NGUYÊN LÝ ECE

EINSTEIN, CARTAN và EVANS

bắt đầu một thời đại vật lý mới?

Horst Eckardt

 Munich, Đức Quốc

 

Laurence G. Felker

Reno, Nevada, USA

 


Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

16 tháng 03 năm 2006

® Ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

Albert Einstein

Elie Cartan

Myron W. Evans1

 

Tóm tắt:

Mặc dù những nhà vật lý đã đấu tranh một cách tuyệt vọng trong thời gian trên nửa thế kỷ để vượt qua tất cả những lực lượng thiên nhiên trong một nguyên lý thống nhất, nhà vật lý hóa học Miron W. Evans hiện nay đã thành công. Dựa trên những công trình nghiên cứu sâu của Albert Einstein và Elie Cartan, nguyên lý của Evans dùng hình học không gian-thời gian chính nó như là xuất xứ của mọi lực lượng của Thiên nhiên. Khi Einstein gán thuộc tính trọng lực cho đường cong không gian-thời gian, nguyên lý mới gán thuộc tính điện từ tính cho việc xoắn hoặc bện không gian-thời gian. Khả năng của những phản ứng tương hỗ tương phản giữa trọng lực và điện từ tính- mà khả năng bị chối bỏ trong vật lý dòng chảy chính hiện nay- đưa đến những dự báo những hiệu ứng vật lý mới có thể được dùng để tạo ra điện lực và năng lượng từ không gian-thời gian.

 

Phần dẫn nhập

Hàng thế kỷ, những nhà vật lý và triết gia tìm kiếm một mô tả thống nhất của mọi hiện tượng tự nhiên. Ngày nay chúng ta biết là thế giới ở tỷ lệ lượng tử trên kính hiển vi phụ có tập tính rất khác nhau so với kinh nghiệm vĩ mô quen thuộc. Nói riêng, những nguyên lý trọng lực không tương thích với nguyên lý lượng tử. Vì thế, người ta mong đợi là, nếu trọng lực có thể thống nhất được với nguyên lý lượng tử, một cách tổng thể nhưng công trình nghiên cứu sâu có thể cho kết quả. Hiện nay điều xuất hiện là sự thống nhất này đã được hoàn tất, nhưng không cùng một phương pháp mong đợi bởi những thế hệ khoa học gia đi trước. Sự thống nhất này dự báo những hiệu ứng mới cơ bản- ví dụ, tạo ra năng lượng (hoặc điện năng) không cần đầu vào của những năng lượng cơ bản khác. Dự báo này, trong những dự báo khác, đang tạo ra mối quan tâm lớn trong giới chuyên nghiệp và khoa học gia.

 

Albert Einstein năm 1915 công bố một nguyên lý phản ứng tương hỗ trọng lực; ông gọi nguyên lý này là nguyên lý tương đối tổng hợp, mà hiện nay nó tạo nền cho sự hiểu biết của chúng ta và khai thác vũ trụ một cách tự do. Năm 1905, Einstein đã tạo ra một nguyên lý Tương đối Đặc biệt, khảo nghiệm định đề nổi tiếng "tính không thay đổi tốc độ của ánh sáng" trong chân không. Trong suốt 30 năm cuối cuộc đời ông, Einstein tìm một nguyên lý thống nhất liên quan nhiều hơn có thể bao trùm mọi lực thiên nhiên đã biết. Ông đã trải qua nhiều năm ước chừng từ 1925 đến 1955 trong viêc tìm kiếm, nhưng không đạt mục tiêu mong đợi của ông. Vì việc khám phá cơ chế lượng tử trong những năm 1920, nhiều nhà vật lý bận rộn với vấn đề này, và không với thuyết Tương đối Tổng hợp. Sự việc là những cơ chế lượng tử chỉ phù hợp với thuyết Tương đối Đặc biệt, không với thuyết Tương đối Tổng hợp, và bị bỏ qua hoặc không để ý đến. Ngoài ra, trong khi cơ chế lượng tử thành công trong việc mô tả bao điện tử nguyên tử; điều này không phải là một nguyên lý thích hợp trong những tỷ trọng khối cao xuất hiện trong nhân nguyên tử.

Những bước tiến đáng chú ý khác về phía nguyên lý thống nhất trong thế kỷ 20 gồm có sự thống nhất điện từ tính với lực lượng hạt nhân yếu, thông qua việc phát triển chủ nghĩa hình thức của cơ chế lượng tử. Trọng lực còn lại, đến ngày nay, bên ngoài mô hình tiêu chuẩn vật lý hạt nhân.

 

Elie Cartan ít nổi tiếng so với Einstein. Ông là một nhà toán học người Pháp trao đổi ý kiến với Einstein liên quan nhiều chi tiết về thuyết Tương đối Tổng hợp. Công trình nghiên cứu sâu xa đầu của Cartan là điện từ tính có thể phát sinh, thông qua hình học vi phân, từ hình học không gian-thời gian- nhiều hoặc ít song hành với công trình nghiên cứu sâu xa của Einstein là trọng lực có thể phát sinh từ hình học không gian-thời gian.

 

Tuy nhiên, một thống nhất hóa thành công, không được hoàn tất bởi Cartan và/hoặc Einstein. Sự thống nhất hóa cuối cùng được hoàn tất trong năm 2003 bởi Myron Evans người, được đào tạo như một nhà vật lý hóa hoc, đưa công trình nghiên cứu sâu xa mới đến với vấn đề. Evans giữ vài quan hệ chuyên nghiệp khoa học ở Anh và Mỹ, trước khi ông bị bắt buộc rút lui vì quan điểm không chính giáo, và hiện nay ông làm việc như một "nhà nghiên cứu tư nhân" tại quê nhà của ông, xứ Wales. Từ đây, ông điều hành "Viện Nghiên Cứu Cấp Cao Alpha (AIAS), trình bày quan điểm của ông với quần chúng như là một nhóm cấp quốc tế hoặc một nhóm hoạt động. Một trình bày khoa học phổ biến trong phần (3). Mới tập trung công trình nghiên cứu của ông vào việc tạo ra năng lượng từ chân không- một đề tài khoa học thiết lập đã tránh- website AIAS tao ra mối quan tâm lớn, như đã trình bày bởi gia tăng đều trong thống kê trang web về AIAS (4). Nhiều trường đại học nổi tiếng và trường viện nghiên cứu cấp quốc tế đã vào những trang này.

 

1.      Bốn lực lượng tự nhiên

Để hiểu rõ tầm quan trọng của thống nhất hóa, người ta phải bắt đầu với kiến thức về lượng tử đang được thống nhất. Điều này được chấp nhận rộng trong môn vật lý là mọi phản ứng tương hỗ trong Thiên Nhiên là những biểu hiện của bốn lực lượng cơ bản. Chúng tôi mô tả đặc tính những điều này một cách vắn tăt như sau:

 

          1. Bốn trường lực lượng hình như riêng biệt phát sinh từ việc trao đổi tĩnh điện và từ tính đã được thống nhất trong thế kỷ 19, phần lớn bởi Maxwell, vào điều mà hiện nay được gọi là điện từ tính, hoặc điện từ trường.

 

          2. Lực lượng hạt nhân yếu chịu trách nhiệm về việc phân hủy chất phóng xạ. Theo Mô hình Tiêu chuẩn của môn vật lý hạt cơ bản, phản ứng tương hỗ yếu có trung gian bởi những bosons W và Z, là những hạt có thể thấy. Neutrines cũng đã được biết sẽ liên quan trong phản ứng tương hỗ yếu. Điều đã được trình bày là lực lượng yếu đều là một một cách cần thiết như điện từ tính ở những năng lượng rất cao. Vì thế, hai lực lượng này được nói là "đã thống nhất",

 

          3. Lực lượng hạt nhân mạnh giữ protons và neutrons cùng nhau. Lực này được mang bởi gluons và quarks trong phối hợp, mặc dù chứng cứ khảo nghiệm trực tiếp của sự hiện có không được hoàn tất tính đến gần đây.

 

          4. Trọng lực là lực lượng cơ bản thứ tư, nhưng nó không thích hợp với hình ảnh lý thuyết của ba lực lượng kia, vì nó được xem (theo thuyết Tương đối Tổng hợp) như đường biểu diễn không gian-thời gian, không tương ứng với một từ lực lượng cổ điển. Mặt khác, thuyết Tương đối Tổng hợp hiện nay đã được khảo nghiệm kỹ về mặt thực nghiệm, vì thế không ai nghi ngờ tính cách hợp pháp của nó.

 

 

2.      Thống nhất hóa

Nếu một mô tả thống nhất và chủ nghĩa hình thức có thể cho trong bốn lực lượng rất khác nhau này, nhiều công trình nghiên cứu sâu xa về lý thuyết mới và phương pháp ứng dụng thực hành có thể cho kết quả. Ngoài ra, phản ứng tương hỗ tương phản lẫn nhau- mà môn vật lý dòng chảy chính hiện nay không công nhận- sau đó có thể được dự báo và được dùng. Như chúng ta sẽ thấy về sau, những phản ứng tương hỗ trên mở ra những khả năng mới trong việc phát sinh điện năng. Về mặt khủng hoảng năng lượng toàn cầu bức xúc, điều này có thể là phương pháp ứng dụng quan trọng nhất của thống nhất hóa nói trên.

 

Ba lực lượng cơ bản đầu quan tâm vật lý lượng tử (trong hệ thống vi mô), trong khi lực lượng thứ tư (trọng lực) áp dụng ở một tỷ lệ, gồm có thứ tự quan trọng vũ trụ. Vì thế, vấn đề cơ bản nằm dưới là việc thống nhất hóa thuyết Tương đối Tổng hợp với cơ chế lượng tử. Khoa học thường đã sử dụng một cách cần thiết ba đường dẫn khác nhau có thể hoàn tất kết qủa này.

 

          1. Mang thuyết tương đối tổng hợp vào vật lý số lượng. Khó khăn không thể vượt qua ở đây là thời gian trong vật lý lượng tử được xử lý như một tham số thường xuyên độc nhất, không thể đo lường với những tọa độ số lượng hóa khoảng cách (hoặc chuyển dịch trong không gian).

 

          2. Xác định số lượng thuyết tương đối tổng hợp. Nhưng công thức toán học trong phương pháp tiếp cận này vì thế không thể kết luận, và không thể tham khảo với trắc nghiệm khảo nghiệm.

 

          3. Phát minh nguyên lý mới hoàn toàn, từ đó những thuyết khác theo sau. Những "thuyết dây" là những ví dụ, nhưng chúng đòi hỏi không gian hai chiều cao phi vật lý (N > 10), và không tạo ra dự báo có thể khảo nghiệm.

 

Giải pháp, một cách đáng ngạc nhiên, đi vào một đường lối không mong đợi. Bằng cách phát triển thuyết Einstein cùng với những tuyến gợi ý đầu tiên bởi Cartan, Evans cho biết là tất cả bốn lực lượng cơ bản có thể trích từ một thuyết phát triển. Điều này tiêu biểu Thuyết Trường Thống nhất hóa tìm kiếm lâu dài. Phương pháp tiếp cận Evans không theo đúng bất kỳ một trong ba đường dẫn trình bày trên, mặc dù điều này gần nhất với đường dẫn ba trong danh sách.

 

3.        Nền của Thuyết Evans

Để hiểu rõ nền của Thuyết Evans, chúng ta phải xem lại điểm xuất phát của thuyết tương đối của Einstein. Einstein giả dụ là sự hiện diện của phân bố một khối lượng hoặc một năng lượng trong không gian (thật ra là có thể trao đổi, theo công thức nổi tiếng E= mc2) làm thay đổi hình học không gian. Khảo sát từ những góc phải trong hệ thống tọa độ Euclide, điều này tạo ra đường biểu diễn không gian (hoặc, một cách chính xác nhiều hơn, không gian-thời gian). Người ta có thể viết điều này như một công thức:

          R = k T

 Trong đó R chỉ định (lực căng của) đường biểu diễn, T (lực căng của) tỷ trọng năng lượng-momen, và k là một hằng số tỷ lê. Vế trái của công thức này là hình học, vế phải là vật lý. Vì thế Einstein đã sử dụng hình học của những tọa độ đường cong, trở lại nhà toán học Riemann. Công thức này bắt buộc là không gian-thời gian (nghĩa là ba tọa độ không gian, và thời gian như là tọa độ thứ tư) là một continum 4-chiều (hoặc đa chiều) mà đường biểu diễn thông qua nhận thức như là một lực lượng (gọi là trọng lực).

 

 Một cách đáng chú ý, công thức Einstein không khai thác tất cả những đặc tính có thể thực hiện của hình học Riemann. Điều này chuyển sang là R chỉ mô tả đường cong bên trong của đa chiều; nói cách khác, điều này bị giới hạn trong việc mô tả vectơ mà biến đổi điểm- đối- điểm nằm hoàn toàn trong hệ đa chiều (xem Hình 1A)

 

Hình 1 Cong và xoắn

 

A) Cong- Đường cong không gian thời gian

 

B) Xoắn- Xe chỉ không gian thời gian

 

Ngược lại điều này, Cartan sử dụng những khảo sát của đường cong bên ngoài. Điều này có nghĩa là vectơ cũng được phép thay đổi bên trong (và thường với) mặt phẳng tiếp tuyến với đa chiều ở bất kỳ điểm nào (xem hình 1B). Cartan cho thấy là đường cong bên ngoài của không gian- thời gian có thể được dùng để biểu hiện điện từ tính như mô tả bởi những công thức Maxwell. Chẳng may, việc sử dụng quan điểm toán học của Einstein về độ căng tạo ra quan hệ với quan điểm của Cartan về hình học không rõ. Cartan đã dùng cái gọi là "tetrad" (thể bốn) trong việc thể hiện đường cong bên ngoài đa chiều. Trong trường hợp ba chiều, điều này giảm xuống một tọa độ Cartan "triad" (thể ba), di chuyển cùng với một điểm trong không gian. Nói đúng nhiều hơn, thể bốn tetrad mô tả đặc tính một không gian tiếp tuyến ở mỗi điểm của đa chiều Riemann. Trong đường này một duy trì ở mỗi điểm của không gian tiếp tuyến Euclide (một không gian gọi là fiducial (điểm chuẩn để so sánh)), đơn giản hóa nhiều bản mô tả và hình dung hóa những qui trình vật lý (Hình 2)

 

Hình 2. Mặt phẳng tiếp tuyến ở một bề mặt cong.

 

Mặc dù giá trị công trình nghiên cứu sâu xa của Einstein và Cartan, một nguyên lý thống nhất có thể chưa được công thức hóa, vì chỉ dấu khảo nghiệm làm cách nào phát triển nguyên lý Maxwell theo một cung cách phù hợp với thuyết Tương đối Tổng hợp còn đang thiếu. Sự liên kết quyết định được tìm ra bởi Evans khoảng năm 1990 trong trường xoay tròn hoặc trường B(3).

Hiệu ứng thực nghiệm quyết định- Hiệu ứng Faraday ngược (IFE), nghĩa là từ tính hóa vật chất bởi một chùm bưc xạ điện từ tính phân cực vòng, được khảo sát lần đầu thực nghiệm năm 1994- không thể giải trình bởi điện động năng Maxwell-Heaviside, trừ trường hợp đưa vào một lực căng sở hữu vật liệu đặc biệt.

 

Tuy nhiên, Evans năm 1992 có thể trích IFE trực tiếp từ những nguyên lý đầu (thường nguyên lý trường thống nhất đồng biến, gồm có thuyết tương đối tổng hợp), và vì thế suy ra sự hiện có của một thành phần từ trường không biết trước- trường B(3).

 

B(3) là, một cách không chính thức, việc sửa chữa thuyết tương đối tổng hợp thành điện động năng cổ điển, chừng mực giống như sửa chữa thuyết tương đối tổng hợp thành trong lực Newton cần trong việc giải trình tiến bộ điểm chuẩn gần mặt trời (perihelion-advance) của sao Thủy (Mercury).

 

Những số lượng chỉ số -(1), (2) và (3) -- ở đây được xem như cái gọi là cơ sở vòng; và những hướng phân cực B(1) và B(2) được xem như những hướng phân cực ngang (transverse) của trường. Vì thế một chỉ số phân cực phải đượ chèn vào những công thức Maxwell. Chỉ số phân cực này với những vectơ thể bốn qa trong Hình 2. Cuối cùng, điều này đưa đến việc Evans giả dụ là trình bày hình học của tiềm tàng vectơ điện từ tính A phải là như sau:

          A2 = A(0) q2

Trong đó A là ma trận 4x4 của tiềm tàng điện từ tính hoàn toàn, và A(0) là một yếu tố tỷ lệ. Những trường điện và từ (kết hợp trong một lực căng F2 của  trường điện từ tổng số) sau đó phát sinh trực tiếp từ biểu thức Cartan trong lực căng T2:

          F2 = A(0) T2

 

Trong chủ nghĩa hình thức này, điện động năng có thuộc tính hoàn toàn vào lực căng hình học của không gian-thời gian. Hình ảnh hoàn toàn, trong việc thống nhất điện từ tính với trọng lực, đòi hỏi cả hai đường cong Riemann và lực căng Cartan. Đường cong bên trong xác định trọng lực, và đường cong bên ngoài (nghĩa là lực xoắn) xác định trường điện từ. Điều này được mô tả chi tiết bằng những công thức trường thích hợp dưới hình thức hình học Riemann-Cartan. Nguyên lý này hiện nay được gọi là nguyên lý Einstein-Cartan-Evans (ECE), sau những tên gọi của những tác giả chính của nó.

 

4.      Thống nhất hóa với những lực lượng mạnh và yếu

Vẫn sẽ được mô tả là làm cách nào hai lực lượng cơ bản còn lại được trình bày trong nguyên lý ECE.

 

Nếu người ta phân tích nhưng công thức của nguyên lý, điều đáng chú ý là điều này được công thức hóa trong không gian tiếp tuyến của đa chiều Riemann. Số lượng vectơ nền của không gian này có thể được chọn một cách tự do, cần không phải là 4-chiều. Do đó khả năng có để chọn như nênf thích hợp trong việc mô tả hành động xác định lượng tử (ví dụ xoay tròn điện tử). Hơn nữa Evans trích từ hình học Cartan một công thức sóng, trên nguyên tắc là một công thức eigenvalue phi tuyến tính. Trong những giả thuyết phỏng chừng, công thức này trở thành tuyến tính và dự báo tình trạng ổn định dè dặt. Những công thức đó là "lượng tử" của năng lượng-momen trong cơ chế lượng tử. Tất cả những nguyên lý cơ học lượng tử, nói riêng nguyên lý Direc's electron, và những phản ứng tương hỗ mạnh và yếu, có thể được suy diễn theo phương pháp này như những trường hợp đặc biệt của thuyết ECE.

 

Nếu chúng ta so sánh kết quả này với ba đường dẫn thường đến thống nhất hóa tham khảo trên, điều đáng chú ý là không trong ba đường dẫn này hiện nay được dùng. Thuyết mới dự báo hiệu ứng lượng tử không giả định chúng (như là một định đề) từ đầu. Hai lực lượng đầu (điện từ tính và lực lượng yếu) được kết hợp, lực lượng ba và bốn chuyển sang có thể phát sinh từ những khảo sát khác. Nói tóm lại, không có "lực lượng cơ bản" thật vì chúng tất cả phát sinh từ hình học!.

 

5.       Những điều kiện bắt buộc trong vật lý lượng tử

Điều kiện bắt buộc chủ yếu là thuyết lượng tử dưới hình thức hiện tại của nó không phải là một chuyên ngành cơ bản của Thiên nhiên. Nói riêng, lời giải trình của Helsenberg và nguyên lý Corespondence (Tương ứng) là không đúng. Phiên bản ECE của vật lý lượng tử vẫn là cổ điển, cơ sở quyết định hoàn toàn; tính không xác định lượng tử không giữ vai trò nào cả. Tuy nhiên những công thức cùa cơ chế lượng tử (ví dụ công thức Schrodinger) đúng và mô tả quá trình thống kê cổ điển. Điều này có thể là một dấu chống lại thuyết ECE nếu điều này không dự báo kết quả này, vì những công thức cơ chế lượng tử về mặt thực nghiệm xác minh ngàn chiều.

 

Evans còn thảo luận là quan hệ không chắc chắn chỉ phát sinh bởi không hiểu rõ, và không thể xác minh. Tất cả những điểm khối lượng vật lý của một thuyết trường hiện nay là tỷ trọng- nghĩa là lượng tử của năng lượng vật chất lan tỏa trên một khối lượng không gian. Vì thế lượng tử Planck của hành động sẽ được chia bởi khối lượng, ví dụ, của công cụ tính toán trong đó hai biến số bổ sung (ví dụ vị trí và momen) được tính toán. Kết quả có thể trở thành nhỏ trung gian, ví dụ tính không chắc có thể bị giảm xuống những lực 10 lần nhỏ nhiều hơn đã tin từ trước. Vì thế, một hạt cơ bản không đọc quyền là một sóng, cũng không độc quyền là một hạt, nhưng có hai đặc tính cùng một lúc.

 

Điều này có vẻ không tưởng như là một thuyết vật lý, nhưng đúng là được tính toán từ vài năm qua [5]. Sự bác bỏ khảo nghiệm quan hệ không chắc chắn được hoàn tất bởi vật lý chủ đạo.

 

Hình 3. Hiệu ứng Aharonov Bohm

 

Như một ví dụ hiệu ứng nữa trước đây khó giải thích, chúng tôi xem hiệu ứng Aharonov Bohm (Hình 3). Hai chùm electron bị nhiễu xạ bởi hai khoảng trống, ở màn hình, một mô hình can thiệp điển hình được tạo ra. Trong vùng nhiễu xạ là một cuộn toroidal khép kín. Trường từ tính được khép kín vòng và vì thế vẫn ở trong cuộn. Nếu hiện nay một công tắc đóng và mở trường từ tính, trong mỗi trường hợp hai mô hình can thiệp khác nhau xảy ra. Vì thế trường từ tính khép kín có một hiệu ứng trên chùm electron, mặc dù những điều này không tiếp xúc trực tiếp với cuộn. Điều này xuất hiện sẽ là một "hành động ở một khoảng cách" cơ học lượng tử, đã làm tăng lầm lẫn và giả dụ không chắc chắn.

 

Bài toán này được xử lý trong thuyết ECE như sau. Trường từ tính của cuộn tạo ra một "cơn lốc" không gian-thời gian (do hiện tượng xoắn) phát triển thành không gian bên ngoài cuộn chính nó. Hiệu ứng kéo của cơn lốc này (nghĩa là hiệu ứng của tiềm tàng vectơ A) sau đó có thể ảnh hưởng chùm electron. Vì thế "hành động ở một khoảng cách" biểu kiến bị giảm một cách chính thức thành hiệu ứng quyết định tại chỗ và nguyên nhân.

 

6.      Những điều kiện bắt buộc trong công nghệ

Một cách điển hình, những lý thuyết mới đưa đến phương pháp ứng dụng thực hành chỉ sau nhiều năm. Trong trường hợp hòa lẫn hạt nhân, hi vọng tạo ra điện lực bổ ích sử dụng của xã hội vẫn không hoàn tất sau 50 năm. Ngược lại, thuyết ECE gợi ý phương pháp ứng dụng trực tiếp trong những lãnh vực khác nhau- nói riêng, vấn đề khẩn cáp của việc sản xuất năng lượng.

 

Khả năng của một nguồn năng lượng mới phát sinh từ phản ứng tương hỗ tương phản giữa lực hấp dẫn và lực điện từ. Theo thuyết tiêu chuẩn hiện tại (những công thức Maxwell) phản ứng tương hỗ này không thể thực hiện.

 

Tuy nhiên, thuyết ECE dự báo là một trường hấp dẫn luôn liên kết với một điện trường, và ngược lại [6]; điều này có thể được gọi là lực hấp dẫn điện (electrogravities). Hiệu ứng đã được biết về mặt thực nghiệm nhiều thập niên qua, lẽ dĩ nhiên, nhưng đến nay đã thiếu mô tả số lượng. Nghĩa là nay có thể thực hiện với sự hỗ trợ của thuyết ECE. Phương pháp áp dụng này phải quan tâm đến công nghiệp hàng không và không gian.

 

Trong khu vực phát điện, máy phát điện đơn cực chờ một lời giải trình đầy đủ từ khi phát minh bởi Faraday năm 1831. Điều này hiện nay có thể giải thích hoàn toàn [7]. Tương tự như với hiệu ứng Aharonov Bohm, lực xoắn không gian-thời gian phải được xem xét. Trong trườnghợp này điều này được tạo ra do quay vòng cơ học.

 

Phương pháp áp dụng kỹ thuật thích thú nhất liên quan đến việc trích năng lượng trực tiếp từ không gian-thời gian. Người ta phải hiểu rõ điều này như là một hiệu ứng cộng hưởng. Trước hết những công thức của thuyết ECE cho biết là vật chất có thể "chuyển đổi" năng lượng từ không gian-thời gian chung quanh (thỉnh thoảng người ta cũng nói "chân không"). Để hoàn tất điều này trong thực hành đòi hỏi là người ta tạo ra một cấu hình thích hợp của không gian-thời gian, ví dụ sự sắp xếp cơ học hoặc điện từ có kỹ năng. Cấu hình phải sắp xếp như trên để có kích thích cộng hưởng của vật chất xảy ra. Người ta biết từ dao động cơ học bắt buộc là, với tần số kích thích thích hợp, số lượng lớn điện năng có thể được chuyển tải đến hoặc từ hệ thống dao động.

 

Chắc là những phát minh "thống nhất quá mức" trong cảnh quan điện năng xen kẽ hoạt động theo phương pháp này. Trong những trường hợp này, những nhà phát minh tìm ra cơ chế cộng hưởng một cách nẫu nhiên. Vì thế, vài khảo nghiệm không nhắc lại, vì những tham số cơ chế cơ bản và hệ thống tới hạn, đưa đến kết quả mong đợi, hiện nay không biết.

 

Thuyết ECE làm cho nó có thể thực hiện để tính toán đúng những tham số này. Nhóm AIAS hiện đang khảo nghiệm cơ chế kích thích, thông qua giải pháp số học của những công thức ECE. Về mặt khảo nghiệm tiêu điểm trên việc kích thích cộng hưởng trong những dòng điện. Nêu người ta có thể nhận điện năng theo phương pháp này, những bộ phận di chuyển về mặt cơ học (như trong máy phát điện) không cần; và do tính chất nhỏ của nguồn, mỗi dụng cụ điện có thể, theo nguyên tắc, thích ứng với nguồn điện riêng của nó. Những thành phần cơ bản có thể là chia tầng đến kích thước trung tâm điện lực.

 

Một phương pháp áp dụng cuối là trong công nghệ y khoa. Phương pháp chụp tia X cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) đòi hỏi từ trường rất cao, bắt buộc một thể thức phức tạp tương ứng và xây dựng. Thay vì người ta có thể sử dụng Hiệu ứng Faraday đảo ngược (IFE) (mô tả trên) để phát sinh từ trường đòi hỏi trên người bệnh. Điều này chỉ đòi hỏi phóng xạ điện từ trong phạm vi tần số chụp rơngen. Những cuộn solenoid sau đó không cần, và dụng cụ NMR có thể được xây dựng về mặt vật chất nhỏ và rẻ tiền nhiều hơn.

 

7.      Những điều kiện bắt buộc trong vũ trụ học

Thuyết ECE còn có những điều kiện bắt buộc trong vật lý học thiên thể và khoa vũ trụ. Việc phát triển vũ trụ thường được nói sẽ bị chi phối bởi Luật Hubble's, dự báo là những tiên hà di chuyển xa khỏi chúng ta tất cả nhanh nhiều hơn, xa nhiều hơn chúng cách xa chúng ta. Điều này có cơ sở trên chuyển dịch đỏ của ánh sao từ những thiên hà rút lui.

 

Tuy nhiên, những nhà thiên văn học vừa tìm ra dao động chuyển dịch đỏ không thể hàn gắn với Luật Hubble's, mặc dù điều này không được thảo luận công khai. Thuyết ECE có thể giải trình dễ dàng những sai số. Người ta có thể giải dịch những công thức ECE thành một mô hình dielectric (=chất điện môi). Hiệu ứng qua lại giữa phóng xạ và lực hấp dẫn được mô tả về mặt ấy bằng cách giới thiệu một hằng số điện môi có giá trị phức tạp. Điều này đưa đến những dự báo khúc xạ ánh sáng và sự hấp thụ. Trong những miền của vũ trụ có tỷ trọngkhối lượng cao, hằng số điện môi lơn nhiều hơn trong những miền tỷ trọng khối lượng thấp. Sự hấp thụ năng lượng trong những miền này đưa đến một chuyển dịch đỏ tăng lên. Một mô hình như trên đi xa khỏi mô hình Hubble.

 

Theo thuyết Evans, phóng xạ nền vũ trụ giải trình năng lượng phóng xạ hấp thụ, và không thấy như chứng cứ trong Big Bang (Vụ Nổ Lớn), không xảy ra trong mô hình này. Thay vì có những miền đang phát triển và đang co lại của vũ trụ kế nhau miền này với miền kia.

 

8.       Tóm tắt

Thuyết ECE mô tả thống nhất hóa 4 lực lượng cơ bản, và phản ứng tương hỗ qua lại của chúng, theo môt phương pháp phi chính giáo giản đơn. Mọi vật lý bị giảm xuống hình học. Thuyết lượng tử được đặt trên một cơ sở quyết định nguyên nhan, trong khi  mô tả thống kê quá trình ở câp nguyên tử được bảo lưu.

 

Những điểm quan trọng của thuyết ECE trình bày dưới đây:

1. Không gian-thời gian được mô tả đặc tính hoàn toàn bởi đường uốn cong và lực xoắn. Tất cả vật lý có thể phát sinh, thông qua hình học vi phân, từ những tính chất nguyên thủy nằm dưới này của không gian-thời gian.

2. Đường uốn cong là nền của lực hấp dẫn, và lực xoắn là nền của trường điện từ. Lại, lực xoắn đòi hỏi đường uốn cong, và ngược lại.

3. Thuyết ECE có nền toán học có cơ sở trên hình học vi phân. Điều này tin một cách đọc quyền vào liên kết nguyên nhân và không quá trình khảo nghiệm.

4. Thuyết ECE dựa trên ba định đề: định đề đường uốn cong của Einstein và hai định đề lực xoắn của Evans trong khu vực điện từ trường.

5. Công trình nghiên cứu sâu xa của Einstein đang xâm nhập nhiều hơn so với được tin sẽ là lúc đầu. Một cách đặc biệt, quan điểm của Einstein là "Mọi vật lý là hình học" và là "cơ chế lượng tử không hoàn toàn" là đúng.

6. Lời giải trình Copenhagen về cơ chế lượng tử là không đúng; không gian trừu tượng của thuyết lượng tử là không gian tiếp tuyến của thuyết tương đối tổng hợp.

7. Việc ghép đôi điện động năng với lực háp dẫn đưa đến một số lượng lớn phương pháp ứng dụng mới.

8. Trong khoa vũ trụ, không có Luật Hubblem cũng không Big Bang.

Những ý kiến này khó đối với những nhà khoa học trường đại học đã thiết lập trong việc tiêu hóa không xác định phương hướng lại về mặt cơ bản chính họ. Thuyết Evans sẽ nhận thúc đẩy mạnh trong việc phát triển xa hơn nếu điều này thành công hiện tại mở ra những nguồn năng lượng mới. Sau đó những ý kiến này sẽ thường được công nhận có hoặc không có sự hỗ trợ của những trường đại học và trường viện nghiên cứu.

 

9. Tài liệu tham khảo

[1] http:// www.aias.us, http://www.atomicprecision.com

[2] Myron W. Evans, Generally Covariant Unified Field Theory, Part 1. Abramis, 2005, ISBN

1-84549-054-1

[3] L. G. Felker, The Evans Equations of Unified Field Theory, preprint on http://.aias.us

[4] www.aias.us/weblogs/log,html

[5] http://en.wlkpedia.org/wlkl/Afshar_experiment.

http://www.aias.us/Comments/comments01022005.html

[6] P.K. Anastasovski et al., Development of The Evans Wave Equation in The Weak Field

Limit: The Electrogravitic  Equation, preprint 2003

(http://www.aias.us/pub/electrogravitic2.pdf)

[7] F. Amador et al., Explanation of the Faraday Disc Generator in the Evans Unified Field Theory, papwr 43 of the unified field series, 2005 (http://www.aias.us/pub/a43rdpaper,pdf)

 

 

[Translator's Note: I have tried to faithfully render the authors' original ideas into English, but do not necessarily endorse (nor disagree with) the views expressed or discussed herein.]

 

RGC 12-03-2006 (08:00 PM)

 

 

Einstein, Cartan and Evans –

Start of a New Age in Physics?

 

Horst Eckardt,

Munich, Germany

 

 

Laurence G. Felker,

Reno, Nevada, USA

 

 

[original German article to be published online at: http://www.borderlands.de/inet.jrnl.php3]

 

 

Summary

Although physicists have struggled in vain for over a half-century to encompass all natural forces within a unified theory, chemical physicist Myron W. Evans has now succeeded. Based on the fundamental insights of Albert Einstein and Elie Cartan, Evans’ theory takes the geometry of space-time itself as the origin of all forces of Nature. As Einstein attributed gravitation to the curvature of space-time, the new theory attributes electromagnetism to the torsion or twisting of space-time. The possibility of reciprocal interactions between gravitation and electromagnetism -- which possibility is denied in current mainstream physics -- leads to predictions of new physical effects which could be used to produce power and energy from space-time.

 

Introduction

For centuries, physicists and philosophers sought a unified description of all phenomena of Nature. We know today that the world at the sub-microscopic quantum scale behaves very differently than our familiar macroscopic experience. In particular, theories of gravitation have been irreconcilable with quantum theory. Therefore, one expects that, if gravitation could be unified with quantum theory, wholly new insights would result. It now appears that this unification has been achieved, but not in the manner expected by previous generations of scientists. This unification predicts fundamental new effects – for example, the production of energy (or power) without need for input of other primary energy. This prediction, among others, is creating great interest in professional and scientific circles. We now review the origins of this unification.

Albert Einstein in 1915 published a theory of the gravitational interaction; he called this the theory of General Relativity, and today it provides the basis for our understanding and exploration of the cosmos at large. In 1905, Einstein had already produced the theory of Special Relativity, which rests upon the well-known postulate of “constancy of the speed of light“ in vacuum. During the last thirty years of his life, Einstein looked for a still more comprehensive unified theory which could cover all known natural forces. He spent the years from approximately 1925 to 1955 in this search, but did not reach his desired goal. Since the discovery of quantum mechanics in the 1920’s, the majority of physicists busied themselves with this, and not with General Relativity. The fact that quantum mechanics is consistent only with Special Relativity, but not with General Relativity, was overlooked or ignored. In addition, while quantum mechanics is successful in describing the electron sheath of atoms; it is not a suitable theory for the high mass-densities which occur within atomic nuclei.

Other notable progress toward unified theory in the 20th century consisted of a unification of electromagnetism with the weak nuclear force, via an extension of the formalism of quantummechanics. Gravitation has remained, until today, outside the Standard Model of particle physics.

Elie Cartan is less well-known than Einstein. He was a French mathematician who exchanged ideas with Einstein concerning many details of General Relativity. Cartan’s original insight was that electromagnetism could be derived, via differential geometry, from the geometry of space-time – more or less in parallel with Einstein’s insight that gravitation could be derived from space-time geometry. A successful unification, however, was not achieved by Cartan and/or Einstein. The unification was finally achieved in the year 2003 by Myron Evans who, trained as a chemical physicist, brought fresh insight to the problem. Evans held several academic professorships in England and the USA, before he was forced to withdraw because of his unorthodox views, and he now works as a “private researcher“ in his homeland of Wales. From there, he conducts the “Alpha Institute for Advanced Study“ (AIAS), which presents his ideas to the public as a world-wide team or working-group. A popular-scientific presentation is in [3]. Recently concentrating its work on energy production from the vacuum -- a topic which established science avoids – the AIAS website generates large interest, as shown by the steady increase in web-page statistics on the AIAS site [4]. Many well-known universities and research establishments world-wide have visited these pages.

 

1 The four natural forces

To understand the importance of unification, one must start with knowledge of the quantities being unified. It is widely accepted in physics that all interactions in Nature are manifestations of four fundamental forces. . We characterize these briefly as follows:

1. The seemingly separate force-fields generated by electrostatic charge and magnetism were united in the 19th century, largely by Maxwell, into what is now called electromagnetism, or the electromagnetic field.

2. The weak nuclear force is responsible for radioactive decay. According to the Standard Model of elementary particle physics, the weak interaction is mediated by the W- and Z-bosons, which are “virtual particles“. Neutrinos also are known to be involved in the weak interaction. It has been shown that the weak force is essentially the same as electromagnetism at very high energies. Thus, these two forces are said to be “already united“.

3. The strong nuclear force holds protons and neutrons together. It is carried by gluons and quarks in combination, although direct experimental proof of their existence was not achieved until recently.

4. Gravitation is the fourth fundamental force, but it does not fit with the theoretical picture of the other three, since it is regarded (after Einstein's General Relativity theory) as the curvature of space-time, which does not correspond to a classical force term. On the other hand, General Relativity today has been well-tested experimentally, so that nobody doubts its validity.

 

2 Unification

If a unified description and formalism could be given for these four very different forces, many new theoretical insights and practical applications would result. In addition, mutuallyreciprocal interactions -- which today’s mainstream physics does not recognize -- could then be predicted and used. As we will see later, such interactions open new possibilities for power generation. In view of the urgent global energy crisis, this might be the most important application of such a unification.

The first three fundamental forces concern quantum physics (the world “in the small“), while the fourth force (gravitation) applies on all scales, including cosmic orders of magnitude. Therefore, the underlying fundamental problem is to unify General Relativity with quantum mechanics. Conventional science has explored essentially three different pathways which might achieve this result:

1. Bringing general relativity into quantum physics. The insurmountable difficulty here is that time in quantum physics is treated as a unique continuous parameter, which is incommensurate with the quantized coordinates of distance (or spatial displacement).

2. Quantization of General Relativity. But the mathematical formalism for this approach is thus far inconclusive, and unable to make reference to experimental tests.

3. Invention of a totally new theory, from which the others follow. The various “string theories” are examples, but they require un-physical high-dimensional spaces (N>10), and have not produced testable predictions. The solution comes, surprisingly, in an unexpected way. By extending the Einstein theory along the lines first suggested by Cartan, Evans shows that all four fundamental forces are derivable from one extended theory. This represents the long-sought Unified Field Theory.

Evans’ approach does not exactly follow any of the three above-mentioned pathways, although it is closest to the third one in the list.

 

3 Basis for Evans’ theory

To understand the basis of Evans’ theory, we must review the starting-point of Einstein’s relativity theory. Einstein postulated that the presence of a massive body or an energy distribution in space (which are really interchangeable, according to the famous formula E=mc2) changes the geometry of space. Viewed from right-angles within a Euclidean coordinate system, it “creates” a curvature of space (or, more accurately, space-time). One can write this directly as a formula:

          R = k T

In which R designates the (tensor of) curvature, T the (tensor of) energy-momentum density, and k is a proportionality constant. The left side of this formula is geometry, the right side is physics. Einstein thus used the geometry of curvilinear coordinates, which goes back to the mathematician Riemann. This formula implies that space-time (i.e. the three space coordinates, and time as the fourth coordinate) is a 4-dimensional continuum (or manifold) whose curvature we perceive as a force (namely gravitation). Notably, Einstein’s formula did not exploit all possible characteristics of Riemann’s geometry. It turns out that R describes only the intrinsic curvature of the manifold; in other words, it is limited to describing vectors whose point-to-point variation lies entirely within the manifold

(see Fig. 1A).

 

 

 

In contrast to this, Cartan employed considerations of extrinsic curvature. This means that vectors are also allowed to vary within (and normal to) the plane tangent to the manifold at any point (see Fig. 1B). Cartan showed that the extrinsic curvature of space-time could be taken to represent electromagnetism as described by the Maxwell equations. Unfortunately, Einstein’s use of the mathematical concept of tensors made the relation to Cartan’s concept of geometry unclear. Cartan used the so-called “tetrad” to represent the manifold’s extrinsic curvature. In the 3-dimensional case, this reduces to a Cartesian-coordinate “triad”, which moves along with a point in space. More exactly said, the tetrad specifies a tangent space at each point of the Riemann manifold. In this way, one maintains at each point a Euclidean tangent space (a so-called fiducial space), which greatly simplifies the description and visualization of physical processes (Fig. 2).

 

 

 

Fig.2: Tangent plane at a curved surface

 

Despite the value of Einstein’s and Cartan’s insights, a united theory could not yet be formulated, because experimental indications of how to extend Maxwell’s theory in a manner consistent with General Relativity were still missing. The crucial connection was found by Evans around 1990 in the spin field or B(3) field. The decisive empirical effect -- the Inverse Faraday Effect (IFE), i.e. the magnetization of matter by a beam of circular-polarized electromagnetic radiation, first observed experimentally in 1964 -- could not be explained by Maxwell-Heaviside electrodynamics, except by introducing an ad-hoc material property tensor.

However, Evans in 1992 was able to derive the IFE directly from first principles (generallycovariant unified field theory, which includes general relativity), and thereby inferred the existence of a previously unknown magnetic field component -- the B(3) field.

B(3) is, informally, a general-relativistic correction to classical electrodynamics, somewhat analogous to the general-relativistic correction to Newtonian gravitation needed to explain the perihelion-advance of Mercury.

The index numbers – (1), (2) and (3) -- here refer to the so-called circular basis; and the polarization directions B(1) and B(2) refer to the directions of transverse polarization of the field. Thus a polarization index must be inserted into the Maxwell equations. This polarization index corresponds to the tetrad vectors qa in Fig. 2. Finally, this leads Evans to postulate that the geometrical representation of the electromagnetic vector-potential A should be a follows:

          Aa = A(0) qa

where A is the 4x4-matrix of the complete electromagnetic potential, and A(0) is a proportionality factor. The electric and magnetic fields (combined into the tensor Fa of the total electromagnetic field) then emerge directly from Cartan’s expression for the torsion Ta:

          Fa = A(0) Ta

In this formalism, electrodynamics is completely attributed to the geometrical torsion of space-time. The complete picture, unifying electromagnetism with gravitation, requires both Riemann curvature and Cartan torsion. The intrinsic curvature determines gravitation, and the extrinsic curvature (i.e., torsion) determines the electromagnetic field. This is described in detail by suitable field equations in form of Riemann-Cartan geometry. This theory is now called Einstein-Cartan-Evans (ECE) theory, after the names of its principal authors.

 

4 Unification with strong and weak forces

Still to be described is how the remaining two fundamental forces are represented in the ECE theory.

If one analyzes the equations of the theory, it is noticeable that it is formulated for the tangent space of the Riemann manifold. The number of basis vectors of this space can be selected freely, it needs not be four-dimensional. Thereby the possibility is offered of selecting such bases which are suitable for the description of quantized action (e.g. electron spin). Furthermore Evans derived from Cartan geometry a wave equation, which is in principle a nonlinear eigenvalue equation. Under certain approximation assumptions. this equation becomes linear and predicts discrete stable states. Those are the “quanta” of energymomentum in quantum mechanics. All quantum-mechanical theories, in particular Dirac’s electron theory, and the strong and weak interactions, can be deduced in this way as special cases of the ECE theory. If we compare this result with the three conventional paths to unification referred to above, it is noticeable that none of these was actually used. The new theory predicts quantum effects without assuming them (as a postulate) from the beginning. The first two forces (electromagnetism and weak force) are combined, the third and fourth turn out to be derivable from other considerations. In short, there are no truly “fundamental forces” because they all emerge from geometry!

 

5 Implications for quantum physics

The main implication is that quantum theory in its current form is not a fundamental description of Nature. In particular, the Heisenberg interpretation and the Correspondence principle are incorrect. The ECE version of quantum physics rests upon a classical, fully deterministic basis; quantum indeterminacy plays no role. Nevertheless the equations of quantum mechanics (for instance the Schroedinger equation) are correct and describe classical statistical processes. It would be a mark against ECE theory if it did not predict this result, because the equations of quantum mechanics are experimentally verified a thousandfold.

Evans also argues that the Heisenberg Uncertainty relation arose only by a misunderstanding, and is not justifiable. All physical mass-points of a field theory are actually densities -- i.e. quanta of matter-energy spread over a volume of space. Thereby the Planck quantum of action is to be divided by the volume, for instance, of the measuring instrument in which two complementary variables (e.g. position and momentum) are measured. The result can become arbitrarily small, i.e. the uncertainty can be reduced to powers of ten smaller than previously believed. An elementary particle, therefore, is neither exclusively a wave, nor exclusively a particle, but possesses characteristics of both at the same time. This sounds fantastic as a theory of physics, but exactly that was measured already some years ago [5]. The experimental refutation of the uncertainty relation was accomplished by mainstream physics.

 

Fig.3: The Aharonov Bohm effect

 

As a further example of an effect which was previously difficult to explain, we consider the Aharonov Bohm effect (Fig. 3). Two electron beams are diffracted by a double gap, at the screen, a typical interference pattern is produced. In the diffraction zone is a closed toroidal coil. The magnetic field is circularly closed and thus remains within the coil. If one now switches on and off the magnetic field, in each case two different interference patterns result. The closed magnetic field thus has an effect on the electron beams, although these are not in direct contact with the coil. This appears to be a quantum-mechanical “action at a distance“, which has given rise to many confusions and unsound speculations.

This problem is treated in ECE theory as follows. The magnetic field of the coil creates a space-time “vortex” (due to its torsion) which extends into the space outside of the coil itself. The pulling effect of this vortex (i.e. the effect of vector-potential A) is then able to influence the electron beams. Thus, the apparent “action at a distance” is reduced formally to local, causal deterministic effect.

Evans points out that torsion is always accompanied by curvature. Since curvature is manifested as gravitational mass, it follows that the spin of all elementary particles must contribute a component to their gravitational mass. From the neutrino one knows this already experimentally, even if the standard model fails here. Also photons must possess a gravitational mass, which is extremely small, however, and is situated below current detection limits.

 

6 Implications for technology

Typically, new theories lead to practical applications only after many years. In the case of nuclear fusion, the hope of producing useful power for society’s use remains unfulfilled even after 50 years. In contrast, the ECE theory suggests direct applications in diverse fields -- in particular, the urgent question of energy production. The possibility of a new energy source arises from the reciprocal interaction between gravitation and electromagnetism. According to current standard theory (Maxwell equations) this interaction is not possible.

However, the ECE theory predicts that a gravitational field is always connected with an electrical field, and vice-versa [6]; this might be called “electrogravitics”. The effect has been known empirically for decades, of course, but until now has lacked a quantitative description. That is now possible with assistance of the ECE theory. This application should interest the aircraft and space industries greatly. In the area of electrical generators, the unipolar generator awaited an adequate explanation since its invention by Faraday in 1831. This is now completely explainable [7]. Similarly as with the Aharonov Bohm effect, the torsion of space-time must be considered. In this case it is created due to the mechanical rotation. The most interesting technical application involves the extraction of energy directly from space-time. One must understand this as a resonance effect. First the equations of ECE theory show that matter can “transduce” energy from the surrounding space-time (one sometimes speaks also of “vacuum”). To accomplish this in practice requires that one fabricate a suitable configuration of space-time, e.g. a skillful mechanical or electromagnetic arrangement. The configuration must be so arranged that a resonant excitation of the material takes place. One knows from forced mechanical oscillations that, with suitable excitation frequency, large amounts of power can be transferred to or from the oscillating system.

Probably many “overunity” inventions on the alternative power scene function this way. In these cases, the inventors found the resonance mechanism by accident. Therefore, some experiments are not repeatable, because the fundamental mechanism and critical system parameters, which led to the desired result, are not actually known. The ECE theory makes it possible to calculate these parameters exactly. The AIAS group is presently studying the excitation mechanism, via numerical solution of the ECE equations. Experimentally the focus is on resonance excitation in electrical circuits. If one can obtain power in this way, mechanically moving parts (as in generators) are not required; and due to the smallness of the source, each electrical appliance could, in principle, be fitted with its own power supply. The basic components would be cascadeable up to power station size. A final application is in medical technology. Nuclear magnetic-resonance (NMR) tomography requires very high magnetic fields, which forces a correspondingly complex design and construction. Instead one could use the Inverse Faraday Effect (described above) to generate the required magnetic fields in the patient. This requires only electromagnetic radiation in the radio-frequency range. Large solenoid coils are then not required, and the NMR apparatus could be built substantially smaller and cheaper.

 

7 Implications for cosmology

The ECE theory also has implications for astrophysics and cosmology. Expansion of the universe is conventionally said to be governed by Hubble’s Law, which predicts that galaxies move away from us all the faster, the further they are distant from us. This is based on the red shift of starlight from the receding galaxies.

However, astronomers have recently found red-shift fluctuations which cannot be reconciled with Hubble’s Law, although this is not publicly discussed. The ECE theory can explain these deviations easily. One can translate the ECE equations into a dielectric model. The reciprocal effect between radiation and gravitation is described therein by introducing a complex-valued dielectric constant. This leads to predictions of refraction of light and absorption. In areas of the universe with high mass-density, the dielectric constant is larger than in areas of low mass -density. The absorption of energy within these areas leads to an increased red shift. Such a model goes far beyond the Hubble model.

In Evans’ theory, the cosmic background radiation accounts for absorbed radiation energy, and is not seen as evidence for the Big Bang, which does not occur in this model. Instead there are expanding and contracting zones of the universe adjacent to each other.

 

8 Summary

The ECE theory describes a unification of the four fundamental forces, and their reciprocal interactions, in a simple unorthodox way. All physics becomes reduced to geometry. The quantum theory is placed on a causal deterministic basis, while statistical description of processes on the atomic level is preserved.

The important points of the ECE theory are the following:

1. Space-time is completely specified by curvature and torsion. All physics can be derived, via differential geometry, from these underlying primordial qualities of spacetime.

2. Curvature is the basis of gravitation, and torsion is the basis of electromagnetism. Also, torsion implies curvature, and vice-versa.

3. The ECE theory is mathematically based on differential geometry. It relies exclusively on causal connections and no stochastic processes.

4. The ECE theory rests on three postulates: the curvature postulate of Einstein and the two torsion postulates of Evans within the electromagnetic sector.

5. The insights of Einstein are even more penetrating than they were believed to be at first. Specifically, Einstein’s views that “all physics is geometry” and that “quantum mechanics is incomplete” are correct.

6. The Copenhagen interpretation of quantum mechanics is incorrect; the abstract space of quantum theory is the tangent space of the general relativity.

7. The coupling of electrodynamics with gravitation leads to a large number of new applications.

8. In cosmology, there is neither a Hubble Law, nor a Big Bang. These ideas are difficult for established university scientists to digest without fundamentally re-orienting themselves. The Evans theory will receive strong impetus for further development if it actually succeeds opening new energy sources. Then these ideas will become generally accepted either with or without the support of universities and research institutes.

 

9 References

[1] http://www.aias.us, http://www.atomicprecision.com

[2] Myron W. Evans, Generally Covariant Unified Field Theory, Part 1. Abramis, 2005, ISBN

1-84549-054-1

[3] L.G. Felker, The Evans Equations of Unified Field Theory, preprint on http://www.aias.us

[4] www.aias.us/weblogs/log.html

[5]http://en.wikipedia.org/wiki/Afshar_experiment,

http://www.aias.us/Comments/comments01022005.html

[6] P.K. Anastasovski et al., Development Of The Evans Wave Equation In The Weak Field

Limit: The Electrogravitic Equation, preprint 2003

(http://www.aias.us/pub/electrogravitic2.pdf)

[7] F. Amador et al., Explanation of the Faraday Disc Generator in the Evans Unified Field Theory, paper 43 of the unified field series, 2005 (http://www.aias.us/pub/a43rdpaper.pdf)

[Translator’s Note: I have tried to faithfully render the authors’ original ideas into English, but do not necessarily endorse (nor disagree with) the views expressed or discussed herein.]

 

 

Trở về Trang Chính