|
Quá trình:
Biển Đông tiêu biểu
một miền có tính đa dạng sinh học có ý nghĩa toàn cầu. So với
Đại Tây Dương, Thái Bình Dương Tây Ấn rất là đa dạng. Chỉ 5 loại
rừng đước và ước chừng 35 loài san hô được tìm ra ở Đại Tây
Dương so với 51 rừng đước và trên 700 loài san hô ở Thái Bình
Dương Tây Ấn. Trên 400 loài san hô được ghi chép từ Philippin so
với 200 loài từ Hồng Hải, 117 từ Đông Nam Ấn và 57 từ Vịnh Ba
Tư. 45 loài rừng đước từ tổng số toàn cầu của 57, 50 trong số 70
giống cỏ biển, 20 trong 50 loài cỏ biển, và 7 trong 9 loài trai
lớn được tìm ra ở miền gần bờ Biển Đông. Tính đa dạng loài cao
trong nơi ở nước cạn, kết hợp với biến đổi trong địa hình và
thành lập địa chất và kiểu hình thành, góp phần vào sự có ý
nghĩa toàn cầu của những nơi ở này trong miền.
Tính
đa dạng sinh học cao này không những bị đe đoạ bởi tính thường
xuyên của những mô hình sử dụng không bền vững mới, mà còn suy
thoái nghiêm trọng trong thời gian qua. Những tính toán mới gợi
ý là ước chừng 2 triệu hecta rừng đước hoặc 12% tổng diện tích
toàn cầu ở trong những nước giáp ranh với Biển Đông. Điều này
tiêu biểu chỉ 31% tổng diện tích tính toán tìm thấy trong những
nước này vào đầu thế kỷ này. Những tỷ lệ tính toán thiệt hại
trong từng nước thay đổi khoảng 0,5 đến 3,5% tổng diện tích mỗi
năm và sự thường xuyên của những xu hướng này có thể đưa đến
thiệt hại tổng diện tích của nơi ở này trong miền ước chừng năm
2030. 82% rạn san hô đã khảo sát theo những dự án hợp tác ASEAN
tại Biển Đông trưng ra chứng cứ của sự suy thoái trong khi những
tính toán khác gợi ý là 50% của Philippin và 85% của rạn Nam
Dương có thể được xem là đang ở trong tình trạng có rủi ro cao.
Biển Đông hỗ trợ sự
đánh bắt cá thế giới quan trọng có ý nghĩa đến an toàn thực
phẩm, và như là một nguồn lợi tức xuất khẩu, trong những nước
giáp ranh biển này. Thuỷ sản đánh bắt từ Biển Đông góp 10% vào
việc đánh bắt thủy sản thế giới trên đất liền và 5 trong 8 nhà
sản xuất tôm hàng đầu trên thế giới là những quốc gia giáp ranh
Biển Đông (Indonexxia, đứng đầu, Việt Nam, thứ hai, Trung quốc,
thứ ba, Thái Lan, thứ sáu, và Philippin, thứ tám). Những nước
trong miền tạo ra 23% đánh bắt cá ngừ trên thế giới và gần ¾ cá
ngừ đóng hộp trên thế giới. Sự chia sẻ sản xuất trên thế giới
thuỷ hải sản gồm có tôm tăng lên từ 46% trong năm 1984, đến 66%
năm 1994. Tỷ lệ tôm sản xuất qua việc thâm canh thì cao, góp
phần một cách có ý nghĩa vào thiệt hại rừng đước và nơi ở ven bờ
khác giáp ranh Biển Đông.
Mức
suy giảm khả năng sử dụng hải sản trong khu vực tự sản tự tiêu
đã đưa đến việc chấp nhận phương pháp đánh bắt tận diệt như là
đánh bắt cá bằng chất nổ và sức ép trên tài nguyên ven bờ có khả
năng làm tăng một cách có ý nghĩa trong tương lai gần. Mặc dù
yêu cầu tiêu dùng trong nước và tỷ lệ phát triển dân số mới,
những nước chung quanh Biển Đông thường là nhà xuất khẩu thủy
hải sản trên mạng, vì yêu cầu để phát sinh ngoại hối để mua đầu
vào vốn trong công nghiệp hoá là một ưu tiên cao.
Phát triển Dự án: một lịch sử ngắn hơi.
Nhận
thức là những hành động tính đến nay không thành công trong việc
làm dừng lại tình trạng suy thoái môi trường ở Biển Đông, những
nước trong miền tìm kiếm sự hỗ trợ của Chương trình Môi trường
Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) trong
việc giải quyết những vấn đề và bài toán bức xúc nhất. Cuộc họp
chính phủ liên tịch của Bộ phận Hợp tác những biển Đông Á
(COBSEA), tháng 12 1996 chấp thuận yêu cầu cấp vốn của GEF. GEF
tạo thuận lợi cho việc sửa soạn dự án và phát triển Quỹ Phát
triển (PDF-B) tạo điều kiện cho những nước soạn thảo phân tích
cần và khảo sát và mỗi nước tham dự soạn thảo một Báo cáo Nhà
nước về những vấn đề môi trường có liên quan nước và những vấn
đề (báo cáo quốc gia). Phù hợp với Chiến lược điều hành GEF, một
bản phân tích chẩn đoán Xuyên biên giới và khuôn khổ hoạt động
của Chương trình Hành động Chiến lược được soạn thảo.
Những Ủy ban Nhà
nước được hình thành trong từng nước tham dự để soạn thảo một
phân tích tổng hợp cấp nhà nước về những bài toán và quan tâm
môi trường có liên quan đến nước. Đề cương và nội dung được bàn
cãi và thống nhất tại buổi họp đầu của điều phối viên cấp nhà
nước tháng 4-1997. Bản dự thảo đầu của báo cáo nhà nước được đệ
trình và đánh giá trước một cuộc họp thứ hai của điều phối viên
nhà nước tháng 6, 1998, soạn thảo một đánh giá trọng lượng so
sánh của tất cả vấn đề chính đã nhận diện. Trên cơ sở của những
báo cáo nhà nước một phân tích chẩn đoán xuyên biên giới (TDA)
được soạn thảo cung cấp cơ sở khoa học-kỹ thuật về việc chọn
hành động ưu tiên đề xuất trong dự án này và phục vụ như cơ sở
trong việc phát triển một khuôn khổ Chương trình Hành động Chiến
lược (SAP). Một buổi họp thứ ba của điều phối viên nhà nước được
triệu tập tháng 11, 1998 để hoàn tất TDA và SAP trước khi thanh
toán và chấp nhận bởi buổi họp thứ 13 của COBSEA sau này trong
cùng tháng. TDA nhận diện nhưng ưu tiên miền trong những vấn đề
và quan tâm liên quan nước, những nguyên nhân kinh tế-xã hội và
gốc của khu vực, và phạm vi theo đó những vấn đề xuyên biên giới
về xuất xứ và hiệu quả. Quá trình phát triển khuôn khổ làm việc
SAP có liên quan đến một phân tích tổng hợp và toàn diện những
thoả hiệp hiện có và những tuyên bố quốc tế, liên chính phủ và
miền, những dự án đã qua và đang thực hiện, những hành động và
chương trình liên quan đến môi trường của Biển Đông.
Trên cơ sở của
những thoả hiệp của cuộc họp thứ 13 của COBSEA một tóm tắt dự án
được soạn thảo bởi UNEP và đệ trình lên Hội đồng GEF như một dự
án trong chương trình làm việc tháng 3, 1999. Sau đó điều này
được rút ra từ việc xem xét, vì chỉ 6 trong 7 nước ven sông đã
tán thành dự án đề xuất vào lúc đó.. Sau đó dự án được tu chính
và hiệu đính để giải trình những vấn đề khác nhau và bài toán và
một phiên bản đã xem lại của dự án tóm tắt được đệ trình lên một
cuộc họp đặc biệt của COBSEA tháng 9, 2000 trước khi tán thành
bởi những đầu mối của GEF trong mỗi nước tham dự và việc đưa vào
trong chương trình làm việc của Hội đồng GEF chấp thuận tháng
12, 2000.
Trong năm 2001
thảo luận và thương lượng xảy ra giữa UNEP và những Bộ chính
trong từng nước liên quan đến phương pháp quản lý và nội dung và
chi tiết của những bản ghi nhớ khác nhau trong đó ngân khoản do
GEF cấp được chuyển cho cơ quan thực thi đặc biệt (SEA) trong
mỗi nước. Trước tháng 10, 2001 những nội dung của bản ghi nhớ và
tính chất của ngân sách đã được thắp sáng và cuộc họp đầu tiên
của Ban Chỉ đạo Dự án (PSC) được triệu tập trong tháng 11, 2001
để thống nhất và nghiệm thu tài liệu dự án nội bộ và điều hành
UNEP, trước khi đệ trình lên Ban Thư ký GEF. Tài liệu của Dự án
được thắp sáng bởi, Chủ nhiệm Dự án của GEF, vào ngày 12/12/2001
và tài liệu, cùng với những bản ghi nhớ phụ đính đã được ký bởi
UNEP vào ngày 21 tháng 1, 2002.
Đơn vị Điều phối
Dự án (PCU) được tạo ra vào ngày 28, tháng 1, và nhân sự đầy đủ
vào giữa tháng 4, 2002. Cuối tháng 3, 2002, trên 1 triệu USD đã
được giải ngân cho cơ quan thực hiện chuyên dụng trong những
nước tham dự.
Đối tác và trường viện hợp tác.
Những hành động đề
xuất trong khuôn khổ Chương trình Hành động Chiến lược đang thay
đổi nhiều về nội dung và lãnh vực hoạt động đề xuất. Việc thực
thi thành công Chương trình sẽ lệ thuộc vào sự hợp tác hành động
bởi những tổ chức, cơ quan khác nhau, những tổ chức phi chính
phủ, khu vực tư nhân, những thực thể chính phủ và nhóm đối tác ở
cấp quốc gia và cấp vùng. Sự hợp tác miền trên về hành động sẽ
được thực hiện bởi UNEP và đưa đến chi phí giao dịch có ý nghĩa
nhưng có thể phát sinh một cách tiềm tàng những lợi ích có ý
nghĩa trong việc giảm bớt sao chép những cố gắng và cải thiện
hiệu quả của hành động không hợp tác riêng.
Việc thiếu một
phương pháp tiếp cận phối hợp miền làm giảm một cách có ý nghĩa
hiệu quả của chúng, và nhận biết điều này những nước giáp ranh
biển Nam Hải đã bắt đầu một số lượng chương trình liên tịch gồm
có hai hoặc nhiều hơn trong miền. Những điều này gồm có trong
những điều khác (inter alia, among other thíngs), những công
trình nghiên cứu đại dương học và hải sản của Vịnh Thái Lan, kế
hoạch hành động Biển Đông Á của UNEP, công trình miền của FAO,
và những cuộc bàn cãi của Nhóm Làm việc không chính thức của
Biển Đông.
Khi không
có sự can thiệp của GEF chắc là những kiểu can thiệp hiện nay,
đã được minh chứng trong 20 năm qua không hiệu quả trong việc
làm dừng lại nhịp độ xuống cấp môi trường, sẽ tiếp tục. Không có
phương pháp tiếp cận miền có phối hợp với việc quản lý môi
trường không thể là tỷ lệ xuống cấp nơi ở hiện nay sẽ bị làm
chậm lại. Hậu quả có thể của một cảnh quan riêng là thiệt hại
tính đa dạng sinh học có ý nghĩa toàn cầu trong thế kỷ kế tiếp.
Trước tháng 6,
2002 ước chừng 400 trường viện trong 7 nước tham dự đã được liên
kết với việc thực thi dự án. Trong số này, lõi là một mạng của
38 cơ quan thực hiện chuyên dụng chịu trách nhiệm triệu tập
những uỷ ban nhà nước và/hoặc chi ủy ban đến lượt chịu trách
nhiệm thực hiện dự án ở cấp nhà nước. Hai hội nghị khoa học kỹ
thuật được hoạch định trong quá trình dự án sẽ được triệu tập
kết hợp chặt với những cuộc họp của COBSEA để xem lại kết quả và
những khuyến cáo của nhóm làm việc quốc gia và quốc tế và để
thiết lập và củng cố lại những liên kết giữa những nhóm làm việc
khu vực.
Phương pháp quản lý
Tại mỗi nước một bộ
đầu mối và một điểm đầu mối cấp nhà nước và một điểm đầu mối kỹ
thuật nhà nước phục vụ như là đại biểu quốc gia trong Ban Chỉ
đạo Dự án đã được chỉ định. Vai trò của Bộ đầu mối là để triệu
tập những cuộc họp định kỳ của những Uỷ ban Liên Bộ chính có
trách nhiệm về những hoạt động phối hợp thực hiện dưới cây dù
của dự án này với những hoạt động khác và những kế hoạch phát
triển trong nước. Vai trò của Điểm chính kỹ thuật cấp nhà nước
là để chủ trì những cuộc họp Nhóm Làm việc Kỹ thuật Nhà nước sẽ
phối hợp những hoạt động dự án ở cấp nhà nước thực hiện bởi
những cơ quan thực hiện chuyên dụng (SEAs) trong từng thành phần
dự án và thành phần phụ. Ở cấp miền, sáu nhóm đặc nhiệm cấp
miền, 6 toán đặc nhiệm miền đã được hình thành 4 tập trung vào
những thành phần phụ nơi ở rừng đước, rạn san hô, cỏ biển, đất
ngập nước, 1 về ngư nghiệp và 1 về Ô nhiễm trên nền Đất. Vai trò
của những nhóm làm việc cấp miền này là để phối hợp những hoạt
động ở một cáp miền, để phát triển những tiêu chuẩn thích hợp
trong miền và để áp dụng trong một mục tiêu và phong cách khoa
học những tiêu chuẩn cho những điểm trình diễn tiềm tàng và
những hoạt động kiểu mẫu để giữ ở mức cao nhất lợi tức tổng hợp
từ chương trình và để đảm bảo những xem xét cấp miền và toàn cầu
được bao gồm trong quá trình hoạch định tron cơ cấu dự án. Năng
suất của những nhóm làm việc cấp miền này sẽ được xem xét và
chấp nhận tại những cuộc họp liên chính phủ cấp cao, cũng sẽ
chấp nhận một đanh mục vốn đầu tư của những dự án quản lý ưu
tiên và duyệt thuận việc chọn điểm để bắt đầu thực hiện những dự
án trình diễn.
Thành phần của
Nhóm Làm việc cấp miền được rút ra từ SEAs, cùng với đến 4
chuyên gia cấp miền. Ngững người chủ nhiệm của những nhóm làm
việc này, được bầu trong số thành phần, phục vụ như những thành
phần của Uỷ ban Khoa học-Kỹ thuật cấp Miền (RSTC). Ngoài
ra, những điểm chính kỹ thật quốc gia cũng phục vụ như thành
phần của RSTC, gồm có 6 thành phần chuyên gia cấp miền.
Uỷ ban Chỉ đạo Dự
án, như bộ phận ra quyết định tối cao của dự án, chỉ gồm có
những đại biểu của những nước tham dự trong dự án. Uỷ ban chịu
trách nhiệm xem xét lại và duyệt thuận trên cơ sở hàng năm,
những hoạt động của dự án, gồm có vị trí của những điểm trình
diễn được cấp kinh phí bởi Dự án GEF. Trong việc thực hiện dự
án, những quyết định của Uỷ ban Chỉ đạo Dự án sẽ được tạo ra
thông qua tư vấn và trên cơ sở đồng lòng của tất cả những nước
tham dự dự án.
Nội dung GEF
Nội
dung lập trình dự án này là Chương trình Điều hành GEF #8 nói:
“GEF sẽ giữ một vai trò xúc tác trong việc hỗ trợ một nhóm nước
dùng làm đòn bẩy đồng tài trợ... về những yếu tố cần của một
phương pháp tiếp cận toàn diện trong việc quản lý một cách bền
vững môi trường nước quốc tế”. (đoạn 8.2). Ngoài ra, chương
trình điều hành này nói thêm rằng “Dự án trong Chương trình điều
hành này tập trung chủ yếu vào những khối lượng nước bị de doạ
nghiêm trọng và những mối đe doạ xuyên quốc gia sắp xảy ra nhiều
nhất với hệ sinh thái của chúng (đoạn 8.3).
Dự án này giải
quyết những yêu cầu và được thiết kế để hỗ trợ những nước trong
miền trong việc giải quyết những điều kiện bắt buộc của họ trong
những hội nghị toàn cầu khác nhau liên quan tính đa dạng sinh
học và môi trường biển. Ngoài ra, những hoạt động chuyên dụng đề
xuất trong dự án này thêm và bổ sung cho những điều này hỗ trợ
bởi Kinh phí Môi trường của UNEP như bộ phận của nhiệm vụ chính
thức và chương trình và những điều được thực hiện bởi Đơn vị
Phối hợp Miền Biển Đông Á (EAS/RCU) với kinh phí từ Quỹ Uỷ thác
Miền.
Mục tiêu và Mục
đích
Những mục tiêu tổng
hợp của dự án này là việc tạo ra một môi trường cấp miền, trong
đó sự hợp tác và đối tác trong việc giải quyết những vấn đề môi
trường của Biển Đông, giữa tất cả những đối tác viên, và ở mọi
cấp được nuôi dưỡng và động viên, và để nâng cao khả năng của
các nước tham dự để tổng hợp xem xét môi trường vào việc hoạch
định phát triển quốc gia.
Mục tiêu trung hạn
của dự án là nói thêm và thống nhất ở cấp liên chính phủ, Chương
trình Hành động Chiến lược bao gồm nhiều hành động có mục tiêu
chuyên dụng và tốn kém trong dài hạn, để giải quyết những vấn đề
ưu tiên và quan tâm. Một cách chuyên dụng hơn những hoạt động đề
xuất được tạo ra để hỗ trợ những nước trong việc giải quyết
những mục tiêu môi trường chuyên dụng trong khuôn khổ SAP phát
triển trong thời kỳ 1996-1998 (Phụ đính D của Tài liệu Dự án).
Những
đầu ra chính sẽ gồm có một Chương trình Hành động Chiến lược gồm
có một chương trình hành động có mục tiêu và tốn kém và khuôn
khổ hợp tác miền trong việc quản lý môi trường ở Biển Đông,
những kế hoạch quản lý cấp quốc gia và cấp miền về những nơi ở
và vấn đề chuyên dụng, một kế hoạch quản lý miền trong việc bảo
quản dự trữ thuỷ sản xuyên biên giới trong Vịnh Thái Lan, những
hoạt động kiểu mẫu liên quan hanh động sửa chữa luân phiên để
giải quyết ưu tiên chất gây ô nhiễm xuyên biên giới và chấp nhận
mục tiêu và tiêu chuẩn chất lượng nước, và hoạt động quản lý
trình diễn tại những điểm có ý nghĩa cấp miền và toàn cầu.
Vài mục tiêu môi
trường chuyên dụng thiết lập trong khuôn khổ SAP mở rộng quá
cuộc sống dự trù của dự án hiện nay. Những mục tiêu này được tóm
tắt trong bản phụ đính D trong khi nguồn gốc khuôn khổ thực tiễn
trình bày trong bản phụ đính B của cùng những tài liệu phác thảo
giai đoạn quan trọng và những chỉ dấu có thể được dùng để tính
toán tiến độ về phía hoàn tất những mục tiêu này trong cuộc sống
của dự án.
Những hoạt động dự
kiến
Những
tranh chấp lãnh thổ không giải quyết là một nguồn nhạy cảm trong
miền. Trong vài năm qua những nước đã minh chứng mong đợi hợp
tác trong những vấn đề liên quan việc quản lý môi trường, và có
một sự nhận biết gia tăng là lợi ích phát sinh từ những hành
động quản lý môi trường hợp tác không lệ thuộc vào việc giải
quyết những vấn đề nhạy cảm trên. Việc nhận biết tính nhạy cảm
của miền, tuy nhiên, đã được thống nhất là không hoạt động nào
sẽ được thực hiện trong dự án này trong những vùng tranh chấp
của Biển Đông, cũng như những vấn đề chủ quyền sẽ được giải
quyết trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua những hoạt động của dự
án.
Dự án được chia
thành bốn thành phần chính, ấy là:
1) Việc xuống cấp
và thiệt hại nơi ở
2) Sử dụng quá mức
thuỷ sản trong Vịnh Thái Lan
3) Sự ô nhiễm trên
nền đất
4) Sự hợp tác và
quản lý dự án.
Những thành phần
này phản ảnh thứ tự ưu tiên xác định ở một cấp miền (bản phụ
đính D) trong đó những nơi ở và tính đa dạng sinh học liên quan
những quan tâm và sử dụng quá mức tài nguyên biển cấp hạn cao
nhiều hơn so với sự ô nhiễm hoặc nước ngọt đang quan tâm. Trong
thứ tự so sánh về tầm quan trọng của những nơi ở trong miền,
rừng đước và rạn san hô xếp thứ tự một cách có ý nghĩa cao nhiều
hơn so với cỏ biển và cửa sông/đất ngập nước xếp thứ tự phần lớn
cao nhiều hơn so với sự xuống cấp của rạn san hô trong khi từ
những vấn đề liên quan ô nhiễm: sự ô nhiễm trên nền đất và nói
riêng nước thải được xem như vấn đề ô nhiễm quan trọng nhất
trong miền. Trên hết, sự ô nhiễm được xem như ít quan trọng vì
xuống cáp nơi ở và thiệt hại hoặc việc sử dụng quá mức tài
nguyên biển.
Những hành động ở cấp quốc gia, đề nghị trong
Thành phần 1 liên
quan sự xuống cấp nơi ở và thiệt hại được trình bày chi tiết
trong 4 thành phần phụ trong việc giải quyết bốn nơi ở ưu tiên
trong miền [rừng đước, rạn san hô không biển, cỏ biển, đất ngập
nước]. Những hoạt động bên trong mỗi thành phần phụ gồm có:
thiết lập hoặc sự truyền sức lại của Uỷ ban quốc gia hoặc nhóm
kỹ thuật, để duyệt lại dữ liệu cấp quốc gia về tính đa dạng sinh
học; những hoạt động quản lý, thu hồi và phát triển ảnh hưởng
mỗi nơi ở; nghiên cứu và xuất bản, đánh giá kinh tế, trường viện
và lập pháp, và phát triển những hệ thống quốc gia liên kết lẫn
nhau, tương hợp về việc quản lý dữ liệu cấp miền. Những hành
động chuẩn bị này sẽ cung cấp nền chống lại điều gì để phát
triển hoặc cập nhật hoá những kế hoạch quản lý quốc gia, gồm có
lập pháp cần, để bảo quản những khu vực nơi ở quan trọng cấp
quốc gia. Những cuộc họp nhừ nước, công cộng sẽ được triệu tập
để trinhfbayf và duyệt lại những kế hoạch, trước khi chấp nhận
bởi các Chính phủ.
Thành phần 2 tập
trung vào vấn đề ngư nghiệp xuyên biên giới trong Vịnh Thái Lan,
nhưng không loại trừ những hoạt động trình diễn cấp nhà nước tại
Philippin hoặc Indonexxia. Những hoạt động chia nhóm thành 4
thành phần phụ dầu tiên của điều đó được thiết kế để đảm bảo sự
thống nhất về tính chất của những hành động liên tịch cần để
giải quyết những vấn đề đã nhận diện trong Vịnh Thái Lan. Một
toán đặc nhiệm sẽ được hình thành để phát triển những kế hoạch
quản lý cấp vùng và cấp quốc gia trong những khu vực tôm đẻ
trứng và ươm giống có ý nghĩa cấp vùng và xuyên quốc gia trong
Vịnh Thái Lan. Toán đặc nhiệm sẽ chịu trách nhiệm về việc phát
triển những tiêu chuẩn để xác định sự có ý nghĩa quốc gia, vùng
phụ và xuyên biên giới của vùng tôm đẻ trứng và ươm giống, và
đối với việc áp dụng những tiêu chuẩn này để xác định những ưu
tiên về hành động quản lý trong Vịnh Thái Lan. Những hoạt động
này sẽ đưa đến việc thiết lập một hệ thống tị nạn để bảo quản số
lượng cá xuyên biên giới quan trọng trong Vịnh Thái Lan dựa trên
vùng bảo tồn tài nguyên biển nhận diện như nơi ở tới hạn đối với
việc bảo tồn và bảo vệ số lượng cá dự trữ.
Thành phần này gồm
có những hành động cần ở cấp nhà nước bởi những nước giáp ranh
Biển Nam Hải để: bảo vệ loài có nguy cơ tuyệt chúng, đánh giá
một hệ thống khám phá đánh bắt cá bằng chất nổ nguyên mẫu, phát
triển và thực thi những chương trình để cung cấp thông tin ở cấp
cộng đồng, trên việc bảo tồn số lượng dự trữ cá và phương pháp
thực hành đánh bắt cá bền vững trong những cộng đồng đánh bắt cá
thủ công, và để thúc đẩy dạo luật FAO về việc quản lý ngư nghiệp
có trách nhiệm thông qua những cuộc hội thảo cấp nhà nước và cấp
miền.
Thành phần 3 giải
quyết vấn đề chính ô nhiễm trên nền đất qua một khảo sát đầu
những tiêu chuẩn và kiểm tra cấp nhà nước, và một cuộc kiểm tra
hành động cần để làm hoà hợp những tiêu chuẩn trên ở một cấp
miền, khảo sát và đánh giá tri thức hiện có của chất lượng nước
trong miền, xác định thiếu sót thông tin, đánh giá khả năng
mang/đồng hoá của miền phụ và hệ sinh thái nhạy cảm và những di
chuyển xuyên biên giới của chất gây ô nhiễm trong Biển Nam Hải,
tạo ra những hướng dẫn/chương trinhfhanhf động trong việc thực
thi GPA ở cấp nhà nước và cấp miền, và soạn thảo những hướng dẫn
trong việc phát triển kế hoạch quản lý nhà nước, gồm có xây dựng
khả năng, lập pháp, và những thành phần thích hợp khác để hoàn
tất mục tiêu chất lượng nước đã thống nhất, duyệt lại khả năng
quốc gia để khảo nghiệm, theo dõi, kiểm tra và bất buộc chất
lượng nước và những tiêu chuẩn chi nhánh và để phát triển và
hoàn thành những kế hoạch quản lý cấp nhà nước và cấp miền để
đạt mục tiêu chuyên dụng trong khuôn khổ thời gian xác định sẽ
được đưa vào Chương trình Hành động Chiến lược trong Biển Nam
Hải, và bắt đầu những hoạt động xây dựng khả năng và những dự án
trình diễn giải quyết chất ô nhiễm chuyên dụng có ý nghĩa toàn
cầu, cấp miền và xuyên ranh giới.
Những tiêu chuẩn sẽ
được phát triển và chấp nhận trong việc đánh giá tầm quan trọng
miền và xuyên biên giới của những “điểm nóng” ô nhiễm nhận diện
trong Phân tích Chẩn đoán Xuyên biên giới (mức nghiêm trọng ô
nhiễm, tính khả thi và dễ dàng giảm nhẹ, hiệu ứng xuyên biên
giới. Những tiêu chuẩn sẽ được áp dụng cho mọi điểm nóng đã nhận
diện cấp quốc gia để thống nhất việc trình bày ưu tiên miền
trong công việc đầu tư. Một đánh giá sơ khởi về những chi phí và
lợi tức của những biện pháp giảm nhẹ đan xen về những điểm nóng
ưu tiên đã chọn sẽ được thực hiện cùng với biện pháp giảm nhẹ
nguồn ô nhiễm ưu tiên. Một phương pháp tiếp cận chiến lược Biển
Đông trong việc giảm nhẹ những điểm nóng ưu tiên cấp miền (gồm
có danh mục vốn đầu tư ưu tiên, sắp xếp đồng tài trợ, hành động
cấp quốc gia và cấp miền) sẽ được phát triển và thống nhất trong
việc đưa vào Chương trình Hành động Chiến lược trong Biển Nam
Hải.
Thành phần 4 việc
phối hợp và Quản lý Dự án liên quan sự phối hợp cấp miền của dự
án và những hoạt động liên quan, và việc quản lý thực thi dự án.
Những hành động đầu đã bao gồm: việc thành lập một Đơn vị Điều
phối Dự án; sự chỉ định bởi Điểm Trung tâm COBSEA của Điểm Trung
tâm cấp Nhà nước và Điểm Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia trong Dự
án, và việc triệu tập cuộc họp đầu của Uỷ ban Chỉ đạo Dự án để
thống nhất kế hoạch tổng thể khuôn khổ làm việc trong việc quản
lý và thực hiện dự án.
Tài trợ Dự án
Những
số liệu trình bày trong Bảng 1 và 2 là những tính toán đầu vào
thời điểm trình duyệt Vắn tắt Dự án lên Hội đồng GEF và được
thay bằng những dự án trình bày trong bản tóm tắt trên trang bìa
UNEF và trong kinh phí theo mẫu UNEP trình bày trong bản phụ
đính N của Tài liệu Dự án điều hành UNEP.
Tin tức
Đơn vị Điều phối Dự
án Farewells Reynaldo F. Monaldo
Reynaldo F. Molina (Rey) hoàn
tất thời gian thực tập nội trú với Đơn bị Điều phối Dự án (PCU)
vào ngày 30-06-2005. Một sinh viên tốt nghiệp Quản trị- Kinh
doanh, Rey làm việc với PCU trong 9 tháng trong việc soạn thảo
tài liệu trong Nhóm Làm việc cấp Miền và những cuộc họp của
Toán Đặc nhiệm, việc cập nhật hoá những phần góp đồng tài trợ
của chính phủ và báo cáo tháng, và duyệt xét những đề nghị điểm
trình diễn. Ông sẽ trở lại vị trí của ông như Chuyên viên Đánh
giá Dự án với văn phòng Dự án đặc biệt và có hỗ trợ nước ngoài
của Bộ Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên tại Philippin.
Chuyên ngành của
Rey và tính hài hước nhiệt tình mà PCU sẽ nhớ mãi, mặc dù có
chút nghi ngờ là ông thich vế quê nhà với gia đình và bnj bè.
Trong bữa ăn trưa chia tay, Rey thông báo một tin tức rất mới là
ông sẽ là cha lần thứ 5. Rey, xin chúc mừng ông, và xin chúc may
mắn.
Địa chỉ email của ông
rfmolinal60@hotmail.com.
Hợp phần cây đước
Cây đước chiếm vành
đai nhiệt đới ẩm 30o Bắc và Nam đường xích đạo, với phần mở rộng
vượt quá những vĩ độ trong vài miền (Spalding et al. 1997). Hai
tỉnh sinh địa (sinh học địa lý) được nhận biết, tỉnh Thái Bình
Dương Ấn với những giới hạn phía Đông ở miền Trung Thái Bình
Dường, và giới hạn phía Tây, dọc theo Mũi Nam của châu Phi. Tỉnh
Đại Tây Dương gồm có những cây đước tìm thấy cung với ven bờ
châu Phi và Mỹ của Đại Tây Dương, Biển Caribê và Vịnh MeHiCo, và
ven bờ Thái Bình Dương của Mỹ. Thái Bình Dương Ấn có ước chừng 5
lần nhiều hơn tính đa dạng loài ghi chép ở Đại Tây Dương và
trong tỉnh này, Nam và Đông Nam châu Á hỗ trợ ước chừng 40% của
diện tích toàn cầu chiếm bởi cây đước. 45 loài cây đước ngoài
một tổng số toàn cầu 51 được tìm thấy trong tỉnh sinh địa biển
Thái Bình Dương Tây Ấn (Spalding et al 1997), so với Đại Tây
Dương, chỉ có 5 loài cây đước.
Những tính toán mới
gợi ý là ước chừng 2 triệu ha rừng đước được tìm thấy trong
những nước giáp ranh Biển Đông, tiêu biểu chỉ 31% tổng số tính
toán tìm thấy trong những nước này vào đầu những năm 1900 (Báo
cáo TDA Nhà nước). Tỷ lệ thiệt hại tính toán trong mỗi nước thay
đổi từ ước chừng 0,5 đến 3,5% tổng diện tích mỗi năm và ở những
tỷ lệ hiện nay có thể đưa đến thiệt hại tổng số nơi ở này trong
miền trước khoảng năm 2030. Nhận biết vấn đề này những chính phủ
đã bắt đầu chương trình quốc gia bảo vệ cây đước, phục hồi và
trồng lại rừng.
Tính đa dạng loài cao
của cộng đồng cây đước trong miền kết hợp với biến đổi về việc
thành lập địa hình và địa chất, và kiểu hình thành, góp phần vào
sự có ý nghĩa toàn cầu của những nơi ở này. Sự phân bố tổng thể
loài cây đước trong những nước giáp ranh Biển Đông trình bày
trong những bảng dưới đây.
Hợp phần cây đước
Vấn đề:
Những nguyên nhân tàn phá cây đước:
Thiệt hại tính đa dạng
sinh học
Thiệt hại sản lượng cá
Ảnh hưởng nuôi tôm và
giao dịch về nơi ở của cây đước
Sử dụng khai thác sản
phẩm gỗ (gỗ, ván và than để xuất khẩu.
Vấn
đề:
Diện tích trồng cây
đước ở ven bờ Biển Đông tạo thành ước chừng 10% tổng diện tích
toàn cầu hiện nay, chiếm ước chừng 18 triệu ha. Tổng diện tích
trong 7 nước tham dự, thất thoát qua thời gian (70 năm ở
Philippin) tính toán sẽ là 4,2 triệu ha hoặc 2, 3 lần nhiều hơn
tổng số hiện nay. Điều phải lưu ý là những tính toán của diện
tích trồng cây đước đầu và hiện nay thay đổi rất lớn trong tài
liệu tham khảo, phản ánh những khác biệt theo nghĩa điều gì tạo
ra cây đước, những phương pháp khảo sát khác nhau và những khác
biệt tạm thời. Những số liệu này và những bài toán liên quan
thông tin đang được giải quyết trong suốt giai đoạn đầu của dự
án này.
Những nguyên nhân tàn phá cây đước gồm có:
- việc qui đổi nuôi cá
thâm canh thành nuôi tôm riêng biệt
- việc đốn cây để làm
ván và bột giấy
-
phát
triển thành thị và định cư con người
-
thu hoạch
sản phẩm tự sản tự tiêu và sử dụng thương phẩm qui mô nhỏ như là
sản xuất than.
Ảnh
hưởng cấp nhà nước của mỗi hoạt động kinh tế thì khó xác định số
lượng trong mỗi nước. Tuy nhiên, việc nuôi tôm hình như sẽ là
điều kiện bắt buộc kinh tế lan trần nhiều nhất trong việc qui
đổi cây đước. Một phân tích tỉ mỉ nhiều hơn phải chiếm một tỷ lệ
thất thoát mang lại bởi mỗi nguyên nhân. Trong một phổ biến
trang trung tâm mới trong báo Jakarta Post trang trại nuôi tôm
lớn nhất trên thế giới 80.000 ha đã được trình bày. Điều này đã
xây dựng trên một điểm 230 ha, khai thác từ cây đước ở Burni
Dipasena. Hoà nhập vào trang trại là một trại chế biến thức ăn
cho tôm tạo ra 220 tấn/năm thức ăn và một cơ sở ấp trứng tạo ra
8 tỷ cá hương/năm. Việc nuôi tôm đã tính toán ở mức 50.000
tấn/năm và 200 tấn/ngày có thể được tồn trữ trong máy tồn trữ
lạnh. Có một nhà máy công suất 160 megawatts, nhà máy xử lý nước
thải, một cảng và nhà ở cho 110.000 người và hạ tầng cơ sở kênh
kết hợp tổng số 2.500 km chiều dài.
Những vấn đề xuyên
biên giới
Những
va chạm xuyên biên giới gồm có thất thoát về tính đa dạng sinh
học và sản lượng cá tôm, trong khi những nguyên nhân xuyên biên
giới cũng như ván và bột giấy. Thông tin hỗ trợ tính chất xuyên
biên giới của những vấn đề này cung cấp bởi những báo cáo nhà
nước của 7 nước tham dự, và những báo cáo tiếp cận việc soạn
thảo TDA (McManus, 1999). Ảnh hưởng của giao dịch tôm toàn cầu
được sưu tầm tài liệu rất nhiều, trong khi dữ liệu sưu tầm tài
liệu thiệt hại sản lượng cá tôm là một thiếu sót nghiên cứu
chính. Giao dịch về than đước từ Kampuchea vào Thái Lan là một
nguyên nhân chính về thiệt hại cây đước ở Cambodia.
Thiệt hại về đa dạng
sinh học
Mặc dù sự kiểm kê
không hoàn toàn về thực vật và động vật kết hợp với những miền
trông đước trong miền Biển Đông Bảng 3 chỉ dấu xuất hiện của
tính đa dạng loài giàu, phản ánh về số lượng cao cây đước, sao
biển và tôm càng (panaeid), trong những loài khác, gắn với đầm
lầy đước. Vì áp lực nghiêm trọng tác động trên cây đước, gồm có
việc giảm bớt diện tích tổng cộng, một số lượng loài kết hợp
trong những loài phân loại như có nguy cơ tuyệt chủng bởi IUCN
(Bảng 4). Những loài này loài khỉ vòi , Nasalia larvatus,
ăn những chồi non và ngọn đang phát triển của những cây gỗ
Sonneratia và Avicennia, cá sấu Crocodilus porosus và
chim đầm lầy như Ardea và Egretta (Low et al. 1994).
Thiệt
hại về sản lượng hải sản
Cây đước có tác dụng
như là nền ươm và nuôi dưỡng sao biển và trai sò ở những giai
đoạn khác nhau của chu kỳ sống của chúng. Singh et al. (1994)
thực hiện những công trình nghiên cứu cho biết một quan hệ tương
hỗ cao giữa đánh bắt cá ven bờ và diện tích cả cây đước kế cận
tại những điểm nghiên cứu ở Indonexia, Malaixia, Philippin,
Australia và US. Mặc dù quan hệ tương hỗ không đòi hỏi xác định
nguyên nhân, công trình nghiên cứu sinh thái đã thiết lập liên
kết giữa cây đước, rạn san hô và cỏ biển cùng với việc hỗ trợ
chu kỳ sống của sinh vật ven bờ (Robertson và Duke, 1987;
Twilley 1989) liên quan.
Thiệt hại về tài
nguyên sống có thể đổi mới đưa đến thật hại nơi ở của cây đước
khó xác định số lượng và giá trị. Với Philippin, thiệt hại về
cây đước và thiệt hại kết quả chức năng của chúng trong ngư
nghiệp và dịch vụ sinh thái khác đã được tính toán sẽ là 242
triệu USD mỗi năm.
Va chạm nuôi và giao
dịch tôm trên nơi ở cây đước
Sáu trong bảy nước
tham dự trong dự án này chiếm 61% xuất khẩu tôm sang Nhật năm
1994, 74% vào Hồng Kông, và 42% nhập khẩu vào Đài Loan
(Ferdouse, 1996). Những thị trường tôm gồm có USA và EU, và thị
trường phát sinh ở châu Á như Singapore và Nam Triều Tiên. Tính
nổi trội của những nước Biển Nam Hải về việc nuôi và giao dịch
tôm toàn cầu, chấm điểm dưới mức mức giàu có cơ sở tài nguyên
của họ trong việc ủng hộ một sản phẩm cá có giá trị cao (Bảng
5). Điều cũng thắp sáng điều kiện bắt buộc kinh tế phía sau ý
muốn của những nước sản xuất để giữ nguồn cung chảy tràn, thường
không chú ý đến việc tạo ra va chạm môi trường tăng có thể mang.
Những cơ quan tài trợ quốc tế như ADB đã hỗ trợ tín dụng đến
những nước ASEAN trong việc gọi thầu để giải quyết yêu cầu cao
và sinh lợi về tôm (Primavera, 1994; Menasveta, 1997).
Mức tăng sản lượng
tôm, trừ trường hợp Philippin, trong 10 năm cuối có thể thấy
trong Bảng 5. Tuy nhiên, trong 4 năm cuối nước sản xuất lớn
nhất, Thái Lan, đã giảm bớt sản lượng tôm của họ và xu hướng này
có thể đang tiếp tục.
Những phương pháp nuôi
tôm
Trong 3 phương pháp
nuôi dưỡng dùng trong việc nuôi tôm, thâm canh cần khoảng không
gian lớn nhất, là lực lượng vận động chính trong việc qui đổi
cây đước, và là sản xuất ít nhất (Menasveta và Fast, 1998). Tuy
nhiên, phạm vi va chạm môi trường phát sinh từ mỗi phương pháp
nuôi dưỡng phải được đánh giá về mặt tỷ lệ thanh toán, yêu cầu
diện tích, và về mặt hậu quả ngược như là phạm vi xuống cấp chất
lượng nước, và áp lực trên tài nguyên nước, trong số những hậu
quả khác.
Việc thâm camh nổi bật
và được thực hành gần 70% diện tích ao toàn cầu. Yêu cầu vốn
thấp của nó và tính lệ thuộc cao vào chế độ thuỷ triều về nước
và đầu vào thực phẩm tự nhiên, cần diện tích cây đước phát
triển. Để làm tăng sản lượng mỗi đơn vị diện tích, phương pháp
nửa thâm canh được phát triển, cơ bản việc làm tăng thức ăn tự
nhiên với thức ăn phụ, và rửa bằng nước thuỷ triều với một hệ
thống bơm (Primavera, 1993). Phương pháp thâm canh tin cậy nặng
nề vào thức ăn nhân tạo, bơm và máy thông khí, và có thể không
cần đặt điểm ở nơi ở của cây đước (Menasveta, 1997).
Nuôi
tôm và nhập nội loài ngoại
Một
vấn đề xuyên biên giới khác là việc nhập nội mầm bệnh với việc
giao dịch dự trữ bầy súc vật và ấu trùng trong những ao ấp trứng
và phát triển (Primavera, 1993). Việc nhập nội loài tôm càng
(penaeid) ngoại, hứa hẹn tỷ lệ phát triển cao và vì thế, lợi tức
kinh tế cao cũng đã xảy ra. Tại Philippin, Penaeus vannamei
và P. stylirostris được nhập nội từ Panama đến những ao ở
những đảo miền trung trong những năm 1970. P. chinensis
từ Trung Quốc và dự trữ P. vannamei từ Hawaii được mang
vào trung những năm 1980 và những năm 1990, tương ứng
(Primavera, 1993). Trong khi những va chạm môi trường của việc
nhập nội trên chưa được thu thập tài liệu, sự lan truyền bệnh và
lây lan ký sinh tăng lên bởi quản lý ao tồi, có thể là có triệu
chứng di chuyển không kiểm soát của cá hồi tơ và ấu trùng dự
trữ.
Sử
dụng trích sản phẩm gỗ (gỗ, ván và than) để xuất khẩu
Không
giống như tôm được sản xuất chủ yếu để xuất khẩu, sản phẩm gỗ
phát sinh từ cây đước được tiêu dùng cho thị trường trong nước
và ngoài nước. Vì lợi tức cao phát sinh từ xuất khẩu, điều có
lợi ích kinh tế nhiều hơn từ viễn vọng quốc gia và thường, đang
đe doạ môi trường nhiều hơn, khi yêu cầu nước ngoài chỉ đạo ưu
tiên thị trường. Bảng 8 cung cấp thông tin về sản phẩm gỗ xuất
khẩu bơi ba nước tham dự (Indonexia, Malaixia và Thái Lan) với ố
liệu nhận từ ISME, (1993). Trong những hoạt động trên nền cây
gỗ, ván để dùng trong sản xuất tơ nhân tạo ở Nhật, hình như sẽ
là tàn phá nhất và bền vững ít nhất. Việc kết thúc hoạt động nhà
máy sán xuất ván đã xảy ra do việc tiêu dùng nhanh cực kỳ cây
đước, đã vượt quá sự tái sinh tự nhiên.
Những đề mục tham khảo
trong Nhóm Làm việc trên nền cây đước và nội dung
Những
mục tiêu tổng hợp của Dự án có tên là “Ngăn cản xu hướng suy
thoái môi trường ở Biển Đông và Vịnh Thái Lan” (dưới đây gọi là
Dự án Biển Đông) là: việc tạo ra một môi trường ở cấp miền,
trong đó sự hợp tác và sự đối tác trong việc giải quyết những
vấn đề môi trường của Biển Đông, giữa tất cả những bên đối tác,
và ở mọi cấp được nuôi dưỡng và động viên; và để nâng cao khả
năng của những chính phủ tham dự để hoà nhập xem xét về môi
trường thành việc hoạch định phát triển quốc gia.
Mục tiêu trung hạn
của dự án là để nghiên cứu tỉ mỉ và thống nhất ở cấp liên chính
phủ, Chương trình Hành động Chiến lược gồm có những hành động có
mục tiêu chuyên dụng và tốn kém trong dài hạn, để giải quyết
những vấn đề ưu tiên và sự quan tâm.
Căn bản hợp lý và mục
tiêu
Để tạo thuận lợi cho
việc hoàn tất những mục tiêu và mục đích ở cấp vùng, một Nhóm
Làm việc cấp miền cho thành tố cây đước (RWG-M) phải được thiết
lập với trách nhiệm tổng hợp về việc phối hợp công việc của Uy
ban Cây Đước Quốc gia thiết lập trong mỗi nước tham dự, trong
việc đảm bảo việc thực thi hiệu quả những hoạt động dự án thực
hiện trong nội dung của thành tố cây đước của dự án, và cung cấp
một cơ chế trao đổi thông tin và kinh nghiệm về hoạt động quản
lý cây đước trong từng nước.
Tư cách thành phần
RWG-M của Dự án Biển
Đông phải gồm có những vị chủ nhiệm của Uỷ ban Cây Đước Quốc gia
cùng với một hội viên của Đơn vị Phối hợp Dự án (PCU) và chuyên
gia miền đã chọn. PCU tư vấn Những Điểm trung tâm kỹ thuật quốc
gia trong dự án phải chỉ định không nhiều hơn bốn chuyên viên
trên để đảm bảo tình trạng cân bằng chuyên gia và chuyên ngành
phù hợp với nhiệm vụ của nhóm làm việc.
Tư cách hội viên của
RWG-M phải được thiết lập chính thức tại cuộc họp đầu của Nhóm
Làm việc, phải bầu cử một Chủ nhiệm và một Phó Chủ nhiệm trong
số những hội viện. Vị phó chủ nhiệm phải hành động như chủ toạ
của những cuộc họp khi vắng vị chủ nhiệm.
Chủ nhiệm của RWG-M sẽ
đại diện RWG-M trong Uỷ ban KHKT Miền (RSTC) và sẽ tham dự những
cuộc họp của Uỷ ban đó.
Ban
Thư ký
Đơn vị Phối hợp Dự án
(PCU) phải hành động như một Ban Thư ký cho RWG-M, và phải đảm
bảo là những báo cáo của những cuộc họp được thông báo đến tất
cả những thành phần của Uỷ ban KHKT Miền.
Ủy ban Kỹ thuật
Uỷ ban Cây đước quốc
gia phải phục vụ như một nguồn chính của số liệu KHKT quốc gia
và thông tin cho RWG-M.
Vai trò và Chức năng
RWG-M phải đảm bảo
phối hợp hiệu quả của công trình và hợp tác giữa những Uỷ ban
Cây Đước Quốc gia tại những nước tham dự, để đảm bảo việc thực
hiện hiệu quả những hoạt động trong thành phần cây đước của dự
án.
Những cuộc họp của Uỷ
ban
PCU tư vấn với vị Chủ
nhiệm phải triệu tập những cuộc họp của RWG-M theo một lịch
trình đã thoả thuận, tạo ra bộ phận của kế hoạch công tác đã
thống nhất và thời gian biểu cho công tác của Uỷ ban. Cuộc họp
đầu của RWG-M sẽ được triệu tập trong ba tháng sau ngày ký tài
liệu dự án điều hành để thống nhất về những hoạt động chi tiết,
kế hoạch làm việc và thời gian biểu trong 24 tháng đầu thực hiện
dự án.
Những điều khoản tham
khảo
RWG-M phải:
(i) Cung cáp phương
hướng, và hướng dẫn chiến lược cho Uỷ ban Cây Đước Quốc gia;
(ii) Chịu trách nhiệm
tổng hợp về việc thực hiện đúng thời hạn những hoạt động dự án
trong thành phần cây đước của dự án;
(iii) Phát triển, hợp
tác mật thiết với Uỷ ban Cây Đước Quốc gia, tiêu chuẩn trong
việc chấp nhận bởi Uỷ ban Chỉ đạo Dự án, trong việc xác định sự
có ý nghĩa toàn cầu, cấp miền và xuyên biên giới của cây đước
giáp ranh Biển Đông;
(iv) Phát triển, hợp
tác mật thiết với Uỷ ban Cây Đước Quốc gia, một siêu cơ sở dữ
liệu cây đước cấp miền gồm có siêu dữ liệu về đa dạng sinh học
và những kết quả khảo nghiệm cây đước liên quan dự án. Những dữ
liệu khác và sản phẩm thông tin khi có thể cho là cần thình
thoảng phải được bao gồm;
(v) Phát triển, hợp
tác mật thiết với những Uỷ ban Cây Đước Quốc gia, cảnh giác quần
chúng và vật liệu thông tin liên quan tầm quan trong quốc gia và
cấp vùng của những hệ sinh thái trên.
(vi) Phát triển, kết
hợp mật thiết với những Uỷ ban Cây Đước Quốc gia, những hệ thống
trong việc đánh giá kinh tế những hệ sinh thái cây đước với một
quan điểm đưa những đánh giá trên vào kế hoạch phát triển kinh
tế nhà nước;
(vii) Nhận và xem lại
những báo cáo, dữ liệu và thông tin từ những Uỷ ban Cây Đước Nhà
nước và biên tập tổng hợp cấp vùng liên quan yêu cầu quản lý cây
đước và ưu tiên. Việc xem lại này phải được xem phát triển có kế
hoạch báo cáo bởi NCRC;
(viii) Khuyến cáo, cho
RSTC, việc chọn cây đước ưu tiên có ý nghĩa cấp vùng và xuyên
biên giới trong việc chấp nhận như điểm trình diễn cấp miền;
(ix) Phát triển những
hướng dẫn về luật pháp quốc gia liên quan quản lý, sử dụng và
bảo tồn hệ sinh thái cây đước, giữ trong đầu tính chất không đầy
đủ của mỗi bộ luật quốc gia ung cấp bởi Uỷ ban Cây Đước Nhà
nước;
(x) Phát triển những
hướng dẫn liên quan những phương pháp tốt nhất trong việc quản
lý cây đước bền vững trong việc chấp nhận và sử dụng ở cấp quốc
gia trong những tham dự;
(xi) Phát triển, xem
lại và khuyến cáo trong việc chấp nhận bởi Uỷ ban KHKT cấp
Miềnvề những mục tiêu đề nghị và tuyến thời gian có thể bao gồm
trong Chương trình Hành động Chiến lươc nhằm để hoàn tất việc
quản lý bền vững cây đước giáp ranh Biển Nam Hải và Vịnh Thái
Lan.
(xii) Soạn thảo một
báo cáo cấp Miền về những kinh nghiệm quốc gia trong việc phục
hồi cây đước với một quan điểm phát triển rộng những hướng dẫn
có thể sử dụng liên quan phương pháp tốt nhất trong việc phục
hồi và tái tạo cây đước;
(xiii) Xem xét và đánh
giá, ở cấp miền, tiến bộ trong việc thực thi thành phần cây đước
của dự án, và cung cấp hướng dẫn trong việc cải thiện khi cần;
và
(xiv) Phát triển kế
hoạch công tác năm và cung cấp báo cáo tiến độ định kỳ cho Uỷ
ban KHKT cấp Miền.
Điều khoản tham khảo
về Uỷ ban Cây Đước Quốc gia
Quá trình
Một mục tiêu chính của
dự án " Ngăn cản xu hướng suy thoái Môi trường ở Biển Đông và
Vịnh Thái Lan" (dưới đây gọi là Dự án Biển Đông) là để hỗ trợ
những nước tham dự trong việc ngăn cản xu hướng suy thoái môi
trường trong những nơi ở biển chính trong Biển Đông. Dự án kêu
gọi thiết lập uỷ ban quốc gia về nơi ở biển ưu tiên mô tả đặc
tính Biển Đông và Vịnh Thái Lan, một trong số là Uỷ ban Cây Đước
Quốc gia (NMC)
Cơ sở hợp lý và Mục
tiêu
Trong khi những mục
tiêu tổng hợp của dự án có một tính chất miền, những quyết định
quản lý bền vững chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thông tin
khoa học vững chắc và tư vấn. Thông tin va tư vấn trên có thể
được cung cấp tốt nhất ở cấp quốc gia và sự phát triển của chúng
phải có sự tham dự của những đối tác viên chính.
Vai trò của NMC là
cung cấp những bản tổng hợp dữ liệu khoa học, luật pháp, chính
sách, kinh tế-xã hội và quản lý và thông tin về cây đước quốc
gia đến Nhóm Công tác cấp Miền về Cây Đước, và Nhóm Công tác Kỹ
thuật Quốc gia. NMC sẽ phát triển một kế hoạch hành động quốc
gia trong việc quản lý bền vững cây đước. Đây là một uỷ ban công
tác và vai trò của nó chủ yếu là một tính chất KHKT. NMC sẽ báo
cáo lên NTWG, cho phép phối hợp ở cấp nhà nước những hoạt động
thông qua từng thành phần của dự án. Thông qua tham dự của vị
Chủ nhiệm trong những cuộc họp của RWG-M, kinh nghiệm sẽ được
chia sẻ với những nước tham dự khác và phối hợp những hoạt động
dự án ở cấp miền đảm bảo.
Tư cách thành phần
NMC sẽ gồm có những cá
thể từ những tổ chức và trường viện chính phủ và phi chính phủ
khác nhau.
Những thành phần sẽ
cung cấp một phổ tác động rộng chuyên gia và quan tâm là bao gồm
nhưng không hạn chế vào: rừng, kinh tế môi trường, sinh thái,
luật môi trường, thuỷ sản, việc đánh giá tài nguyên, việc quản
lý môi trường, việc hoạch định và phát triển, giáo dục và cảnh
giác quần chúng.
Vị chủ nhiệm NMC sẽ là
điểm trung tâm chỉ định bởi Cơ quan Thực hiện Chuyên gia (SEA),
và sẽ đề nghị danh sách thành phần đến Điểm Trung tâm Kỹ thuật
Quốc gia.
Những cuộc hội họp
NMC sẽ gặp nhau hàng
tháng, hoặc thường xuyên nhiều hơn, khi cần và nếu cần.
Cuộc họp đầu của NMC
sẽ được triệu tập trong vòng 30 ngày sau ngày ký thoả hiệp để
bàn cãi và thống nhất về những hoạt động chi tiết, kế hoạch công
tác và thời gian biểu trong 24 tháng đầu thực hiện dự án.
Điều khoản tham khảo
NMC phải:
- Cung cấp trong một
mẫu sẽ được thống nhất bởi RSTC, dữ liệu và thông tin trên khi
có thể thỉnh thoảng cần bởi Nhóm Công tác Miền về cây đước
và/hoặc RSTC.
- Hỗ trợ, thông qua
Nhóm Công tác Miền về Cây Đước, trong việc soạn thảo một bản
tổng hợp dữ liệu cấp miền, thông tin và kết quả khảo nghiệm liên
quan phân bố quá khứ và hiện tại, phạm vi và tình trạng của hệ
sinh thái cây đước giáp ranh Biển Nam Hải; cùng với một báo cáo
những đe doạ cho việc quản lý bền vững những hệ thống trên gồm
có phát triển có kế hoạch trong vùng lân cận vùng trồng đước;
- Tập hợp một siêu cơ
sở dữ liệu quốc gia có thông tin về cây đước, gồm có thông tin
trong những thông tin khác liên quan tính đa dạng sinh học trong
rừng đước. những diện tích đước hiện nay có được mức bảo vệ khác
nhau, và những hoạt động cấp quốc gia chỉ định để phục hồi hoặc
trồng lại những rừng đước bị hư hại hoặc xuống cấp.
Việc cung cấp một bản
tóm tắt những luật lệ quốc gia liên quan việc quản lý, sử dụng
và bảo tồn hệ sinh thái cây đước.
Cơ cấu của báo cáo này
sẽ được bàn cãi và thống nhất ở cấp miền nhưng sẽ gồm có việc
nhận diện tình trạng không đầy đủ về luật pháp hiện nay và/hoặc
tình trạng bắt buộc là phục vụ như rào cản đối với việc quản lý
bền vững, và những gợi ý về hành đông sửa chữa.
- Soạn thảo những tiêu
chuẩn mục tiêu, gồm có những thành phần đánh giá kinh tế-xã hội
dựa trên những yêu cầu quốc gia và chính sách, để dùng trong
tương lai trong việc chọn điểm cây đước thích hợp nhất với việc
bảo tồn hoặc sử dụng bền vững.
- Phát triển một kế
hoạch hành động đước quốc gia giải quyết những mục tiêu thống
nhất tạm thời về SAP miền, và trong quá trình, xem xét có phê
bình từ viễn vọng quốc gia, những mục đích và mục tiêu thiết lập
bởi dự thảo SAP chấp nhận trên nguyên tắc bởi cuộc họp thứ 13
của COBSEA (11-1998).
- Trình kế hoạch hành
động cây đước quốc gia cho hội thảo và cuộc họp công khi thích
hợp, để xem xét và đầu tư vào từ càng rộng càng tốt, một phần
tréo của những đối tác liên quan.
Dựa trên tiêu chuẩn
triển khai bởi RSTC về việc tuyển chọn điểm trình diễn, soạn
thảo và nạp trình kiến nghị (một hoặc nhiều) về điểm trình diễn
cây đước (một hoặc nhiều) sẽ chấp nhận bởi Uỷ ban Chỉ đạo Dự án
liên chính phủ.
Cỏ biển tạo ra cơ sở
của nhiều hệ sinh thái biển phức tạp và cung cấp một vườn ươm có
giá trị cho cá và loài giáp xác quan trọng thương phẩm. Khi cỏ
biển giảm liên kết trong chuộ sản xuất bị bẻ gãy và toàn bộ hệ
sinh thái suy sụp. Những loài cỏ biển còn giữ một vai trò quan
trọng trong chu ky hoá dinh dưỡng biển. Cá nước và rùa xanh biển
ăn mồi trên lá cỏ biển và rễ căn nhưng những loài cá thường là
không ăn chúng.
Cỏ biển có rễ căn giữ
chất trầm tích và tạo ra một thảm trên đáy ngăn cản sự xói mòn
dọc theo bản lề ven bờ nơi chúng phát triển. Lá làm chậm lựu
lượng nước trên chúng vì thế tạo ra chất huyền phù trong nước và
rơi xuống thảm cỏ biển, vài loài là hữu cơ và cung cấp thức ăn
cho động vật cư trú trong đồng cỏ.
Đồng cỏ biển đang
phát triển trong nước cạn gần bờ rất dễ nhiễm do việc phát triển
thành thị và công nghiệp và du lịch không kế hoạch và không quản
lý. Những bài toán này phức hợp bởi thiếu phương pháp đánh giá
môi trường về phát triển, cảnh giác về tầm quan trong của cỏ
biển, và thông tin về sự phân bố của chúng.
Một đánh giá phạm vi
sửa đổi nơi ở ở Biển Đông dựa trên số ít diện tích nghiên cứu
trong vài nước gợi ý là bất kỳ nơi nào giữa 20 và 50% diện tích
cỏ biển ở Indonexia, Malaixia, Philippin và Thái Lan bị hư hại.
Như với những hệ sinh
thái biển khác những vấn đề xuyên biên giới chính là những thiệt
hại về tính đa dạng sinh học và sản lượng cá. Diện tích vườn ươm
cỏ biển cung cấp cá thương phẩm trên nền đánh bắt cá đường dài
từ nơi ở của cá nhỏ. Cũng có giao dịch về hải mã và rùa xanh
sống trên đồng cỏ biển.
Những phương pháp tốt
nhất bảo tồn cỏ biển bằng cách giữ nguyên vẹn nó, chủ yếu bằng
cách ngăn ngừa lưới rê, giữ chất lượng nước bằng cách giảm bớt
dinh dưỡng và tải trọng thể rắn huyền phù và bằng cách dùng công
cụ đánh bắt cá thích hợp.
Giá trị của sản phẩm
và dịch vụ sinh thái cung cấp bởi hệ thống cỏ biển của Biển Nam
Hải được tính toán ở mức 22.400 USD ha-1/năm-1.
Diện tích cỏ biển không được biết một cách chính xác và việc cải
thiện tính toán diên tích và giá trị kinh tế của thảm cỏ biển
trong Biển Nam Hải là chìa khoá cải thiệm việc quản lý chúng.
Những bài toán và đe doạ cỏ biển
Mối đe doạ rõ nhất
với cỏ biển là thiếu sự cảnh giác của quần chúng liên quan tầm
quan trọng sinh thái của chúng và vai trò trong môi trường biển.
Trong Biển Nam Hải những thảm cỏ biển không được vẽ bản đồ với
chi tiết đủ để cung cấp nền hiểu biết đầy đủ về việc quản lý
chúng và bảo tồn. Việc kiểm kê đa dạng sinh học trên thảm cỏ
biển thiếu bag việc theo dõi mục đích quản lý phần lớn không
hiện có.
Những đe doạ vật lý,
hoá học và sinh học với cỏ biển là rõ nét những trong nhiều
trường hợp không trực tiếp thu thập tài liệu. Những thể rắn
huyền phù từ xói mòn đất, tự nó là một hệ quả của việc phá rừng,
phương pháp nông nghiệp tồi, công trình dân sự và phát triển
thành thị và nạo vét mương và lưới rê, thảm cỏ biểm trong tình
trạng âm ỉ. Tải trọng dinh dưỡng thặng dư làm cho tảo và thực
vật biểu sinh nở rộ, và thay đổi trong quần thể tự nhiện của
động vật trên cỏ biển có thể ăn mồi quá mức hoặc làm giảm gặm cỏ
trên những động vật ăn tảo.
Trong điều kiện tự
nhiên cỏ biển (thực vật biểu sinh) phát triển trên lá và thân cỏ
biển , nhưng khi số lượng quá mức dinh dưỡng nhập nội vào nước
ven bờ, cỏ biển có thể nở rộ (phát triển nhanh một cách không tự
nhiên). Trong điều kiện nở rộ, cỏ biển có thể âm ỉ ký chủ trên
cỏ biển bằng cách ngăn cản ánh sáng cây cần để sinh tồn. Ánh
sáng cũng bị giảm bởi hiện tượng phù di đất do nạn phá rừng,
cháy rừng, phương pháp nông nghiệp tồi và công trình không thích
hợp. Đồng cỏ biển trong miền cũng bị hư hại bởi phương pháp đánh
bắt cá không thích hợp như là đẩy lưới và rê lưới nhổ rễ cỏ biển
một cách cơ học.
Dinh dưỡng được mang
lại cho biển bằng hiện tượng phù di trực tiếp hoặc bởi sông từ
nước cống, xí nghiệp hoặc nông trại Việc đánh bắt cá quá mức có
thể làm thay đổi cộng đồng của cá gặm cor vì thế việc làm thay
đổi thành phần loài trên thực vật biểu sinh và cộng đồng cỏ
biển. Việc sử dụng những phương pháp đánh bắt cá không thích
hợp, đánh bắt hoặc tiêu diệt cá không mục tiêu, chính, trên cỏ
biển có thể làm thay đổi cơ cấu cộng đồng trong cộng đồng động
vật sống trên đồng cỏ biển.
Hoạt động hợp phần cỏ
biển
Hợp phần này giải
quyết nơi ở biển khảo nghiệm ít nhất trong miền. Tình trạng
thiếu tương đối nhận thức chung về tầm quan trọng thân cỏ biển
từ thân của chúng dưới biển, kết hợp với tình trạng thiếu màu
sắc so với rạn san hô, làm cho nơi ở cỏ biển dễ nhiễm nhiều hơn
hư hại vật lý và hiệu quả ô nhiễm. Thiệt hại không thấy ngay cả
khi điều này là sự có ý nghĩa không được đánh giá.
Hợp phần này giải
quyết phát triển tiêu chuẩn để chọn vùng cỏ biển có ý nghĩa cấp
miền và toàn cầu trong bảo vệ và quản lý bền vững. Vùng cỏ biển
ưu tiên có ý nghĩa cấp miền và xuyên biên giới sẽ được khuyến
cáo chấp nhận như điểm trình diễn cấp miền.
Ban đầu những Uỷ ban
Quốc gia và Nhóm Công tác Miền sẽ phát triển dữ liệu cấp nhà
nước và cấp miền và cơ sở dữ liệu chuyển hóa có thông tin về
tính đa dạng sinh học, điều kiện môi trường, đe doạ, hiện trạng
sử dụng và xác định giá trị kinh tế, và khảo nghiệm. Những
phương pháp tốt nhất trong việc quản lý cỏ biển bền vững và phục
hồi cỏ biển và tái tạo sẽ được triển khai. Những hệ thống trong
việc xác định giá trị kinh tế của hệ sinh thái cỏ biển sẽ được
đánh giá và những phương pháp mới triển khai với mục đích tưa
những giá trị vào trong việc hoạch định phát triển kinh tế quốc
gia.
Tiếp theo một báo cáo
dữ liệu và thông tin một tổng hợp cấp miền trong việc quản lý cỏ
biển cần và những ưu tiên sẽ được soạn thảo. Hợp phần này cũng
sẽ hỗ trợ những uỷ ban quốc gia trong việc phát triển cảnh giác
quần chúng và vật liệu thông tin và hướng dẫn về luật pháp quốc
gia liên quan quản lý, sử dụng và bảo tồn. Một nhiệm vụ quan
trọng trong thành phần phụ này là để phát triển và hoàn thành
những kế hoạch quản lý quốc gia và cấp miền chỉ định để đạt mục
đích và mục tiêu đặc biệt trong khuôn khổ thời gian xác định sẽ
được đưa vào Chương trình Hành động Chiến lươc trong Biển Đông;
và bắt đầu hoạt động xây dựng khả năng. Một phương pháp tiếp cận
chiến lược Biển Đông với việc quản lý thảm cỏ biển (bao gồm danh
mục vốn đầu tư ưu tiên, thu xếp dồng tài trợ, hành động cấp nhà
nước và cấp miền) sẽ được phát triển chấp nhận liên chính phủ và
đưa vào Chương trình Hành động Chiến lược trong Biển Đông.
Bảng dưới đây cung cấp
một tổng quan hành động có kế hoạch ở cấp miền và quốc gia sẽ
được thực hiện trong suốt giai đoạn đầu của dự án 2002 đến 2003.
Những hoạt động cấp
miền
- Phát triển tiêu
chuẩn chọn vùng cỏ biển trong việc bảo vệ/ quản lý bền vững,
nhất là những tiêu chuẩn quan trọng xuyên biên giới;
- Nhận diện và ưu tiên
hoá vùng đặc biệt với việc quản lý và bảo vệ trong tương lai và
phát triển kế hoạch hành động cấp miền và quốc gia để duy trì
diện tích cỏ biển quan trọng trong miền;
- Phát triển và thiết
lập cơ chế quản lý trong những vùng đã nhận diện;
- Thiết lập cơ sở dữ
liệu có thể tiếp cận có bản đồ và tình trạng sức khoẻ môi trường
của thảm cỏ biển trong Biển Nam Hải;
- Tiến hành hội thảo
đào tạo về việc quản lý cỏ biển;
- Xây dựng khả năng
của chính phủ miền hiểu rõ những vấn đề liên quan cỏ biển và làm
tăng cảnh giác quần chúng liên quan tầm quan trọng cấp miền và
cấp nhà nước của những hệ sinh thái trên.
Hoạt động cấp nhà nước
- Cung cấp và thực thi
luật pháp quốc gia và kế hoạch hành động trong việc bảo tồn diện
tích cỏ biển;
- Thiết lập vùng bảo
vệ cỏ biển và thực thi việc quản lý thích hợp;
- Động viên theo dõi,
vẽ bản đồ và khảo nghiệm về cỏ biển để hiểu rõ những điều kiện
bắt buộc kinh tế và sinh thái bảo tồn thảm cỏ biển;
- Tiến hành xác định
giá trị vùng cỏ biển như một tài nguyên;
- Tiến hành đào tạo về
việc quản lý cỏ biển.
Sử dụng quá mức hải
sản trong Vịnh Thái Lan
Việc
sử dụng quá mức cá trong Vịnh Thái Lan có thể trở lui về việc
nhập nội cá rê lưới trong thời gian đầu của những năm 1960. Dữ
liệu về chuỗi thời gian về hải sản chỉ dấu một mức giảm lớn cá
chìm (đáy) từ thời gian đó. Trong dự trữ riêng biệt loài cá nổi
lớn bị khan hiếm, do một gia tăng trong hoạt động đánh bắt cá,
và có một mức giảm mạnh kết quả trong CPUE trong nhiều năm.
Thành phần đánh bắt cá đã thay đổi do thiếu những loài giá trị
cao lớn nhiều hơn này, và hiện nay việc đánh bắt cá gồm có phần
lớn cá nổi nhỏ và cá “thải” khác. Hải sản đã thu thập tài liệu
và đã được sử dụng như một mô hình bởi nhiều nhà nghiên cứu để
minh chứng hiệu quả của việc đánh bắt cá thâm canh trên CPUE và
thành phần loài.
Thành phần loài này
của dự án Biển Đông tập trung vào quan hệ của dự trữ xuyên biên
giới với 4 nơi ở là trung tâm của sự xuống cấp nơi ở thành phần
thiệt hại của dự án.
Dự án nhằm bắt đầu
hợp tác miền trong việc quản lý nơi ở nhằm phát triển sáng kiến
ngăn cản suy giảm dự trữ cá của miền. Mặc dù sự hợp tác của
thành phần cá với nơi ở và thành phần ô nhiễm trên nền đất của
dự án, điều hi vọng là một phương pháp tiếp cận phối hợp miền và
có quản lý sẽ được phát triển để hỗ trợ trong việc phục hồi của
ít nhất nơi ở của cá và vì thế dự trữ trong miền. Vì đây là một
nhấn mạnh dự án nhận tài trợ GEF sẽ được đặt trên vấn đề cá
xuyên biên giới trong Vịnh Thái Lan và vùng lân cận.
Định nghĩa dự trữ
xuyên biên giới trong dự án thì rộng, và gồm có sao biển và động
vật không xương sống di trú, những sinh vật có giai đoạn ấu
trùng nổi lâu dài đủ để cho phép phát tán đến trường đánh bắt cá
của nước khác, và dự trữ điều chỉnh.
Hai năm đầu của dự án
(2002-2003) sẽ gồm có phần lớn việc thu thập dữ liệu cấp hai và
đánh giá, để ra quyết định hợp lý và có thông tin tốt về làm
cách nào tiến hành phần còn lại của dự án, từ 2003-2005. Một đầu
ra chính sẽ là một kế hoạch quản lý miền trong việc duy trì nơi
ở quan trọng với dự trưc cá xuyên biên giới trong Vịnh Thái Lan.
Trong việc tạo thuận
lợi cho dự án, PCU sẽ còn hỗ trợ trong việc thúc đẩy một đạo
luật cấp miền thực hiện Cá trách nhiệm (liên kết với SEAFDEC)
Thành phần ô nhiễm
trên nền đất
Thành phần này giải
quyết vấn đề chính của ô nhiễm trên nền đất thông qua một báo
cáo đầu về tiêu chuẩn quốc gia và kiểm tra, và một kiểm tra hành
động cần để: hoà nhịp những tiêu chuẩn trên ở một cấp miền, báo
cáo và đánh giá sự hiểu biết hiện có của chất lượng nước cấp
miền, xác định thiếu sót thông tin, đánh giá khả năng mang/ hấp
thụ của những miền phụ và hệ sinh thái nhạy cảm và di chuyển
xuyên biên giới chất ô nhiễm trong Biển Nam Hải, tạo ra những
hướng dẫn/những chương trình hành động trong việc thực thi GPA ở
cấp quốc gia và cấp miền, và soạn thảo những hướng dẫn tong việc
phát triển kế hoạch quản lý quốc gia, gồm có xây dựng khả năng,
luật pháp, và những thành phần thích hợp khác để hoàn tất mục
tiêu chất lượng nước thống nhất; xem lại khả năng quốc gia để
thử nghiệm, theo dõi, kiểm soát và bắt buộc chất lượng nước và
những tiêu chuẩn phụ và phát triển và hoàn thành kế hoạch quản
lý quốc gia và cấp miền để đạt những mục tiêu chuyên hoá trong
khuôn khổ thời gian xác địnhsẽ được đưa vào Chương trình Hành
động Chiến lược trong Biển Đông, và để bắt đầu hoạt động xậy
dựng khả năng và những dự án trình diễn giải quyết chất ô nhiễm
chuyên tính có ý nghĩa toàn cầu, cấp miền và xuyên biên giới.
Khi thoả hiệp đã
đạt về những mục tiêu chất lượng nước miền và tiêu chuẩn, những
tiêu chuẩn sẽ được triển khai và chấp nhận trong việc đánh giá
mức ô nhiễm quan trọng cấp miền và xuyên biên giới. “Điểm nóng”
nhận diện trong Phân tích Chẩn đoán Xuyên biên giới (mức nghiêm
trọng ô nhiễm. khả thi/dễ dàng giảm nhẹ, hiệu ứng xuyên biên
giới). Những tieu chuẩn sẽ được áp dụng với mọi điểm nóng nhận
diện cấp nhà nước để thống nhất về việc trình bày ưu tiên cấp
miền trong việc đầu tư. Một bản đánh giá sơ khởi chi phí và lợi
tức của những biện pháp giảm nhẹ đan xen trong những điểm nóng
ưu tiên đã chọn sẽ được thực hiện cùng với khảo nghiệm tiền khả
thi biện pháp giảm nhẹ thích hợp nguồn ô nhiễm ưu tiên. Một
phương phap tiếp cận chiến lược Biển Đông trong việc giảm nhẹ
những điểm nóng cấp miền ưu tiên (gồm có liệy kê vốn đầu tư ưu
tiên, sắp xếp đồng tài trợ, hành động cấp quốc gia và cấp miền)
sẽ được phát triển và thống nhất đưa vào Chương trình Hành động
Chiến lược trong Biển Đông.
Lực lượng đặc nhiệm
cấp miền về vấn đề luật pháp
Lực lượng Đặc nhiệm
cấp miền về Lập pháp (RTF-1) được thiết lập bởi Uỷ ban Chỉ đạo
Dự án, tại cuộc họp thứ hai, ở Hà Nội tháng 12, 2002 để xem xét
báo cáo cấp nhà nước về luật pháp liên quan quản lý môi trường
và tăng cường một cơ quan thông tin luật pháp liên quan mục tiêu
và mục đích của Dự án Biển Đông UNEP/GEF.
Dự án cũng được mô
tả đặc biệt nhưng chức năng của RFT-L trong đoạn 31:
Một nhóm công tác
chuyên gia cấp miền sẽ được triệu tập để: xem xét lại những điều
kiện bắt buộc hiện nay trong những nước trong Hội nghị Toàn cầu
gồm những cơ quan khác UNFCC. CBD. UNCLOS. và MARPOL; xem xét
lại những điểm giống nhau và khác nhau giữa luật pháp quốc gia;
xem xét những phương pháp trong đó luật pháp như trên phải hòa
nhịp để hoàn tất những mục tiêu chung của những nước như trình
bày trong Chương trình Hành động Chiến lược; soạn thảo những
khuyến cáo liên quan phương pháp tối ưu thoả mãn những điều
kiện bắt buộc trong hội nghị toàn cầu và vì thế bảo vệ môi
trường Biển Đông. Điều được dự kiến trước là những khuyến cáo
của nhóm này sẽ được xem xét bởi cuộc họp liên chính phủ cấp cao
gồm cả những hoạt động trong Chương trình Hành động Chiến lược
[I].
Ngày 10-10-2006
Bản tiếng Việt: RGC
BRIEF INTRODUCTION
OF THE UNEP GEF PROJECT ENTITLED:
REVERSING ENVIRONMENTAL DEGRADATION TRENDS IN THE SOUTH CHINA
SEA AND GULF OF THAILAND
Background:
The South China Sea
represents an area of globally significant biological diversity.
Compared to the Atlantic, the tropical Indo-west Pacific is
highly diverse. Only five species of mangrove and some 35 coral
species are found in the Atlantic compared with fifty one
mangrove and over seven hundred coral species in the Indo-west
Pacific. Over 400 species of corals are recorded from the
Philippines compared with 200 species from the Red Sea, 117 from
South East India and fifty-seven from the Persian Gulf. Forty
five species of mangrove from the global total of fifty seven;
fifty of seventy coral genera; twenty of fifty species of
seagrass; and, seven of nine giant clam species are found in the
near shore areas of the South China Sea. The high species
diversity of the shallow water habitats, combined with the
variation in geomorphic and geological setting and formation
type, contribute to the global significance of these habitats in
this region.
This high
biological diversity is not merely threatened by continuation of
current unsustainable patterns of use, but has also been
seriously degraded in the recent past. Recent estimates suggest
that approximately 2 million hectares of mangrove forest or 12%
of the world total are located in the countries bordering the
South China Sea. This represents only 31% of the estimated total
found in these countries at the start of this century. Estimated
rates of loss in each country range from around 0.5 to 3.5% of
total area per annum and continuation of these present trends
could result in total loss of this habitat in the region by
around 2030. Eighty two percent of the coral reefs surveyed
under collaborative ASEAN projects in the South China Sea
display evidence of degradation while other estimates suggest
that 50% of Philippines and 85% of Indonesian reefs can be
considered as being at high risk.
The South China Sea
supports a significant world fishery of importance to the food
security, and as a source of export income, for the countries
bordering this sea. Capture fisheries from the South China Sea
contribute 10% of the world's landed catch and five of the eight
top shrimp producers in the world are border states of the South
China Sea (Indonesia, first; Viet Nam, second; China, third;
Thailand, sixth; and, the Philippines, eighth.). The countries
of the region produce 23% of the world tuna catch and almost
three-quarters of the world's canned tuna. The share of world
production of aquaculture products including shrimp rose from
46% in 1984, to 66% in 1994. The proportion of shrimp produced
through extensive culture is high, contributing significantly to
the loss of mangroves and other coastal habitats bordering the
South China Sea.
The decline in fish
availability in the subsistence sector has led to the adoption
of destructive fishing practices such as blast fishing and
pressure on the coastal resources is likely to increase
significantly in the immediate future. Despite internal
consumption needs and current population growth rates, the
countries surrounding the South China Sea are generally net
exporters of fishery products, since the need to generate
foreign exchange to buy capital inputs for industrialisation is
a high priority.
Development of the
project: a brief history.
Recognising that
actions to date have failed to halt the degradation of the
environment of the South China Sea, the countries of the region
sought the assistance of the
United Nations Environment Programme (UNEP)
and the
Global Environment Facility (GEF)
in addressing the most immediate issues and problems. The 12th
intergovernmental meeting of the Coordinating Body for
the Seas of East Asia (COBSEA), in December 1996 endorsed a
|