|
Thưa
Ngài Chủ tịch
Thưa
quí vị khách quí trong Ủy ban, cám ơn quí vị đã mời tôi đến để
xác nhận. Tôi vui mừng trình bày một quan điểm tình báo về mối
đe dọa bệnh than.
Quan
điểm
Ủy ban
Tình báo đánh giá là bệnh than là tác nhân đe dọa chiến tranh
sinh học hàng đầu. Tiềm năng trong việc sử dụng khủng bố với tác
nhân này còn là mối quan tâm của chúng ta dựa trên sự thoải mái
tương đối với nó bệnh than được tạo ra. Bệnh than được xem như
là tác nhân chiến tranh sinh học chống lại cán bộ. Tuy nhiên, nó
còn có những ứng dụng chiến tranh kinh tế trong sử dụng chống
nông nghiệp chống lại gia súc.
Bệnh
than là gì?
Bệnh
than là bệnh tự nhiên của động vật ăn cỏ như trừu, trâu bò, và
dê. Bệnh này xuất hiện trên thế giới, và đặc biệt trong những
vùng nơi đó động vật thường không được tiêm chủng, như là ở châu
Á và châu Phi. Một loài vi khuẩn hình thành bào tử phát sinh
bệnh. Dưới hình thức bào tử, vi khuẩn kháng ảnh hưởng môi trường
và chứng minh một mức ổn định cao. Có ba cách phơi. Một hình
thức thường được xuất hiện trên bàn tay và cánh tay của con
người làm việc với gia súc bị nhiễm bệnh. Tỷ lệ tử vong lên đến
25%. Hình thức dạ dày-ruột bị co thăt bởi ăn thịt nhiễm nấu
không đủ chín. Tỷ lệ tử vong có thể lên đến 70%. Cách thứ ba
bệnh than bị co lại bởi hít phải bào tử gây bệnh than. Tỷ lệ rủi
ro rõ là 100%. Vì bào tử bệnh than có trong không khí có khả
năng lây nhiễm trên diện tích lớn, bệnh than do hít phải là mối
quan tâm đầu trong chiến tranh sinh học. Trong bệnh than do hít
phải, bào tử được hít vào trong phổi và di trú đến mấu bạch
huyết trong khoang giữa các lá phổi. Khi ở trong mấu bạch huyết,
các bào tử nẩy mầm và tạo ra chất có độc tố, hủy diệt mô trong
khối lượng lớn và sưng lên. Vi khuẩn có thể còn đi vào máu và
tạo ra tình trạng ngộ độc trong máu. Các triệu chứng đầu có thể
xuất hiện một đến vài ngày sau khi hít phải, và gồm có các triệu
chứng giống như cảm cúm tổng hợp, sốt và mệt mỏi. Tình trạng
kiệt sức hô hấp nghiêm trọng và sau đó tử vong sẽ xuất hiện
trong 24-36 giờ.
Bệnh
than- Một sinh vật lý tưởng trong chiến tranh sinh học
Bệnh
than là một sinh vật lý tưởng trong sử dụng chiến tranh sinh
học. Bệnh than gây tử vong 100% nếu không được điều trị trước
khi triệu chứng xuất hiện. Đây là một vấn đề phê phán trong các
toán vì không có chỉ dẫn tiếp xúc bệnh cho đến sau khi các triệu
chứng đã xuất hiện- và sau đó quá trễ.
Bào tử
gây bệnh than có thể được tạo ra số lượng lớn với các phương
pháp sinh học cơ bản. Nó phát triển dễ dàng và có thể được dùng
như loại bột khô hoặc như chất sền sệt (bùn loãng) trong khi
phun bình xịt. Bào tử gây bệnh than có thể được tồn trữ hàng
chục năm không mất sức sống của chúng. Chúng có thể được cấp bởi
tên lửa, rốc-két, pháo binh, và bình xịt.Bệnh than có thể được
tồn trữ trong đạn được đầy, cũng như khối lượng khô hoặc
nước.Các hạt bệnh than có thể được hoàn tất trong pham vi 1-5
micron, tối ưu trong tác nhân chiến tranh sinh học hấp thụ thể
treo trong mây phun và mang nó đi những khoảng cách xa. Phạm vi
này còn thể hiện khích thước hạt tối ưu trong khi hít phải.
Thiết
bị trong việc sản xuất bào tử sinh bệnh than sử dụng hai mặt.
Việc sản xuất bất hợp pháp có thể bị che đậy trong công nghệ sản
xuất hợp pháp. Ngoài ra, sức khỏe công cộng hợp pháp và các yêu
cầu của thú y về thuốc tiêm chủng và thuốc trừ sâu sinh học có
thể ngụy trang sản xuất tác nhân.Bệnh than được xem như là biện
pháp luân phiên có hiệu quả về giá với các loại vũ khí khác của
phương pháp hủy diệt hàng loạt. Một số lượng nhỏ cần trong cùng
một diện tích che phủ khi so sánh với các loại vũ khí khác hủy
diệt hàng loạt. Trong so sánh, trong 120 cây số vuông che phủ,
bạn có thể cần 1 triệu tấn vật liệu hạt nhân, 158 tấn của một
chất hóa học, và chỉ 6,5 kgs anthrax. Anthrax có thể gây tử vong
100.000 lần nhiều hơn so với tác nhân hóa học.
Khả
năng bị úc phạm
Không
có việc cánh báo tiến bộ về cuộc tấn công của bệnh than, chúng
ta sẽ không có chỉ dẫn là cuộc tấn công đã xuất hiện. Bệnh than
không mùi, không vị, không màu, và không hương thơm. Mây phun
của bệnh than sẽ không bị khám phá.
Điều
kiện vũ khí hóa
Để cho
bệnh than sẽ được sử dụng như một tác nhân chiến tranh sinh học
có hiệu quả, nó phải được vũ khí hóa. Việc phân phát tối ưu liên
quan đến việc thả tác nhân trong một đám mây hạt treo trong
không khí (aerosol), điều kiện gió nhẹ và phân tán trong những
giờ không ánh sáng mặt trời giảm bớt sự hòa tan của mây aerosol
và đưa nhẹ đến sự hủy hoại của tác nhân.
Các hạt
bệnh than aerosol có thể vẫn là thể treo trong không khí và di
chuyển cùng với luồng gió trong một khoảng cách rất lớn. Nếu
được gieo rắc trong đêm gần mặt đất hoặc mặt nước, chúng có thể
được mong đợi trong việc hình thành một đám mây có tiềm năng
tương đối giữ nguyên trạng trong vài giờ trong khi di chuyển
chậm qua bề mặt đất hoặc bề mặt nước. Trừ trường hợp trong một
thời gian ngắn liền ngay điểm thả, aerosol sẽ không trong thấy
được, và có thể bị hít vào mà nạn nhân không biết. Đặc tính này
làm cho nó không thể thực hiện trong các toán quân của chúng ta
trong giả định vị trí bảo vệ phản ứng.
Cả với
các dữ liệu thích hợp trong việc đánh giá đường di chuyển dự báo
của một đám mây, có thể là khó ở mức tốt nhất biết thời tiết
khác nhau và hiệu quả địa hình. Tính ổn định không khí, nhiệt
độ, ẩm độ tương đối, chất gây ô nhiễm, độ che phủ của mây, và
lượng mưa tất cả ảnh hưởng thời gian và hiệu quả của tác nhân
chiến tranh sinh học. Truyền thống là sự mong đợi một cuộc tấn
công chiến tranh sinh học trong buổi sáng sớm và chiều muộn khi
tính ổn dịnh không khí là tối ưu và ánh sáng mặt trời trực tiếp
là tối thiểu. Khi tác nhân aerosol được vận chuyển xa khỏi điểm
phân phát đầu, nó là chủ thể của sự hòa tan dần bằng phân tán,
cũng như phân hủy phát sinh từ các ảnh hưởng của ánh sáng mặt
trời và các yếu tố môi trường khác.
Phương tiện gieo rắc
Bệnh
than có thể được gieo rắc bởi nhiều phương tiện. Hỏa tiễn,
rốc-két, pháo binh, bom trời, và bình phun lắp đặt trên máy bay,
xe hơi, tàu bè cũng như bình xịt mang tay, làm cho những phương
tiện phân phát có hiệu quả. Trong trường hợp phương tiện cấp
phát chiến tranh sinh học kém hiệu quả, như là dầu hỏa tiễn hoặc
đạn pháo binh nổ khi va chạm, diện tích che phủ trong mỗi kg của
tác nhân sẽ bị giảm. Mặc dù một tỷ lệ có ý nghĩa (cao bằng 95%)
của tác nhân không thể có hiệu quả aerosol-hóa bởi các vũ khí
đầy khối lượng, nguy cơ tiếp xúc kết quả trong vùng gần nhất của
cuộc tấn công có thể có ảnh hưởng điều hành có ý nghĩa. Đã biết
viễn cảnh này, chúng ta có thể vẫn mong đợi một khu vực nhiễm 1
km vuông mỗi kilô, và vài nguy cơ tiếp xúc dưới gió trong vài
kms.
Các
viễn cảnh sử dụng
Các lực
lượng Hoa Kỳ đối mặt một khả năng đang tăng tiếp xúc với tác
nhân sinh học trong các tình huống trong nhiều bất ngờ. Ở một
đầu của phổ là tiếp xúc tác nhân thận trọng, nồng độ cao phát
sinh từ một cuộc tấn công hỏa tiễn của kẻ địch trên một tiện ích
quân sự. Ở đầu kia là sự thả tác nhân nồng độ thấp gây ra bởi
một tai nạn khảo nghiệm chiến tranh sinh học ngoại và tiện ích
phát triển ảnh hưởng đến các lực lượng của người chúng tôi tham
gia trong chiến dịch gìn giữ hòa bình.
Đe dọa
Ít nhất
10 nước đa hoặc đang phát triển một khả năng chiến tranh sinh
học. Vài nước trong những nước này bị nghi ngờ bệnh than đang
phát triển như là một tác nhân chiến tranh sinh học. Khi các
chương trình chiến tranh sinh học tấn công sinh sôi nảy nở và
phát triển, mối đe dọa tiếp xúc trình bày bởi vài tác nhân sinh
học có thể so sánh tốt với tác nhân có thuộc tính của nguy cơ
bệnh đặc hữu (ví dụ bệnh bạch hầu, bệnh cúm và bệnh uốn ván)
trong đó bổn phận tích cực của chúng tôi và và cán bộ dự trữ
hiện được tiêm chủng thường xuyên.
Iraq
Iraq
chấp nhận vũ khí hóa bệnh than. Họ tuyên bố 10 hỏa tiễn
Al-Husayn, 50 quả bom R-400, và 3 MIG-21 với thùng phun. Họ còn
nhìn nhận việc nghiên cứu đạn pháo binh 155mm, rốc-két pháo
binh, và máy phun aerosol. Iraq xác nhận hủy các loại đạn dược
này, nhưng đến nay những người kiểm tra Liên Hiệp quốc không thể
xác minh những lời xác nhận này. Iraq còn tuyên bố 8,500 lít
(2.245 gallons) bệnh than đậm đặc, cungc như vài tác nhân chiến
tranh sinh học khác.
Al
Hakam, một bệnh than chiến tranh sinh học đã xác nhận và phương
tiện sản xuất chất có độc tố Botulinum ở Iraq, bị hủy diệt năm
1996 bởi UNSCOM. Iraq đã duy trì là điềy này là một tiện ích dân
sự hợp pháp được chỉ định trong việc tạo ra proteins đơn bào và
thuốc sát trùng sinh học. Địa điểm sâu xa Al Hakam và sự an ninh
liên quan trong xây dựng nó gợi ý là nó có ý định sẽ trở thành
một tiện ích sản xuất chiến trang sinh học.
Các nhà
chuyên môn đã kết luận là Iraq giữ lại hợp phần kỹ thuật đủ, dữ
liệu, giám định khoa học để hồi phục lại phát triển và sản xuất
vũ khí sinh học. Mặc dù các cuộc thanh tra của UNSCOM cắt bớt
một cách nghiêm trọng chương trình WMD Iraq, cả một lực lượng
còn lại nhỏ hỏa tiễn chiến tranh sinh học điều hành có thể tạo
ra mối đe dọa cho các lực lượng quân sự của các nước láng giềng
và Hoa Kỳ trong miền.
Iran
Iran có
một nền công nghiệp kỹ thuật sinh học đang phát triển, kinh
nghiệm dược khoa có ý nghĩa, và hạ tầng cơ sở tổng hợp trong
việc hỗ trợ chương trình chiến tranh sinh học. Điều này tiếp tục
theo đuổi thiết bị kỹ thuật sinh học sử dụng hai mặt và chuyên
môn từ người Nga và các nguồn khác, bề ngoài là vì lý do dân sự.
Iran đã có một khả năng giới hạn trong việc sử dụng tác nhân
chiến tranh sinh học từ ít nhất năm 1986.
Syria
Chúng
tôi đánh giá Syria đang theo đuổi việc phát triển một chương
trình chiến tranh sinh học và có hạ tầng cơ sở kỹ thuật sinh học
có thể hỗ trợ phát triển tác nhân giới hạn. Chương trình chiến
tranh hóa học trưởng thành có thể là một nguồn công nghệ vũ khí
hóa sinh học.
Libya
Chương
trình chiến tranh sinh học của Libya đa phần có thể không tiến
bộ vượt quá giai đoạn nghiên cứu và phát triển, dù cho có thể có
khả năng tạo ra số lượng nhỏ
chiến
tranh sinh học.
Bắc
Hàn
Mặc dù
có ít điều đã biết về chương trình chiến tranh sinh học Bắc Hàn,
chúng tôi nghi ngờ họ có thể tạo ra và vũ khí hóa vài tác nhân
chiến tranh, gồm có anthrax, dịch tả và bệnh dịch.
Liên
bang Xô viết cũ
Từ khi
bắt đầu chương trình chiến tranh sinh học trước cuộc Thế Chiến
II, Bộ Quốc phòng Xô Viết hoàn chỉnh một các có hệ thống vũ khí
chiến tranh sinh học của họ đặc trưng và khả năng sản xuất
anthrax. Trong thời gian đỉnh của chiến tranh lạnh, Liên bang Xô
viết có khả năng tạo ra hàng ngàn tấn tác nhân anthrax. Anthrax
được xem là "xương sống" của chương trình chiến tranh sinh học
tấn công của Liên bang Xô viết cũ.
Chiến
tranh sinh học trong Liên bang Xô viết cũ đã nhận bài báo quan
trọng trong hai năm qua, gồm có một cuốn sách có tên là
Biohazard bởi Ken Alibek, nguyên giám đốc cơ quan bệnh than đầu
tiên của Liên bang Xô viết cũ tọa lạc tại Stepnogork,
Kazahkstan. Những cuốn sách này mô tả chi tiết nhiều sự cố chung
quanh các khả năng của Liên bang Xô viết cũ liên quan đến các
tác nhân chiến tranh sinh học, phương tiện, và vũ khí hóa
Các nhà
khoa học chiến tranh sinh học của Liên bang Xô viết cũ đã mô tả
chi tiết nghiên cứu khảo cứu và phát triển bệnh than thuộc Xô
viết như là một tác nhân chiến tranh sinh học. Tai nạn bệnh than
ở Sverdlovsk năm 1979 xác nhận sản xuất vi khuẩn ở Liên bang Xô
viết, cũng như tỷ lệ tử vong của một đám mây aerosol anthrax.
Ngay trước cả tai nạn này, một rò rỉ từ lò phản ứng cho là có
khiếm khuyết ở tiện ích vi khuẩn Kirov lan tràn anthrax vào hệ
thống nước thải thành phố. Mặc dầu không có trường hợp tử vong
được báo cáo, một nòi mới rõ nét, có độc tố nhiều hơn nòi đầu
được phân lập trên chuột cống trong vài năm sau.
Chúng
tôi còn biết là tiêu chí nghiên cứu của chương trình chiến tranh
sinh học Xô viết gồm có việc phát triển các nòi kháng chất kháng
sinh, và là điều này có thể đi kèm với vào đầu những năm 1990s.
Đến nay, không có thông tin làm vững thêm việc phát triển một
nòi kháng thuốc chủng của tác nhân chiến tranh sinh học anthrax.
Thông
qua phân tích tài liệu khoa học tham khảo, chúng tôi đã quan sát
một cố gắng thường xuyên lớn của người Nga trong nghiên cứu,
phát triển, và sản xuất sinh vật anthrax. Khó khăn đang xác định
có hoặc không cố gắng hiện hành ở các phương tiện trước đây kết
hợp với tác nhân chiến tranh sinh học hoạt động, là vì các tiêu
chí hợp pháp hoặc thường xuyên hoạt động liên quan đến tấn công.
Theo
tuyên bố 1992 của nước Nga về hoạt động chiến tranh sinh học đã
qua đến Hiệp ước Vũ khí Sinh học và Có độc tố (BWC), nước Nga
chấp nhận là anthrax là một tác nhân được nghiên cứu tại các
tiện ích của Bộ Quốc phòng Xô viết và "hiệu quả được đánh giá".
Trong khi tuyên bố nói là "chỉ các mô hình vũ khí sinh học và
thiết bị phun luôn được phát triển", Dr. Alibek và những người
khác yêu cầu là giữa những năm 1980s, những người Xô viết đa
hoàn chỉnh việc phân phát anthrax như là một tác nhân chiến
tranh sinh học dùng nhiều hệ thống phân phát, gồm có tên lửa đạn
đạo.
Mặc dù
chương trình Liên bang Xô viết cũ chắc đã được giảm bớt kích
thước và cải tổ từ thời đại có hàng ngàn nhà khoa học tham gia
phát triển chiến tranh sinh học, tình trạng hiện tại của mọi
tiện ích không biết, và chúng tôi cũng không biết nơi ở của các
nhà khoa học chiến tranh sinh học cũ trước kia đã tham gia hoạt
động tấn công.
Trung quốc
Trung
quốc tiếp tục duy trì một chương trình chiến tranh sinh học tấn
công. Họ có một hạ tầng cơ sở công nghệ sinh học tiến bộ đủ cho
phép việc phát triển các tác nhân chiến tranh sinh học. Ngoài
ra, công nghệ vũ khí và đạn dược của họ có thể vũ khí hóa các
tác nhân chiến tranh sinh học.
Khủng bố
Anthrax còn là một vũ khí
khủng bố tiềm năng vì nó tương đối dễ sản xuất. Nó không cần
thiết bị quân sự hoặc nhân viên qui ước trong sản xuất hoặc phân
phát. Máy phát aerosol và thiết bị phun cần trong việc phân phát
có thể sử dụng về mặt thương phẩm, như là các thiết bị mang tay
giấu giếm dễ dàng. Các khoản mục này có thể được dùng bới những
kẻ khủng bố trong các cuộc tấn công chống lại các mục tiêu quân
sự hoặc dân sự. Những thiết bị giản đơn như bình xịt thuốc trừ
sâu có thể được dùng để đưa anthrax vào các hệ thống sưởi, quạt
gió, và máy lạnh. Tuy nhiên, những kẻ khủng bố lặng ngắm các
cuộc tấn công anthrax đối mặt các thách thức công nghệ.
Giáo phái Aum Shinrikyo
theo báo cáo có anthraxm và xác nhận đã thử phân phát anthrax
trong vài cuộc tấn công năm 1993 ở Tokyo bằng cách sử dụng bình
xịt bất ngờ trên nhà cao ốc và xe tải. Họ cũng có những khó khăn
với các bình xịt bị trở ngại và chính chất anthrax, nhưng đã
chứng minh khả năng khoa học cần thiết trong làm việc với
anthrax như một tác nhân chiến tranh sinh học.
Hiện nay, trong khi vài
nhóm khủng bố quốc tế qang quan tâm đén việc phát triển khả năng
sử dụng tác nhân sinh học, khác hơn là tác nhân liên quan với
Aum Shinrihyo trong thời gian qua. Không có chỉ dấu xác nhận là
các nhóm khác đặc biệt phát triển anthrax. Các hoạt động của
nhóm khủng bố cơ bản đã tập trung vào hóa chất nhiều hơn là vật
liệu sinh học.
Kết luận
Trong phần kết luận,
anthrax thể hiện mối đe dọa chiến tranh sinh học cơ bản với các
lực lượng và lợi ích của Hoa Kỳ. Điều này là tác nhân được chấp
nhận rộng rãi trong các chương trình chiến tranh sinh học ngoại.
Một cuộc tấn công sẽ có thể đi với ít đến không cánh báo với ảnh
hưởng tai họa tiềm năng. Vì điều này, anthrax xứng đáng dang
tiếng của nó như một tác nhân chiến tranh sinh học hiệu quả và
gây tử vong.
Cám ơn quí vị một lần nữa
về cơ hội xác nhận trước ủy ban này. Tôi sẽ vui mừng trả lời bất
kể câu hỏi nào quí vị có thể có lúc này, hoặc có thể muốn được
trả lời sau này.
RGC
16-01-2007
LOWELL JACOBY
Mr.
Chairman, distinguished Members of the Committee, thank you for
inviting me to testify. I am pleased to present an unclassified
intelligence overview of the anthrax threat.
Overview
The
Intelligence Community assesses that anthrax is the leading
biological warfare threat agent. The potential for terrorist use
of this agent is also of concern to us based on the relative
ease with which it can be produced. Anthrax is considered an
anti-personnel biological warfare agent. However, it also has
economic warfare applications for anti-agricultural use against
livestock.
What
is Anthrax?
Anthrax
is a naturally occurring disease of herbivores like sheep,
cattle, and goats. This disease occurs worldwide, and
particularly in areas where animals are not routinely
vaccinated, such as in Asia and Africa. A spore forming bacteria
causes the disease. In the spore form, the bacteria are
resistant to environmental effects and demonstrate a high level
of stability. There are three modes of exposure. One form occurs
usually on the hands and forearms of persons working with
infected livestock. Mortality rate ranges up to 25%. The
gastrointestinal form is contracted by ingestion of
insufficiently cooked contaminated meat. The mortality rate can
range up to 70%. The third way anthrax is contracted is by
inhalation of anthrax spores. The fatality rate is virtually
100%. Because airborne anthrax spores have the ability to infect
large numbers over a large coverage area, inhalational anthrax
is the primary concern for biological warfare. In inhalation
anthrax, the spores are inhaled into the lungs and migrate to
the lymph nodes in the cavity between the lungs. Once in the
lymph nodes, the spores germinate and produce toxins, which
cause massive internal tissue destruction and swelling. The
bacteria can also enter the blood and cause blood poisoning. The
first symptoms can appear one to several days after inhalation,
and include general flu-like symptoms, fever and fatigue. Severe
respiratory distress and then death will occur in 24-36 hours.
Anthrax – An Ideal Organism for Biological Warfare
Anthrax
is an ideal organism for biological warfare use. Anthrax is 100%
lethal if not treated before symptoms appear. There is no
effective treatment available once symptoms have occurred. This
is a critical issue for troops since there is no indication of
exposure to anthrax until after the symptoms have appeared – and
then it is too late.
Anthrax
spores can be produced in large quantities with basic biological
techniques. It grows easily and can be used as a dry powder or
as slurry (slush) for aerosol spray. Anthrax spores can be
stored for decades without losing their viability. They can be
delivered by missiles, rockets, artillery, and sprayers. Anthrax
can be stored in filled munitions, as well as in dry or liquid
bulk.
Anthrax
particles can be achieved in the 1-5 micron range, which is
optimal for suspending absorbed biological warfare agent in an
aerosol cloud and carrying it over long distances. This range
also represents the optimal particle size for inhalation
exposure.
The
equipment for anthrax spore production is dual use. Illegal
production can be concealed in legitimate production industries.
Additionally, legitimate public health and veterinarian needs
for vaccines and bio-pesticides can camouflage agent production.
Anthrax
is considered a cost-effective alternative to other weapons of
mass destruction methods. A smaller quantity is required for the
same area of coverage when compared to other weapons of mass
destruction means. For comparison, for 120 square kilometers of
coverage, you would need one megaton yield of nuclear material,
158 metric tons of a chemical agent, and only 6.5 kilograms of
anthrax. Anthrax is 100,000 times more lethal than chemical
agents.
Vulnerabilities
With no
advance warning of an anthrax attack, we will have no indication
that the attack has occurred. Anthrax has no smell, no taste, no
color, and no odor. The aerosol cloud of anthrax will not be
detected.
Weaponization Conditions
In
order for anthrax to be used as an effective biological warfare
agent, it must be weaponized. Optimal delivery involves release
of the agent in a particle cloud suspended in air (aerosol),
light wind conditions and dispersion in non-daylight hours to
minimize the dilution of the aerosol cloud and light induced
degradation of the agent.
The
aerosol anthrax particles would remain suspended in air and
travel with the wind currents for a considerable distance. If
disseminated at night near the ground or water surface, they can
be expected to form a cloud with the potential to remain
relatively intact for several hours while slowly moving across
the terrain or water surface. Except for a short time in the
immediate vicinity of the release, the aerosol will not be
visible, and would be inhaled without the victim’s knowledge. It
is this profile which makes it impossible for our troops to
assume a reactive protective posture.
Even
with appropriate data to assess a cloud’s predicted path of
movement, it would be difficult at best given varying weather
and terrain effects. Air stability, temperature, relative
humidity, pollutants, cloud coverage, and precipitation all
affect biological warfare agent duration and effectiveness. It
is traditional to expect a biological warfare attack in the
early morning and late evening when air stability is optimal and
direct sunlight is minimal. As the agent aerosol is transported
away from the site of initial dissemination, it is subject to
gradual dilution by dispersion, as well as to decay resulting
from the effects of sunlight and other environmental factors.
Dissemination Means
Anthrax
can be disseminated by a wide variety of means. Missiles,
rockets, artillery, aerial bombs, and sprayers mounted on
aircraft, cars, boats, as well as hand-held sprayers, make
effective dissemination means. In the case of less efficient
biological warfare delivery means, such as bulk-fill missile
warheads or artillery shells that detonate on impact, the area
of coverage for each kilogram of agent will be reduced. Even
though a significant percentage (as high as 95%) of the agent
may not be effectively aerosolized by bulk-fill weapons, the
resulting exposure hazard in the immediate area of the attack
could have significant operational impact. Given this scenario,
we would still expect an infected area of 1 square kilometer per
kilogram, and some downwind exposure hazard for several
kilometers.
Scenarios for Use
United
States forces face a growing possibility of exposure to
biological agents in situations over a wide range of
contingencies. At one end of the spectrum is deliberate,
high-concentration agent exposure resulting from an enemy
missile attack on a military facility. At the other end is low
concentration agent release caused by an accident at a foreign
biological warfare research and development facility that
impacts our forces engaged in peacekeeping operations.
The
Threat
At
least 10 countries have or are developing a biological warfare
capability. Several of these countries are suspected of
developing anthrax as a biological warfare agent. As offensive
biological warfare programs proliferate and expand, the exposure
threat presented by some biological agents may well become
comparable to that attributed to the endemic disease hazards
(for example, diphtheria, influenza, and tetanus) for which our
active-duty and reserve personnel are now routinely vaccinated.
Iraq
Iraq
admitted to weaponizing anthrax. They declared 10 Al-Husayn
Missiles, 50 R-400 bombs, and 3 MIG-21 with spray tanks. They
also acknowledged research on 155mm artillery shells, artillery
rockets, and aerosol generators. Iraq claimed to have destroyed
these munitions, but to date UN monitors have not been able to
verify these claims. Iraq also declared 8,500 liters (2,245
gallons) of concentrated anthrax, as well as several other
biological warfare agents.
Al
Hakam, a confirmed biological warfare Anthrax and Botulinum
toxin production facility in Iraq, was destroyed in 1996 by
UNSCOM. Iraq had maintained that it was a legitimate civilian
facility designed to produce singlecell proteins and
bio-pesticides. Al Hakam’s remote location and the security
involved in its construction suggested that it was intended to
be a biological warfare production facility from the outset.
Experts
conclude that Iraq retains sufficient technology components,
data, and scientific expertise to resume development and
production of biological weapons. Although the UNSCOM
inspections severely curtailed Iraqi WMD programs, even a small
residual force of operational biological warfare missiles would
pose a serious threat to neighboring countries and U.S. military
forces in the region.
Iran
Iran
has a growing biotech industry, significant pharmaceutical
experience, and the overall infrastructure to support its
biological warfare program. It continues to pursue dual-use
biotech equipment and expertise from Russian and other sources,
ostensibly for civilian reasons. Iran has had a limited
capability to employ biological warfare agents since at least
1986.
Syria
We
assess Syria is pursuing development of a biological warfare
program and has the biotechnical infrastructure capable of
supporting limited agent development. Syria’s mature chemical
warfare program likely is a source of biological weaponization
technologies.
Libya
Libya’s
biological warfare program most likely has not advanced beyond
the research and development stage, although they may be capable
of producing small quantities of biological warfare agent.
North Korea
Although little is known on North Korea’s biological warfare
program, we suspect they are capable of producing and
weaponizing several biological warfare agents, which include
anthrax, cholera and plague.
Former Soviet Union
Since
the inception of the biological warfare program prior to the
Second World War, the Soviet Ministry of Defense systematically
improved their biological warfare weapons characteristics and
production capabilities for anthrax. During the peak of the cold
war, the Soviet Union had the capability to produce thousands of
tons of anthrax agent. Anthrax was considered the ‘backbone’ of
the Former Soviet Union’s offensive biological warfare program.
Biological warfare in the Former Soviet Union has received
substantial press coverage over the past two years, to include a
book entitled Biohazard by Dr. Ken Alibek, the Former Soviet
Union’s former Director of the premier anthrax facility located
in Stepnogorsk, Kazahkstan. These books detail many events
surrounding the capabilities of the Former Soviet Union with
regard to biological warfare agents, facilities, and
weaponization.
Former
Soviet Union biological warfare scientists have detailed the
Soviet research and development of anthrax as a biological
warfare agent. The 1979 Sverdlovsk anthrax accident confirmed
the Soviet Union’s production on the bacteria, as well as the
lethality of an anthrax aerosol cloud. Even prior to this
accident, a leak from an alleged defective reactor in the Kirov
bacteriological facility spread anthrax into the city’s sewer
system. Although no deaths were reported, an apparent new
strain, more virulent than the original was isolated in the
sewer rats several years later.
We also
know that the research goals of the Soviet biological warfare
program included the development of antibiotic resistance
strains, and that this was likely accomplished by the early
1990’s. To date, no information corroborates development of a
vaccine-resistant strain of anthrax biological warfare agent.
Through
scientific literature analysis, we have observed a continuing
robust Russian research, development, and production effort on
the anthrax organism. The difficulty is determining whether this
ongoing effort at facilities formerly associated with anthrax
biological warfare agent work, is for legitimate purposes or a
continuation of offensive related activity.
According to Russia’s 1992 declaration of past biological
warfare activity to the Biological and Toxin Weapons Convention
(BWC), Russia admitted that anthrax was an agent researched at
Soviet Ministry of Defense facilities and its ‘effectiveness was
evaluated’. While the declaration states that ‘only models of
biological ammunition and spray devices were ever developed’,
Dr. Alibek and others claim that by the mid 1980s, the Soviets
had perfected delivery of anthrax as a biological warfare agent
using a wide range of delivery systems, to include ballistic
missiles.
Although the Former Soviet Union program has certainly been
downsized and restructured from the era where thousands of
scientists engaged in biological warfare development, the
current status of all facilities is not known, nor do we know
the whereabouts of former biological warfare scientists
previously engaged in offensive activity.
China
China
continues to maintain an offensive biological warfare program.
They possess a sufficiently advanced biotech infrastructure to
allow development of biological warfare agents. Additionally,
its munitions industry is capable of weaponizing of biological
warfare agents.
Terrorism
Anthrax
is also a potential terrorist weapon because of its relative
ease of production. It does not require conventional military
equipment or personnel for production or dissemination. Aerosol
generators and spray equipment needed for dissemination is
commercially available, as are easily concealed portable
devices. These items could be used by terrorists in attacks
against military or civilian targets. Devices as simple as
insecticide spray cans can be used to introduce anthrax into
heating, ventilating, and air conditioning systems.
Nevertheless, terrorists contemplating anthrax attacks face
technological challenges.
The Aum
Shinrikyo sect reportedly had anthrax, and claimed to have
attempted dissemination of anthrax during several 1993 attacks
in Tokyo using improvised sprayers on buildings and trucks. They
had difficulties with clogged sprayers and the anthrax itself,
but demonstrated the scientific capability necessary to work
with anthrax as a biological warfare agent.
Currently, while some international terrorist groups are
interested in developing the capability to use biological
agents, other than the Aum Shinrikyo’s past incidents, there are
no confirmed indications that other groups are specifically
developing anthrax. International terrorist group activities
have primarily focused on chemical rather than biological
materials.
Conclusions
In
conclusion, anthrax represents the primary biological warfare
threat to United States forces and interests. It is the most
widely adopted agent in foreign biological warfare programs. An
attack will likely come with little to no warning with potential
catastrophic impact. Because of this, anthrax deserves its
reputation as an effective and deadly biological warfare agent.
Thank
you again for the opportunity to testify before this committee.
I will be pleased to respond to any questions you may have now,
or may wish to provide later.
Trở về Trang Chính
|