|
Introduction: (Phần dẫn nhập:)
Tài
liệu này sẽ cung cấp cho người quan tâm đến những phương pháp
của cuộc sống người Mỹ sớm vài thông tin về xà phòng và phương
pháp chế tạo xà phòng. Phương pháp chế tạo xà phòng là một kỹ
năng trong gia đình thường bị bỏ quên trong phần thảo luận về
những ngày dưới chế độ thuộc địa. Xà phòng có giá trị lớn trong
việc giữ gìn nhà cửa một nơi tốt nhiều hơn để sống và làm việc.
Xưởng
sản xuất xà phòng bởi những người thuộc địa gian khổ từ tro gỗ
và mỡ thừa là bằng chứng về việc tự sản tự tiêu của người Mỹ sớm
và sở hữu tài nguyên. Xà phòng, một mặt hàng dễ nhận của chúng
ta, được tạo ra bởi việc đun sôi dung dịch kiềm tro gỗ và các
loại mỡ với nhau. Lòng mong muốn và thu mua xà phòng đã viết
những trang riêng của của nó trong lịch sử của người Mỹ sớm.
Xà
phòng, đang dùng trong những năm khi nước Mỹ là một thuộc địa
của Anh và sau đó một nước cộng hòa trẻ, được chế tạo từ bồ tạt
hoặc bồ tạt tinh chế (pearlashes). Loại xà phòng này có nền bồ
tạt, thường chỉ là loại sản xuất từ lần khám phá đầu chế tạo xà
phòng đến nửa đầu thế kỷ 19. Sau đó phương pháp LeBlanc nhận
soda ăn da, một sodium có nền kiềm, từ một dung dịch mặn được
thực hiện ở chừng mực công nghệ.
Trải
qua nhiều thế kỷ, đã có những lúc khi người ta có thể chế tạo xà
phòng bằng cách sử dụng một hình thức sodium kiềm như được thực
hiện ngày nay, Người Ai Cập được nghĩ đã sử dụng trầm tích soda
địa phương như nguồn kiềm của họ khi người Tây Ban Nha đã làm
trong thế kỷ 8. Lại những người trong miền ven biển khác nhau đã
đốt cỏ biển để tạo ra sodium có nền barillia trong chất kiềm của
họ.
Những
đến nay loại xà phòng thường nhất được chế tạo từ bồ tạt và bồ
tạt tinh chế (pearlashe). Bồ tạt và bồ tạt tinh chế là những
hình thức bồ tạt có nền kiềm hiện có trên cây trồng và vật liệu
gỗ. Những loại xà phòng bồ tạt và bồ tạt tinh chế được dùng bởi
mọi người từ những đế chế trị vì đến nông dân hoặc người thôn
dã, những người làm xà phòng riêng từ các loại mỡ thừa và tro họ
để dành.
Nhiều
người đã làm xà phòng trải qua nhiều thế kỷ không có khái niệm
về điều gì xuất hiện. Họ chỉ làm xà phòng bởi khảo nghiệm và sai
số, bởi gặp may, và tin dị đoan làm cách nào chế tạo xà phòng.
Khi người ta hiểu việc chế tạo xà phòng là phản ứng tạo ra xà
phòng, tôi sẽ nói với bạn sau.
First soaps- (Xà phòng đầu)
Điều
này chắc không thể dẫn chứng bằng tài liệu; những điều này là xà
phòng có thể thực hiện có thể đã được khám phá ngay trong thời
kỳ tiền sử. Những người sớm nấu thịt trên lửa có thể đã ghi chép
sau một trận mưa bão có bọt kỳ lạ chung quanh những phần còn lại
trên lửa và tro của nó. Chúng có thể đã được ghi chép khi nước
được đặt trong một chậu đã dùng để nấu thịt và sau đó có tro
trong đó, thường xuất hiện với việc nấu nướng ngoài trời, lại có
loại bọt kỳ lạ này. Những người đàn bà này, có thể nhiều người
đã giặt giũ, có thể cũng đã thấy chậu sạch nhiều hơn hoặc ít
nhất sạch hơn bình thường.
Điều đã
được ghi chép là Babylon đã làm xà phòng ước chừng 2800 năm
trước C.N. và điều này đã được viết Phoeni ước chừng 600 năm
trước C.N. Đây là những tài liệu tham khảo đầu về xà phòng và
cách làm xà phòng trong việc sử dụng xà phòng giặt sạch sợi vải
như len và bông vải trong việc chuẩn bị dệt thành vải.
The Romans and Celtics (Người La Mã và người
Keltic)
Những bằng chứng đầu xác định và có thể chấp nhận
về việc làm xà phòng được tìm thấy trong lịch sử của người La Mã
cổ đại. Pliny, người nghiên cứu lịch sử La Mã, đã mô tả xà phòng
đang được chế tạo từ mỡ (tallow) dê và ăn da tro len. Ông còn
viết một muối thường được thêm vào để làm xà phòng cứng. Sự điêu
tàn của Pompeii cho biết một xưởng làm xà phòng hoàn toàn với
những thanh hoàn tất.
Trong
khi người La Mã nổi tiếng về việc tắm công cộng, thường xà phòng
không được dùng để vệ sinh cá nhân. Để làm sạch cơ thể người Hi
Lạp và sau đó người La Mã có thể chà cơ thể với dầu ô-liu và
cát. Một cái nạo (scraper), được goi là vật kỳ cọ (strigil), sau
đó được dùng để làm sạch cát và dầu ô-liu và còn lấy đi chất dơ,
mỡ, và tế bào chết từ da để cho da sạch. Sau đó da được kỳ cọ
với sáp (salves) chế tạo từ cỏ.
Qua
lịch sử người ta còn được biết tắm trong nước cỏ và những phụ
gia vào môi trường tắm được nghĩ là có lợi. Điều đã được biết là
Cleopatra, người quyến rũ những lãnh tu của Thế giới La Mã, có
sắc đẹp là do tắm trong sữa lừa cái. Trong thế kỷ đầu của xà
phòng kỷ nguyên chung được dùng bởi những bác sĩ trong việc điều
trị bệnh. Galen, một bác sĩ thế kỷ 2, đã khuyến cáo việc tắm với
xà phòng có thể là có lợi trong vài điều kiện da. Xà phòng trong
việc vệ sinh cá nhân trở nên phổ biến trong những thế kỷ sau của
kỷ nguyên người La Mã.
Người
Keltic còn được nghĩ bởi nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã khám
phá việc chế tạo xà phòng và sử dụng nó trong việc tắm rửa. Có
thể là do viêc tiếp xúc tăng với người Keltic bởi người La Mã,
sử dụng xà phòng trong việc vệ sinh cá nhân trở thành phổ biến.
Điều
cũng quan trọng là để nhớ lại khi viết sử về những kiểu sinh
hoạt không có xu hướng lớn và được phổ biến trên khắp thế giới
thông qua thông tin đại chúng như là chúng ta có ngày nay. Việc
sử dụng và hiểu biết về kỹ năng phổ biến và nghệ thuật có thể
thay đổi từ một địa phương này sang địa phương khác. Khi họ bắt
đầu sử dụng xà phòng trong khi tắm chung trong thế kỷ 3 sau C.N.
trong nhiều thành phố chính, người dân trong những làng xã nhỏ
có thể đang sử dụng dầu ô liu, cát, và phương pháp kỳ cọ. Người
Keltic có thể đã rửa mặt mối ngày với xà phòng từ lâu trước khi
người La Mã vượt qua dãy Alpes ở Ý. Ngày tháng có thể là đúng
khi giải quyết những biến cố như chiến tranh, sinh đẻ và tử
vong. Nhưng không sử dụng mỗi ngày. "Tình trạng nghệ thuật" thay
đổi lệ thuộc vào thời gian và địa điểm.
Có một
truyền thuyết thích thú chung quanh việc khám phá phương pháp
chế tạo xà phòng. Truyền thuyết này phù hợp với việc khám phá xà
phòng với người La Mã vì thế điều này phải là một truyền thuyết
La Mã để đương đầu với người Keltic than phiền về việc làm xà
phòng. Chắc là những người sáng tạo này khám phá việc làm xà
phòng bởi những người đàn bà giặt quần áo dọc theo sông Tiber
dưới chân đồi Sapo. Người đàn bà nhận thấy quần áo sạch hơn với
ít cố gắng nhiều hơn ở nơi đặc biệt đó. Điều gì đã đang xảy ra?
Tro và mỡ động vật từ những ngọn lửa cúng thần của đền miếu nằm
trên đỉnh đồi Sapo cùng với nước mưa, làm ra xà phòng và chảy
xuống sườn đồi thành những dòng chảy nước mưa cho những người
đàn bà một ngày giặt giũ thuận lợi. Bạn có thể thấy qua việc xà
phòng hóa, tên hóa học của phản ứng xà phòng hóa mang tên đồi
trên ở La Mã từ lâu đời, làm cho một người đàn bà giặt giũ La Mã
nói với một người đàn bà khác "Quần áo tôi giặt sạch nhiều hơn
quần áo bạn".
Hinh 1: Đồi Sapo
The European Dark Ages (Thời đại u ám ở châu
Âu)
Sau sự sụp đổ của đế chế La Mã ở Tây Âu, việc chế tạo xà phòng
ít được thực hiện hoặc sử dụng nó ở thời đại u ám ở châu Âu.
Trong đế quốc Byzantine, phần còn lại của thế giới La Mã ở miền
Đông Địa Trung Hải, và trong việc mở rộng thế giới Ả Rập xà
phòng được chế tạo và sử dụng. Ước chừng thế kỷ 8 việc làm xà
phòng sống lại ở Ý và Tây Ban Nha. Trước thế kỷ 13, nước Pháp
cũng cung cấp xà phòng cho thị trường châu Âu. Trong thế kỷ 14,
việc làm xà phòng bắt đầu ở Anh.
Sau sự sụp đổ của đế chế La Mã ở Tây Âu, việc làm xà
phòng ít được thực hiện hoặc sử dụng nó trong thời đại u ám ở
châu Âu. Ở vương quốc Byzantine, phần còn lại của thế giới La Mã
ở miền Tây Địa Trung Hải, và thế giới Ả Rập mở rộng xà phòng
được chế tạo và sử dụng. Ước chừng thế kỷ 8 việc làm xà phòng
được sống lại ở Ý và Tây Ban Nha. Ước chừng thế kỷ 13, nước Pháp
cũng trở thành nước cung cấp xà phòng cho thị trường châu Âu.
Trong thế kỷ 14, việc làm xà phòng được bắt đầu ở Anh. Các loại
xà phòng sản xuất ở miền Nam châu Âu, Ý, Tây Ban Nha và những
cảng Nam nước Pháp (xà phòng Marseille và Castle) được chế tạo
từ dầu ô liu. Những loại xà phòng này sử dụng dầu ô liu có chất
lượng cao so với xà phòng của nhà sản xuất người Anh và miền Bắc
nước Pháp. Những nhà sản xuất xà phòng miền Bắc này, không thể
nhận dầu ô liu, làm cho xà phòng của họ chỉ làm bằng mỡ động
vật. Mỡ đông vật (tallow), mỡ lấy từ súc vật, là loại mỡ chính
đã dùng. Những nhà sản xuất xà phòng Bắc Âu sử dụng phương pháp
chế tạo xà phòng từ dầu cá. Xà phòng chế tạo từ mỡ động vật và
dầu chất lượng kém, trong khi đủ cho việc giặt ủi và công nghệ
dệt, không thể mong đợi trong việc tắm giặt. Xà phòng từ Nam Âu
với dầu ô liu của họ có chất lương tốt nhiều hơn. Điều này đưa
đến việc kinh doanh sinh động xuất khẩu xà phòng tốt từ Nam Âu.
Xin lỗi
một phút bạn nói, người ta không tắm ở Thời đại Trung cổ. Nghĩa
là một nhận thức sai phổ biến. Họ có tắm. Có những nhà tắm công
cộng, gọi là stews (hầm), nơi mà những khách hàng quen tắm trong
một bồn tắm bằng gỗ lớn và được đưa những cây xà phòng để dùng.
Những nhà quý tộc và thương gia giàu có những nhà tắm riêng. Vào
cuối thời đại trung cổ, khi tắm không còn là một đặc ân. Những
nhà tắm công cộng bị đóng cửa vì giới chức thẩm quyền vào lúc đó
nghĩ những nhà tắm này thúc đẩy sự lan tràn bệnh dịch. Nói
chung, người ở thời kỳ Phục Hưng di chuyển khỏi quan niệm giữ cơ
thể sạch. Họ thích phủ lên cơ thể với mùi hương thơm ngát. Tuy
nhiên, xà phòng, vẫn còn là món bổ ích trong việc giặt giũ quần
áo. Xà phòng vẫn còn được sử dụng trong việc vệ sinh cá nhân
nhưng trước tiêu chuẩn của chúng ta ít thường xuyên nhiều hơn so
với mức cần. Sự việc là xà phòng là một món có giá trị trong thế
kỷ 17 và thế kỷ 18 dù cho quan niệm tắm không phổ biến được
trình bày bởi những cố gắng của người khai hoang Tân Thế Giới
dùng để tạo ra nó. Trong khi có thể việc tắm toàn thân không
phải là thời trang giứ bạn sạch và môi trường xung quanh thì
không sạch.
Soap in the American Colonies (Xà phòng trong
những thuộc địa Mỹ)
Trước tiên những người khai hoang sớm giản đơn
mang đầy đủ xà phòng cùng với họ. Talbot, một con tàu hợp đồng
bởi Công Ty Massachusetts Bay chở người và vật phẩm từ Anh sang
những thuộc địa ở Naumbeak nay được biết như là Salem và Boston,
khai trong hàng hóa chở 2 thùng fikin xà phòng. Một fikin là một
đơn vị đo lường cổ là một thùng gỗ, có đai dung lượng ước chừng
40 lít (9 gallons). John Winthrop, người đã trở thành vị Thống
đốc đầu tiên của thuộc địa Massachsetts Bay, khi viết cho người
vợ năm 1630 từ Boston gồm có xà phòng trong danh sách dụng cụ
cần sẽ mang theo khi bà sang Tân Thế Giới.
Sau khi những người thực dân đã định cư và đã có
thể sinh tồn trong những năm đầu gian khổt, họ nhận thấy nó
thuận lợi nhiều hơn để tự làm xà phòng bằng cách sử dụng số
lượng phong phú tro gỗ, một kết quả tự nhiên từ hoạt động gia
đình. Cũng với nguồn cung cấp phong phú mỡ động vật từ công việc
giết mổ thịt súc vật để tiêu dùng, những người thực dân có trong
tay tất cả những thành phần chế tạo xà phòng. Họ không tin vào
việc chờ đợi xà phòng gửi đến từ Anh và phung phí hàng hóa của
họ và ít tiền trong kinh doanh xà phòng.
Xà phòng với vài công trình và cơ may có thể được
thực hiện miễn phí. Việc làm xà phòng được thực hiện như một sự
cố hàng năm hoặc nửa năm trong nhà cửa của người khai hoang đầu.
Khi công việc giết mổ thịt động vật thực hiện trong mùa thu, xà
phòng được tạo ra vào lúc đó trong nhiều nhà và trang trại trong
việc sử dụng số lượng mỡ động vật lớn và mỡ lợn kết quả. Trong
nhà và trang trại nơi giết mổ thịt không được thực hiện, xà
phòng thường được thực hiện trong mùa xuân bằng cách sử dụng tro
từ lửa đông và mỡ nấu dư thừa, đã tích tụ suốt năm.
The Chemistry of Soap (Hóa học của xà phòng)
Trước khi thảo luận qui trình chế tạo xà phòng
chúng ta phải giải trình xà phòng là gì và phản ứng hóa học tạo
ra xà phòng. Không, đây không phải là sách giáo khoa hóa học.
Tuy nhiên, vài hiểu biết về hóa học liên quan, sẽ nâng cao câu
chuyện về lịch sử của xà phòng.
Xà phòng, từ hóa học giản đơn nhất, là muối natri
hoặc bồ tạt của acid béo. Hình như là giản đơn. Và đúng như vậy.
What is a salt? (Muối là gì)
Muối thường, như
tất cả chúng ta biết là muối ăn, không chỉ là muối độc nhất
trong thế giới hóa học. Có nhiều loại muối tất cả đang là kết
quả của một acid và một alkali (chất kiềm) phản ứng lẫn nhau.
What is an acid or an alkali? (Điều gì là một
acid hoặc một alkali)
Acids là những dung dịch có xu hướng làm bỏng hoặc gây đau đớn.
Acids thay đổi từ acid yếu như acetic acid, thành phần chính
trong dấm, đến hydrosulfuric acid, một acid cực mạnh và nguy
hiểm trong bình điện của xe hơi.
Alkali còn được gọi là chất kiềm
là những dung dịch ăn mòn hơn là gây bỏng. Chúng còn thay đổi từ
yếu đến mạnh. Một ví dụ của alkali yếu là bicarbonate natri,
soda làm bánh, dùng trọng việc chữa trị bệnh đau dạ dày do acid
trong dạ dày quá mạnh. Một alkali mạnh là hydroxide natri, là
thành phần chính trong lò hấp và máy hút khô. Hiện nay lò hấp và
máy hút khô hoạt động bằng cách tạo ra phản ứng thật chúng ta
đang thảo luận. Chúng qui đổi mỡ ngăn cản sự thoát nước hoặc làm
bẩn xà phòng trong lò hấp vì thế bạn có thể làm tràn đầy hoặc
quét sạch nó.
What is a fatty acid?
(Điều gì là acid béo)
Nay chúng ta hãy trở lại những acids béo nay. Những acids béo
được tìm thấy trong thực phẩm chúng ta gọi là mỡ và dầu. Hiện
nay chúng ta nghe nhiều về acids béo, như chúng là những chất
ảnh hưởng tính chất của mỡ và dầu chúng ta ăn và tác dụng những
thực phẩm có trên sức khỏe của chúng ta.
Hình 2: Rửa sạch dung dịch
kiềm
Modern Soap (xà
phòng mới)
Nhiều
sản phẩm ngoài thị trường hiện nay không phải là xà phòng thật
theo định nghĩa đúng mà đúng nhiều hơn là chất tẩy rửa đã được
tạo ra từ những sản phẩm nền dầu hỏa. Những sản phẩm khác, được
gọi là xà phòng chính chúng, có những thành phần tìm thấy trong
thiên nhiên, nhưng những thành phần này đã bị thay đổi một cách
triệt để bởi qui trình năng lượng cao. Xà phòng kết quả mang ít
tính chất đồng nhất với xà phòng tạo ra về mặt lịch sử trải qua
nhiều thời đại.
A Chemical Reaction (Một phản ứng hóa học)
Xà phòng không được tìm thấy
trong thiên nhiên, nhưng nó có thể được tạo ra bởi những qui
trình rất đơn giản. Theo phương pháp này nó tương tự như bánh
mì, rượu vang, thủy tinh, phó mát, và đồ gốm, những món bổ ích
khác tạo ra bởi người cổ xưa có thể là ngẫu nhiên lúc ban đầu
sau đó thành đồ án.
Hiện tượng xà phòng hóa là một từ
hóa học rất lớn trong phức chất những dễ tạo ra phản ứng xà
phòng hóa. Hiện tượng xà phòng hóa là điều xuất hiện khi một
acid béo gặp một alkali. Khi mỡ hoặc dầu, có acids béo được trộn
với một alkali mạnh, alkali trước hết chia mỡ hoặc dầu ra thành
hai phần chính: acid béo và glycerin. Sau khi chia mỡ hoặc dầu,
phần natri hoặc bồ tạt của alkali kết hợp với phần acid béo của
mỡ hoặc dầu. Sự phối hợp này sau đó là muối bồ tạt hoặc natri
của acid béo. Như chúng tôi đã nói ở phần đầu. đây là xà phòng.
Soap
Making Takes Three Basic Steps. (Xà phòng hóa: ba bước cơ bản)
Tạo
dung dịch kiềm tro gỗ
Tạo
hoặc rửa sạch mỡ
Trộn
chung dung dịch mỡ và dung dịch kiềm và đun sôi hỗn hợp để làm
xà phòng.
First Let's Make The Lye (Tạo dung dịch kiềm)
Trong
việc làm xà phòng thành phần đầu cần là một dung dịch nước của
bồ tạt, được gọi là dung dịch kiềm (lye).
Dung dịch kiềm nhận được bằng cách đặt tro gỗ
một bộ thùng phuy không đáy trên một phiến đá với một đường rãnh
và một môi khắc trên đó. Đá đến lượt nằm trên một đống đá. Để
ngăn cản tro đi vào dung dịch một lớp rơm rạ và những thỏi nhỏ
được đặt trên thùng sau đó tro được đặt lên trên. Dung dịch kiềm
được tạo ra bằng cách đổ chậm nước trên tro cho đến khi chất
lỏng nâu nhạt nhỉ ra ngoài đáy thùng. Dung dịch này của dung
dịch kiềm bồ tạt được hứng bằng cách cho phép nó chảy vào rãnh
chung quanh phiến đá và nhỏ giọt xuống một bình đất sét ở miệng
rãnh
Vài
người đi khai hoang sử dụng một cái phễu tro để tạo ra dung dịch
kiềm thay vì phương pháp thùng phuy. Cái phễu tro, được giữ lại
trong trường hợp chảy tháo để bảo vệ khỏi bị rửa trôi không có ý
định trước bởi một trận mưa rơi. Tro được thêm định kỳ và nước
được đổ cách khoảng để đảm bảo cung cấp liên tục dung dịch kiềm.
Dung dịch kiềm nhỏ giọt vào một chậu hứng nằm dưới phễu.

Hình 3: Phễu
tro
Now
The Fats Are Prepared (Nay mỡ được sửa soạn)
Việc
chuẩn bị mỡ heo hoặc mỡ bò để dùng trong việc tạo ra xà phòng là
bước kế tiếp. Điều này gồm có làm sạch mỡ lợn hoặc mỡ bò mất đi
những chất dơ có trong chúng,
Việc
rửa sạch mỡ lợn được gọi là ´rendering" (loại bỏ mô thịt) và là
bộ phận có mùi nặng nhất trong thao tác chế tạo xà phòng. Mỡ
động vật, khi lấy ra khỏi động vật trong lúc giết mổ thịt, phải
được "rendered" trước xà phòng có bất kỳ chất lượng thỏa đáng
nào có thể thực hiện được từ nó. "Rendering" (loại bỏ mô thịt)
này lấy đi tất cả những mô thịt còn lại trong phần mỡ. Mỡ nhận
từ súc vật có tên là "tallow" (mỡ động vật) trong khi mỡ lợn
nhận từ lợn gọi là "lard" (mỡ lợn).
Nếu xà
phòng đang được thực hiện từ mỡ bò để dành từ lửa nấu nướng,
cũng được "rendered" (lấy đi những mô thịt còn sót lại) để lấy
đi chất dơ đã thu gom trong nó. Mỡ bò nấu thừa đang được để dành
trong một thời gian không có lợi ích ướp lạnh thường trở nên ôi.
Bước làm sạch này rất là quan trọng để làm cho mỡ bò thơm hơn.
Điều này có thể đưa đến xà phòng thơm nhiều hơn. Xà phòng tạo ra
từ mỡ lợn hoặc mỡ bò ôi có thể có tác dụng như mỡ thơm và sạch
nhưng không vui vẻ gì có và dùng chúng.
Để tiến
hành "render", mỡ lợn và mỡ nấu thừa được đặt trong một ấm đun
nước lớn và một số lượng bằng nhau nước được thêm vào. Sau đó ấm
đun nước được đặt trên lửa mở ngoài trời. Việc chế tạo xà phòng
là một hoạt động ngoài trời. Mùi phát sinh từ "rendering" mỡ lợn
rất nặng mùi trong việc mong đợi của bất kỳ nhà nào. Phức hợp
mỡ và nước được đun sôi cho đến khi tất cả mỡ đã nóng chảy. Sau
một thời gian dài đun sôi để đảm bảo việc hoàn tất nóng chảy mỡ.
Lửa ngưng lại và trong ấm đun nước thêm một số lượng nước khác
bằng nhau so với số lượng nước lần đầu. Dung dịch này được phép
làm mát lại và để qua đêm. Ngày hôm sau mỡ rắn lại và nổi lên
trên tạo ra một lớp mỡ sạch. Mọi chất dơ không sáng như mỡ còn
lại trong nước dưới mỡ.
Bạn có
thể quan sát điều này hôm nay trong bếp riêng của bạn. Khi một
nồi hầm hoặc xoong có thịt đã được đặt tủ lạnh, bạn có thể thấy
ngày hôm sau cùng một lớp mỡ người đi khai hoang có ở phần trên
ấm đun nước "rendering".
Finally The Soap Making Can Begin (Cuối Việc chế tạo xà phòng có
thể bắt đầu)
Trong
một ấm đun nước lớn khác hoặc ấm mỡ được đặt với số lượng dung
dịch kiềm xác định sẽ là số lượng đúng. Điều này nói dễ nhiều
hơn so với thực hiện. Chúng ta sẽ thảo luận nó nhiều hơn sau
này. Sau đó ấm được đặt trên lửa một lần nữa ngoài trời và đun
sôi. Phức chất được đun sôi cho đến khi xà phòng được hình
thành. Điều này được xác định khi phức chất đun sôi thành một
khối lượng có bọt dầy, và một số lượng nhỏ đặt trên lưỡi gây ra
cảm giác "cắn" có thể nhận thấy. Quá tình đun sôi này có thể sử
dụng 6-8 giờ lệ thuộc vào số lượng phức chất và nồng độ của dung
dịch kiềm.

Hình 4:
Nấu xà phòng
Soft
and Hard Soap (Xà phòng mềm và cứng)
Xà
phòng làm bằng dung dịch kiềm tro len không tạo ra xà phòng cứng
nhưng chỉ xà phòng mềm. Khi lửa được đặt ngoài và phức chất xà
phòng được phép làm mát, ngày kế tiếp cho biết một jel màu nâu
như chất cho cảm giác trơn khi tiếp xúc, hình thành bọt khi trộn
chung trong nước, và làm sạch. Đây là loại xà phòng mềm những
người đi khai hoang đã thực hiện hết sức mình để sản xuất. Xà
phòng mềm sau đó đổ vào một thùng phuy bằng gỗ và múc ra bằng
môi gỗ khi cần.
Đê làm
xà phòng cứng, muối thường được ném vào cuối giai đoạn đun sôi.
Nếu điều này được thực hiện một bánh xà phòng cứng hình thành
trong một lớp phía trên ấm. Khi muối thường đắt tiền và khó
kiếm, điều không thường phí phạm để làm xà phòng cứng. Muối
thường có giá trị nhiều hơn để cho gia súc và bảo quản lương
thực. Xà phòng mềm có tác dụng cũng như xà phòng cứng và vì
những lý do này những người đi khai hoang, chế tạo xà phòng
riêng của họ, không tạo ra những thanh xà phòng cứng.
Ở những
thị xã và thành phố nơi có nhiều nhà sản xuất xà phòng chế tạo
xà phòng để bán, xà phòng có thể được qui đổi thành xà phòng
cứng bằng cách thêm muối. Khi những thanh cứng nó có thể tồn trữ
và vận chuyển dễ nhiều hơn. Những thanh xà phòng cứng tạo ra bởi
những nhà sản xuất xà phòng thường có hương thơm bới dầu như dầu
oải hương (lavender), xanh đông (wintergreen), và carum
(caraway) và được bán như xà phòng tắm cho những người sống ở
thành phố hoặc thị xã.
Xà
phòng cứng không cắt thành thanh nhỏ và bọc như xà phòng được
bán hiện nay. Xà phòng do những người sản xuất xà phòng chế tạo
được đổ vào những khuôn gỗ lớn và lấy ra khi mát lại và cứng.
Số
lượng xà phòng một người khách hàng muốn được cắt từ những thanh
lớn. Xà phòng thường được bán bằng cân anh (pound). Những cục
gói nhỏ không thể sử dụng cho đến giữa thế kỷ 19.
Những
cục xà phòng khác nghĩ cần nhớ là phương pháp chế tạo xà phòng
mô tả không những làm cách nào những người đàn bà đi khai hoang
nội trợ làm xà phòng của họ. Việc chế tạo xà phòng thường là một
nhiệm vụ người đàn bà thi hành. Đây chủ yếu là phương pháp dùng
bởi nhà sản xuất xà phòng thời gian đó. Việc sản xuất xà phòng
luôn được coi như một trong những công việc khó nhất trong trang
trại hoặc trong gia đình.

Hình 5: Khuôn xà
phòng
Difficulties in Making Soap (Những khó khăn
trong sản xuất xà phòng)
Phần cứng nhất là trong việc xác định nếu dung
dịch kiềm có nồng độ đúng, như chúng ta đã nói. Để quán triệt
điều này, nhà sản xuất xà phòng làm nổi một củ khoai tây hoặc
một quả trứng trong dung dịch kiềm. Nếu vật thể này nổi với số
lượng đặc biệt bề mặt trên dung dịch kiềm, dung dịch kiềm được
tuyên bố thích hợp để chế tạo xà phòng. Nhiều người đi khai
hoang có cảm giác là dung dịch kiềm có nồng độ dúng có thể làm
nổi một củ khoai tây hoặc một quả trứng có một diện tích kích
thước của một ninepence (ước chừng kích thước của một phần tư
mới) trên bề mặt. Để làm cho một dung dịch kiềm yếu thành mạnh
nhiều hơn, dung dịch có thể có thể được đun sôi thêm hoặc dung
dịch kiềm có thể được đổ vào một mẻ tro mới. Để làm một dung
dịch yếu nhiều hơn, nước được thêm vào.
Những khó khăn trong việc tạo ra xà phòng những
người đi khai hoang gánh chịu phát sinh từ việc thiếu hiểu biết
về qui trình hóa học liên quan và không khả năng nhận dung dịch
kiềm có nồng độ đã biết và có thể lệ thuộc. Có nhiều mê tín mà
người đi khai hoang tin tạo ra thành công hoặc thất bại. Để làm
xà phòng, thủy triều và những giai đoạn mặt trăng trong số những
sự việc khác được giải trình. Phương pháp Dutch ở Pennsylvania
cảnh báo một cách cẩn thận là cây gậy "sassafrasas" chỉ là một
kiểu công cụ thích hợp với việc quậy xà phòng và việc quậy luôn
phải thực hiện theo cùng hướng.
Thời đại thuộc địa sau này, khi việc kinh doanh xà
phòng đã được xác lập tốt trong những thành phố và thị xã ,
nhiều trong những việc kinh doanh này người ta đã trở thành
những nhà quan sát tinh khôn của qui trình và có thể tạo ra xà
phòng của mình có chất lượng cao lệ thuộc. Tuy nhiên, nhiều hộ
gia đình, nhất là ở những vùng nông thôn, tạo ra xà phòng bồ tạt
riêng của họ cho đến giữa thế kỷ 19. Lúc đó những khó khăn và
văn hoá dân gian vẫn hiện có xung quanh qui trình làm xà phòng.
Từ cuốn nhật ký của Elizabeth Ranch Norton, người
cháu gái của Tổng thống John Adams, đã viết trong năm 1799,
chúng tôi biết việc tạo ra xà phòng có thể là một công việc gây
bực tức biết bao! Trong một dịp khác, Bà Norton đã làm ba mẻ xà
phòng trước khi bà có thể làm một thùng phuy xà phòng thích hợp
với yêu cầu của gia đình bà.
Not
Always Done Down On The Farm (Không luôn được thực hiện trong
trang trại)
Việc
làm xà phòng như là một công việc kinh doanh đã phát triển tỷ lệ
thuận với việc phát triển thuộc địa. Ngay trong những ngày rất
sớm có những thương gia làm và bán xà phòng, người gọi là
"soapboilers" (người đun sôi xà phòng). Từ khi mỡ động vật là
thành phần chính trong xà phòng và nến (đèn cầy), nhiều thương
gia là nhà cung cấp cả hai loại. Những nhà kinh doanh này gọi là
"chandlers" (người bán nến). Người đun sôi xà phòng đầu đã đến
với việc giải quyết Jamestown năm 1609.
Ở New
England cũng vậy, chúng tôi thấy những dấu hiệu kinh doanh xà
phòng. Christopher Gipson, người đã đến Dorchester,
Massachusetts năm 1630, và về sau năm 1649 đã được chọn làm Giám
định viên Xa lộ của thị trấn Boston, là một sapboiler. Điều lô
gích để kết luận là diều chắc cần sau đó như một nguồn tiền bạc
và ảnh hưởng để dấn thân vào chính trị việc kinh doanh xà phòng
của ông Gipson tạo cho ông một cuộc sống sung túc.
Potash and Pearlash Trade (Kinh doanh bồ tạt
và Pearlash)
Việc chế tạo xà phòng và nhà máy bồ tạt và
pearlashes là những kinh doanh liên quan mật thiết của America
thuộc địa, Pearlash, bồ tạt tinh chế, vì công dụng công nghệ của
nó, là một món đồ quan trọng xuất khẩu trong thuộc địa. Bồ tạt
tinh chế, thêm vào xà phòng, được sử dụng trong việc chế tạo
thuỷ tinh trong những thuộc địa và ở châu Âu.
Bồ tạt và sau này bồ tạt tinh chế là những món hàng
có giá trị kinh doanh xuất khẩu sang Anh đang là một trong số ít
món hàng tạo ra bởi thuộc địa America có thể được kinh doanh
trực tiếp sang Anh để lấy tiền mặt. Nhiều món hàng khác của xuất
khẩu thuộc địa được kinh doanh sang những thuộc địa khác của
Anh ở Tây Ấn trong một món hàng thứ hai có giá trị lớn sau đó
có thể kinh doanh trong một món hàng mong đợi từ chính nước Anh.
Điều này được gọi như là hệ thống kinh doanh tam giác của kỷ
nguyên thuộc địa. Bồ tạt tinh chế là một món hàng có giá trị nói
trên đối với nền kinh tế mà Chính phủ Anh khi áp đặt sự lệ thuộc
tài chính thuộc địa vào nước Anh đã liệt kê bồ tạt tinh chế như
một mặt hàng liệt kê. Theo luật hàng hoa liệt kê không thể xuất
khẩu bởi thuộc địa Mỹ sang những cảng ngoài vương quốc Anh.
Có những tài liệu tham khảo khác để hỗ trợ tầm quan
trọng của bồ tạt và bồ tạt tinh chế với nền kinh tế. Thống đốc
bang Massasuchetts năm 1765 được ghi lại đã tuyên bố dự án kinh
doanh tốt nhất trong những thuộc địa là việc sản xuất bồ tạt và
cây gai dầu (hemp), và việc vận chuyển gỗ sang Anh. Năm 1755
Massasuchetts General Court đã nhận biết tầm quan trọng của
những mặt hàng này bằng cách xác lập một bộ luật trong việc phân
tích và tiêu chuẩn hoá bồ tạt và bồ tạt tinh chế.
Nước Mỹ trẻ cũng hiểu rõ giá trị của việc sản xuất
bồ tạt và bồ tạt tinh chế. Bằng sáng chế đầu cấp bởi USPO
(United States Patent Office) cấp cho Samuel Hopkins trong
phương pháp điều chế bồ tạt tinh chế.
Bồ tạt là chất tồn lưu còn lại sau khi tất cả nước
đã rút khỏi khỏi dung dịch kiềm nhận từ việc lọc qua tro len. Bồ
tạt tinh chế sau đó chế tạo từ bồ tạt bằng cách nướng nó trong
một lò cho đến khi chất dơ cacbon cháy hết. Bột trắng mịn còn
lại là bồ tạt tinh chế.
Người bán rong có thể đi lại từ làng này qua làng
khác thu gom bồ tạt chế tạo trong những trang trại và hộ gia
đình. Trong nhiều hộ gia đình tiền mặt duy nhất họ nhận toàn năm
có thể là để bán tro gỗ hoặc bồ tạt của họ. Sau đó người bán
rong có thể bán bồ tạt cho những nhà sản xuất người qui đổi nó
thành bồ tạt tinh chế trong xưởng của họ được biết như là
"ashes". Thời gian xa xưa nhiều nhà sản xuất bồ tạt tinh chế
mang gỗ riêng của họ và làm thành nguồn cung cấp bồ tạt riêng.
Trong những xưởng ngoài lò trong việc qui đổi bồ tạt thành bồ
tạt tinh chế, có một cấu trúc gọi là ashery (lò tro) trong việc
đốt những số lượng lớn gỗ. Những cấu trúc nhỏ này được chế tạo
bằng đá gồm có một mái có một lỗ trong đó. Có hai miệng. Một ở
giữa một bên trong việc thêm gỗ vào lửa và miệng khác ở đáy
trong việc rửa sạch tro. Cấu trúc được ưa thích việc đốt ngoài
trời để tạo ra tro có hàm lượng alkali cao.
Giữa
thế kỷ 18, nhiều "lò tro" rải rác ở miền quê. Ít nhất có hai "lò
tro" nằm ở Newport, Rhode Island. Ở Massasuchetts có vài thị
trấn có điểm gọi là "lò tro". Hai trong những thị trấn này là
Haverhill và Charlestown. Từ tài liệu "A typographical and
Historical Description of Boston" (Mô tả địa hình và lịch sử
Boston) viết năm 1794, chúng ta biết là có nhiều nhà máy sản
xuất bồ tạt và bồ tạt tinh chế ở Boston và được xác lập ở đó ước
chừng 40 năm trước cuộc Cách Mạng.
The End of an Era (Giai đoạn cuối của một kỷ
nguyên)
Khi gỗ trở nên
hiếm nhiều hơn khi thủy triều vận động ở phía Tây trườn tới New
England vào cuối thế kỷ thứ 18, việc sản xuất bồ tạt và bồ tạt
tinh chế là một công nghệ đang giảm sút. Điều này vẫn còn là một
công nghệ quan trọng ở biên giới Mỹ cho đến cuối phần ba đầu của
thế kỷ 19. Tất cả trong giai đoạn này bồ tạt tinh chế vẫn là một
mặt hàng chính của xuất khẩu Mỹ. Khi soda ăn da có thể nhận rẻ
tiền và dễ nhiều hơn từ nước muối bằng cách sử dụng qui trình
LeBlanc, yêu cầu về bồ tạt và bồ tạt tinh chế Mỹ bắt đầu suy
giảm cho đến khi nó không còn nữa.
Tính có
thể sử dụng sodium hydroxide, đây là điều gì qui trình LeBlanc
tạo ra, làm thay đổi công nghệ chế tạo xà phòng một cách bi
thảm. Sodium alkalis tạo ra xà phòng cứng mà không thêm muối
thường để ảnh hưởng đến sự thay đổi. Những xà phòng cứng này có
chất lượng rắn nhiều hơn. Ưu thế lớn khác là alkali cần cho việc
làm ra xà phòng không còn cần nữa cần nhiệm vụ gay go chặt cây
hàng mẫu anh (acres), đốt củi, lọc sạch tro, thoát hơi nước từ
dung dịch kiềm tro gỗ, và cuối cùng đốt hết tất cả những xhất dơ
trong một lò.

Hình 6: Lò tro
Toàn
dịch vụ làm ra xà phòng trở thành dễ nhiều hơn và vì thế xà
phòng có thể sử dụng nhiều hơn cho nhiều người. Kết quả tự nhiên
khiến càng ngày càng nhiều người sử dụng xà phòng, nhất là xà
phòng tắm. Tập quán tắm trở lại thành thời trang và việc tiêu
dùng xà phòng tăng lên rất nhiều trong thế kỷ thứ 19. Xà phòng
thuộc về thời đại Victorian và việc làm ra xà phòng chuyển từ
nghề thủ công và điều bí ẩn thành một công nghệ phát triển hoàn
toàn.
Với
việc cho thuê công nghệ bồ tạt đã kết thúc việc sản xuất xà
phòng bồ tạt và bồ tạt tinh chế. Xà phòng của soapboiler gồm có
trong số lượng Josiah Franklin, cha đẻ của Benjamin Franklin. Xà
phòng được dùng bởi tất cả những người đàn bà nổi tiếng của tiền
sử Mỹ từ Priscilla Mulliens đến Dolly Madison.
Giữa
thế kỷ 16 khi xà phòng bồ tạt tinh chế đang ở trong tình trạng
cực thịnh của nó, quảng cáo như dưới đây từ tờ báo Boston
Gazette rất dồi dào.
"TO BE
SOLD BY EDWARD LANGDON, IN FLEET STREET, NEAR THE OLD NORTH
MEETING HOUSE, A QUANTITY OF HARD SOAP BY THE BOX, SOFT SOAP BY
THE BARREL". (Sẽ được bán bởi EDWARD LANGDON, đường FLEET, gần
Nhà Hội Bắc cũ, một số lượng xà phòng cứng theo hộp, xà phòng
mềm theo thùng phuy"
THƯ TỊCH
A
Book of Country Things, Barrows
Mussey Stephen Greene Press, 1965
A
Long, Deep Furrow, Howard S.
Russell University Press of New England 1982
Colonial Craftsmen, Edwin Tunis
The World Publishing Company, 1965
Colonial Days and Ways, Helen
Evertson Smith The Century Company, 1900
Every Day Life in the Massachusetts Bay Colony,
George Frances Dow
Home
Life in Colonial Days, Alice Morse
Earle The MacMillan Company‚ 1899
Over
the Counter and on the Shelf,
Laurence A. Johnson Charles E. Tuttle Comapny Publishers 1961
Professional and Industrial History of Suffolk County,
The Boston History Company
The
Arts and Crafts in New England, Da
Carpo Press 1967
The
Seasons of America's Past, Eric
Sloane Wilfred Funk, Inc.
For
further reading
Making Soaps and Candles, Phyllis
Hobson Storey Communications, Inc. 1973
Soap,
Ann Bramson Workman Publishing Company 1975
The
Art of Soap Making, Merilyn Mohr
Camden House Publishing 1979
Về tác giả
Sách nhỏ này được
soạn thảo bởi The Soap Factory, một công ty xà phòng nhỏ tận tâm
sản xuất xà phòng Castile sử dụng phương pháp truyền thống của
thế kỷ 19.
Maria Ellis, sở hữu chủ và Giám
Đốc Nhà máy Xà phòng, đã nghiên cứu phương pháp kỹ thuật chế tạo
xà phòng và lịch sử chế tạo xà phòng trong trên 30 năm. Lúc đầu
Bà liên quan việc chế tạo xà phòng như một thành viên VITA
(Volunteers in International Technical Assistance=Tình nguyện
viên Viện trợ Kỹ thuật Quốc tế). Bà vẫn làm việc với VITA bằng
cách cung cấp những người trong nước đang phát triển với thông
tin về việc chế tạo xà phòng.
Marietta và chồng, Arthur Ellis, bán xà phòng của họ trong cửa
hàng thủ công, và thông qua thư phiếu đặt hàng. Xà phòng của họ
cũng còn để bán trong vài cửa hàng bán sỉ.
Gia
đình Ellise đều là thành phần của SWEAT (Society of Workers in
Early Arts and Trades=Hội người lao động nghệ thuật và kinh
doanh sớm) có thể đọc hoặc trình diễn về việc chế tạo xà phòng
và lịch sử của nó.
Những
hình vẽ được thực hiện bởi Arthur Ellis.
Tiếng Việt: RGC
Ngày
03-02-2006
Trở về Trang Chính
|