Phương pháp thích ứng với việc thay đổi môi
trường
Chu Thai Hoanh, Hans Guttman, Peter Droogers
và Jeroen Aerts
International Water Management Institute (IWMI)
Mekong River Commission Secretariat (MRCS)
Institute of Environmental Studies (IVM)
Ảnh hưởng và thích
ứng thay đổi thời tiết trên Nước, Lương thực, và Môi trường ở
đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Á
1. Dẫn nhập
(INTRODUCTION)
Đồng bằng sông Cửu
Long là một trong những đồng bằng sông lớn nhất trên thế giới
(IMC, 1988a) với một diện tích chỉ dưới 800,000 km2 và được chia
sẻ bởi sáu nước; Trung quốc (Yunnan Province), Liên bang
Myanmar, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Vương quốc Thái Lan,
Vương quốc Cambodia và Việt Nam (Hình 1). Đồng bằng là một ngôi
nhà cho trên 65 triệu dân (MRC và UNEP, 1997).
Trong 10 năm qua,
vài công trình nghiên cứu và dự án đã được thực hiện trong việc
hoàn tất sự hợp tác giữa sáu nước ven sông trong việc lậi kế
hoạch và thúc dẩy phát triển kinh tế miền phụ sông Cửu Long Lớn
(GMS) (ADB, 1999; Nilsson M. and L. Segnestam, 2001). Tuy nhiên,
đồng bằng hạ lưu sông Cửu Long (LMB), chiếm 77% đồng bằng sông
Cửu Long (MRB), được xem như phần quan trọng nhất của đồng bằng
sông Cửu Long, về mặt môi trường và về mặt kinh tế. Vì thế, đây
là vùng tập trung Của Ủy ban Sông Mê Kông từ năm 1957 (Mekong
Committee, 1970; IMC, 1988a; Hori, 2000).
Dân số trong LMB đa
phần là nông thôn và đa phần người dân được dùng trong nông
nghiệp hoặc hoạt động có liên quan, với cây lúa là loại nông sản
chính. Mọi nước trong LMB có kế hoạch đầy tham vọng trong việc
duy trì hoặc gia tăng sản xuất lương thực quốc gia trong vùng
đồng bằng, có nhấn mạnh đặc biệt về sản xuất lương thực mùa khô
gia tăng, đa dạng hóa nông nghiệp và phát triển sản xuất thủy
hải sản (nuôi trồng và đánh bắt thủy hái sản). Khi sản xuất nông
nghiệp như trên là một trong năm vùng chủ yếu về tài nguyên
thiên nhiên và phát triển trong miền (Nilsson and Segnestam,
2001), những lãnh vực khác là phát sinh thủy lực, hải sản, quản
lý tài nguyên rừng, và việc sử dụng tài nguyên sinh học trong
bảo tồn, du lịch, thương mại và sinh kế địa phương.
Trong LMB, sinh kế
của người dân tùy thuộc vào nước và các dịch vụ cung cấp bởi môi
trường chung quanh. Tuy nhiên, việc thay đổi là do phát triển
nhanh và yêu cầu mâu thuẫn tiềm tàng, về tài nguyên nước và đất.
Mặc dù các nước ven sông Mê Kông hưởng thụ tài nguyên nước phong
phú, khả năng sẵn có thay đổi đa phần theo miền và theo mùa, do
mô hình lượng mưa gió mùa. Sự đấu tranh về tài nguyên nước hiếm
đặc biệt là rõ nét trong mùa khô, khi nước chảy vào đồng bằng
sông Cửu Long có thể là bằng 2.000 m3/s (tháng 12-tháng 3), so
với một dòng chảy trung bình 25.000 m3/s trong mùa mưa (tháng
7-tháng 11).
Nói chung, tài
nguyên nước trong MRB như là một tổng thể không phát triển cao.
Tuy nhiên, có vài vấn đề phát sinh liên quan đến việc sử dụng
nước trong MRB: (i) phát triển tưới tiêu ở miền Đông Bắc Thái
Lan đưa đến một tình trạng thiếu nước trong mùa khô và giới hạn
số lượng thu hoạch trong mùa khô1. Ở độ dài 4800 km và một dòng
chảy hàng năm 475,000 triệu m3 điều này xếp hàng thứ 12 dài nhất
và hàng thứ 10 lớn nhất tương ứng (IMC, 1988a).
Hình 1: Vị trí của
đồng bằng sông Cửu Long.



Ảnh hưởng và thích
ứng thay đổi thời tiết về Nước, Lương thực, và Môi trường ở đồng
bằng sông Cửu Long, Đông Nam Á có thể thực hiện; (ii) xâm nhập
nước mặn vào đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam tùy thuộc vào
tầm vóc dòng chảy mùa khô từ đầu nguồn và mức trừu tượng tưới
tiêu ở đồng bằng; (iii) lũ lụt2; (iv) phát triển thủy lực, xây
dựng hoặc đề xuất, với phân bố lợi tức qua các nước và khu vực
không đánh giá kỹ lưỡng; (v) cuối cùng, phát triển dân số và gia
tăng phát triển kinh tế đang bắt đầu ảnh hưởng sử dụng nước một
cách tiêu cực bởi việc suy thoái chất lượng nước (MRC 2001).
Hội thảo liên chính
phủ về việc thay đổi thời tiết IPCC (2001) mới kết luận là thời
tiết đã thay đổi trong thế kỷ 20 và thay đổi lớn nhiều hơn được
dự kiến trong thế kỷ 21; thay đổi trên sẽ có lợi ích và ảnh
hưởng ngược trên các hệ thống môi trường và kinh tế xã hội,
nhưng thay đổi lớn và tỷ lệ thay đổi thời tiết, ảnh hưởng ngược
nổi bật nhiều hơn; sự thích ứng là cần và chi phí có thể giảm
bằng cách dự tính trước, phân tích và lập kế hoạch. Trong một
báo cáo đặc biệt của IPCC (1997), các ảnh hưởng miền chủ yếu của
thay đổi thời tiết trong MRB là:
• Như một kết quả
chuyển dịch theo mùa trong mô hình thời tiết gió mùa, một phần
lớn châu Á nhiệt đới,
gồm có MRB, tiếp
xúc với lũ lụt và hạn hán hàng năm gia tăng.
• Số lượng gia tăng
nhữn cơn lốc nhiệt đới
• Các sự cố cực kỳ
khác gồm có gió nhiệt độ cao.
• Trong những thành
phố lớn và vùng thành thị lớn, nhiệt độ cao và và những đợt nóng
sẽ xuất hiện thường xuyên. Những hiện tượng này tăng lên bởi ảnh
hưởng đảo nóng đô thị và ô nhiễm không khí.
• Về mặt địa lý mở
rộng nhiều hơn là hiện tượng giao động miền Nam El Niño-Southern
Oscillation (ENSO), có một ảnh hưởng quan trọng đặc biệt trên
thời tiết và biến động giữa năm của thời tiết và mực nước biển,
đặc biệt là ở miền Tây Thái Bình Dương và Biển Đông chung quanh
MRB.
Vì thế, MRB được
chọn như một trong bảy đồng bằng sông kiểu mẫu trong dự án
ADAPT3. Tiêu chí chủ yếu của dự án ADAPT là việc đánh giá ảnh
hưởng thay đổi thời tiết và biến đổi thời tiết trên sản xuất
lương thực, an toàn lương thực và môi trường (sinh thái và xã
hội) và phát triển phương pháp thích ứng trong việc giảm nhẹ ảnh
hưởng tiêu cực trên lương thực và môi trường. Những hoạt động
của nghiên cứu tình huống Mê Kông được mô tả đặc tính trong báo
cáo này, và có thể được tóm tắt như:
(i) Mô tả đặc tính
hiện trạng của tài nguyên nước và các mặt kinh tế xã hội liên
quan trong MRB, với một đầu mối trên LMB (ii) thu gom những dự
báo thay đổi thời tiết hiện có (kết quả GCM) trong miền đồng
bằng từ những bộ dữ liệu IPCC (datasets) và so sánh dữ liệu thời
tiết lịch sử với kết quả GCM trong cùng một thời gian và điều
chỉnh, nếu cần, kết quả GCM;
(iii) Chọn một mô
hình mô phỏng ở cấp đồng bằng và cấp đồng ruộng để mô phỏng
những thay đổi thủy văn tiềm tàng và sản xuất lương thực
(iv) Đánh giá tình
trạng an toàn môi trường và lương thực liên quan đến tài nguyên
nước trong điều kiện hiện nay và thay đổi thời tiết
(v) Xác định và
đánh giá phương pháp thích ứng trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của
thay đổi thời tiết.
2 Mùa lũ lụt năm
2000 là mùa lũ cao nhất trên 40 năm trong vài miền của đồng bằng
gây ra những thiệt hại có ý nghĩa ở Cambodia và Việt Nam, và mùa
lũ năm 2001 gấy ra những thiệt hại có ý nghĩa ở Đông Bắc Thái
Lan.
3 Dự án được tài
trợ bởi chính phủ Đức. Sáu đồng bằng khác là Rhine (Tây-Âu),
Sacramento (USA), Syr Darya (Trung Á), Volta (Ghana), Walawe
(Sri Lanka) và Zayandeh (Iran).


2. Tài nguyên
thiên nhiên
2.1. Thời tiết
MRB nằm trong miền
Đông Nam Á nơi thời tiết bị chi phối bởi gió mùa thổi luân phiên
từ Đông Bắc và Tây Nam, mỗi gió thổi khoảng nửa năm. Gió mùa Tây
Nam bắt đầu tháng 5 và tiếp tục đến cuối tháng 9. Gió mùa Đông
Bắc từ tháng 11 đến tháng 3. Tháng 4 và táng 10 là thời gian
chuyển tiếp với tốc độ và hướng gió không ổn định (Bảng 1).
Bảng 1: Gió mùa của
MRB (MRC and UNEP, 1997).
|
Mùa
lạnh |
Mùa hè |
Mùa mưa |
Mùa
lạnhCold season |
|
Tháng
1-2-3 |
Tháng
4-5-6 |
Tháng
7-8-9 |
Tháng
10-11-12 |
|
Chuyển
tiếp gió mùa Đông Bắc |
Gió mùa
Tây Nam |
Gió mùa
Đông Bắc |
| |
|
|
|
|
|
Lượng mưa cấp miền
thay đổi một cách có ý nghĩa từ vùng khô nhất trong đồng bằng
(Đông Bắc Thái Lan) nơi đó lượng mưa năm đa phần giữa
1.000-1.600 mm, với miền ẩm nhất (Cao nguyên Bắc và Đông) với
2.000-3.000 mm năm (Hình 2). Mạng trung tâm lượng mưa đã dần mở
rộng từ mười trung tâm trong những năm 1960 đến gần 600 trước
năm 2000. Trong gió mùa Tây Nam (tháng 5-10), tương ứng với mùa
mưa, lưu vực nhận đa phần lượng mưa năm của nó, mặc dầu che chở
bởi những ngọn núi ven bờ của Thái Lan và Cambodia (Hình 3).
Những núi cao ven bờ của Việt Nam che chở lưu vực trong thời kỳ
gió mùa đông bắc, tương ứng với mùa lạnh và khô. Các rối loạn
lốc có thể tạo ra lượng mưa phổ biến trong thời gian dài từ
tháng 7 đến tháng 9, có thể tạo ra lụt nghiêm trọng.
Nguồn của MRB nằm
tại núi Tibet đỉnh tuyết. Tuy nhiên, trên khắp LMB, nhiệt độ
không khí đồng nhất một cchs đặc biệt với biến đổi nhỏ do cao độ
và ảnh hưởng mùa và biển (IMC, 1988a). Các nhiệt độ trong LMB
cao trừ trường hợp trong phần đầu giá mùa đông bắc (Tháng
11-tháng 12) khi gió mùa từ Trung Á mang chừng mực không khí
mát. Sau đó, nhiệt độ tăng dần đến tháng 2 khi, dưới ảnh hưởng
của gió nồm nhẹ, thời tiết trở nên rất nóng. Nhiệt độ cao kéo
dài đến gió mùa tây nam bắt đầu tháng 5 (Hình 4).
15.0
20.0
25.0
30.0
35.0
40.0
Tháng
1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12
Tối đa
Trung bình
Tối thiểu
Hình 4: Nhiệt độ
tháng (oC) trong 1961-1990 ở Mukdahan Đông Bắc
Thái Lan (AIT, 1994)
RGC 10-11-2006
Trở về Trang Chính
|