tương hỗ không tương hợp và tương hợp. Trong phản ứng tương hỗ cộng sinh cây trồng, ví dụ, với Rhizobium hoặc rễ căn (Mycorrhizal sp.) nhiều phản ứng tự vệ đã biết được hoạt hoá (Gardner et al. 1996; xem thêm Gianinazzi-Pearson 1996, và Pawlowski và Bisseling 1996 trong báo cáo này). Có hoặc không gen tự vệ trong những phản ứng tương hỗ tương hợp này của sự có ý nghĩa chức năng về việc phát sinh bệnh hoặc cộng sinh hoặc ccó hoặc không điều này dừng lại đầu vào của đấu thủ không mong đợi? Chắc là hai hoạt động đều quan trọng.

Một tính kháng có trung gian gien  R-Avr là một đặc tính tự trị của tế bào (Bennetzen et al. 1988) trong đó sự đảm bảo (hallmark) về có mầm bệnh thành công là một nhận thức nhanh của mầm bệnh dẫn đến cảm ứng phối hợp của nhiều cơ chế tự vệ khác nhau bên trong tế bào bị tấn công đàu tiên cũng như những tế bào chung quanh. Nhưng dù cho tính kháng này có thể là một phối hợp phản ứng cảm ứng thêm vào tự vệ đã thực hiện. Nhiều phản ứng tự vệ riêng xuất hiện như là chất phụ vào hiệu ứng của chúng trên tính kháng, và hiệu quả nhất  tính kháng chuyển gien thường được quan sát khi phản ứng không đồng nhất dẫn đến trường hợp (Hain et al. 1993). Nhưng tầm quan trọng của vài phản ứng cảm ứng liên kết với tính không tương hợp

RGC

 

Trở về Trang Chính