|
Nấm
có thể ăn và dùng làm thuốc (nấm lớn=macrofungi) không chỉ có
thể qui đổi rác thải sinh khối gỗ-celluloza rất lớn thành lương
thực, nhưng -- đáng kể nhất -- có thể tạo ra dược liệu nấm, dinh
dưỡng nấm và mỹ phẩm nấm đáng chú ý.
Phương diện có ý
nghĩa nhất của việc trồng nấm, nếu được quản lý một cách thích
hợp, là việc nói không với những vật liệu rác thải
gỗ-celluloza. Sản phẩm công nghệ sinh học nấm có ảnh hưởng nhiều
lợi ích cho phúc lợi của con người (ví dụ, như lương thực, thuốc
bổ và thuốc cho sức khỏe, thức ăn chăn nuôi và phân bón, và việc
bảo vệ và tái sinh môi trường). Những chất dùng làm thuốc có
những đặc tính mạnh và độc nhất tăng cường sức khỏe được phân
lập gần đây từ nấm dùng làm thuốc và được phân phát trên thế
giới.2 Nhiều trong nhóm là sản phẩm dùng làm thuốc,
trong khi những chất khác trình bày một lớp mới bổ sung chế độ
ăn uống hoặc "nutraceuticals." Vài polysaccharides kháng khối u,
như là hetero-§-glucans và những phức chất protein của chúng (ví
dụ, xyloglucans, và acidic §-glucan có uronic acid) cũng như sợi
trong khẩu phần, lectins, và terpenoids, đã được phân lập từ nấm
dùng làm thuốc. Ở Nhật bản, Trung quốc, Nga, và Hàn quốc, vài
loại thuốc kháng khối u polysaccharide khác nhau đã được phát
triển từ thể sợi nấm và môi trường cấy của nấm dùng làm thuốc
khác nhau, như là shiitake (Lentinus edodes (Berk.)
Sing., Tricholomataceae), reishi (Ganoderma lucidum
(Curt.:Fr.) P. Karst., Ganodermataceae), turkey tail
(Trametes versicolor (L.:Fr.) Lloyd, Polyporaceae),
split gill (Schizophyllum commune Fr.:Fr.,
Schizophyllaceae), mulberry yellow polypore (Phellinus
linteus (Berk. et Curt.) Teng., Hymenochaetaceae), và chaga
hoặc cinder conk (Inonotus obliquus (Pers.:Fr.) Pilat,
Hymenochaetaceae). Tiềm năng của nấm dùng làm thuốc là rất lớn
nhưng đa phần chưa khai thác. Điều này có thể và phải tiến hóa
thành một công nghiệp công nghệ sinh học thành công trong lợi
ích của nhân loại.
Khảo nghiệm về nấm
dùng làm thuốc trong ba mươi năm vừa qua đã chứng tỏ nhiều kết
quả có lợi và được tiếp theo là sự phát triển nhanh dịch vụ sản
xuất giải quyết việc canh tác sản phẩm hàng hóa của nấm. Năm
1999, sản xuất nấm trên thế giới lên đến US$18 tỷ, xấp xỉ bằng
giá trị của việc bán cà phê.3,4
Nấm học dùng làm
thuốc có rễ sâu và chắc trong việc sử dụng truyền thống nấm
trong y học Viễn Đông. Hàng thế kỷ, người Trung Quốc và các bác
sĩ y khoa khác sử dụng nấm trong việc điều trị nhiều bệnh khác
nhau. Họ đánh giá sức mạnh của vài loại nấm như thần thánh (ví
dụ, một nữ thần đặc biệt liên kết với nấm reishi). Reishi còn
được xem như một biểu tượng dấu hiệu hạnh phúc và tương lai tốt,
sức khỏe tốt, trường thọ, và kể cả cuộc sống với những người bất
tử. Việc sử dụng nấm dùng làm thuốc đã vượt quá y học chính nó:
những trường phái khác nhau của Taoism dùng reishi và những loại
nấm khác như chất làm sạch và nâng cao tinh thần và linh hồn.5
Chỉ vào cuối những
năm 1960 những nhà khoa học Đông và Tây bắt đầu khảo sát cơ chế
của ảnh hưởng sức khỏe của nấm. Khảo nghiệm thành công nhất khám
phá ảnh hưởng kháng khối u của chất trích nước nóng từ vài loài
nấm.6 Thành phần tích cực chủ yếu chứng tỏ sẽ là
polysaccharides, đặc biệt §-D-glucans. Chihara và những cộng sự
của ông7 phân lập từ cơ thể kết quả của shiitake một
polysaccharide kháng khối u trong nước, được gọi là "lentinan"
sau tên giống của nấm này. Đây là một khám phá chủ yếu. Lentinan
đã chứng minh hoạt động kháng khối u mạnh; ngăn cản phát triển
khối u do hóa chất và vi rút trên chuột và các mô hình khảo
nghiệm.8,9
Polysaccharides
trưng bày hoạt động kháng khối u đáng chú ý in vivo (ví
dụ, thông 1qua việc chọn sarcoma 180 trên chuột bằng cách sử
dụng các phương pháp điều trị trong bụng hoặc qua miệng
(intraperitoneal or oral methods of administration) đã được phân
lập từ các loài nấm khác nhau thuộc về các bộ Auriculariales,
Tremellales, Polyporales, và Gasteromycetales.2,6,8,10-13
Sau khám phá
lentinan, vài tác nhân polysaccharide kháng khối u đã được phát
triển và thương mại hóa, bằng cách sử dụng sinh khối thể sợi cấy
ngập nước của đuôi gà tây (turkey tail) (Krestin, PSK; Japan),
và sản phẩm nước luộc cấy nước của (liquid cultured broth
product) của lá tia vỡ (split gill) (Sonifilan, SPG,
Schizophyllan; Japan). Các chất kháng khối u này được xem như
chất thay đổi phản ứng sinh học hoạt hóa phản ứng miễn nhiễm.
Điều này cơ bản có nghĩa là:
1) chúng không gây
hại và không tạo trầm cảm phụ trên cơ thể;
2) chúng giúp cơ
thể thích ứng với những stress môi trường và sinh học khác nhau;
3) chúng không có
tác dụng đặc biệt trên cơ thể, hỗ trợ vài hoặc tất cả hệ thống
chủ yếu, gồm có thần kinh, hocmon, và hệ thống miễn nhiễm, cũng
như chức năng điều tiết.
Thực vậy, điều hợp
lý trong việc mô tả đặc tính mọi chế phẩm nấm dùng làm thuốc chủ
yếu, các hợp chất tế bào và chất chuyển hóa thứ cấp, như có tính
sinh kháng thể yếu và không ảnh hưởng phụ.
Một chế phẩm rất
phổ biến và hiệu quả được phát triển từ đuôi gà tây ở Nhật Bản
năm 1965. Một polysaccharide-peptide từ loài nấm này, mang tên
Krestin (PSK), được phát triển từ nòi CM-101. Chế phẩm này được
chấp thuận cho sử dụng với nhiều bệnh ung thư và được che chở
bởi kế hoạch sức khỏe Nhật Bản. PSK trình bày một ảnh hưởng rõ
ràng chống lại nhiều kiểu khối u khác nhau trên động vật khảo
nghiệm khi được điều trị trong bụng hoặc qua miệng. PSK có 75
phần trăm glucan và 25 phần trăm protein. Năm 1993, Krestin gồm
có 25 phần trăm thị trường thuốc chống bệnh ung thư ở Nhật Bản,
và việc bán lên đến US$350 triệu.10,14 Một sản phẩm
tương tự mang tên Polysaccharide Peptide (PSP) được phát triển ở
Trung Qu từ đuôi gà tây (turkey tail) nòi Cov-1; qua trình phát
triển của nòi này kéo dài chín năm, từ 1983 đến 1992.15
Mizuno11 đã nói là, nói chung, một thời hạn 10 năm và
một tổng cộng US$75 triệu, hoặc 10 tỷ yen, cần từ bắt đầu phát
triển một loại thuốc mới đến lúc nó được tiếp thị.
Một §-D-glucan khác
đã phát triển và phổ biến ở Nhật Bản là schizophyllan từ lá tia
vỡ (split gill). Chất này có hiệu quả đặc biệt chống lại bệnh
ung thư cổ (cervical cancer).11 Một glucan từ đa
khổng vàng của dâu tằm được phát triển hiện nay ở Hàn Quốc, và
một công nghệ sinh học polysaccharide tương tự từ loài này đã
được hoàn tất ở Nhật Bản.16
Reishi, đã được
trình bày như như một loài nấm thiêng liêng ở Tung quốc cổ xưa,
đã đến chiếm một vih trí hàng đầu trong việc phát triển nấm dùng
làm thuốc hiện nay. Giá trị thị trường của các sản phẩm chăm sóc
sức khỏe thiên nhiên trên nền reishi năm 1995 được tính toán như
US$215 triệu ở Đài Loan, US$350 triệu ở Trung Quốc, US$600 triệu
ở Hàn Quốc, và US$350 triệu ở Nhật Bản.5 Những chất
hoạt động về mặt vật lý của reishi là các polysaccharides hòa
tan trong nước và triterpenoids hòa tan trong cồn. Hiện nay,
119 triterpenoids khác nhau được nhận diện trên reishi,12
và 80 trong số hoạt động về mặt sinh học. Chất bổ sung chế độ
ăn uống (DS) Reishi dược đánh giá về mô phỏng miễn nhiễm
(immunomodulating), kháng ung thư (anticancer), các đặc tính
kháng vi rút (antiviral properties). Chúng được sử dụng trong
quá trình miễn giảm bệnh nhân mắc phải bệnh ung thư và bệnh viêm
gan B. Chúng còn có những tác dụng kháng tăng mỡ
(anti-hyperlipidemic), giảm huyết áp (hypotensive), và giảm
glucoza huyết (hypoglycemic).17
Trong khoảng 30 năm
qua, những nhà dịch tễ học (epidemiologists) nghiên cứu dân số
bản địa trong vùng Piedade trong vùng ngoại ô của San Paulo,
Braxin, chú ý là tỷ lệ xuất hiện bệnh của người trưởng thành là
thấp cực kỳ, và tìm thấy một kết hợp với loài Agaricus,
là một phần chế độ ăn uống đều của người dân trong vùng.18
Loài nấm này được nhận diện như A. blazei Murr., được
biết như là tên thông thường thaní dương hoàng gia Agaricus,
himematsutake, kawarihaaratake, hoặc
almond-flavored portobello. Những thí nghiệm thực hiện ở Nhật
Bản với chuột xác minh là A. blazei hoạt hóa một cách có
ý nghĩa hệ thống miễn nhiễm.18 Nhiều phần nhỏ nâng
cao tính miễn nhiễm, kháng bệnh ung thư và kháng khối u được
phân lập từ A. blazei. Loài này được trình bày sẽ là loài
nấm kháng ung thư hiệu quả nhất trong khảo nghiệm so sánh các
ảnh hưởng của nó với shiitake, maitake (Grifola frondosa
(Dicks.:Fr.) S.F. Gray, Polyporaceae), reishi, và các loài nấm
dùng làm thuốc khác. Các phần nhỏ nhận diện với ảnh hưởng miễn
nhiễm gồm có polysaccharides, (1®6)-(1®3)-b-D-glucans,
(1®6)-(1®4)-b-D-glucans, polysaccharide-protein complex (ATOM),
RNA-protein complexes, và glucomannan.13,18-23
Hội Liên hiệp Ung
thư Nhật Bản chứng tỏ là A. blazei có hiệu quả chống lại
bệnh ung thư biểu mô (Ehrlich's ascites carcinoma), ung thư ruột
kết (sigmoid colon cancer), ung thư buồng trứng (ovarian
cancer), ung thư vú (breast cancer), ung thư phổi (lung cancer),
và ung thư gan (liver cancer), cũng như những kiểu bệnh ung thư
rắn khác (solid cancers).18
Nấm đảm cấp cao
(Higher Basidiomycetes mushrooms) có nhiều acid amin cần cân
bằng tốt. Thể sợi trong chế độ ăn uống trong mô của mọi loài
nấm; chúng hấp thụ acid mật hoặc vật liệu nguy hiểm trong ruột,
và vì thế làm giảm những cơ hội sinh ung thư và ngộ độc khác.
Ảnh hưởng hòa hợp tổng hợp của một chế độ ăn uống cân băng với
nấm, được tán dương cao trong nuước Trung Quốc cổ xưa, không
phải là điều hoang đường, nhưng được hỗ trợ thường xuyên bởi các
cuộc khảo sát khoa học hiện đại.
Vài ảnh hưởng nâng
cao sức khỏe khác của nấm không nên bỏ qua Không chỉ
polysaccharides và triterpenoids đa biết như hoạt động về mặt
sinh học; nhiều chất từ nấm đảm cấp cao (higher Basidiomycetes)
thuộc về những lớp khác"nhau cửanhngx hợp chất hóa học đã được
mô tả đặc tính và những đặc tính thuốc được đánh giá. Những chất
này trình bày glyco-lipids (schizonellin), những hợp chất phát
sinh từ shikimic acid (strobilurins và oudemansins), aromatic
phenols (drosophilin, armillasirin, omphalone), fatty acid
derivatives (filiboletic acid, podoscyphic acid), polyacetylenes
(agrocybin, xerulin), polyketides (caloporoside, hericenones
A-H), nucleosides (clitocine, nebularine), different
sesquiterpenes (protoilludanes, marasmanes, hirsutanes,
caryophyllanes, etc.), diterpenes (cyathin, striatal),
sesterterpenes (aleurodscal), và nhiều chất khác có xuất xứ khác
nhau.2,10,24
Những chất hoạt
động về mặt sinh học từ nấm đamt cấp cao có những đặc tính kháng
nấm, kháng vi khuẩn và kháng vi rút (antifungal, antibacterial,
and antiviral properties); chúng có thể được dùng như tác nhân
trừ sauu và diệt tuyến trùng. Trong y học, chúng có thể được
dùng trong việc mô phóng miễn nhiễm những yếu tố miễn nhiễm dịch
và tế bào trong cơ thể. Polyfunctional acidic
glucuronoxylomannan được phân lập từ nấm jelly (Tremella
spp., Tremellaceae), ví dụ, kích thích tế bào màng trong
mạch (vascular endothelial cells), có những ảnh hưởng kháng bức
xạ nổi bật, kích thích sinh huyết (hematogenesis), chứng minh
các hoạt động kháng bệnh tiểu đường, kháng bệnh viêm nhiễm, giảm
cholesterol (hypocholesterolemic), kháng dị ứng (anti-allergic
activities), và cho thấy các ảnh hưởng bzảo vệ gan. Chất này có
thể được khuyến cáo trong việc cải thiện thiếu khả năng miễn
nhiễm (immunodeficiency), gồm có chất cám ứng bởi AIDS, stress
về mặt vật lý hoặc lão hóa, và nó ngăn cản suy nhược do lão hóa
của các mạch nhỏ, bảo quản điều kiện truyền máu tốt nhiều hơn
trong cơ quan sống.4
Đa phần chế phẩm và
chất phát sinh từ nấm tìm thấy công dụng của chúng không chỉ
dùng làm thuốc, mà còn là một lớp mới bổ sung chế độ ăn uống
hoặc thuốc dinh dưỡng "nutraceuticals." Một loài nấm dùng làm
thuốc là một chất trích tinh chế hoặc một phần tinh chế hoặc
sinh khối sấy khô từ thể sợi (mycelium) hoặc cơ thẻ kết quả của
nấm, được tiêu dùng dưới hình thức viên thuốc nang hoặc viên như
một bổ sung chế độ ăn uống (không phải là một loại lương thực
thường) và có các ứng dụng điều trị tiềm tàng. Việc dùng đều đặn
có thể nâng cao phản ứng miễn nhiễm của cơ thể con người, vì thế
làm tăng tính kháng bệnh, và trong vài trường hợp, tạo ra sự hồi
qui của một tình trạng bệnh. Giá trị thị trường của sản phẩm DS
nấm trên thế giới được tính toán ở mức US$6 tỷ mỗi năm. Giá trị
thị trường riêng của DS trên nền nấm reishi trong năm 1995 được
tính toán nhiều hơn US$1.628 tỷ.5
An toàn của thuốc
bổ sung chế độ ăn uống trên nền nấm được nâng cao thêm qua các
kiểm tra sau:
1. Đa phần áp đảo
của nấm dung trong việc sản xuất DS được trồng thương phẩm (và
không thu hoạch trong hoang dã). Điều này đảm bảo việc nhận diện
thích hợp, và thuần khiết, sản phẩm của các người không trưởng
thành. Trong nhiều trường hợp điều này có nghĩa là tính đồng
nhất di truyền (genetic uniformity). Điều này có thể còn lợi
dụng sự bảo tồn tính đa dạng sinh học.
2. Các loài nấm
được nhân giống dễ dàng về mặt thực vật, và vì thế giữ một dòng
vô tính. Thể sợi có thể tồn trữ trong một thời gian dài, tính
bền di truyền và sinh hóa có thể được kiểm tra sau một thời gian
đáng kể.
3. Nhiều loài nấm
có thể ăn và dùng làm thuốc có thể phát triển dưới hình thức
sinh khối thể sợi (mycelial biomass) trong môi trường cấy ngập
nước.4
Mặt cuối này, trong
khảo nghiệm của chúng tôi, cho một tương lai có triển vọng trong
sản xuất tiêu chuẩn hóa của DS trên nền nấm an toàn. Môi trường
cấy ngập nước và sự lên men nửa rắn có thành phần bền nhiều hơn
và có thể dự báo so với các cơ thể kết quả (fruit bodies). Trong
mọi chất, sinh khối thể sợi này nhận bằng nuôi trồng ngập nước
còn có giá trị dinh dưỡng cao nhiều hơn. Môi trường cấy trong đó
thể sợi phát triển được thực hiện bằng chất tinh khiết hóa học
và sạch về mặt sinh thái. Việc trồng nấm trong sản xuất cơ thể
kết quả là một quá trình lâu dài, dùng một đến vài tháng trong
những cơ thể kết quả đầu xuất hiện, tùy thuộc vào loài và thực
thể. Ngược lại, phát triển việc nuôi cấy nấm thuần khiết trong
điều kiện ngập nước trong một môi trường cấy nước cho phép việc
tăng tốc tốc độ phát triển, đưa đến năng suất sinh khối trong
vài ngày.4 Ưu thế phụ của việc nuôi trồng ngập nước
là một sự việc là đa phần nấm dùng làm thuốc không tạo ra các cơ
thể kết quả trong việc canh tác thương phẩm. Phương pháp canh
tác công nghiệp có thể tin cậy đã biết chỉ 37 loài nấm,3
nhưng các loài thuốc dùng làm nấm gồm có nhiều loài rễ nấm hoặc
ký sinh cần vài năm phát triển cơ thể kết quả bình thường trên
cây đại mộc. Các loài trên không thể được trồng thương phấm,
nhưng các thể sợi có thể được nuôi trồng dễ dàng và kinh tế với
sự hỗ trợ của nuôi trồng ngập nước. Tính ổn định cao và việc
tiêu chuẩn hóa thể sợi đã trồng trong môi trường cấy ngập nước
thì quan trọng không những trong việc tạo ra DS, mà còn có thể
có lợi trong việc tạo ra dược phẩm trên nền nấm.
Việc sử dụng nấm
dùng làm thuốc đi tay trong tay với việc phát triển canh tác
nhân tạo của chúng. Mặt có ý nghĩa nhất của việc trồng nấm, nếu
được quản lý thích hợp, là việc không tạo ra rác thải (bức xa số
không). Vì nhiều hơn 70% vật liệu nông-lâm không sản xuất và là
rác thải trong chế biến, điều này là ưu thế rất thật.25
Nhiều trong những vật liệu rác thải này có thể được dùng như
chất nền để trồng nấm. Sự việc này cho một nền quan điểm của
nhiều nhà nghiên cứu ngoài đồng ruộng (gồm có tác giả này) là
phát triển bền vững nấm và sản phẩm của chúng trong thế kỷ 21 có
thể trở thành một "cuộc cách mạng không-xanh "non-green
revolution."3
Prof. Solomon P.
Wasser is the Head of the International Center for Cryptogamic
Plants and Fungi, at the Institute of Evolution, University of
Haifa (Israel); and the Head of the Department of Cryptogamic
Plants, at the N.G. Kholodny Institute of Botany, National
Academy of Sciences of Ukraine.
Born and educated
in Ukraine, Prof. Wasser earned his advanced degrees at the N.G.
Kholodny Institute of Botany, National Academy of Sciences of
Ukraine in Kiev. He was elected a member of the National Academy
of Sciences of Ukraine in 1988, and became Professor of Botany
and Mycology in 1991. He founded the International Center for
Cryptogamic Plants and Fungi at the Institute of Evolution in
Haifa University in 1994 and has directed its work since then.
Since 2000, he has been a full Professor of Haifa University
(Israel).
In addition to his
scientific studies, Prof. Wasser performs a number of public and
social activities. He is a founder and editor-in-chief of three
international journals,
Algologia
(Ukraine), International Journal of Medicinal Mushrooms
(USA) and International Journal on Algae (USA). He is an
author and co-author of 400 scientific publications, including
35 books and 12 patents.
References:
1. Idaho National
Engineering and Environmental Laboratory. INEEL Bioenergy
Initiative. 2001 July. Available online: <http://www.inel.gov/energy/bioenergy/web-version-bioenergy-strategic-initiative-dnt-v2.pdf>
2. Wasser SP, Weis
AL. Medicinal properties of substances occuring in higher
Basidiomycetes mushrooms: Current perspectives [Review].
International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:31-62.
3. Chang ST. Global
impact of edible and medicinal mushrooms on human welfare in the
21st century: nongreen revolution. International Journal of
Medicinal Mushrooms 1999;1:1-8.
4. Wasser SP, Nevo
E, Sokolov D, Reshetnikov S, Timor-Tismenetsky M. Dietary
supplements from medicinal mushrooms: diversity of types and
variety of regulations. International Journal of Medicinal
Mushrooms 2000;2:1-19.
5. Chang ST,
Buswell JA. Ganoderma lucidum (Curt.:Fr.) P.Karst.
(Aphyllophoromycetideae) - a mushrooming medicinal mushroom.
International Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:139-48.
6. Ikekawa T,
Uehara N, Maeda Y, Nakanishi M, Fukuoka F. Antitumor activity of
aqueous extracts of edible mushrooms. Cancer Res
1969;29:734-5.
7. Chihara G, Maeda
Y, Hamuro J, Sasaki T, Fukuoka F. Inhibition of mouse sarcoma
180 by polysaccharides from Lentinus edodes
(Berk.) Sing. Nature 1969;222:687-8.
8. Zakany J,
Chihara G, Fachet J. Effect of Lentinan on tumor growth in
murine allogeneic and syngeneic host. Int J Cancer
1980a;25:371-6.
9. Zakany J,
Chihara G, Fachet J. Effect of Lentinan on the production of
migration inhibitory factor induced by syngeneic tumor in mice.
Int J Cancer 1980b;26:783-8.
10. Mizuno T. The
extraction and development of antitumor-active polysaccharides
from medicinal mushrooms in Japan [Review]. International
Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:9-30.
11. Mizuno T. A
development of antitumor polysaccharides from mushroom fungi.
Food & Food Ingred J (Japan). 1996;167:69-85.
12. Kim HW, Kim BK.
Biomedicinal triterpenoids of Ganoderma lucidum
(Curt.:Fr.) P.Karst. (Aphyllophoromycetideae). International
Journal of Medicinal Mushrooms 1999;1:121-38.
13. Stamets P.
Growing Gourmet and Medicinal Mushrooms. Berkeley/Toronto:
Ten Speed Press; 2000.
14. Chang ST.
Mushroom biology: the impact on mushroom production and mushroom
products. In: Chang ST, Buswell JA, Chiu SW, et al,
editors. Mushroom Biology and Mushroom Products. Hong
Kong: Chinese University Press; 1993. p. 3-20.
15. Hiroshi S,
Takeda M. Diverse biological activity of PSK (Krestin), a
protein-bound polysaccharide from Coriolus versicolor
(Fr.) Quel. In: Chang ST, Buswell JA, Chiu SW, et al,
editors. Mushroom Biology and Mushroom Products.
Hong Kong: Chinese University Press; 1993. p. 237-245.
16. Mizuno T. The
development of an antitumor BRM from song gen, or meshimakobu,
Phellinus linteus (Berk. et Curt.) Teng mushroom
[Review]. International Journal of Medicinal Mushrooms
2000;2:21-34.
17. Wasser SP, Weis
AL. Medicinal mushrooms. In: Nevo E, editor.
Reishi Mushroom (Ganoderma lucidum (Curt.:Fr.)
P.Karst.) Haifa, Israel: Peledfus; 1997. p. 1-37.
18. Mizuno T. 2002.
Medicinal properties and clinical effects of Agaricus blazei
Murr. International Journal of Medicinal Mushrooms 2002;4
(forthcoming).
19. Mizuno T,
Hagiwara T, Nakamura T, Ito H, Shimura K, Sumiya T, Asakura A.
Antitumor activity and some properties of water-soluble
polysaccharides from "Himematsutake," the fruiting body of
Agaricus blazei Murrill. Agricult Biol Chem
1990;54:2889-96.
20. Ito H, Shimura
K, Itoh H, Kawade M. Antitumor effects of a new
polysaccharide-protein complex (ATOM) prepared from Agaricus
blazei (Iwade strain 101) "Himematsutake" and its mechanisms
in tumor-bearing mice. Anticancer Res 1997;17:277-84.
21. Fujimiya Y,
Suzuki Y, Oshiman K, Kobori K, Morigushi K, Nakashima H,
Matumoto Y, Takahara S, Ebina T, Katakura R. Selective
tumoricidal effect of soluble proteoglucan extracted from the
basidiomycete, Agaricus blazei Murrill, mediated via
natural killer cell activation and apoptosis. Cancer Immunol
Immunother 1998;46:147-59.
22. Fujimiya Y,
Yamamoto H, Niji M, Suzuki I. Peroral effect on tumor
progression of soluble beta (1,6)-glucans prepared by acid
treatment from Agaricus blazei Murr. (Agaricaceae, Higher
Basidiomycetes). International Journal of Medicinal Mushrooms
2000;2:43-50.
23. Cho SM, Lee Jh,
Han SB, Kim BK. Chemical features and purification of
immunostimulating polysaccharides from the fruit bodies of
Agaricus blazei. Korean J Mycol 1999;27:170-4.
24. Lorenzen K,
Anke T. Basidiomycetes as a source for new bioactive natural
products. Curr Org Chem 1998;2:329-64.
25. Poppe J. Use of
agricultural waste materials in the cultivation of mushrooms.
In: Van Griensven DLJL, editor. Science and
cultivation of edible fungi. Rotterdam/Brookfield: A.
Balkema; 2000. p. 3-24.
* Sinh khối gồm có
nhiều loại cây trồng và vật liệu phát sinh từ thực vật, như là
cây trồng năng lượng có tính cách chuyên môn và cây đại mộc,
lương thực nông nghiệp và cây trồng thức ăn, rác thải cây nông
nghiệp và dư thừa, rác thải gỗ và dư thừa, và rác thải đô thị.
Đa phần sinh khối phi=lương thực cơ bản gồm có celluloza đa phân
tự nhiên, nửa-celluloza, và gỗ và được tham khảo như sinh khối
gỗ-celluloza. Gỗ-celluloza là một phức chất gỗ và celluloza hiện
diện trong chất đa phân hữu cơ phắc tạp trong vách tế bào, làm
cho nó cứng và có gỗ. Tài nguyên vật liệu gỗ-celluloza, như năng
lượng mặt trời, thì bền vững. Vật liệu gỗ-celluloza là một kiểu
sinh khối được tính toán lên đến 1.9x1011 tấn chất
khô trên đất liền mỗi năm.1
RGC 04-12-2006
Review of Medicinal
Mushrooms Advances: Good News from Old Allies
View Member Comments(0)
Printer Friendly
HerbalGram.
2002;56:28-33 © American Botanical Council (Buy
This Issue)
Trở về Trang Chính
|