Nước, Thời tiết, Lương thực, và Môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long Đông Nam Á

Phần góp của dự án ADAPT


Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

18 tháng 09 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Phương pháp thích ứng với việc thay đổi môi trường

Chu Thai Hoanh, Hans Guttman, Peter Droogers

và Jeroen Aerts

International Water Management Institute (IWMI)

Mekong River Commission Secretariat (MRCS)

Institute of Environmental Studies (IVM)

 

Ảnh hưởng và thích ứng thay đổi thời tiết trên Nước, Lương thực, và Môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Á

 

1. Dẫn nhập (INTRODUCTION)

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng sông lớn nhất trên thế giới (IMC, 1988a) với một diện tích chỉ dưới 800,000 km2 và được chia sẻ bởi sáu nước; Trung quốc (Yunnan Province), Liên bang Myanmar, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Vương quốc Thái Lan, Vương quốc Cambodia và Việt Nam (Hình 1). Đồng bằng là một ngôi nhà cho trên 65 triệu dân (MRC và UNEP, 1997).

Trong 10 năm qua, vài công trình nghiên cứu và dự án đã được thực hiện trong việc hoàn tất sự hợp tác giữa sáu nước ven sông trong việc lậi kế hoạch và thúc dẩy phát triển kinh tế miền phụ sông Cửu Long Lớn (GMS) (ADB, 1999; Nilsson M. and L. Segnestam, 2001). Tuy nhiên, đồng bằng hạ lưu sông Cửu Long (LMB), chiếm 77% đồng bằng sông Cửu Long (MRB), được xem như phần quan trọng nhất của đồng bằng sông Cửu Long, về mặt môi trường và về mặt kinh tế. Vì thế, đây là vùng  tập trung Của Ủy ban Sông Mê Kông từ năm 1957 (Mekong Committee, 1970; IMC, 1988a; Hori, 2000).

Dân số trong LMB đa phần là nông thôn và đa phần người dân được dùng trong nông nghiệp hoặc hoạt động có liên quan, với cây lúa là loại nông sản chính. Mọi nước trong LMB có kế hoạch đầy tham vọng trong việc duy trì hoặc gia tăng sản xuất lương thực quốc gia trong vùng đồng bằng, có nhấn mạnh đặc biệt về sản xuất lương thực mùa khô gia tăng, đa dạng hóa nông nghiệp và phát triển sản xuất thủy hải sản (nuôi trồng và đánh bắt thủy hái sản). Khi sản xuất nông nghiệp như trên là một trong năm vùng chủ yếu về tài nguyên thiên nhiên và phát triển trong miền (Nilsson and Segnestam, 2001), những lãnh vực khác là phát sinh thủy lực, hải sản, quản lý tài nguyên rừng, và việc sử dụng tài nguyên sinh học trong bảo tồn, du lịch, thương mại và sinh kế địa phương.

Trong LMB, sinh kế của người dân tùy thuộc vào nước và các dịch vụ cung cấp bởi môi trường chung quanh. Tuy nhiên, việc thay đổi là do phát triển nhanh và yêu cầu mâu thuẫn tiềm tàng, về tài nguyên nước và đất. Mặc dù các nước ven sông Mê Kông hưởng thụ tài nguyên nước phong phú, khả năng sẵn có thay đổi đa phần theo miền và theo mùa, do mô hình lượng mưa gió mùa. Sự đấu tranh về tài nguyên nước hiếm đặc biệt là rõ nét trong mùa khô, khi nước chảy vào đồng bằng sông Cửu Long có thể là bằng 2.000 m3/s (tháng 12-tháng 3), so với một dòng chảy trung bình 25.000 m3/s trong mùa mưa (tháng 7-tháng 11).

Nói chung, tài nguyên nước trong MRB như là một tổng thể không phát triển cao. Tuy nhiên, có vài vấn đề phát sinh liên quan đến việc sử dụng nước trong MRB: (i) phát triển tưới tiêu ở miền Đông Bắc Thái Lan đưa đến một tình trạng thiếu nước trong mùa khô và giới hạn số lượng thu hoạch trong mùa khô1. Ở độ dài 4800 km và một dòng chảy hàng năm 475,000 triệu m3 điều này xếp hàng thứ 12 dài nhất và hàng thứ 10 lớn nhất tương ứng (IMC, 1988a).

Hình 1: Vị trí của đồng bằng sông Cửu Long.

 

 

 

 

 

Ảnh hưởng và thích ứng thay đổi thời tiết về Nước, Lương thực, và Môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Á có thể thực hiện; (ii) xâm nhập nước mặn vào đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam tùy thuộc vào tầm vóc dòng chảy mùa khô từ đầu nguồn và mức trừu tượng tưới tiêu ở đồng bằng; (iii) lũ lụt2; (iv) phát triển thủy lực, xây dựng hoặc đề xuất, với phân bố lợi tức qua các nước và khu vực không đánh giá kỹ lưỡng; (v) cuối cùng, phát triển dân số và gia tăng phát triển kinh tế đang bắt đầu ảnh hưởng sử dụng nước một cách tiêu cực bởi việc suy thoái chất lượng nước (MRC 2001).

Hội thảo liên chính phủ về việc thay đổi thời tiết IPCC (2001) mới kết luận là  thời tiết đã thay đổi trong thế kỷ 20 và thay đổi lớn nhiều hơn được dự kiến trong thế kỷ 21; thay đổi trên sẽ có lợi ích và ảnh hưởng ngược trên các hệ thống môi trường và kinh tế xã hội, nhưng thay đổi lớn và tỷ lệ thay đổi thời tiết, ảnh hưởng ngược nổi bật nhiều hơn; sự thích ứng là cần và chi phí có thể giảm bằng cách dự tính trước, phân tích và lập kế hoạch. Trong một báo cáo đặc biệt của IPCC (1997), các ảnh hưởng miền chủ yếu của thay đổi thời tiết trong MRB là:

• Như một kết quả chuyển dịch theo mùa trong mô hình thời tiết gió mùa, một phần lớn châu Á nhiệt đới,

gồm có MRB, tiếp xúc với lũ lụt và hạn hán hàng năm gia tăng.

• Số lượng gia tăng nhữn cơn lốc nhiệt đới

• Các sự cố cực kỳ khác gồm có gió nhiệt độ cao.

• Trong những thành phố lớn và vùng thành thị lớn, nhiệt độ cao và và những đợt nóng sẽ xuất hiện thường xuyên. Những hiện tượng này tăng lên bởi ảnh hưởng đảo nóng đô thị và ô nhiễm không khí.

• Về mặt địa lý mở rộng nhiều hơn là hiện tượng giao động miền Nam El Niño-Southern Oscillation (ENSO), có một ảnh hưởng quan trọng đặc biệt trên thời tiết và biến động giữa năm của thời tiết và mực nước biển, đặc biệt là ở miền Tây Thái Bình Dương và Biển Đông chung quanh MRB.

Vì thế, MRB được chọn như một trong bảy đồng bằng sông kiểu mẫu trong dự án ADAPT3. Tiêu chí chủ yếu của dự án ADAPT là việc đánh giá ảnh hưởng thay đổi thời tiết và biến đổi thời tiết trên sản xuất lương thực, an toàn lương thực và môi trường (sinh thái và xã hội) và phát triển phương pháp thích ứng trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực trên lương thực và môi trường. Những hoạt động của nghiên cứu tình huống Mê Kông được mô tả đặc tính trong báo cáo này, và có thể được tóm tắt như:

(i) Mô tả đặc tính hiện trạng của tài nguyên nước và các mặt kinh tế xã hội liên quan trong MRB, với một đầu mối trên LMB (ii) thu gom những dự báo thay đổi thời tiết hiện có (kết quả GCM) trong miền đồng bằng từ những bộ dữ liệu IPCC (datasets) và so sánh dữ liệu thời tiết lịch sử với kết quả GCM trong cùng một thời gian và điều chỉnh, nếu cần, kết quả GCM;

(iii) Chọn một mô hình mô phỏng ở cấp đồng bằng và cấp đồng ruộng để mô phỏng những thay đổi thủy văn tiềm tàng và sản xuất lương thực

(iv) Đánh giá tình trạng an toàn môi trường và lương thực liên quan đến tài nguyên nước trong điều kiện hiện nay và thay đổi thời tiết

(v) Xác định và đánh giá phương pháp thích ứng trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của thay đổi thời tiết.

2  Mùa lũ lụt năm 2000 là mùa lũ cao nhất trên 40 năm trong vài miền của đồng bằng gây ra những thiệt hại có ý nghĩa ở Cambodia và Việt Nam, và mùa lũ năm 2001 gấy ra những thiệt hại có ý nghĩa ở Đông Bắc Thái Lan.

3 Dự án được tài trợ bởi chính phủ Đức. Sáu đồng bằng khác là Rhine (Tây-Âu), Sacramento (USA), Syr Darya (Trung Á), Volta (Ghana), Walawe (Sri Lanka) và Zayandeh (Iran).

 

 

2.  Tài nguyên thiên nhiên

2.1. Thời tiết

MRB nằm trong miền Đông Nam Á nơi thời tiết bị chi phối bởi gió mùa thổi luân phiên từ Đông Bắc và Tây Nam, mỗi gió thổi khoảng nửa năm. Gió mùa Tây Nam bắt đầu tháng 5 và tiếp tục đến cuối tháng 9. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3. Tháng 4 và táng 10 là thời gian chuyển tiếp với tốc độ và hướng gió không ổn định (Bảng 1).

 

Bảng 1: Gió mùa của MRB (MRC and UNEP, 1997).

Mùa lạnh

Mùa hè

Mùa mưa

Mùa lạnhCold season

Tháng 1-2-3

Tháng 4-5-6

Tháng 7-8-9

Tháng 10-11-12

Chuyển tiếp gió mùa Đông Bắc

Gió mùa Tây Nam

Gió mùa Đông Bắc

           

 

Lượng mưa cấp miền thay đổi một cách có ý nghĩa từ vùng khô nhất trong đồng bằng (Đông Bắc Thái Lan) nơi đó lượng mưa năm đa phần giữa 1.000-1.600 mm, với miền ẩm nhất (Cao nguyên Bắc và Đông) với 2.000-3.000 mm năm (Hình 2). Mạng trung tâm lượng mưa đã dần mở rộng từ mười trung tâm trong những năm 1960 đến gần 600 trước năm 2000. Trong gió mùa Tây Nam (tháng 5-10), tương ứng với mùa mưa, lưu vực nhận đa phần lượng mưa năm của nó, mặc dầu che chở bởi những ngọn núi ven bờ của Thái Lan và Cambodia (Hình 3). Những núi cao ven bờ của Việt Nam che chở lưu vực trong thời kỳ gió mùa đông bắc, tương ứng với mùa lạnh và khô. Các rối loạn lốc có thể tạo ra lượng mưa phổ biến trong thời gian dài từ tháng 7 đến tháng 9, có thể tạo ra lụt nghiêm trọng.

Nguồn của MRB nằm tại núi Tibet đỉnh tuyết. Tuy nhiên, trên khắp LMB, nhiệt độ không khí đồng nhất một cchs đặc biệt với biến đổi nhỏ do cao độ và ảnh hưởng mùa và biển (IMC, 1988a). Các nhiệt độ trong LMB cao trừ trường hợp trong phần đầu giá mùa đông bắc (Tháng 11-tháng 12) khi gió mùa từ Trung Á mang chừng mực không khí mát. Sau đó, nhiệt độ tăng dần đến tháng 2 khi, dưới ảnh hưởng của gió nồm nhẹ, thời tiết trở nên rất nóng. Nhiệt độ cao kéo dài đến gió mùa tây nam bắt đầu tháng 5 (Hình 4).

15.0

20.0

25.0

30.0

35.0

40.0

Tháng 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12

Tối đa

Trung bình

Tối thiểu

Hình 4: Nhiệt độ tháng (oC) trong 1961-1990 ở Mukdahan Đông Bắc Thái Lan (AIT, 1994)

 

RGC 10-11-2006

 

Trở về Trang Chính