NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT

CỦA ĐẤT MẶN VÀ ĐẤT KIỀM


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

22 tháng 03 năm 2007

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Các loại đất được khảo sát trong cuốn sách này có đặc trưng của sự việc là chúng chứa các liều lượng dư thừa của hoặc là muối có thể hòa tan hay Natri có thể trao đổi, hay cả hai. Về mục đích nông nghiệp, các loại đất nói trên được xem như là một lớp học về các loại đất có vấn đề cần đến các phương pháp sửa đổi và sử dụng đặc biệt. Muối có thể hòa tan ảnh hưởng có hại cho cây trồng bằng cách làm tăng hàm lượng muối trong dung dịch đất và làm tăng mức bào hòa của các vật liệu trao đổi trong đất với natri có thể trao đổi. ảnh hưởng của natri có thể trao đổi xảy ra khi yếu tố cấu thành có thể hòa tan gồm có phần lớn muối natri và có bản chất thường xuyên hơn so với hàm lượng muối của dung dịch đất, vì natri có thể trao đổi thường bền vững sau khi các muối hòa tan bị lấy đi.

Khi thảo luận về các loại đất có vấn đề nói trên thích hợp là việc sử dụng các từ đặc biệt liên quan đến hai nguyên nhân chính của vấn đề. “Đất mặn” như đã được sử dụng trong sách này, liên quan đến một loại đất chứa lượng muối hòa tan đủ để không thích hợp với sản lượng của nó. Tương tự, đất kiềm có thể định nghiã theo từ về sản lượng như bị ảnh hưởng của natri có thể trao đổi. Phù hợp với phương pháp sử dụng trên, đất kiềm có thể hay không thể chứa muối hòa tan dư thừa. Hẳn là vấn đề phổ biến nhất liên quan đến loại đất chứa một lượng dư thừa các muối hòa tan và natri có thể trao đổi, và phù hợp với sự định danh của De Sigmond (1938), các loại đất trên sẽ được tham khảo như là đất mặn -kiềm.

Hàm lượng muối trong đất trên đó sự phát triển của cây trồng bị ảnh hưởng tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong số có cấu trúc của đất, sự phân bố muối trong trắc diện, thành phần của muối và loài cây trồng. Kearney và Scofield (1936), khi bàn cãi về sự lựa chọn cây trồng cho đất mặn đã khảo sát là cây trồng bắt đầu bị ảnh hưởng ngược vì hàm lượng muối trong đất vượt quá 0,1%. De Sigmond (1938) nhất trí với giới hạn nói trên. Trong báo cáo của Ban quản trị kế hoạch tài nguyên quốc gia Hoa Kỳ (1942, pp 263-334), liên quan đến nghiên cứu sông Pecos, Scofield đã xem một loại đất như là đất mặn khi dung dịch lấy ra từ một kem đất bảo hòa có trị số dẫn điện là 4 mmohs /cm hay hơn. Độ dẫn điện của chất chiết xuất bảo hòa được Phòng thí nghiệm Đất mặn tổng hợp chấp nhận vì thang chọn cho việc sử dụng tổng hợp trong việc định giá độ mặn của đất.. Đoàn khảo sát đất đai (1951) của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ hiện nay sử dụng hoặc là phương pháp trên hay phương pháp trước kia dưạ trên cơ sở điện trở của mẫu kem đất, việc đọc điện trở được quy đổi thành số phần trăm trọng lượng khô của muối hòa tan trong đất.

Quyết định liên quan đến lượng natri có thể trao đổi trong đất tạo ra một mức dư thừa độ bảo hòa trở thành phức hợp vì sự kiện là không có thay đổi rõ nét về các đặc tính của đất vì mức bảo hòa có natri có thể trao đổi được tăng lên. Trong quá khứ, một số phần trăm natri có thể trao đổi là 15 đã được sử dụng tại Phòng Thí nghiệm như là giới hạn ranh giới giữa cacự loại đất kiềm và đất không kiềm. Các số liệu không đầy đủ và kinh nghiệm có thể sử dụng để xác minh một thay đổi, nhưng giới hạn trên phải được xem là chừng mực trọng tài và thử. Thí dụ, trong một số trường hợp 2 hay 3 phần ngàn đương lượng của natri có thể trao đổi trong 100g đất có tính hữu dụng bằng nhau hay đồng đều như là một giới hạn tới hạn.

 

Trong quá khứ không chắc chắn có sự liên quan đến ảnh hưởng của kali có thể trao đổi trên đặc tính lý học của đất và nếu, như De Sigmond (1928) và Magistad (1945) đã đề xuất ý kiến, natri và kali có thể trao đổi phải được xem như là bổ sung trong việc định nghiã đất kiềm. Đã khảo sát được trong nhiều trường hợp là đất kiềm giàu kali có thể trao đổi có lý tính tốt hơn và có thể cải tạo dễ hơn so với các loại đất kiềm khác có chứa lượng tương tự natri có thể trao đổi nhưng lượng thấp kali có thể trao đổi. Quan điểm là kali có thể trao đổi chỉ có ảnh hưởng ngược nhẹ hay không có trên lý tính của đất đai được hỗ trợ bởi các số đo đạc vừa qua tại Phòng Thí nghiệm trên các mẫu của 7 loại đất đã chỉnh theo các mức khác nhau của natri có thể trao đổi và kali có thể trao đổi. (Hình 1).(Trang 2).

Tỷ lệ thấm nước/không khí là một phương pháp đo chừng mực theo đó cấu trúc đất xấu đi khi có nước, một tỷ lệ cao cho thấy một mức cao hủy hoại. Số liệu về hai loại đất không được trình bày trên biểu đồ, cho thấy ảnh hưởng của số phần trăm kali có thể trao đổi vì chúng gần trùng hợp với đường cong thấp hơn. Nói chung, sự gia tăng về tỷ lệ cùng với gia tăng natri có thể trao đổi trực tiếp liên quan đến tổng số tổng diện tích đất đặc biệt.

Việc cải tạo đất được tiến hành với các phương pháp đánh giá tính nhiễm và tình trạng đất về mặt ảnh hưởng có hại của natri có thể trao đổi. Vì các lý do trên, cả hai giới hạn định danh và phân loại phải được xem như là một giai đoạn chuyển tiếp.

 

NGUỒN GỐC CỦA CÁC MUỐI HÒA TAN

Các muối có thể hòa tan xảy ra trong đất phần lớn gồm có các tỷ lệ khác nhau vể cation natri, canxi và kali, và các anion chloride và sulphate. Các yếu tố cấu thành thường chỉ xảy ra với lượng nhỏ là cation kali và anion bicarbonate, carbonate và nitrate. Gốc và, theo chừng mực, nguồn trực tiếp của tất cả các yếu tố cấu tạo muối các khoáng chất cơ bản đã được tìm thấy trong đất và trong đá lộ thiên của vỏ quả đất. Clarke (1924) đã ước tính là hàm lượng trung bình của chlorine và sulfur trong vỏ quả đất là 0, 05 và 0,06%, tương ứng, trong khi, natri, canxi và manhê mỗi chất với chừng mực 2 hay 3%. Trong quá trình phong hoá, gồm có sự thủy phân, sự hydro hóa, sự hòa tan, sự oxy hóa và sự carbonate hóa, các yếu tố cấu tạo trên được thả ra dần và làm hòa tan.

Dạng ion bicarbonate là một kết quả của sự hòa tan carbon dioxide trong nước. Carbon dioxide có thể phát sinh từ lớp khí quyển hay nguờn gốc sinh học. Nước có chứa carbon dioxide là một tác nhân hóa phân tầng đặc biệt tích cực phóng thích lượng lớn các yếu tố cấu tạo cation như là bicarbonate. Các ion carbonate và bicarbonate có tương quan với nhau. Lượng liên quan của mỗi chất hiện hữu là một chức năng của pH trong dung dịch. Lượng lớn các ion bicarbonate có thể chỉ hiện hữu với các trị số pH 9, 5 hay cao hơn.

 

Trong khi các yếu tố cấu tạo muối nói trên quan trọng nhất trong đất mặn, có các nơi, như một phần bang Colorado, Utah và Washington, ở đó liều lượng cao nitrate đã được tìm thấy. Các thuyết khác nhau (Kelly 1951) đã được đề xuất để giải trình nguồn gốc của các muối nitrate dư thừa trong đất. Chất Bo, do tính độc rõ đối với cây trồng khi hiện hữu với liều lượng thấp, cũng đã được trình bày (Eaton và Wilcox, 1939). Nguồn chính của yếu tố trên là khoáng tuamalin, khá phổ biến nhưng là yếu tố cấu tạo nhỏ của nham thạch gốc.

Dù cho sự phong hóa các khoáng cơ bản là nguồn gián tiếp của hầu hết các muối có thể hòa tan, hẳn có một số ít trường hợp trong đó lượng muối đủ đã tích tụ tại nơi từ đó chỉ nguồn nói trên tạo ra một loại đất mặn. Đất mặn thường xảy ra trong các khu vực nhận muối từ các điạ điểm khác, và nước là một thể mang cơ bản. Đại dương có thể là nguồn muối vì trong đất vật liệu mẹ gồm có trầm tích biển lắng tụ trong thời kỳ điạ chất sớm hơn và từ đó đã được nâng lên. Loại đá phiến tại Colorado, Wyoming và Utah là các thí dụ điển hình của trầm tích biển mặn. Đại dương còn là nguồn nguồn muối trên đất thấp dọc theo duyên hải. Thỉnh thoảng muối được di chuyển vào trong đất liền thông qua sự chuyển tải bằng gió và được gọi là muối theo chu kỳ (Teakle, 1937). Tuy nhiên, phổ biến hơn, nguồn muối trực tiếp là nước mặt và nước ngầm. Tất cả các loại nước trên chứa muối đã hòa tan, liều lượng tùy thuộc vào hàm lượng muối trong đất và vật liệu địa chất mà nước đã tiếp cận. Nước có tác dụng như là nguồn muối khi được sử dụng để tưới. Nước còn có thể thêm muối vào đất trong điều kiện tự nhiên, hay khi nước tràn ngập vùng đất thấp hay khi nước ngầm dâng cao gần mặt đất.

 

SỰ MẶN HÓA ĐẤT ĐAI

Đất mặn xảy ra trong phần lớn càc vùng có thời tiết khô và nửa khô. Trong điều kiện ẩm, muối có thể hòa tan hiện dikện ngay từ đầu. Trong vật liệu thổ nhưỡng và vật liệu được tạo ra bởi sự phong hóa khoáng chất thường được mang xuống nước ngầm và cuối cùng được chuyển tải qua các sông suối đến đại dương. Vì vậy, đất mặn về thực hành không hiện hữu tại vùng ẩm ướt trừ khi đất đã là đối tượng của nước biển trong tam giác châu sông và các đất thấp khác gần biển. Trong các vùng khô, sự trực di và sự chuyển tải các muối có thể hòa tan ra biển không trọn vẹn như tại vùng ẩm ướt. Sự trực di thường là cục bộ về bản chất và các muối có thể hòa tan có thể không bị chuyển tải đi xa. Điều nói trên xảy ra không chỉ vì thiếu vũ lượng để trực di và chuyển tải muối mà còn vì tỷ lệ bốc hơi cao đặc trưng của thời tiết khô, có xu thế tập trung các muối trong đất và trong nước mặt.

Sự tiêu nước bị giới hạn là một yếu tố thường góp phần vào sự mặn hóa đất và có thể liên quan đến sự hiện diện của mực nước ngầm cao hay độ thẩm thấu trong đất thấp. Mực nước ngầm cao thường có liên quan đến điạ hình, Do vũ lượng thấp trong vùng khô hạn, đường tiêu nước mặt có thể được phát triển kém. Như là một hệ quả, có các bể tiêu nước không có đầu ra cho các dòng chảy thường xuyên. Việc tiêu nước có muối khỏi đất cao trong lưu vực có thể nâng cao mực nước ngầm lên mặt đất, có thể tạo ra lụt lôi tạm, hay có thể tạo thành hồ có muối thường xuyên. Trong điều kiện như trên,, di chuyển lên trên nước ngầm mặn hay bốc hơi nước mặt tạo ra đất mặn. Do đó, chừng mực vùng đất mặn đã hình thành có thể thay đổi từ một vài mẫu anh đến hàng trăm dặm vuông. Nhiều loại đất mặn tại Anh quốc đã được hình thành theo phương pháp nói trên. Các vùng tương tự xảy ra trên khắp các bang miền Tây. Chúng thường được xem như là các hồ khô.

Tính thẩm thấu thấp của đất làm cho việc tiêu nước kém do việc ngăn cản sự trực di của nước. Tinh thẩm thấu kém có thể là kết quả của một cấu trúc đất bất thuận hay kết cấu hay sự hiện diện của các lớp đất cứng. Lớp đất cứng có thể gồm có một tầng đất cái, một lớp calic hay một nền cứng cát. De Sigmond (1924) đã xem sự hiện diện của một lớp đất không thấm nước càn thiết cho sự tạo thành đất mặn đã được tìm thấy tại Hungari.

Bài toán về độ mặn quan trọng kinh tế chính đặt ra khi đất không mặn trước trở nên mặn do việc tưới nước. Loại đất trên thường nằm ở trong các thung lũng gần sông suối, và, vì trường hợp có thể được tưới nước vùng đất cao hơn thường được chọn để trồng trọt. Trong khi các loại đất trên có thể được tiêu nước tốt và không mặn trong điều kiện tự nhiên, việc tiêu nước có thể không thích hợp cho việc tưới nước. Khi muốn tưới nước cho đất mới nông dân thường thất bại trong việc nhìn nhận yêu cầu để xác lập tiêu nước nhân tạo khi muốn sử dụng nước bổ sung hay các muới có thể hòa tan.. Như là một kết quả, mực nước ngầm có thể dâng cao từ một chiều sâu rất lớn đến một số ít bộ anh trên mặt đất trong một số năm. Trong thời kỳ phát triển đầu của các dự án tưới tiêu, nước thường đầy đủ và có một xu thế sử dụng nước quá mức Điều nói trên d8ẩy nhanh sự nâng cao mực nước ngầm. Nước được sử dụng để tưới có thể chứa từ 0, 1 đến nhiều bằng 5 tấn muốicho mỗi mẫu-bộ anh nước, và việc sử dụng nước hàng năm có thể lên đến 5 bộ anh hay hơn. Do đó, lượng rất lớn muối có thể hòa tan có thể được bổ sung vào đất có tưới trong thời gian tương đối ngắn. Khi mức nước ngầm cao lên trong khoảng 5-6 bộ anh trên mặt đất, nướcngầm di chuyển lên phiá trên vào vùng hoạt động của rễ và lên trên mặt đất. Trong điều kiện như trên, nước ngầm, cũng như nước tưới, góp phần vào việc mặn hóa đất.

 

SỰ KIỀM HÓA HAY SỰ TÍCH LŨY CÁC NATRI CÓ THỂ TRAO ĐỔI TRONG ĐẤT

Các hạt đất hút bám và giữ cation trên bề mặt. Sự hút bám cation xày ra như là một hệ quả của tích điện trên bề mặt của các hạt đất. Trong khi các cations bị hút bám được tổng hợp hóa học với các hạt đất, chúng có thể bị thay bằng các cation khác có trong dung dịch đất. Phản ứng trong đó một cation trong dung dịch thay một cation bị hút bám được gọi là sự trao đổi cation. Các cation natri, canxi và manhê thường dễ có thể thay đổi. Các cation khác như kali và anmôn, có thể bị giữ lại ở một số vị trí trên hạt của một số loại đất nên chúng đườc thay rất khó và vì vậy, gọi là được cố định.

Sự hút bám cation, là hiện tượng xảy ra trên bề mặt, được nhận dạng chủ yếu với các mảnh đất bột mịn, sét và chất hữu cơ. Nhiều loại khoáng và chất hữu cơ khác nhauxảy ra trong đất có đặc tính trao đổi và toàn bộ được xem như là phức hợp có thể trao đổi. Khả năng của một loại đất để hút bám và trao đổi cation có thể được đo và biểu hiện theo đương lượng hóa học và được gọi là khả năng trao đổi cation. Điều nói trên thường được biểu hiện bằng phần ngàn đương lượng cho mỗi 100 gam đất. Các yếu tố lý học và hóa học khác nhau tương tác để tạo ra trị số đã đo tùy thuộc chừng mực vào phương pháp xác định, nhưng, tuy nhiên, khả năng trao đổi cation là một đặc tính đất chỉ định hợp lý có ý nghiã thực hành rất lớn. Về vụ việc là các cation bị hút bám có thể tự do trao đổi lẫn nhau với các cation kế cận trong dung dịch đất, điếu mong muốn là tỷ lệ cuả các cation khác nhau trên phức hợp có thể trao đổi sẽ có liên quan đến liều lượng của chúng trong dung dịch đất.

Canxi và manhê là các cation chính đã được tìm thấy trong dung dịch đất và trên phức hợp có thể trao đổi của loại đất thường trong vùng khô hạn. Khi muối có thể hòa tan dư thừa tích lũy trong các loại đất trên, natri thường trở thành cation ưu thế trong dung dịch đất. Do đó, natri có thể là cation nổi cộm mà đất là đối tượng, hay nó có thể trở thành ưu thế trong dung dịch đất, do s75 kết tủa của hợp chất canxi và manhê.Vì dung dịch đất trở nên đậm đặc hơn thông qua sự bốc hơi hay sự hấp thu nước của cây trồng, giới hạn hòa tan của calcium sulphate, calcium carbonate, và magnesium carbonate thường là vượt quá mức, trong trường hợp trên chúng bị kết tủa với sự gia tăng tương ứng vối tỷ lệ liên quan của natri. Trong các điều kiện trên, một phần của manhê và canxi có thể trao đổi gốc được thay bằng natri.

Trên quan điểm thực hành, may là các cation canxi và manhê trong dung dịch đất đều bị hút bám mạnh vào phức hợp có thể trao đổi hơn là các cation natri. Với liều lượng dung dịch tương đương, lượng canxi và manhê bị hút bám nhiều lần cao hơn natri. Nói chung, nửa hay hơn cation có thể hòa tan phải là natri trước khi lượng có ý nghiã bị hút bám trên phức hợp trao đổi. Tuy nhiên, một số dung dịch đất mặn, thực tế tất cả các cation đều là natri, và trong các natri trên là cation bị hút bám có ưu thế.

 

CÁC ĐẶC TÍNH CÙA ĐẤT MẶN VÀ ĐẤT KIỀM

Tư “ĐẤT” được sử dụng theo nhiều nghiã của các nhà trồng trọt. Theo một nghiã một loại đất được xem là một mảnh cảnh quan 3-chiều có hình dạng, diện tích và bề sâu. (Soil Survey 1951). Quan điểm về một loại đất như là trắc diện có chiều sâu không cần hính dạng hay diện tích còn là một hình thức sử sụng phỏ biến của từ nói trên. Theo một nghiã khác, thường được sử dụng trong tài liệu này, từ được sử dụng với các mẫu đại diện các lớp hay điểm trong trắc diện đất. Các loại đất mặn và đất kiềm đã được định nghiã và chẩn đoán trên cơ sở việc xác định đã thực hiện trên các mẫu đất, và ý nghiã của thông tin do đó đã thu gom được góp phần lớn vào nền nông nghiệp khoa học. Sự mở rộng và sự hài hòa các định nghiã trên đối với bài toán và mục đích khảo sát đất đai và phân loại đất chưa có cố gắng thực hiện, vì nó dựa vào chứng mực vượt tầm của tài liệu này.

Để làm dễ dàng và nói rõ phần thảo luận, các loại đất có vấn đề đang được xem xét đã được tách riêng thành ba nhóm: đất mặn, đất kiềm -mặn và đất không kiềm.

 

ĐẤT MẶN

Mặn được sử dụng gắn với đất mà tính dẫn điện của chất chiết xuất no hơn 4 mmhos /cm ở 25o C và số phần trăm natri có thể trao đổi nhỏ hơn 15. Thường pH nhỏ hơn 8, 5.. Các loại đất trên tương ứng với Hilgard (1906) “đất kiềm trắng” và "solonchaks" của các nhà khoa học Nga. Khi tiêu nước thích hợp đã được thành lập, các muối có thể hoà tan dư thừa có thể được lấy đi do sự trực di và chúng lại trở thành đất thường.

Đất mặn thường được công nhân vì sự hiện diện của lớp muối trắng trên bề mặt. Độ mặn của đất có thể xảy ra trong các loại đất có tính trạng trắc diện đã phát triển rõ hay vật liệu đất không phân sai như đất phù sa.

Các hóa tính của đất được phân loại như mặn chủ yếu được xác định bởi loại và lượng muối hiện diện. Lượng muối hòa tan hiện diện điều khiển àp lực thẩm thấu của dung dịch đất. Natri hiềm khi gồm có nửa lượng cation có thể hòa tan và vì vậy không bị hút bám với bất kỳ chừng mực có ý nghiã. Lượng tương đối canxi và manhê hiện diện trong dung dịch đất và trên phức hợp trao đổi có thể thay đổi rất lớn. Kali có thể thay đổi và có thể hòa tan thường là các yếu tố cấu tạo vi lượng, nhưng thỉnh thỏng chúng có thể là các yếu tố cấu tạo đa lượng, Các anion chính là chloride, sulphate và thỉng thoảng nitrate. Lượng nhỏ bicarbonate có thể xảy ra, nhưng carbonate có thể hòa tan phần lớn vắng mặt một cách không thay đổi. Bên cạnh các muối có thể hòa tan rõ, đất mặn có thể chứa các muối có độ hòa tan thấp, như calcium sulphate (thạch cao) và canxi và manhê cacbonat (vôi).

Vì sự hiện diện dư thừa muối và sự thiếu lượng có ý nghiã natri có thể trao đổi, đất mặn thường bị kết bông; và như là một hệ quả, tính thấm bằng hay cao hơn tính thấm của đất không mặn tương tự.

 

ĐẤT KIỀM MẶN

Kiềm mặn được sử dụng với các loại đất mà tính dẫn điện của chất chiết xuất no lớn hơn 4 mmhos /cm ở 25o C, và số phần trăm natri có thể trao đổi lớn hơn 15. Các loại đất trên hình thành như là kết quả một quá trình tổng hợp mặn hóa và kiềm hóa. Cùng thời gian với muối dư thừa hiện n, hình dạng và đặc tính của các loại đất trên thường giống như hình dạng và đặc tính của đất mặn. Trong điều kiện muối dư thừa trị số pH ít khi cao hơn 8, 5 và hạt đất vẫn ở tình trạng kết bông. Nếu muối có thể hòa tan dư thừa bị trực di, đặc tính của các loại đất trên có thể thay đổi rõ và trở nên giống như đặc tính của các loại đất không mặn -kiềm. Vì liều lượng muối trong dung dịch đất bị giảm bớt, một số natri có thể trao đổi thủy phân và tạo ra sodium hydroxide, Chất trên có thể thay đổi thành sodium carbonate phản ứng với carbon dioxide bị hấp thu từ lớp khí quyển. Trong bất kỳ biến cố, với sự trực di, đất có thể trở thành kiềm nặng (pH trên 8,5), các hạt đất phân tán, và đất trở nên bất thuận cho nhập và di chuyển của nước và dọn đất. Dù cho sự trở lại của các muối có thể hòa tan có thể làm giảm pH và làm hồi phục các hạt đất đến điều kiện bị kết bông, việc quản trị các loại đất mặn -kiềm tiếp tục là một vấn đề cho đến khi muối dư thừa và natri có thể trao đổi bị lấy đi khỏi vùng rễ và một điều kiện lý tính thuận lợi của đất được xác lập.

Thỉnh thoảng các loại đất mặn -kiềm chứa thạch cao. Khi loài đất trên bị trực di, canxi hòa tan và xảy ra sự thay thế natri có thể trao đổi bằng canxi cùng với sự lấy đi muối dư thừa.

 

ĐẤT KHÔNG MẶN KIỀM

Không mặn -kiềm được sử dụng với các loại đất mà số phần trăm natri có thể trao đổi lớn hơn 15 và tính dẫn điện của chất chiết xuất no nhỏ hơn 4 mmohs /cm ở 25o C, Trị số pH thường thay đổi giữa 8, 5 và 10. Các loại đất trên tương ứng với đất “kiềm đen” của Hilgard và trong một số trường hợp với "Solonetz" vì từ nói sau đã được người Nga sử dụng. Chúng thường xảy ra tại các vùng khô hạn và nửa khô hạn tại các khu vực không đều và nhỷ, thường được tham khảo như là "điểm thú vị”. Trừ khi thạch cao hiện diện trong đất hay trong nước tưới, việc tiêu nước và sự trực di của đất mặn -kiềm dẫn đến sự hình thành đất không mặn -kiềm. Như đã trình bày trong phần thảo luận về đất mặn -kiềm, việc lấy đi các muối dư thừa trong loài đất trên có xu thế làm tăng mức thủy phân của natri có thê trao đổi và thường tạo ra sự gia tăng pH của đất. Các chất hữu cơ hòa tan và phân tán hiện diện trong dung dịch đất của đất kiềm nặng có thm lắng trên mặt đất do sự bốc hơi, do đó tạo ra màu tối và cho tên gọi "kiềm đen".

Nếu thời gian cho phép đủ, đất không mặn -kiềm phát triển các đạc tính hình thái đặc trưng. Vì một phần đất sét no -natri bị phân tán cao, nó có thể được chuyển tải xuống qua đất và tích lũy ở mức thấp.. Như là một kết quả, một vài phân anh của đất mặt có thể là tương đối thô về kết cấu và dễ vỡ, nhưng bên dưới, nơi có đất sét tích tụ, đất có thể phát triển một lớp dày có tính thấm thấp có thể có cấu trúc hình trụ hay hình lăng trụ. Tuy nhiên, thường điều kiện kiềm phát triển trong loại đất trên như là kết quả của việc tưới nước. Trong trường hợp nói trên, thời gian đủ thường không đi qua vì sự phát triển của cấu trúc trụ điển hình, mà vì đất có độ thấm thấp và khó cày bừa.

Natri có thể trao đổi hiện diện trong đất không mặn -kiềm có thể có ảnh hưởng rõ trên các lý tính và hóa tính. Vì tỷ lệ của natri có thể trao đổi tăng lên, đất có xu thế trở thành phân tán hơn.. Trị số pH có thể tăng lên, thỉnh thoảng cao đến 10. Dung dịch của đất không mặn -kiềm, dù cho tương đối thấp về lượng muối có thể hòa tan, có một thành phần khác nhiều so với các loại đất mặn và đất thường. Trong khi anion hiện diện gồm có phần lớn chloride, sulphate, và bicarbonate, lượng nhỏ carbonate thường xảy ra. Với trị số pH cao và với sự hiện diện của ion carbonate, canxi va manhê bị kết tủa; vì vậy dung dịch đất của đất không mặn -kiềm thường chỉ chứa lượng nhỏ các cation trên, natri là cation ưu thế. Lượng lớn kali có thể hòa tan và có thể trao đổi có thể xảy ra trên một số loại đất trên. ảnh hưởng của kali có thể trao đổi dư thừa trên các đặc tính đất chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Các loại đất không mặn -kiềm trong một số vùng miền Tây Hoa Kỳ có số phần trăm natri có thể trao đổi trên 15 rất nhiều, và pH, đặc biệt trên lớp đất mặt, có thể thấp bằng 6. Các loại đất nói trên đã được De Sigmond (1938) trình bày như loại đất kiềm bị xuống cấp. Chúng chỉ xảy ra khi không có vôi, và pH thấp là kết quả của lượng hydro có thể trao đối. Tuy nhiên, lý tính bị chi phối bởi natri có thể trao đổi và điển hình là của loại đất không mặn-kiềm.

RGC 08-03-2007

 

Trở về Trang Chính