Xét lại tiến bộ của nấm dùng làm thuốc:

Tin lành từ Đông minh cũ

(Review of Medicinal Mushrooms Advances: Good News from Old Allies)

Solomon P. Wasser, Ph.D., Dr.Sci. (Biol.)


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

21 tháng 12 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

  Nấm có thể ăn và dùng làm thuốc (nấm lớn=macrofungi) không chỉ có thể qui đổi rác thải sinh khối gỗ-celluloza rất lớn thành lương thực, nhưng -- đáng kể nhất -- có thể tạo ra dược liệu nấm, dinh dưỡng nấm và mỹ phẩm nấm đáng chú ý.

Phương diện có ý nghĩa nhất của việc trồng nấm, nếu được quản lý một cách thích hợp, là việc nói không với  những vật liệu rác thải gỗ-celluloza. Sản phẩm công nghệ sinh học nấm có ảnh hưởng nhiều lợi ích cho phúc lợi của con người (ví dụ, như lương thực, thuốc bổ và thuốc cho sức khỏe, thức ăn chăn nuôi và phân bón, và việc bảo vệ và tái sinh môi trường). Những chất dùng làm thuốc có những đặc tính mạnh và độc nhất tăng cường sức khỏe được phân lập gần đây từ nấm dùng làm thuốc và được phân phát trên thế giới.2 Nhiều trong nhóm là sản phẩm dùng làm thuốc, trong khi những chất khác trình bày một lớp mới bổ sung chế độ ăn uống hoặc "nutraceuticals." Vài polysaccharides kháng khối u, như là hetero-§-glucans và những phức chất protein của chúng (ví dụ, xyloglucans, và acidic §-glucan có uronic acid) cũng như sợi trong khẩu phần, lectins, và terpenoids, đã được phân lập từ nấm dùng làm thuốc. Ở Nhật bản, Trung quốc, Nga, và Hàn quốc, vài loại thuốc kháng khối u polysaccharide khác nhau đã được phát triển từ thể sợi nấm và môi trường cấy của nấm dùng làm thuốc khác nhau, như là shiitake (Lentinus edodes (Berk.) Sing., Tricholomataceae), reishi (Ganoderma lucidum (Curt.:Fr.) P. Karst., Ganodermataceae), turkey tail (Trametes versicolor (L.:Fr.) Lloyd, Polyporaceae), split gill (Schizophyllum commune Fr.:Fr., Schizophyllaceae), mulberry yellow polypore (Phellinus linteus (Berk. et Curt.) Teng., Hymenochaetaceae), và chaga hoặc cinder conk (Inonotus obliquus (Pers.:Fr.) Pilat, Hymenochaetaceae). Tiềm năng của nấm dùng làm thuốc là rất lớn nhưng đa phần chưa khai thác. Điều này có thể và phải tiến hóa thành một công nghiệp công nghệ sinh học thành công trong lợi ích của nhân loại.

Khảo nghiệm về nấm dùng làm thuốc trong ba mươi năm vừa qua đã chứng tỏ nhiều kết quả có lợi và được tiếp theo là sự phát triển nhanh dịch vụ sản xuất giải quyết việc canh tác sản phẩm hàng hóa của nấm. Năm 1999, sản xuất nấm trên thế giới lên đến US$18 tỷ, xấp xỉ bằng giá trị của việc bán cà phê.3,4

Nấm học dùng làm thuốc có rễ sâu và chắc trong việc sử dụng truyền thống nấm trong y học Viễn Đông. Hàng thế kỷ, người Trung Quốc và các bác sĩ y khoa khác sử dụng nấm trong việc điều trị nhiều bệnh khác nhau. Họ đánh giá sức mạnh của vài loại nấm như thần thánh (ví dụ, một nữ thần đặc biệt liên kết với nấm reishi). Reishi còn được xem như một biểu tượng dấu hiệu hạnh phúc và tương lai tốt, sức khỏe tốt, trường thọ, và kể cả cuộc sống với những người bất tử. Việc sử dụng nấm dùng làm thuốc đã vượt quá y học chính nó: những trường phái khác nhau của Taoism dùng reishi và những loại nấm khác như chất làm sạch và nâng cao tinh thần và linh hồn.5

Chỉ vào cuối những năm 1960 những nhà khoa học Đông và Tây bắt đầu khảo sát cơ chế của ảnh hưởng sức khỏe của nấm. Khảo nghiệm thành công nhất khám phá ảnh hưởng kháng khối u của chất trích nước nóng từ vài loài nấm.6 Thành phần tích cực chủ yếu chứng tỏ sẽ là polysaccharides, đặc biệt §-D-glucans. Chihara và những cộng sự của ông7 phân lập từ cơ thể kết quả của shiitake một polysaccharide kháng khối u trong nước, được gọi là "lentinan" sau tên giống của nấm này. Đây là một khám phá chủ yếu. Lentinan đã chứng minh hoạt động kháng khối u mạnh; ngăn cản phát triển khối u do hóa chất và vi rút trên chuột và các mô hình khảo nghiệm.8,9

Polysaccharides trưng bày hoạt động kháng khối u đáng chú ý in vivo (ví dụ, thông 1qua việc chọn sarcoma 180 trên chuột bằng cách sử dụng các phương pháp điều trị trong bụng hoặc qua miệng (intraperitoneal or oral methods of administration) đã được phân lập từ các loài nấm khác nhau thuộc về các bộ Auriculariales, Tremellales, Polyporales, và Gasteromycetales.2,6,8,10-13

Sau khám phá lentinan, vài tác nhân polysaccharide kháng khối u đã được phát triển và thương mại hóa, bằng cách sử dụng sinh khối thể sợi cấy ngập nước của đuôi gà tây (turkey tail) (Krestin, PSK; Japan), và sản phẩm nước luộc cấy nước của (liquid cultured broth product) của lá tia vỡ (split gill) (Sonifilan, SPG, Schizophyllan; Japan). Các chất kháng khối u này được xem như chất thay đổi phản ứng sinh học hoạt hóa phản ứng miễn nhiễm. Điều này cơ bản có nghĩa là:

1) chúng không gây hại và không tạo trầm cảm phụ trên cơ thể;

2) chúng giúp cơ thể thích ứng với những stress môi trường và sinh học khác nhau;

3) chúng không có tác dụng đặc biệt trên cơ thể, hỗ trợ vài hoặc tất cả hệ thống chủ yếu, gồm có thần kinh, hocmon, và hệ thống miễn nhiễm, cũng như chức năng điều tiết.

Thực vậy, điều hợp lý trong việc mô tả đặc tính mọi chế phẩm nấm dùng làm thuốc chủ yếu, các hợp chất tế bào và chất chuyển hóa thứ cấp, như có tính sinh kháng thể yếu và không ảnh hưởng phụ.

Một chế phẩm rất phổ biến và hiệu quả được phát triển từ đuôi gà tây ở Nhật Bản năm 1965. Một polysaccharide-peptide từ loài nấm này, mang tên Krestin (PSK), được phát triển từ nòi CM-101. Chế phẩm này được chấp thuận cho  sử dụng với nhiều bệnh ung thư và được che chở bởi kế hoạch sức khỏe Nhật Bản. PSK trình bày một ảnh hưởng rõ ràng chống lại nhiều kiểu khối u khác nhau trên động vật khảo nghiệm khi được điều trị trong bụng hoặc qua miệng. PSK có 75 phần trăm glucan và 25 phần trăm protein. Năm 1993, Krestin gồm có 25 phần trăm thị trường thuốc chống bệnh ung thư ở Nhật Bản, và việc bán lên đến US$350 triệu.10,14 Một sản phẩm tương tự mang tên Polysaccharide Peptide (PSP) được phát triển ở Trung Qu từ đuôi gà tây (turkey tail) nòi Cov-1; qua trình phát triển của nòi này kéo dài chín năm, từ 1983 đến 1992.15 Mizuno11 đã nói là, nói chung, một thời hạn 10 năm và một tổng cộng US$75 triệu, hoặc 10 tỷ yen, cần từ bắt đầu phát triển một loại thuốc mới đến lúc nó được tiếp thị.

Một §-D-glucan khác đã phát triển và phổ biến ở Nhật Bản là schizophyllan từ lá tia vỡ (split gill). Chất này có hiệu quả đặc biệt chống lại bệnh ung thư cổ (cervical cancer).11 Một glucan từ đa khổng vàng của dâu tằm được phát triển hiện nay ở Hàn Quốc, và một công nghệ sinh học polysaccharide tương tự từ loài này đã được hoàn tất ở Nhật Bản.16

Reishi, đã được trình bày như như một loài nấm thiêng liêng ở Tung quốc cổ xưa, đã đến chiếm một vih trí hàng đầu trong việc phát triển nấm dùng làm thuốc hiện nay. Giá trị thị trường của các sản phẩm chăm sóc sức khỏe thiên nhiên trên nền reishi năm 1995 được tính toán như US$215 triệu ở Đài Loan, US$350 triệu ở Trung Quốc, US$600 triệu ở Hàn Quốc, và US$350 triệu ở Nhật Bản.5 Những chất hoạt động về mặt vật lý của reishi là các polysaccharides hòa tan trong nước  và triterpenoids hòa tan trong cồn. Hiện nay, 119 triterpenoids khác nhau được nhận diện trên reishi,12 và 80 trong số  hoạt động về mặt sinh học. Chất bổ sung chế độ ăn uống (DS) Reishi dược đánh giá về mô phỏng miễn nhiễm (immunomodulating), kháng ung thư (anticancer), các đặc tính kháng vi rút (antiviral properties). Chúng được sử dụng trong quá trình miễn giảm bệnh nhân mắc phải bệnh ung thư và bệnh viêm gan B. Chúng còn có những tác dụng kháng tăng mỡ (anti-hyperlipidemic), giảm huyết áp (hypotensive), và  giảm glucoza huyết (hypoglycemic).17

Trong khoảng 30 năm qua, những nhà dịch tễ học (epidemiologists) nghiên cứu dân số bản địa trong vùng Piedade trong vùng ngoại ô của San Paulo, Braxin, chú ý là tỷ lệ xuất hiện bệnh của người trưởng thành là thấp cực kỳ, và tìm thấy một kết hợp với loài Agaricus, là một phần chế độ ăn uống đều của người dân trong vùng.18 Loài nấm này được nhận diện như A. blazei Murr., được biết như là tên thông thường thaní dương hoàng gia Agaricus, himematsutake, kawarihaaratake, hoặc almond-flavored portobello. Những thí nghiệm thực hiện ở Nhật Bản với chuột xác minh là A. blazei hoạt hóa một cách có ý nghĩa hệ thống miễn nhiễm.18 Nhiều phần nhỏ nâng cao tính miễn nhiễm, kháng bệnh ung thư và kháng khối u được phân lập từ A. blazei. Loài này được trình bày sẽ là loài nấm kháng ung thư hiệu quả nhất trong khảo nghiệm so sánh các ảnh hưởng của nó với shiitake, maitake (Grifola frondosa (Dicks.:Fr.) S.F. Gray, Polyporaceae), reishi, và các loài nấm dùng làm thuốc khác. Các phần nhỏ nhận diện với ảnh hưởng miễn nhiễm gồm có polysaccharides, (1®6)-(1®3)-b-D-glucans, (1®6)-(1®4)-b-D-glucans, polysaccharide-protein complex (ATOM), RNA-protein complexes, và glucomannan.13,18-23

Hội Liên hiệp Ung thư Nhật Bản chứng tỏ là A. blazei có hiệu quả chống lại bệnh ung thư biểu mô (Ehrlich's ascites carcinoma), ung thư ruột kết (sigmoid colon cancer), ung thư buồng trứng (ovarian cancer), ung thư vú (breast cancer), ung thư phổi (lung cancer), và ung thư gan (liver cancer), cũng như những kiểu bệnh ung thư rắn khác (solid cancers).18

Nấm đảm cấp cao (Higher Basidiomycetes mushrooms) có nhiều acid amin cần cân bằng tốt. Thể sợi trong chế độ ăn uống trong mô của mọi loài nấm; chúng hấp thụ acid mật hoặc vật liệu nguy hiểm trong ruột, và vì thế làm giảm những cơ hội sinh ung thư và ngộ độc khác. Ảnh hưởng hòa hợp tổng hợp của một chế độ ăn uống cân băng với nấm, được tán dương cao trong nuước Trung Quốc cổ xưa, không phải là điều hoang đường, nhưng được hỗ trợ thường xuyên bởi các cuộc khảo sát khoa học hiện đại.

Vài ảnh hưởng nâng cao sức khỏe khác của nấm không nên bỏ qua Không chỉ  polysaccharides và triterpenoids đa biết như hoạt động về mặt sinh học; nhiều chất từ nấm đảm cấp cao (higher Basidiomycetes) thuộc về những lớp khác"nhau cửanhngx hợp chất hóa học đã được mô tả đặc tính và những đặc tính thuốc được đánh giá. Những chất này trình bày glyco-lipids (schizonellin), những hợp chất phát sinh từ shikimic acid (strobilurins và oudemansins), aromatic phenols (drosophilin, armillasirin, omphalone), fatty acid derivatives (filiboletic acid, podoscyphic acid), polyacetylenes (agrocybin, xerulin), polyketides (caloporoside, hericenones A-H), nucleosides (clitocine, nebularine), different sesquiterpenes (protoilludanes, marasmanes, hirsutanes, caryophyllanes, etc.), diterpenes (cyathin, striatal), sesterterpenes (aleurodscal), và nhiều chất khác có xuất xứ khác nhau.2,10,24

Những chất hoạt động về mặt sinh học từ nấm đamt cấp cao có những đặc tính kháng nấm, kháng vi khuẩn và kháng vi rút (antifungal, antibacterial, and antiviral properties); chúng có thể được dùng như tác nhân trừ sauu và diệt tuyến trùng. Trong y học, chúng có thể được dùng trong việc mô phóng miễn nhiễm những yếu tố miễn nhiễm dịch và tế bào trong cơ thể. Polyfunctional acidic glucuronoxylomannan được phân lập từ nấm jelly (Tremella spp., Tremellaceae), ví dụ, kích thích tế bào màng trong mạch (vascular endothelial cells), có những ảnh hưởng kháng bức xạ nổi bật, kích thích sinh huyết (hematogenesis), chứng minh các hoạt động kháng bệnh tiểu đường, kháng bệnh viêm nhiễm, giảm cholesterol (hypocholesterolemic), kháng dị ứng (anti-allergic activities), và cho thấy các ảnh hưởng bzảo vệ gan. Chất này có thể được khuyến cáo trong việc cải thiện thiếu khả năng miễn nhiễm (immunodeficiency), gồm có  chất cám ứng bởi AIDS, stress về mặt vật lý hoặc lão hóa, và nó ngăn cản suy nhược do lão hóa của các mạch nhỏ, bảo quản điều kiện truyền máu tốt nhiều hơn trong cơ quan sống.4

Đa phần chế phẩm và chất phát sinh từ nấm tìm thấy công dụng của chúng không chỉ dùng làm thuốc, mà còn là một lớp mới bổ sung chế độ ăn uống hoặc thuốc dinh dưỡng "nutraceuticals." Một loài nấm dùng làm thuốc là một chất trích tinh chế hoặc một phần tinh chế hoặc sinh khối sấy khô từ thể sợi (mycelium) hoặc cơ thẻ kết quả của nấm, được tiêu dùng dưới hình thức viên thuốc nang hoặc viên như một bổ sung chế độ ăn uống (không phải là một loại lương thực thường) và có các ứng dụng điều trị tiềm tàng. Việc dùng đều đặn có thể nâng cao phản ứng miễn nhiễm của cơ thể con người, vì thế làm tăng tính kháng bệnh, và trong vài trường hợp, tạo ra sự hồi qui của một tình trạng bệnh. Giá trị thị trường của sản phẩm DS nấm trên thế giới được tính toán ở mức US$6 tỷ mỗi năm. Giá trị thị trường riêng của DS trên nền nấm reishi trong năm 1995 được tính toán nhiều hơn US$1.628 tỷ.5

An toàn của thuốc bổ sung chế độ ăn uống trên nền nấm được nâng cao thêm qua các kiểm tra sau:

1. Đa phần áp đảo của nấm dung trong việc sản xuất DS được trồng thương phẩm (và không thu hoạch trong hoang dã). Điều này đảm bảo việc nhận diện thích hợp, và thuần khiết, sản phẩm của các người không trưởng thành. Trong nhiều trường hợp điều này có nghĩa là tính đồng nhất di truyền (genetic uniformity). Điều này có thể còn lợi dụng sự bảo tồn tính đa dạng sinh học.

2. Các loài nấm được nhân giống dễ dàng về mặt thực vật, và vì thế giữ một dòng vô tính. Thể sợi có thể tồn trữ trong một thời gian dài, tính bền di truyền và sinh hóa có thể được kiểm tra sau một thời gian đáng kể.

3. Nhiều loài nấm có thể ăn  và dùng làm thuốc có thể phát triển dưới hình thức sinh khối thể sợi (mycelial biomass) trong môi trường cấy ngập nước.4

Mặt cuối này, trong khảo nghiệm của chúng tôi, cho một tương lai có triển vọng trong sản xuất tiêu chuẩn hóa của DS trên nền nấm an toàn. Môi trường cấy ngập nước và sự lên men nửa rắn có thành phần bền nhiều hơn và có thể dự báo so với các cơ thể kết quả (fruit bodies). Trong mọi chất, sinh khối thể sợi này nhận bằng nuôi trồng ngập nước còn có giá trị dinh dưỡng cao nhiều hơn. Môi trường cấy trong đó thể sợi phát triển được thực hiện bằng chất tinh khiết hóa học và sạch về mặt sinh thái. Việc trồng nấm trong sản xuất cơ thể kết quả là một quá trình lâu dài, dùng một đến vài tháng trong những cơ thể kết quả đầu xuất hiện, tùy thuộc vào loài và thực thể. Ngược lại, phát triển việc nuôi cấy nấm thuần khiết trong điều kiện ngập nước trong một môi trường cấy nước cho phép việc tăng tốc tốc độ phát triển, đưa đến năng suất sinh khối trong vài ngày.4 Ưu thế phụ của việc nuôi trồng ngập nước là một sự việc là đa phần nấm dùng làm thuốc không tạo ra các cơ thể kết quả trong việc canh tác thương phẩm. Phương pháp canh tác công nghiệp có thể tin cậy đã biết chỉ 37 loài nấm,3 nhưng các loài thuốc dùng làm nấm gồm có nhiều loài rễ nấm hoặc ký sinh cần vài năm phát triển cơ thể kết quả bình thường trên cây đại mộc. Các loài trên không thể được trồng thương phấm, nhưng các thể sợi có thể được nuôi trồng dễ dàng và kinh tế với sự hỗ trợ của nuôi trồng ngập nước. Tính ổn định cao và việc tiêu chuẩn hóa thể sợi đã trồng trong môi trường cấy ngập nước thì quan trọng không những trong việc tạo ra DS, mà còn có thể có lợi trong việc tạo ra dược phẩm trên nền nấm.

Việc sử dụng nấm dùng làm thuốc đi tay trong tay với việc phát triển canh tác nhân tạo của chúng. Mặt có ý nghĩa nhất của việc trồng nấm, nếu được quản lý thích hợp, là việc không tạo ra rác thải (bức xa số không). Vì nhiều hơn 70% vật liệu nông-lâm không sản xuất và là rác thải trong chế biến, điều này là ưu thế rất thật.25 Nhiều trong những vật liệu rác thải này có thể được dùng như chất nền để trồng nấm. Sự việc này cho một nền quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu ngoài đồng ruộng (gồm có tác giả này) là phát triển bền vững nấm và sản phẩm của chúng trong thế kỷ 21 có thể trở thành một "cuộc cách mạng không-xanh "non-green revolution."3

Prof. Solomon P. Wasser is the Head of the International Center for Cryptogamic Plants and Fungi, at the Institute of Evolution, University of Haifa (Israel); and the Head of the Department of Cryptogamic Plants, at the N.G. Kholodny Institute of Botany, National Academy of Sciences of Ukraine.

Born and educated in Ukraine, Prof. Wasser earned his advanced degrees at the N.G. Kholodny Institute of Botany, National Academy of Sciences of Ukraine in Kiev. He was elected a member of the National Academy of Sciences of Ukraine in 1988, and became Professor of Botany and Mycology in 1991. He founded the International Center for Cryptogamic Plants and Fungi at the Institute of Evolution in Haifa University in 1994 and has directed its work since then. Since 2000, he has been a full Professor of Haifa University (Israel).

In addition to his scientific studies, Prof. Wasser performs a number of public and social activities. He is a founder and editor-in-chief of three international journals, Algologia (Ukraine), International Journal of Medicinal Mushrooms (USA) and International Journal on Algae (USA). He is an author and co-author of 400 scientific publications, including 35 books and 12 patents.

References:

1. Idaho National Engineering and Environmental Laboratory. INEEL Bioenergy Initiative. 2001 July. Available online: <http://www.inel.gov/energy/bioenergy/web-version-bioenergy-strategic-initiative-dnt-v2.pdf>

2. Wasser SP, Weis AL. Medicinal properties of substances occuring in higher Basidiomycetes mushrooms: Current perspectives [Review]. International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:31-62.

3. Chang ST. Global impact of edible and medicinal mushrooms on human welfare in the 21st century: nongreen revolution. International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:1-8.

4. Wasser SP, Nevo E, Sokolov D, Reshetnikov S, Timor-Tismenetsky M. Dietary supplements from medicinal mushrooms: diversity of types and variety of regulations. International Journal of Medicinal Mushrooms 2000;2:1-19.

5. Chang ST, Buswell JA. Ganoderma lucidum (Curt.:Fr.) P.Karst. (Aphyllophoromycetideae) - a mushrooming medicinal mushroom. International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:139-48.

6. Ikekawa T, Uehara N, Maeda Y, Nakanishi M, Fukuoka F. Antitumor activity of aqueous extracts of edible mushrooms. Cancer Res 1969;29:734-5.

7. Chihara G, Maeda Y, Hamuro J, Sasaki T, Fukuoka F. Inhibition of mouse sarcoma 180 by polysaccharides from Lentinus edodes (Berk.) Sing. Nature 1969;222:687-8.

8. Zakany J, Chihara G, Fachet J. Effect of Lentinan on tumor growth in murine allogeneic and syngeneic host. Int J Cancer 1980a;25:371-6.

9. Zakany J, Chihara G, Fachet J. Effect of Lentinan on the production of migration inhibitory factor induced by syngeneic tumor in mice. Int J Cancer 1980b;26:783-8.

10. Mizuno T. The extraction and development of antitumor-active polysaccharides from medicinal mushrooms in Japan [Review]. International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:9-30.

11. Mizuno T. A development of antitumor polysaccharides from mushroom fungi. Food & Food Ingred J (Japan). 1996;167:69-85.

12. Kim HW, Kim BK. Biomedicinal triterpenoids of Ganoderma lucidum (Curt.:Fr.) P.Karst. (Aphyllophoromycetideae). International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:121-38.

13. Stamets P. Growing Gourmet and Medicinal Mushrooms. Berkeley/Toronto: Ten Speed Press; 2000.

14. Chang ST. Mushroom biology: the impact on mushroom production and mushroom products. In: Chang ST, Buswell JA, Chiu SW, et al, editors. Mushroom Biology and Mushroom Products. Hong Kong: Chinese University Press; 1993. p. 3-20.

15. Hiroshi S, Takeda M. Diverse biological activity of PSK (Krestin), a protein-bound polysaccharide from Coriolus versicolor (Fr.) Quel. In: Chang ST, Buswell JA, Chiu SW, et al, editors. Mushroom Biology and Mushroom Products. Hong Kong: Chinese University Press; 1993. p. 237-245.

16. Mizuno T. The development of an antitumor BRM from song gen, or meshimakobu, Phellinus linteus (Berk. et Curt.) Teng mushroom [Review]. International Journal of Medicinal Mushrooms 2000;2:21-34.

17. Wasser SP, Weis AL. Medicinal mushrooms. In: Nevo E, editor. Reishi Mushroom (Ganoderma lucidum (Curt.:Fr.) P.Karst.) Haifa, Israel: Peledfus; 1997. p. 1-37.

18. Mizuno T. 2002. Medicinal properties and clinical effects of Agaricus blazei Murr. International Journal of Medicinal Mushrooms 2002;4 (forthcoming).

19. Mizuno T, Hagiwara T, Nakamura T, Ito H, Shimura K, Sumiya T, Asakura A. Antitumor activity and some properties of water-soluble polysaccharides from "Himematsutake," the fruiting body of Agaricus blazei Murrill. Agricult Biol Chem 1990;54:2889-96.

20. Ito H, Shimura K, Itoh H, Kawade M. Antitumor effects of a new polysaccharide-protein complex (ATOM) prepared from Agaricus blazei (Iwade strain 101) "Himematsutake" and its mechanisms in tumor-bearing mice. Anticancer Res 1997;17:277-84.

21. Fujimiya Y, Suzuki Y, Oshiman K, Kobori K, Morigushi K, Nakashima H, Matumoto Y, Takahara S, Ebina T, Katakura R. Selective tumoricidal effect of soluble proteoglucan extracted from the basidiomycete, Agaricus blazei Murrill, mediated via natural killer cell activation and apoptosis. Cancer Immunol Immunother 1998;46:147-59.

22. Fujimiya Y, Yamamoto H, Niji M, Suzuki I. Peroral effect on tumor progression of soluble beta (1,6)-glucans prepared by acid treatment from Agaricus blazei Murr. (Agaricaceae, Higher Basidiomycetes). International Journal of Medicinal Mushrooms 2000;2:43-50.

23. Cho SM, Lee Jh, Han SB, Kim BK. Chemical features and purification of immunostimulating polysaccharides from the fruit bodies of Agaricus blazei. Korean J Mycol 1999;27:170-4.

24. Lorenzen K, Anke T. Basidiomycetes as a source for new bioactive natural products. Curr Org Chem 1998;2:329-64.

25. Poppe J. Use of agricultural waste materials in the cultivation of mushrooms. In: Van Griensven DLJL, editor. Science and cultivation of edible fungi. Rotterdam/Brookfield: A. Balkema; 2000. p. 3-24.

* Sinh khối gồm có nhiều loại cây trồng và vật liệu phát sinh từ thực vật, như là cây trồng năng lượng có tính cách chuyên môn và cây đại mộc, lương thực nông nghiệp và cây trồng thức ăn, rác thải cây nông nghiệp và dư thừa, rác thải gỗ và dư thừa, và rác thải đô thị. Đa phần sinh khối phi=lương thực cơ bản gồm có celluloza đa phân tự nhiên, nửa-celluloza, và gỗ và được tham khảo như sinh khối gỗ-celluloza. Gỗ-celluloza là một phức chất gỗ và celluloza hiện diện trong chất đa phân hữu cơ phắc tạp trong vách tế bào, làm cho nó cứng và có gỗ. Tài nguyên vật liệu gỗ-celluloza, như năng lượng mặt trời, thì bền vững. Vật liệu gỗ-celluloza là một kiểu sinh khối được tính toán lên đến 1.9x1011 tấn chất khô trên đất liền mỗi năm.1

RGC 04-12-2006

 

Review of Medicinal Mushrooms Advances: Good News from Old Allies

View Member Comments(0) Printer Friendly

HerbalGram. 2002;56:28-33 © American Botanical Council (Buy This Issue)

 

 

Trở về Trang Chính