|
Albert Einstein |
Elie Cartan |
Myron W. Evans1 |
Tóm tắt:
Mặc dù những nhà vật lý đã
đấu tranh một cách tuyệt vọng trong thời gian trên nửa thế kỷ để
vượt qua tất cả những lực lượng thiên nhiên trong một nguyên lý
thống nhất, nhà vật lý hóa học Miron W. Evans hiện nay đã thành
công. Dựa trên những công trình nghiên cứu sâu của Albert
Einstein và Elie Cartan, nguyên lý của Evans dùng hình học không
gian-thời gian chính nó như là xuất xứ của mọi lực lượng của
Thiên nhiên. Khi Einstein gán thuộc tính trọng lực cho đường
cong không gian-thời gian, nguyên lý mới gán thuộc tính điện từ
tính cho việc xoắn hoặc bện không gian-thời gian. Khả năng của
những phản ứng tương hỗ tương phản giữa trọng lực và điện từ
tính- mà khả năng bị chối bỏ trong vật lý dòng chảy chính hiện
nay- đưa đến những dự báo những hiệu ứng vật lý mới có thể được
dùng để tạo ra điện lực và năng lượng từ không gian-thời gian.
Phần dẫn nhập
Hàng thế kỷ, những nhà vật
lý và triết gia tìm kiếm một mô tả thống nhất của mọi hiện tượng
tự nhiên. Ngày nay chúng ta biết là thế giới ở tỷ lệ lượng tử
trên kính hiển vi phụ có tập tính rất khác nhau so với kinh
nghiệm vĩ mô quen thuộc. Nói riêng, những nguyên lý trọng lực
không tương thích với nguyên lý lượng tử. Vì thế, người ta mong
đợi là, nếu trọng lực có thể thống nhất được với nguyên lý lượng
tử, một cách tổng thể nhưng công trình nghiên cứu sâu có thể cho
kết quả. Hiện nay điều xuất hiện là sự thống nhất này đã được
hoàn tất, nhưng không cùng một phương pháp mong đợi bởi những
thế hệ khoa học gia đi trước. Sự thống nhất này dự báo những
hiệu ứng mới cơ bản- ví dụ, tạo ra năng lượng (hoặc điện năng)
không cần đầu vào của những năng lượng cơ bản khác. Dự báo này,
trong những dự báo khác, đang tạo ra mối quan tâm lớn trong giới
chuyên nghiệp và khoa học gia.
Albert Einstein năm 1915
công bố một nguyên lý phản ứng tương hỗ trọng lực; ông gọi
nguyên lý này là nguyên lý tương đối tổng hợp, mà hiện nay nó
tạo nền cho sự hiểu biết của chúng ta và khai thác vũ trụ một
cách tự do. Năm 1905, Einstein đã tạo ra một nguyên lý Tương đối
Đặc biệt, khảo nghiệm định đề nổi tiếng "tính không thay đổi tốc
độ của ánh sáng" trong chân không. Trong suốt 30 năm cuối cuộc
đời ông, Einstein tìm một nguyên lý thống nhất liên quan nhiều
hơn có thể bao trùm mọi lực thiên nhiên đã biết. Ông đã trải qua
nhiều năm ước chừng từ 1925 đến 1955 trong viêc tìm kiếm, nhưng
không đạt mục tiêu mong đợi của ông. Vì việc khám phá cơ chế
lượng tử trong những năm 1920, nhiều nhà vật lý bận rộn với vấn
đề này, và không với thuyết Tương đối Tổng hợp. Sự việc là những
cơ chế lượng tử chỉ phù hợp với thuyết Tương đối Đặc biệt, không
với thuyết Tương đối Tổng hợp, và bị bỏ qua hoặc không để ý đến.
Ngoài ra, trong khi cơ chế lượng tử thành công trong việc mô tả
bao điện tử nguyên tử; điều này không phải là một nguyên lý
thích hợp trong những tỷ trọng khối cao xuất hiện trong nhân
nguyên tử.
Những bước tiến đáng chú ý
khác về phía nguyên lý thống nhất trong thế kỷ 20 gồm có sự
thống nhất điện từ tính với lực lượng hạt nhân yếu, thông qua
việc phát triển chủ nghĩa hình thức của cơ chế lượng tử. Trọng
lực còn lại, đến ngày nay, bên ngoài mô hình tiêu chuẩn vật lý
hạt nhân.
Elie Cartan ít nổi tiếng
so với Einstein. Ông là một nhà toán học người Pháp trao đổi ý
kiến với Einstein liên quan nhiều chi tiết về thuyết Tương đối
Tổng hợp. Công trình nghiên cứu sâu xa đầu của Cartan là điện từ
tính có thể phát sinh, thông qua hình học vi phân, từ hình học
không gian-thời gian- nhiều hoặc ít song hành với công trình
nghiên cứu sâu xa của Einstein là trọng lực có thể phát sinh từ
hình học không gian-thời gian.
Tuy
nhiên, một thống nhất hóa thành công, không được hoàn tất bởi
Cartan và/hoặc Einstein. Sự thống nhất hóa cuối cùng được hoàn
tất trong năm 2003 bởi Myron Evans người, được đào tạo như một
nhà vật lý hóa hoc, đưa công trình nghiên cứu sâu xa mới đến với
vấn đề. Evans giữ vài quan hệ chuyên nghiệp khoa học ở Anh và
Mỹ, trước khi ông bị bắt buộc rút lui vì quan điểm không chính
giáo, và hiện nay ông làm việc như một "nhà nghiên cứu tư nhân"
tại quê nhà của ông, xứ Wales. Từ đây, ông điều hành "Viện
Nghiên Cứu Cấp Cao Alpha (AIAS), trình bày quan điểm của ông với
quần chúng như là một nhóm cấp quốc tế hoặc một nhóm hoạt động.
Một trình bày khoa học phổ biến trong phần (3). Mới tập trung
công trình nghiên cứu của ông vào việc tạo ra năng lượng từ chân
không- một đề tài khoa học thiết lập đã tránh- website AIAS tao
ra mối quan tâm lớn, như đã trình bày bởi gia tăng đều trong
thống kê trang web về AIAS (4). Nhiều trường đại học nổi tiếng
và trường viện nghiên cứu cấp quốc tế đã vào những trang này.
1.
Bốn lực
lượng tự nhiên
Để hiểu rõ tầm quan trọng của thống nhất hóa,
người ta phải bắt đầu với kiến thức về lượng tử đang được thống
nhất. Điều này được chấp nhận rộng trong môn vật lý là mọi phản
ứng tương hỗ trong Thiên Nhiên là những biểu hiện của bốn lực
lượng cơ bản. Chúng tôi mô tả đặc tính những điều này một cách
vắn tăt như sau:
1. Bốn trường lực lượng hình như riêng biệt phát sinh từ việc
trao đổi tĩnh điện và từ tính đã được thống nhất trong thế kỷ
19, phần lớn bởi Maxwell, vào điều mà hiện nay được gọi là điện
từ tính, hoặc điện từ trường.
2. Lực lượng hạt nhân yếu chịu trách nhiệm về việc phân hủy chất
phóng xạ. Theo Mô hình Tiêu chuẩn của môn vật lý hạt cơ bản,
phản ứng tương hỗ yếu có trung gian bởi những bosons W và Z, là
những hạt có thể thấy. Neutrines cũng đã được biết sẽ liên quan
trong phản ứng tương hỗ yếu. Điều đã được trình bày là lực lượng
yếu đều là một một cách cần thiết như điện từ tính ở những năng
lượng rất cao. Vì thế, hai lực lượng này được nói là "đã thống
nhất",
3. Lực lượng hạt nhân mạnh giữ protons và
neutrons cùng nhau. Lực này được mang bởi gluons và quarks trong
phối hợp, mặc dù chứng cứ khảo nghiệm trực tiếp của sự hiện có
không được hoàn tất tính đến gần đây.
4. Trọng lực là lực lượng cơ bản thứ tư, nhưng nó không thích
hợp với hình ảnh lý thuyết của ba lực lượng kia, vì nó được xem
(theo thuyết Tương đối Tổng hợp) như đường biểu diễn không
gian-thời gian, không tương ứng với một từ lực lượng cổ điển.
Mặt khác, thuyết Tương đối Tổng hợp hiện nay đã được khảo nghiệm
kỹ về mặt thực nghiệm, vì thế không ai nghi ngờ tính cách hợp
pháp của nó.
2.
Thống nhất
hóa
Nếu một mô tả thống nhất và chủ nghĩa hình
thức có thể cho trong bốn lực lượng rất khác nhau này, nhiều
công trình nghiên cứu sâu xa về lý thuyết mới và phương pháp ứng
dụng thực hành có thể cho kết quả. Ngoài ra, phản ứng tương hỗ
tương phản lẫn nhau- mà môn vật lý dòng chảy chính hiện nay
không công nhận- sau đó có thể được dự báo và được dùng. Như
chúng ta sẽ thấy về sau, những phản ứng tương hỗ trên mở ra
những khả năng mới trong việc phát sinh điện năng. Về mặt khủng
hoảng năng lượng toàn cầu bức xúc, điều này có thể là phương
pháp ứng dụng quan trọng nhất của thống nhất hóa nói trên.
Ba lực lượng cơ bản đầu quan tâm vật lý lượng
tử (trong hệ thống vi mô), trong khi lực lượng thứ tư (trọng
lực) áp dụng ở một tỷ lệ, gồm có thứ tự quan trọng vũ trụ. Vì
thế, vấn đề cơ bản nằm dưới là việc thống nhất hóa thuyết Tương
đối Tổng hợp với cơ chế lượng tử. Khoa học thường đã sử dụng một
cách cần thiết ba đường dẫn khác nhau có thể hoàn tất kết qủa
này.
1. Mang thuyết tương đối tổng hợp vào vật lý số lượng. Khó khăn
không thể vượt qua ở đây là thời gian trong vật lý lượng tử được
xử lý như một tham số thường xuyên độc nhất, không thể đo lường
với những tọa độ số lượng hóa khoảng cách (hoặc chuyển dịch
trong không gian).
2. Xác định số lượng thuyết tương đối tổng hợp. Nhưng công thức
toán học trong phương pháp tiếp cận này vì thế không thể kết
luận, và không thể tham khảo với trắc nghiệm khảo nghiệm.
3. Phát minh nguyên lý mới hoàn toàn, từ đó những thuyết khác
theo sau. Những "thuyết dây" là những ví dụ, nhưng chúng đòi hỏi
không gian hai chiều cao phi vật lý (N > 10), và không tạo ra dự
báo có thể khảo nghiệm.
Giải pháp, một cách đáng ngạc nhiên, đi vào
một đường lối không mong đợi. Bằng cách phát triển thuyết
Einstein cùng với những tuyến gợi ý đầu tiên bởi Cartan, Evans
cho biết là tất cả bốn lực lượng cơ bản có thể trích từ một
thuyết phát triển. Điều này tiêu biểu Thuyết Trường Thống nhất
hóa tìm kiếm lâu dài. Phương pháp tiếp cận Evans không theo đúng
bất kỳ một trong ba đường dẫn trình bày trên, mặc dù điều này
gần nhất với đường dẫn ba trong danh sách.
3.
Nền của Thuyết Evans
Để hiểu
rõ nền của Thuyết Evans, chúng ta phải xem lại điểm xuất phát
của thuyết tương đối của Einstein. Einstein giả dụ là sự hiện
diện của phân bố một khối lượng hoặc một năng lượng trong không
gian (thật ra là có thể trao đổi, theo công thức nổi tiếng E= mc2)
làm thay đổi hình học không gian. Khảo sát từ những góc phải
trong hệ thống tọa độ Euclide, điều này tạo ra đường biểu diễn
không gian (hoặc, một cách chính xác nhiều hơn, không gian-thời
gian). Người ta có thể viết điều này như một công thức:
R = k T
Trong
đó R chỉ định (lực căng của) đường biểu diễn, T (lực căng của)
tỷ trọng năng lượng-momen, và k là một hằng số tỷ lê. Vế trái
của công thức này là hình học, vế phải là vật lý. Vì thế
Einstein đã sử dụng hình học của những tọa độ đường cong, trở
lại nhà toán học Riemann. Công thức này bắt buộc là không
gian-thời gian (nghĩa là ba tọa độ không gian, và thời gian như
là tọa độ thứ tư) là một continum 4-chiều (hoặc đa chiều) mà
đường biểu diễn thông qua nhận thức như là một lực lượng (gọi là
trọng lực).
Một
cách đáng chú ý, công thức Einstein không khai thác tất cả những
đặc tính có thể thực hiện của hình học Riemann. Điều này chuyển
sang là R chỉ mô tả đường cong bên trong của đa chiều; nói cách
khác, điều này bị giới hạn trong việc mô tả vectơ mà biến đổi
điểm- đối- điểm nằm hoàn toàn trong hệ đa chiều (xem Hình 1A)
Hình 1 Cong và xoắn

A) Cong- Đường cong
không gian thời gian

B) Xoắn- Xe chỉ
không gian thời gian
Ngược lại điều này, Cartan sử dụng những khảo
sát của đường cong bên ngoài. Điều này có nghĩa là vectơ cũng
được phép thay đổi bên trong (và thường với) mặt phẳng tiếp
tuyến với đa chiều ở bất kỳ điểm nào (xem hình 1B). Cartan cho
thấy là đường cong bên ngoài của không gian- thời gian có thể
được dùng để biểu hiện điện từ tính như mô tả bởi những công
thức Maxwell. Chẳng may, việc sử dụng quan điểm toán học của
Einstein về độ căng tạo ra quan hệ với quan điểm của Cartan về
hình học không rõ. Cartan đã dùng cái gọi là "tetrad" (thể bốn)
trong việc thể hiện đường cong bên ngoài đa chiều. Trong trường
hợp ba chiều, điều này giảm xuống một tọa độ Cartan "triad" (thể
ba), di chuyển cùng với một điểm trong không gian. Nói đúng
nhiều hơn, thể bốn tetrad mô tả đặc tính một không gian tiếp
tuyến ở mỗi điểm của đa chiều Riemann. Trong đường này một duy
trì ở mỗi điểm của không gian tiếp tuyến Euclide (một không gian
gọi là fiducial (điểm chuẩn để so sánh)), đơn giản hóa nhiều bản
mô tả và hình dung hóa những qui trình vật lý (Hình 2)

Hình 2. Mặt phẳng
tiếp tuyến ở một bề mặt cong.
Mặc dù
giá trị công trình nghiên cứu sâu xa của Einstein và Cartan, một
nguyên lý thống nhất có thể chưa được công thức hóa, vì chỉ dấu
khảo nghiệm làm cách nào phát triển nguyên lý Maxwell theo một
cung cách phù hợp với thuyết Tương đối Tổng hợp còn đang thiếu.
Sự liên kết quyết định được tìm ra bởi Evans khoảng năm 1990
trong trường xoay tròn hoặc trường B(3).
Hiệu
ứng thực nghiệm quyết định- Hiệu ứng Faraday ngược (IFE), nghĩa
là từ tính hóa vật chất bởi một chùm bưc xạ điện từ tính phân
cực vòng, được khảo sát lần đầu thực nghiệm năm 1994- không thể
giải trình bởi điện động năng Maxwell-Heaviside, trừ trường hợp
đưa vào một lực căng sở hữu vật liệu đặc biệt.
Tuy
nhiên, Evans năm 1992 có thể trích IFE trực tiếp từ những nguyên
lý đầu (thường nguyên lý trường thống nhất đồng biến, gồm có
thuyết tương đối tổng hợp), và vì thế suy ra sự hiện có của một
thành phần từ trường không biết trước- trường B(3).
B(3)
là, một cách không chính thức, việc sửa chữa thuyết tương đối
tổng hợp thành điện động năng cổ điển, chừng mực giống như sửa
chữa thuyết tương đối tổng hợp thành trong lực Newton cần trong
việc giải trình tiến bộ điểm chuẩn gần mặt trời
(perihelion-advance) của sao Thủy (Mercury).
Những
số lượng chỉ số -(1), (2) và (3) -- ở đây được xem như cái gọi
là cơ sở vòng; và những hướng phân cực B(1) và B(2)
được xem như những hướng phân cực ngang (transverse) của trường.
Vì thế một chỉ số phân cực phải đượ chèn vào những công thức
Maxwell. Chỉ số phân cực này với những vectơ thể bốn qa
trong Hình 2. Cuối cùng, điều này đưa đến việc Evans giả dụ là
trình bày hình học của tiềm tàng vectơ điện từ tính A phải là
như sau:
A2 = A(0) q2
Trong
đó A là ma trận 4x4 của tiềm tàng điện từ tính hoàn toàn, và A(0)
là một yếu tố tỷ lệ. Những trường điện và từ (kết hợp trong một
lực căng F2 của trường điện từ tổng số) sau đó phát
sinh trực tiếp từ biểu thức Cartan trong lực căng T2:
F2 = A(0) T2
Trong
chủ nghĩa hình thức này, điện động năng có thuộc tính hoàn toàn
vào lực căng hình học của không gian-thời gian. Hình ảnh hoàn
toàn, trong việc thống nhất điện từ tính với trọng lực, đòi hỏi
cả hai đường cong Riemann và lực căng Cartan. Đường cong bên
trong xác định trọng lực, và đường cong bên ngoài (nghĩa là lực
xoắn) xác định trường điện từ. Điều này được mô tả chi tiết bằng
những công thức trường thích hợp dưới hình thức hình học
Riemann-Cartan. Nguyên lý này hiện nay được gọi là nguyên lý
Einstein-Cartan-Evans (ECE), sau những tên gọi của những tác giả
chính của nó.
4.
Thống nhất hóa với những lực lượng mạnh và yếu
Vẫn sẽ
được mô tả là làm cách nào hai lực lượng cơ bản còn lại được
trình bày trong nguyên lý ECE.
Nếu
người ta phân tích nhưng công thức của nguyên lý, điều đáng chú
ý là điều này được công thức hóa trong không gian tiếp tuyến của
đa chiều Riemann. Số lượng vectơ nền của không gian này có thể
được chọn một cách tự do, cần không phải là 4-chiều. Do đó khả
năng có để chọn như nênf thích hợp trong việc mô tả hành động
xác định lượng tử (ví dụ xoay tròn điện tử). Hơn nữa Evans trích
từ hình học Cartan một công thức sóng, trên nguyên tắc là một
công thức eigenvalue phi tuyến tính. Trong những giả thuyết
phỏng chừng, công thức này trở thành tuyến tính và dự báo tình
trạng ổn định dè dặt. Những công thức đó là "lượng tử" của năng
lượng-momen trong cơ chế lượng tử. Tất cả những nguyên lý cơ học
lượng tử, nói riêng nguyên lý Direc's electron, và những phản
ứng tương hỗ mạnh và yếu, có thể được suy diễn theo phương pháp
này như những trường hợp đặc biệt của thuyết ECE.
Nếu
chúng ta so sánh kết quả này với ba đường dẫn thường đến thống
nhất hóa tham khảo trên, điều đáng chú ý là không trong ba đường
dẫn này hiện nay được dùng. Thuyết mới dự báo hiệu ứng lượng tử
không giả định chúng (như là một định đề) từ đầu. Hai lực lượng
đầu (điện từ tính và lực lượng yếu) được kết hợp, lực lượng ba
và bốn chuyển sang có thể phát sinh từ những khảo sát khác. Nói
tóm lại, không có "lực lượng cơ bản" thật vì chúng tất cả phát
sinh từ hình học!.
5.
Những điều kiện bắt buộc trong vật lý lượng tử
Điều
kiện bắt buộc chủ yếu là thuyết lượng tử dưới hình thức hiện tại
của nó không phải là một chuyên ngành cơ bản của Thiên nhiên.
Nói riêng, lời giải trình của Helsenberg và nguyên lý
Corespondence (Tương ứng) là không đúng. Phiên bản ECE của vật
lý lượng tử vẫn là cổ điển, cơ sở quyết định hoàn toàn; tính
không xác định lượng tử không giữ vai trò nào cả. Tuy nhiên
những công thức cùa cơ chế lượng tử (ví dụ công thức
Schrodinger) đúng và mô tả quá trình thống kê cổ điển. Điều này
có thể là một dấu chống lại thuyết ECE nếu điều này không dự báo
kết quả này, vì những công thức cơ chế lượng tử về mặt thực
nghiệm xác minh ngàn chiều.
Evans
còn thảo luận là quan hệ không chắc chắn chỉ phát sinh bởi không
hiểu rõ, và không thể xác minh. Tất cả những điểm khối lượng vật
lý của một thuyết trường hiện nay là tỷ trọng- nghĩa là lượng tử
của năng lượng vật chất lan tỏa trên một khối lượng không gian.
Vì thế lượng tử Planck của hành động sẽ được chia bởi khối
lượng, ví dụ, của công cụ tính toán trong đó hai biến số bổ sung
(ví dụ vị trí và momen) được tính toán. Kết quả có thể trở thành
nhỏ trung gian, ví dụ tính không chắc có thể bị giảm xuống những
lực 10 lần nhỏ nhiều hơn đã tin từ trước. Vì thế, một hạt cơ bản
không đọc quyền là một sóng, cũng không độc quyền là một hạt,
nhưng có hai đặc tính cùng một lúc.
Điều
này có vẻ không tưởng như là một thuyết vật lý, nhưng đúng là
được tính toán từ vài năm qua [5]. Sự bác bỏ khảo nghiệm quan hệ
không chắc chắn được hoàn tất bởi vật lý chủ đạo.

Hình 3. Hiệu ứng
Aharonov Bohm
Như một ví dụ hiệu ứng nữa trước đây khó giải
thích, chúng tôi xem hiệu ứng Aharonov Bohm (Hình 3). Hai chùm
electron bị nhiễu xạ bởi hai khoảng trống, ở màn hình, một mô
hình can thiệp điển hình được tạo ra. Trong vùng nhiễu xạ là một
cuộn toroidal khép kín. Trường từ tính được khép kín vòng và vì
thế vẫn ở trong cuộn. Nếu hiện nay một công tắc đóng và mở
trường từ tính, trong mỗi trường hợp hai mô hình can thiệp khác
nhau xảy ra. Vì thế trường từ tính khép kín có một hiệu ứng trên
chùm electron, mặc dù những điều này không tiếp xúc trực tiếp
với cuộn. Điều này xuất hiện sẽ là một "hành động ở một khoảng
cách" cơ học lượng tử, đã làm tăng lầm lẫn và giả dụ không chắc
chắn.
Bài toán này được xử lý trong thuyết ECE như
sau. Trường từ tính của cuộn tạo ra một "cơn lốc" không
gian-thời gian (do hiện tượng xoắn) phát triển thành không gian
bên ngoài cuộn chính nó. Hiệu ứng kéo của cơn lốc này (nghĩa là
hiệu ứng của tiềm tàng vectơ A) sau đó có thể ảnh hưởng chùm
electron. Vì thế "hành động ở một khoảng cách" biểu kiến bị giảm
một cách chính thức thành hiệu ứng quyết định tại chỗ và nguyên
nhân.
6. Những điều
kiện bắt buộc trong công nghệ
Một cách điển hình, những lý thuyết mới đưa
đến phương pháp ứng dụng thực hành chỉ sau nhiều năm. Trong
trường hợp hòa lẫn hạt nhân, hi vọng tạo ra điện lực bổ ích sử
dụng của xã hội vẫn không hoàn tất sau 50 năm. Ngược lại, thuyết
ECE gợi ý phương pháp ứng dụng trực tiếp trong những lãnh vực
khác nhau- nói riêng, vấn đề khẩn cáp của việc sản xuất năng
lượng.
Khả năng của một nguồn năng lượng mới phát
sinh từ phản ứng tương hỗ tương phản giữa lực hấp dẫn và lực
điện từ. Theo thuyết tiêu chuẩn hiện tại (những công thức
Maxwell) phản ứng tương hỗ này không thể thực hiện.
Tuy nhiên, thuyết ECE dự báo là một trường
hấp dẫn luôn liên kết với một điện trường, và ngược lại [6];
điều này có thể được gọi là lực hấp dẫn điện (electrogravities).
Hiệu ứng đã được biết về mặt thực nghiệm nhiều thập niên qua, lẽ
dĩ nhiên, nhưng đến nay đã thiếu mô tả số lượng. Nghĩa là nay có
thể thực hiện với sự hỗ trợ của thuyết ECE. Phương pháp áp dụng
này phải quan tâm đến công nghiệp hàng không và không gian.
Trong khu vực phát điện, máy phát điện đơn
cực chờ một lời giải trình đầy đủ từ khi phát minh bởi Faraday
năm 1831. Điều này hiện nay có thể giải thích hoàn toàn [7].
Tương tự như với hiệu ứng Aharonov Bohm, lực xoắn không
gian-thời gian phải được xem xét. Trong trườnghợp này điều này
được tạo ra do quay vòng cơ học.
Phương pháp áp dụng kỹ thuật thích thú nhất
liên quan đến việc trích năng lượng trực tiếp từ không gian-thời
gian. Người ta phải hiểu rõ điều này như là một hiệu ứng cộng
hưởng. Trước hết những công thức của thuyết ECE cho biết là vật
chất có thể "chuyển đổi" năng lượng từ không gian-thời gian
chung quanh (thỉnh thoảng người ta cũng nói "chân không"). Để
hoàn tất điều này trong thực hành đòi hỏi là người ta tạo ra một
cấu hình thích hợp của không gian-thời gian, ví dụ sự sắp xếp cơ
học hoặc điện từ có kỹ năng. Cấu hình phải sắp xếp như trên để
có kích thích cộng hưởng của vật chất xảy ra. Người ta biết từ
dao động cơ học bắt buộc là, với tần số kích thích thích hợp, số
lượng lớn điện năng có thể được chuyển tải đến hoặc từ hệ thống
dao động.
Chắc là những phát minh "thống nhất quá mức"
trong cảnh quan điện năng xen kẽ hoạt động theo phương pháp này.
Trong những trường hợp này, những nhà phát minh tìm ra cơ chế
cộng hưởng một cách nẫu nhiên. Vì thế, vài khảo nghiệm không
nhắc lại, vì những tham số cơ chế cơ bản và hệ thống tới hạn,
đưa đến kết quả mong đợi, hiện nay không biết.
Thuyết ECE làm cho nó có thể thực hiện để
tính toán đúng những tham số này. Nhóm AIAS hiện đang khảo
nghiệm cơ chế kích thích, thông qua giải pháp số học của những
công thức ECE. Về mặt khảo nghiệm tiêu điểm trên việc kích thích
cộng hưởng trong những dòng điện. Nêu người ta có thể nhận điện
năng theo phương pháp này, những bộ phận di chuyển về mặt cơ học
(như trong máy phát điện) không cần; và do tính chất nhỏ của
nguồn, mỗi dụng cụ điện có thể, theo nguyên tắc, thích ứng với
nguồn điện riêng của nó. Những thành phần cơ bản có thể là chia
tầng đến kích thước trung tâm điện lực.
Một phương pháp áp dụng cuối là trong công
nghệ y khoa. Phương pháp chụp tia X cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
đòi hỏi từ trường rất cao, bắt buộc một thể thức phức tạp tương
ứng và xây dựng. Thay vì người ta có thể sử dụng Hiệu ứng
Faraday đảo ngược (IFE) (mô tả trên) để phát sinh từ trường đòi
hỏi trên người bệnh. Điều này chỉ đòi hỏi phóng xạ điện từ trong
phạm vi tần số chụp rơngen. Những cuộn solenoid sau đó không
cần, và dụng cụ NMR có thể được xây dựng về mặt vật chất nhỏ và
rẻ tiền nhiều hơn.
7. Những điều
kiện bắt buộc trong vũ trụ học
Thuyết ECE còn có những điều kiện bắt buộc
trong vật lý học thiên thể và khoa vũ trụ. Việc phát triển vũ
trụ thường được nói sẽ bị chi phối bởi Luật Hubble's, dự báo là
những tiên hà di chuyển xa khỏi chúng ta tất cả nhanh nhiều hơn,
xa nhiều hơn chúng cách xa chúng ta. Điều này có cơ sở trên
chuyển dịch đỏ của ánh sao từ những thiên hà rút lui.
Tuy nhiên, những nhà thiên văn học vừa tìm ra
dao động chuyển dịch đỏ không thể hàn gắn với Luật Hubble's, mặc
dù điều này không được thảo luận công khai. Thuyết ECE có thể
giải trình dễ dàng những sai số. Người ta có thể giải dịch những
công thức ECE thành một mô hình dielectric (=chất điện môi).
Hiệu ứng qua lại giữa phóng xạ và lực hấp dẫn được mô tả về mặt
ấy bằng cách giới thiệu một hằng số điện môi có giá trị phức
tạp. Điều này đưa đến những dự báo khúc xạ ánh sáng và sự hấp
thụ. Trong những miền của vũ trụ có tỷ trọngkhối lượng cao, hằng
số điện môi lơn nhiều hơn trong những miền tỷ trọng khối lượng
thấp. Sự hấp thụ năng lượng trong những miền này đưa đến một
chuyển dịch đỏ tăng lên. Một mô hình như trên đi xa khỏi mô hình
Hubble.
Theo thuyết Evans, phóng xạ nền vũ trụ giải
trình năng lượng phóng xạ hấp thụ, và không thấy như chứng cứ
trong Big Bang (Vụ Nổ Lớn), không xảy ra trong mô hình này. Thay
vì có những miền đang phát triển và đang co lại của vũ trụ kế
nhau miền này với miền kia.
8. Tóm
tắt
Thuyết ECE mô tả thống nhất hóa 4 lực lượng
cơ bản, và phản ứng tương hỗ qua lại của chúng, theo môt phương
pháp phi chính giáo giản đơn. Mọi vật lý bị giảm xuống hình học.
Thuyết lượng tử được đặt trên một cơ sở quyết định nguyên nhan,
trong khi mô tả thống kê quá trình ở câp nguyên tử được bảo
lưu.
Những điểm quan trọng của thuyết ECE trình
bày dưới đây:
1. Không gian-thời gian được mô tả đặc tính
hoàn toàn bởi đường uốn cong và lực xoắn. Tất cả vật lý có thể
phát sinh, thông qua hình học vi phân, từ những tính chất nguyên
thủy nằm dưới này của không gian-thời gian.
2. Đường uốn cong là nền của lực hấp dẫn, và
lực xoắn là nền của trường điện từ. Lại, lực xoắn đòi hỏi đường
uốn cong, và ngược lại.
3. Thuyết ECE có nền toán học có cơ sở trên
hình học vi phân. Điều này tin một cách đọc quyền vào liên kết
nguyên nhân và không quá trình khảo nghiệm.
4. Thuyết ECE dựa trên ba định đề: định đề
đường uốn cong của Einstein và hai định đề lực xoắn của Evans
trong khu vực điện từ trường.
5. Công trình nghiên cứu sâu xa của Einstein
đang xâm nhập nhiều hơn so với được tin sẽ là lúc đầu. Một cách
đặc biệt, quan điểm của Einstein là "Mọi vật lý là hình học" và
là "cơ chế lượng tử không hoàn toàn" là đúng.
6. Lời giải trình Copenhagen về cơ chế lượng
tử là không đúng; không gian trừu tượng của thuyết lượng tử là
không gian tiếp tuyến của thuyết tương đối tổng hợp.
7. Việc ghép đôi điện động năng với lực háp
dẫn đưa đến một số lượng lớn phương pháp ứng dụng mới.
8. Trong khoa vũ trụ, không có Luật Hubblem
cũng không Big Bang.
Những ý kiến này khó đối với những nhà khoa
học trường đại học đã thiết lập trong việc tiêu hóa không xác
định phương hướng lại về mặt cơ bản chính họ. Thuyết Evans sẽ
nhận thúc đẩy mạnh trong việc phát triển xa hơn nếu điều này
thành công hiện tại mở ra những nguồn năng lượng mới. Sau đó
những ý kiến này sẽ thường được công nhận có hoặc không có sự hỗ
trợ của những trường đại học và trường viện nghiên cứu.
9. Tài liệu tham khảo
[1] http://
www.aias.us,
http://www.atomicprecision.com
[2] Myron W. Evans, Generally Covariant
Unified Field Theory, Part 1. Abramis, 2005, ISBN
1-84549-054-1
[3] L. G. Felker, The Evans Equations of
Unified Field Theory, preprint on http://.aias.us
[4]
www.aias.us/weblogs/log,html
[5]
http://en.wlkpedia.org/wlkl/Afshar_experiment.
http://www.aias.us/Comments/comments01022005.html
[6] P.K. Anastasovski et al., Development of
The Evans Wave Equation in The Weak Field
Limit: The Electrogravitic Equation,
preprint 2003
(http://www.aias.us/pub/electrogravitic2.pdf)
[7] F. Amador et al., Explanation of the
Faraday Disc Generator in the Evans Unified Field Theory, papwr
43 of the unified field series, 2005 (http://www.aias.us/pub/a43rdpaper,pdf)
[Translator's Note: I have tried to
faithfully render the authors' original ideas into English, but
do not necessarily endorse (nor disagree with) the views
expressed or discussed herein.]
RGC 12-03-2006 (08:00 PM)
Einstein, Cartan and Evans –
Start of a New Age in Physics?
Horst Eckardt,
Munich, Germany
Laurence G. Felker,
Reno, Nevada, USA
[original German article to be published online at:
http://www.borderlands.de/inet.jrnl.php3]
Summary
Although physicists have struggled in vain for over a
half-century to encompass all natural
forces within a unified theory, chemical physicist Myron W.
Evans has now succeeded.
Based on the fundamental insights of Albert Einstein and Elie
Cartan, Evans’ theory takes
the geometry of space-time itself as the origin of all forces of
Nature. As Einstein attributed
gravitation to the curvature of space-time, the new theory
attributes electromagnetism to the
torsion or twisting of space-time. The possibility of reciprocal
interactions between gravitation
and electromagnetism -- which possibility is denied in current
mainstream physics -- leads to
predictions of new physical effects which could be used to
produce power and energy from
space-time.
Introduction
For centuries, physicists and philosophers sought a unified
description of all phenomena of
Nature. We know today that the world at the sub-microscopic
quantum scale behaves very
differently than our familiar macroscopic experience. In
particular, theories of gravitation
have been irreconcilable with quantum theory. Therefore, one
expects that, if gravitation
could be unified with quantum theory, wholly new insights would
result. It now appears that
this unification has been achieved, but not in the manner
expected by previous generations
of scientists. This unification predicts fundamental new effects
– for example, the production
of energy (or power) without need for input of other primary
energy. This prediction, among
others, is creating great interest in professional and
scientific circles. We now review the
origins of this unification.
Albert Einstein in 1915 published a theory of the gravitational
interaction; he called this the
theory of General Relativity, and today it provides the basis
for our understanding and
exploration of the cosmos at large. In 1905, Einstein had
already produced the theory of
Special Relativity, which rests upon the well-known postulate of
“constancy of the speed of
light“ in vacuum. During the last thirty years of his life,
Einstein looked for a still more
comprehensive unified theory which could cover all known natural
forces. He spent the years
from approximately 1925 to 1955 in this search, but did not
reach his desired goal. Since the
discovery of quantum mechanics in the 1920’s, the majority of
physicists busied themselves
with this, and not with General Relativity. The fact that
quantum mechanics is consistent
only with Special Relativity, but not with General Relativity,
was overlooked or ignored. In
addition, while quantum mechanics is successful in describing
the electron sheath of atoms;
it is not a suitable theory for the high mass-densities which
occur within atomic nuclei.
Other notable progress toward unified theory in the 20th century
consisted of a unification of
electromagnetism with the weak nuclear force, via an extension
of the formalism of quantummechanics.
Gravitation has remained, until today, outside the Standard
Model of particle
physics.
Elie Cartan is less well-known than Einstein. He was a French
mathematician who
exchanged ideas with Einstein concerning many details of General
Relativity. Cartan’s
original insight was that electromagnetism could be derived, via
differential geometry, from
the geometry of space-time – more or less in parallel with
Einstein’s insight that gravitation
could be derived from space-time geometry.
A successful unification, however, was not achieved by Cartan
and/or Einstein. The
unification was finally achieved in the year 2003 by Myron Evans
who, trained as a chemical
physicist, brought fresh insight to the problem. Evans held
several academic professorships
in England and the USA, before he was forced to withdraw because
of his unorthodox views,
and he now works as a “private researcher“ in his homeland of
Wales. From there, he
conducts the “Alpha Institute for Advanced Study“ (AIAS), which
presents his ideas to the
public as a world-wide team or working-group. A
popular-scientific presentation is in [3].
Recently concentrating its work on energy production from the
vacuum -- a topic which
established science avoids – the AIAS website generates large
interest, as shown by the
steady increase in web-page statistics on the AIAS site [4].
Many well-known universities and
research establishments world-wide have visited these pages.
1 The four natural forces
To understand the importance of unification, one must start with
knowledge of the quantities
being unified. It is widely accepted in physics that all
interactions in Nature are
manifestations of four fundamental forces. . We characterize
these briefly as follows:
1. The seemingly separate force-fields generated by
electrostatic charge and
magnetism were united in the 19th century, largely by Maxwell,
into what is now
called electromagnetism, or the electromagnetic field.
2. The weak nuclear force is responsible for radioactive decay.
According to the
Standard Model of elementary particle physics, the weak
interaction is mediated by
the W- and Z-bosons, which are “virtual particles“. Neutrinos
also are known to be
involved in the weak interaction. It has been shown that the
weak force is essentially
the same as electromagnetism at very high energies. Thus, these
two forces are said
to be “already united“.
3. The strong nuclear force holds protons and neutrons together.
It is carried by gluons
and quarks in combination, although direct experimental proof of
their existence was
not achieved until recently.
4. Gravitation is the fourth fundamental force, but it does not
fit with the theoretical
picture of the other three, since it is regarded (after
Einstein's General Relativity
theory) as the curvature of space-time, which does not
correspond to a classical force
term. On the other hand, General Relativity today has been
well-tested
experimentally, so that nobody doubts its validity.
2 Unification
If a unified description and formalism could be given for these
four very different forces,
many new theoretical insights and practical applications would
result. In addition, mutuallyreciprocal
interactions -- which today’s mainstream physics does not
recognize -- could then
be predicted and used. As we will see later, such interactions
open new possibilities for
power generation. In view of the urgent global energy crisis,
this might be the most important
application of such a unification.
The first three fundamental forces concern quantum physics (the
world “in the small“), while
the fourth force (gravitation) applies on all scales, including
cosmic orders of magnitude.
Therefore, the underlying fundamental problem is to unify
General Relativity with quantum
mechanics. Conventional science has explored essentially three
different pathways which
might achieve this result:
1. Bringing general relativity into quantum physics. The
insurmountable difficulty here is
that time in quantum physics is treated as a unique continuous
parameter, which is
incommensurate with the quantized coordinates of distance (or
spatial displacement).
2. Quantization of General Relativity. But the mathematical
formalism for this approach
is thus far inconclusive, and unable to make reference to
experimental tests.
3. Invention of a totally new theory, from which the others
follow. The various “string
theories” are examples, but they require un-physical
high-dimensional spaces (N>10),
and have not produced testable predictions.
The solution comes, surprisingly, in an unexpected way. By
extending the Einstein theory
along the lines first suggested by Cartan, Evans shows that all
four fundamental forces are
derivable from one extended theory. This represents the
long-sought Unified Field Theory.
Evans’ approach does not exactly follow any of the three
above-mentioned pathways,
although it is closest to the third one in the list.
3 Basis for Evans’ theory
To understand the basis of Evans’ theory, we must review the
starting-point of Einstein’s
relativity theory. Einstein postulated that the presence of a
massive body or an energy
distribution in space (which are really interchangeable,
according to the famous formula
E=mc2)
changes the geometry of space. Viewed from right-angles within a
Euclidean
coordinate system, it “creates” a curvature of space (or, more
accurately, space-time).
One
can write this directly as a formula:
R = k T
In which R designates the (tensor of) curvature, T the (tensor
of) energy-momentum density,
and k is a proportionality constant. The left side of this
formula is geometry, the right side is
physics. Einstein thus used the geometry of curvilinear
coordinates, which goes back to the
mathematician Riemann. This formula implies that space-time
(i.e. the three space
coordinates, and time as the fourth coordinate) is a
4-dimensional continuum (or manifold)
whose curvature we perceive as a force (namely gravitation).
Notably, Einstein’s formula did not exploit all possible
characteristics of Riemann’s geometry.
It turns out that R describes only the
intrinsic curvature
of the manifold; in other words, it is
limited to describing vectors whose point-to-point variation
lies entirely within the manifold
(see Fig. 1A).
In contrast to this, Cartan employed considerations of
extrinsic curvature.
This means that
vectors are also allowed to vary within (and normal to) the
plane tangent to the manifold at
any point (see Fig. 1B). Cartan showed that the extrinsic
curvature of space-time could be
taken to represent electromagnetism as described by the Maxwell
equations. Unfortunately,
Einstein’s use of the mathematical concept of tensors made the
relation to Cartan’s concept
of geometry unclear. Cartan used the so-called “tetrad” to
represent the manifold’s extrinsic
curvature. In the 3-dimensional case, this reduces to a
Cartesian-coordinate “triad”, which
moves along with a point in space. More exactly said, the tetrad
specifies a tangent space at
each point of the Riemann manifold. In this way, one maintains
at each point a Euclidean
tangent space (a so-called fiducial space), which greatly
simplifies the description and
visualization of physical processes (Fig. 2).
Fig.2: Tangent plane at a curved surface
Despite the value of Einstein’s and Cartan’s insights, a united
theory could not yet be
formulated, because experimental indications of how to extend
Maxwell’s theory in a manner
consistent with General Relativity were still missing. The
crucial connection was found by
Evans around 1990 in the spin field or B(3)
field.
The decisive empirical effect -- the Inverse Faraday Effect
(IFE), i.e. the magnetization of
matter by a beam of circular-polarized electromagnetic
radiation, first observed
experimentally in 1964 -- could not be explained by
Maxwell-Heaviside electrodynamics,
except by introducing an ad-hoc material property tensor.
However, Evans in 1992 was able to derive the IFE directly from
first principles (generallycovariant
unified field theory, which includes general relativity), and
thereby inferred the
existence of a previously unknown magnetic field component --
the B(3) field.
B(3) is, informally, a general-relativistic correction to
classical electrodynamics, somewhat
analogous to the general-relativistic correction to Newtonian
gravitation needed to explain
the perihelion-advance of Mercury.
The index numbers – (1), (2) and (3) -- here refer to the
so-called circular basis; and the
polarization directions B(1)
and B(2)
refer to the directions of transverse polarization of the
field. Thus a polarization index must be inserted into the
Maxwell equations. This polarization
index corresponds to the tetrad vectors qa
in Fig. 2. Finally, this leads Evans to postulate
that the geometrical representation of the electromagnetic
vector-potential A should be a
follows:
Aa
= A(0)
qa
where A is the 4x4-matrix of the complete electromagnetic
potential, and A(0)
is a
proportionality factor. The electric and magnetic fields
(combined into the tensor Fa
of the
total electromagnetic field) then emerge directly from Cartan’s
expression for the torsion Ta:
Fa
= A(0)
Ta
In this formalism, electrodynamics is completely attributed to
the geometrical torsion of
space-time. The complete picture, unifying electromagnetism with
gravitation, requires both
Riemann curvature and Cartan torsion. The intrinsic curvature
determines gravitation, and
the extrinsic curvature (i.e., torsion) determines the
electromagnetic field. This is described in
detail by suitable field equations in form of Riemann-Cartan
geometry. This theory is now
called Einstein-Cartan-Evans (ECE) theory, after the names of
its principal authors.
4 Unification with strong and weak forces
Still to be described is how the remaining two fundamental
forces are represented in the ECE
theory.
If one analyzes the equations of the theory, it is noticeable
that it is formulated for the tangent
space of the Riemann manifold. The number of basis vectors of
this space can be selected
freely, it needs not be four-dimensional. Thereby the
possibility is offered of selecting such
bases which are suitable for the description of quantized action
(e.g. electron spin).
Furthermore Evans derived from Cartan geometry a wave equation,
which is in principle a
nonlinear eigenvalue equation. Under certain approximation
assumptions. this equation
becomes linear and predicts discrete stable states. Those are
the “quanta” of energymomentum
in quantum mechanics. All quantum-mechanical theories, in
particular Dirac’s
electron theory, and the strong and weak interactions, can be
deduced in this way as special
cases of the ECE theory.
If we compare this result with the three conventional paths to
unification referred to above, it
is noticeable that none of these was actually used. The new
theory predicts quantum effects
without assuming them (as a postulate) from the beginning. The
first two forces
(electromagnetism and weak force) are combined, the third and
fourth turn out to be
derivable from other considerations. In short, there are no
truly “fundamental forces” because
they all emerge from geometry!
5 Implications for quantum physics
The main implication is that quantum theory in its current form
is not a fundamental
description of Nature. In particular, the Heisenberg
interpretation and the Correspondence
principle are incorrect. The ECE version of quantum physics
rests upon a classical, fully
deterministic basis; quantum indeterminacy plays no role.
Nevertheless the equations of
quantum mechanics (for instance the Schroedinger equation) are
correct and describe
classical statistical processes. It would be a mark against ECE
theory if it did not predict this
result, because the equations of quantum mechanics are
experimentally verified a thousandfold.
Evans also argues that the Heisenberg Uncertainty relation arose
only by a
misunderstanding, and is not justifiable. All physical
mass-points of a field theory are actually
densities -- i.e. quanta of matter-energy spread over a volume
of space. Thereby the Planck
quantum of action is to be divided by the volume, for instance,
of the measuring instrument in
which two complementary variables (e.g. position and momentum)
are measured. The result
can become arbitrarily small, i.e. the uncertainty can be
reduced to powers of ten smaller
than previously believed. An elementary particle, therefore, is
neither exclusively a wave, nor
exclusively a particle, but possesses characteristics of both at
the same time.
This sounds fantastic as a theory of physics, but exactly that
was measured already some
years ago [5]. The experimental refutation of the uncertainty
relation was accomplished by
mainstream physics.
Fig.3: The Aharonov Bohm effect
As a further example of an effect which was previously difficult
to explain, we consider the
Aharonov Bohm effect (Fig. 3). Two electron beams are diffracted
by a double gap, at the
screen, a typical interference pattern is produced. In the
diffraction zone is a closed toroidal
coil. The magnetic field is circularly closed and thus remains
within the coil. If one now
switches on and off the magnetic field, in each case two
different interference patterns result.
The closed magnetic field thus has an effect on the electron
beams, although these are not
in direct contact with the coil. This appears to be a
quantum-mechanical “action at a
distance“, which has given rise to many confusions and unsound
speculations.
This problem is treated in ECE theory as follows. The magnetic
field of the coil creates a
space-time “vortex” (due to its torsion) which extends into the
space outside of the coil itself.
The pulling effect of this vortex (i.e. the effect of
vector-potential A) is then able to influence
the electron beams. Thus, the apparent “action at a distance” is
reduced formally to local,
causal deterministic effect.
Evans points out that torsion is always accompanied by
curvature. Since curvature is
manifested as gravitational mass, it follows that the spin of
all elementary particles must
contribute a component to their gravitational mass. From the
neutrino one knows this
already experimentally, even if the standard model fails here.
Also photons must possess a
gravitational mass, which is extremely small, however, and is
situated below current
detection limits.
6 Implications for technology
Typically, new theories lead to practical applications only
after many years. In the case of
nuclear fusion, the hope of producing useful power for society’s
use remains unfulfilled even
after 50 years. In contrast, the ECE theory suggests direct
applications in diverse fields -- in
particular, the urgent question of energy production.
The possibility of a new energy source arises from the
reciprocal interaction between
gravitation and electromagnetism. According to current standard
theory (Maxwell equations)
this interaction is not possible.
However, the ECE theory predicts that a gravitational field is
always connected with an
electrical field, and vice-versa [6]; this might be called
“electrogravitics”. The effect has been
known empirically for decades, of course, but until now has
lacked a quantitative description.
That is now possible with assistance of the ECE theory. This
application should interest the
aircraft and space industries greatly.
In the area of electrical generators, the unipolar generator
awaited an adequate explanation
since its invention by Faraday in 1831. This is now completely
explainable [7]. Similarly as
with the Aharonov Bohm effect, the torsion of space-time must be
considered. In this case it
is created due to the mechanical rotation.
The most interesting technical application involves the
extraction of energy directly from
space-time. One must understand this as a resonance effect.
First the equations of ECE
theory show that matter can “transduce” energy from the
surrounding space-time (one
sometimes speaks also of “vacuum”). To accomplish this in
practice requires that one
fabricate a suitable configuration of space-time, e.g. a
skillful mechanical or electromagnetic
arrangement. The configuration must be so arranged that a
resonant excitation of the
material takes place. One knows from forced mechanical
oscillations that, with suitable
excitation frequency, large amounts of power can be transferred
to or from the oscillating
system.
Probably many “overunity” inventions on the alternative power
scene function this way. In
these cases, the inventors found the resonance mechanism by
accident. Therefore, some
experiments are not repeatable, because the fundamental
mechanism and critical system
parameters, which led to the desired result, are not actually
known.
The ECE theory makes it possible to calculate these parameters
exactly. The AIAS group is
presently studying the excitation mechanism, via numerical
solution of the ECE equations.
Experimentally the focus is on resonance excitation in
electrical circuits. If one can obtain
power in this way, mechanically moving parts (as in generators)
are not required; and due to
the smallness of the source, each electrical appliance could, in
principle, be fitted with its
own power supply. The basic components would be cascadeable up
to power station size.
A final application is in medical technology. Nuclear
magnetic-resonance (NMR) tomography
requires very high magnetic fields, which forces a
correspondingly complex design and
construction. Instead one could use the Inverse Faraday Effect
(described above) to
generate the required magnetic fields in the patient. This
requires only electromagnetic
radiation in the radio-frequency range. Large solenoid coils are
then not required, and the
NMR apparatus could be built substantially smaller and cheaper.
7 Implications for cosmology
The ECE theory also has implications for astrophysics and
cosmology. Expansion of the
universe is conventionally said to be governed by Hubble’s Law,
which predicts that galaxies
move away from us all the faster, the further they are distant
from us. This is based on the
red shift of starlight from the receding galaxies.
However, astronomers have recently found red-shift fluctuations
which cannot be reconciled
with Hubble’s Law, although this is not publicly discussed. The
ECE theory can explain these
deviations easily. One can translate the ECE equations into a
dielectric model. The
reciprocal effect between radiation and gravitation is described
therein by introducing a
complex-valued dielectric constant. This leads to predictions of
refraction of light and
absorption. In areas of the universe with high mass-density, the
dielectric constant is larger
than in areas of low mass -density. The absorption of energy
within these areas leads to an
increased red shift. Such a model goes far beyond the Hubble
model.
In Evans’ theory, the cosmic background radiation accounts for
absorbed radiation energy,
and is not seen as evidence for the Big Bang, which does not
occur in this model. Instead
there are expanding and contracting zones of the universe
adjacent to each other.
8 Summary
The ECE theory describes a unification of the four fundamental
forces, and their reciprocal
interactions, in a simple unorthodox way. All physics becomes
reduced to geometry. The
quantum theory is placed on a causal deterministic basis, while
statistical description of
processes on the atomic level is preserved.
The important points of the ECE theory are the following:
1. Space-time is completely specified by curvature and torsion.
All physics can be
derived, via differential geometry, from these underlying
primordial qualities of spacetime.
2. Curvature is the basis of gravitation, and torsion is the
basis of electromagnetism.
Also, torsion implies curvature, and vice-versa.
3. The ECE theory is mathematically based on differential
geometry. It relies exclusively
on causal connections and no stochastic processes.
4. The ECE theory rests on three postulates: the curvature
postulate of Einstein and the
two torsion postulates of Evans within the electromagnetic
sector.
5. The insights of Einstein are even more penetrating than they
were believed to be at
first. Specifically, Einstein’s views that “all physics is
geometry” and that “quantum
mechanics is incomplete” are correct.
6. The Copenhagen interpretation of quantum mechanics is
incorrect; the abstract
space of quantum theory is the tangent space of the general
relativity.
7. The coupling of electrodynamics with gravitation leads to a
large number of new
applications.
8. In cosmology, there is neither a Hubble Law, nor a Big Bang.
These ideas are difficult for established university scientists
to digest without fundamentally
re-orienting themselves. The Evans theory will receive strong
impetus for further
development if it actually succeeds opening new energy sources.
Then these ideas will
become generally accepted either with or without the support of
universities and research
institutes.
9 References
[1] http://www.aias.us, http://www.atomicprecision.com
[2] Myron W. Evans, Generally Covariant Unified Field Theory,
Part 1. Abramis, 2005, ISBN
1-84549-054-1
[3] L.G. Felker, The Evans Equations of Unified Field Theory,
preprint on http://www.aias.us
[4] www.aias.us/weblogs/log.html
[5]http://en.wikipedia.org/wiki/Afshar_experiment,
http://www.aias.us/Comments/comments01022005.html
[6] P.K. Anastasovski et al., Development Of The Evans Wave
Equation In The Weak Field
Limit: The Electrogravitic Equation, preprint 2003
(http://www.aias.us/pub/electrogravitic2.pdf)
[7] F. Amador et al., Explanation of the Faraday Disc Generator
in the Evans Unified Field
Theory, paper 43 of the unified field series, 2005
(http://www.aias.us/pub/a43rdpaper.pdf)
[Translator’s Note: I have tried to faithfully render the
authors’ original ideas into English, but
do not necessarily endorse (nor disagree with) the views
expressed or discussed herein.]
Trở về Trang Chính
|