|
Các loại đất được khảo sát
trong cuốn sách này có đặc trưng của sự việc là chúng chứa các
liều lượng dư thừa của hoặc là muối có thể hòa tan hay Natri có
thể trao đổi, hay cả hai. Về mục đích nông nghiệp, các loại đất
nói trên được xem như là một lớp học về các loại đất có vấn đề
cần đến các phương pháp sửa đổi và sử dụng đặc biệt. Muối có thể
hòa tan ảnh hưởng có hại cho cây trồng bằng cách làm tăng hàm
lượng muối trong dung dịch đất và làm tăng mức bào hòa của các
vật liệu trao đổi trong đất với natri có thể trao đổi. ảnh hưởng
của natri có thể trao đổi xảy ra khi yếu tố cấu thành có thể hòa
tan gồm có phần lớn muối natri và có bản chất thường xuyên hơn
so với hàm lượng muối của dung dịch đất, vì natri có thể trao
đổi thường bền vững sau khi các muối hòa tan bị lấy đi.
Khi thảo luận về các loại
đất có vấn đề nói trên thích hợp là việc sử dụng các từ đặc biệt
liên quan đến hai nguyên nhân chính của vấn đề. “Đất mặn” như đã
được sử dụng trong sách này, liên quan đến một loại đất chứa
lượng muối hòa tan đủ để không thích hợp với sản lượng của nó.
Tương tự, đất kiềm có thể định nghiã theo từ về sản lượng như bị
ảnh hưởng của natri có thể trao đổi. Phù hợp với phương pháp sử
dụng trên, đất kiềm có thể hay không thể chứa muối hòa tan dư
thừa. Hẳn là vấn đề phổ biến nhất liên quan đến loại đất chứa
một lượng dư thừa các muối hòa tan và natri có thể trao đổi, và
phù hợp với sự định danh của De Sigmond (1938), các loại đất
trên sẽ được tham khảo như là đất mặn -kiềm.
Hàm lượng muối trong đất
trên đó sự phát triển của cây trồng bị ảnh hưởng tùy thuộc vào
nhiều yếu tố, trong số có cấu trúc của đất, sự phân bố muối
trong trắc diện, thành phần của muối và loài cây trồng. Kearney
và Scofield (1936), khi bàn cãi về sự lựa chọn cây trồng cho đất
mặn đã khảo sát là cây trồng bắt đầu bị ảnh hưởng ngược vì hàm
lượng muối trong đất vượt quá 0,1%. De Sigmond (1938) nhất trí
với giới hạn nói trên. Trong báo cáo của Ban quản trị kế hoạch
tài nguyên quốc gia Hoa Kỳ (1942, pp 263-334), liên quan đến
nghiên cứu sông Pecos, Scofield đã xem một loại đất như là đất
mặn khi dung dịch lấy ra từ một kem đất bảo hòa có trị số dẫn
điện là 4 mmohs /cm hay hơn. Độ dẫn điện của chất chiết xuất bảo
hòa được Phòng thí nghiệm Đất mặn tổng hợp chấp nhận vì thang
chọn cho việc sử dụng tổng hợp trong việc định giá độ mặn của
đất.. Đoàn khảo sát đất đai (1951) của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ hiện
nay sử dụng hoặc là phương pháp trên hay phương pháp trước kia
dưạ trên cơ sở điện trở của mẫu kem đất, việc đọc điện trở được
quy đổi thành số phần trăm trọng lượng khô của muối hòa tan
trong đất.
Quyết định liên quan đến
lượng natri có thể trao đổi trong đất tạo ra một mức dư thừa độ
bảo hòa trở thành phức hợp vì sự kiện là không có thay đổi rõ
nét về các đặc tính của đất vì mức bảo hòa có natri có thể trao
đổi được tăng lên. Trong quá khứ, một số phần trăm natri có thể
trao đổi là 15 đã được sử dụng tại Phòng Thí nghiệm như là giới
hạn ranh giới giữa cacự loại đất kiềm và đất không kiềm. Các số
liệu không đầy đủ và kinh nghiệm có thể sử dụng để xác minh một
thay đổi, nhưng giới hạn trên phải được xem là chừng mực trọng
tài và thử. Thí dụ, trong một số trường hợp 2 hay 3 phần ngàn
đương lượng của natri có thể trao đổi trong 100g đất có tính hữu
dụng bằng nhau hay đồng đều như là một giới hạn tới hạn.
Trong quá khứ không chắc
chắn có sự liên quan đến ảnh hưởng của kali có thể trao đổi trên
đặc tính lý học của đất và nếu, như De Sigmond (1928) và
Magistad (1945) đã đề xuất ý kiến, natri và kali có thể trao đổi
phải được xem như là bổ sung trong việc định nghiã đất kiềm. Đã
khảo sát được trong nhiều trường hợp là đất kiềm giàu kali có
thể trao đổi có lý tính tốt hơn và có thể cải tạo dễ hơn so với
các loại đất kiềm khác có chứa lượng tương tự natri có thể trao
đổi nhưng lượng thấp kali có thể trao đổi. Quan điểm là kali có
thể trao đổi chỉ có ảnh hưởng ngược nhẹ hay không có trên lý
tính của đất đai được hỗ trợ bởi các số đo đạc vừa qua tại Phòng
Thí nghiệm trên các mẫu của 7 loại đất đã chỉnh theo các mức
khác nhau của natri có thể trao đổi và kali có thể trao đổi.
(Hình 1).(Trang 2).
Tỷ lệ thấm nước/không khí
là một phương pháp đo chừng mực theo đó cấu trúc đất xấu đi khi
có nước, một tỷ lệ cao cho thấy một mức cao hủy hoại. Số liệu về
hai loại đất không được trình bày trên biểu đồ, cho thấy ảnh
hưởng của số phần trăm kali có thể trao đổi vì chúng gần trùng
hợp với đường cong thấp hơn. Nói chung, sự gia tăng về tỷ lệ
cùng với gia tăng natri có thể trao đổi trực tiếp liên quan đến
tổng số tổng diện tích đất đặc biệt.
Việc cải tạo đất được tiến
hành với các phương pháp đánh giá tính nhiễm và tình trạng đất
về mặt ảnh hưởng có hại của natri có thể trao đổi. Vì các lý do
trên, cả hai giới hạn định danh và phân loại phải được xem như
là một giai đoạn chuyển tiếp.
NGUỒN GỐC CỦA CÁC MUỐI HÒA
TAN
Các muối có thể hòa tan
xảy ra trong đất phần lớn gồm có các tỷ lệ khác nhau vể cation
natri, canxi và kali, và các anion chloride và sulphate. Các yếu
tố cấu thành thường chỉ xảy ra với lượng nhỏ là cation kali và
anion bicarbonate, carbonate và nitrate. Gốc và, theo chừng mực,
nguồn trực tiếp của tất cả các yếu tố cấu tạo muối các khoáng
chất cơ bản đã được tìm thấy trong đất và trong đá lộ thiên của
vỏ quả đất. Clarke (1924) đã ước tính là hàm lượng trung bình
của chlorine và sulfur trong vỏ quả đất là 0, 05 và 0,06%, tương
ứng, trong khi, natri, canxi và manhê mỗi chất với chừng mực 2
hay 3%. Trong quá trình phong hoá, gồm có sự thủy phân, sự hydro
hóa, sự hòa tan, sự oxy hóa và sự carbonate hóa, các yếu tố cấu
tạo trên được thả ra dần và làm hòa tan.
Dạng ion bicarbonate là
một kết quả của sự hòa tan carbon dioxide trong nước. Carbon
dioxide có thể phát sinh từ lớp khí quyển hay nguờn gốc sinh
học. Nước có chứa carbon dioxide là một tác nhân hóa phân tầng
đặc biệt tích cực phóng thích lượng lớn các yếu tố cấu tạo
cation như là bicarbonate. Các ion carbonate và bicarbonate có
tương quan với nhau. Lượng liên quan của mỗi chất hiện hữu là
một chức năng của pH trong dung dịch. Lượng lớn các ion
bicarbonate có thể chỉ hiện hữu với các trị số pH 9, 5 hay cao
hơn.
Trong khi các yếu tố cấu
tạo muối nói trên quan trọng nhất trong đất mặn, có các nơi, như
một phần bang Colorado, Utah và Washington, ở đó liều lượng cao
nitrate đã được tìm thấy. Các thuyết khác nhau (Kelly 1951) đã
được đề xuất để giải trình nguồn gốc của các muối nitrate dư
thừa trong đất. Chất Bo, do tính độc rõ đối với cây trồng khi
hiện hữu với liều lượng thấp, cũng đã được trình bày (Eaton và
Wilcox, 1939). Nguồn chính của yếu tố trên là khoáng tuamalin,
khá phổ biến nhưng là yếu tố cấu tạo nhỏ của nham thạch gốc.
Dù cho sự phong hóa các
khoáng cơ bản là nguồn gián tiếp của hầu hết các muối có thể hòa
tan, hẳn có một số ít trường hợp trong đó lượng muối đủ đã tích
tụ tại nơi từ đó chỉ nguồn nói trên tạo ra một loại đất mặn. Đất
mặn thường xảy ra trong các khu vực nhận muối từ các điạ điểm
khác, và nước là một thể mang cơ bản. Đại dương có thể là nguồn
muối vì trong đất vật liệu mẹ gồm có trầm tích biển lắng tụ
trong thời kỳ điạ chất sớm hơn và từ đó đã được nâng lên. Loại
đá phiến tại Colorado, Wyoming và Utah là các thí dụ điển hình
của trầm tích biển mặn. Đại dương còn là nguồn nguồn muối trên
đất thấp dọc theo duyên hải. Thỉnh thoảng muối được di chuyển
vào trong đất liền thông qua sự chuyển tải bằng gió và được gọi
là muối theo chu kỳ (Teakle, 1937). Tuy nhiên, phổ biến hơn,
nguồn muối trực tiếp là nước mặt và nước ngầm. Tất cả các loại
nước trên chứa muối đã hòa tan, liều lượng tùy thuộc vào hàm
lượng muối trong đất và vật liệu địa chất mà nước đã tiếp cận.
Nước có tác dụng như là nguồn muối khi được sử dụng để tưới.
Nước còn có thể thêm muối vào đất trong điều kiện tự nhiên, hay
khi nước tràn ngập vùng đất thấp hay khi nước ngầm dâng cao gần
mặt đất.
SỰ MẶN HÓA ĐẤT ĐAI
Đất mặn xảy ra trong phần
lớn càc vùng có thời tiết khô và nửa khô. Trong điều kiện ẩm,
muối có thể hòa tan hiện dikện ngay từ đầu. Trong vật liệu thổ
nhưỡng và vật liệu được tạo ra bởi sự phong hóa khoáng chất
thường được mang xuống nước ngầm và cuối cùng được chuyển tải
qua các sông suối đến đại dương. Vì vậy, đất mặn về thực hành
không hiện hữu tại vùng ẩm ướt trừ khi đất đã là đối tượng của
nước biển trong tam giác châu sông và các đất thấp khác gần
biển. Trong các vùng khô, sự trực di và sự chuyển tải các muối
có thể hòa tan ra biển không trọn vẹn như tại vùng ẩm ướt. Sự
trực di thường là cục bộ về bản chất và các muối có thể hòa tan
có thể không bị chuyển tải đi xa. Điều nói trên xảy ra không chỉ
vì thiếu vũ lượng để trực di và chuyển tải muối mà còn vì tỷ lệ
bốc hơi cao đặc trưng của thời tiết khô, có xu thế tập trung các
muối trong đất và trong nước mặt.
Sự tiêu nước bị giới hạn
là một yếu tố thường góp phần vào sự mặn hóa đất và có thể liên
quan đến sự hiện diện của mực nước ngầm cao hay độ thẩm thấu
trong đất thấp. Mực nước ngầm cao thường có liên quan đến điạ
hình, Do vũ lượng thấp trong vùng khô hạn, đường tiêu nước mặt
có thể được phát triển kém. Như là một hệ quả, có các bể tiêu
nước không có đầu ra cho các dòng chảy thường xuyên. Việc tiêu
nước có muối khỏi đất cao trong lưu vực có thể nâng cao mực nước
ngầm lên mặt đất, có thể tạo ra lụt lôi tạm, hay có thể tạo
thành hồ có muối thường xuyên. Trong điều kiện như trên,, di
chuyển lên trên nước ngầm mặn hay bốc hơi nước mặt tạo ra đất
mặn. Do đó, chừng mực vùng đất mặn đã hình thành có thể thay đổi
từ một vài mẫu anh đến hàng trăm dặm vuông. Nhiều loại đất mặn
tại Anh quốc đã được hình thành theo phương pháp nói trên. Các
vùng tương tự xảy ra trên khắp các bang miền Tây. Chúng thường
được xem như là các hồ khô.
Tính thẩm thấu thấp của
đất làm cho việc tiêu nước kém do việc ngăn cản sự trực di của
nước. Tinh thẩm thấu kém có thể là kết quả của một cấu trúc đất
bất thuận hay kết cấu hay sự hiện diện của các lớp đất cứng. Lớp
đất cứng có thể gồm có một tầng đất cái, một lớp calic hay một
nền cứng cát. De Sigmond (1924) đã xem sự hiện diện của một lớp
đất không thấm nước càn thiết cho sự tạo thành đất mặn đã được
tìm thấy tại Hungari.
Bài toán về độ mặn quan
trọng kinh tế chính đặt ra khi đất không mặn trước trở nên mặn
do việc tưới nước. Loại đất trên thường nằm ở trong các thung
lũng gần sông suối, và, vì trường hợp có thể được tưới nước vùng
đất cao hơn thường được chọn để trồng trọt. Trong khi các loại
đất trên có thể được tiêu nước tốt và không mặn trong điều kiện
tự nhiên, việc tiêu nước có thể không thích hợp cho việc tưới
nước. Khi muốn tưới nước cho đất mới nông dân thường thất bại
trong việc nhìn nhận yêu cầu để xác lập tiêu nước nhân tạo khi
muốn sử dụng nước bổ sung hay các muới có thể hòa tan.. Như là
một kết quả, mực nước ngầm có thể dâng cao từ một chiều sâu rất
lớn đến một số ít bộ anh trên mặt đất trong một số năm. Trong
thời kỳ phát triển đầu của các dự án tưới tiêu, nước thường đầy
đủ và có một xu thế sử dụng nước quá mức Điều nói trên d8ẩy
nhanh sự nâng cao mực nước ngầm. Nước được sử dụng để tưới có
thể chứa từ 0, 1 đến nhiều bằng 5 tấn muốicho mỗi mẫu-bộ anh
nước, và việc sử dụng nước hàng năm có thể lên đến 5 bộ anh hay
hơn. Do đó, lượng rất lớn muối có thể hòa tan có thể được bổ
sung vào đất có tưới trong thời gian tương đối ngắn. Khi mức
nước ngầm cao lên trong khoảng 5-6 bộ anh trên mặt đất, nướcngầm
di chuyển lên phiá trên vào vùng hoạt động của rễ và lên trên
mặt đất. Trong điều kiện như trên, nước ngầm, cũng như nước
tưới, góp phần vào việc mặn hóa đất.
SỰ KIỀM HÓA HAY SỰ TÍCH
LŨY CÁC NATRI CÓ THỂ TRAO ĐỔI TRONG ĐẤT
Các hạt đất hút bám và giữ
cation trên bề mặt. Sự hút bám cation xày ra như là một hệ quả
của tích điện trên bề mặt của các hạt đất. Trong khi các cations
bị hút bám được tổng hợp hóa học với các hạt đất, chúng có thể
bị thay bằng các cation khác có trong dung dịch đất. Phản ứng
trong đó một cation trong dung dịch thay một cation bị hút bám
được gọi là sự trao đổi cation. Các cation natri, canxi và manhê
thường dễ có thể thay đổi. Các cation khác như kali và anmôn, có
thể bị giữ lại ở một số vị trí trên hạt của một số loại đất nên
chúng đườc thay rất khó và vì vậy, gọi là được cố định.
Sự hút bám cation, là hiện
tượng xảy ra trên bề mặt, được nhận dạng chủ yếu với các mảnh
đất bột mịn, sét và chất hữu cơ. Nhiều loại khoáng và chất hữu
cơ khác nhauxảy ra trong đất có đặc tính trao đổi và toàn bộ
được xem như là phức hợp có thể trao đổi. Khả năng của một loại
đất để hút bám và trao đổi cation có thể được đo và biểu hiện
theo đương lượng hóa học và được gọi là khả năng trao đổi
cation. Điều nói trên thường được biểu hiện bằng phần ngàn đương
lượng cho mỗi 100 gam đất. Các yếu tố lý học và hóa học khác
nhau tương tác để tạo ra trị số đã đo tùy thuộc chừng mực vào
phương pháp xác định, nhưng, tuy nhiên, khả năng trao đổi cation
là một đặc
tính đất chỉ định hợp lý có ý nghiã thực hành rất lớn. Về
vụ việc là các cation bị hút bám có thể tự do trao đổi lẫn nhau
với các cation kế cận trong dung dịch đất, điếu mong muốn là tỷ
lệ cuả các cation khác nhau trên phức hợp có thể trao đổi sẽ có
liên quan đến liều lượng của chúng trong dung dịch đất.
Canxi và manhê là các
cation chính đã được tìm thấy trong dung dịch đất và trên phức
hợp có thể trao đổi của loại đất thường trong vùng khô hạn. Khi
muối có thể hòa tan dư thừa tích lũy trong các loại đất trên,
natri thường trở thành cation ưu thế trong dung dịch đất. Do đó,
natri có thể là cation nổi cộm mà đất là đối tượng, hay nó có
thể trở thành ưu thế trong dung dịch đất, do s75 kết tủa của hợp
chất canxi và manhê.Vì dung dịch đất trở nên đậm đặc hơn thông
qua sự bốc hơi hay sự hấp thu nước của cây trồng, giới hạn hòa
tan của calcium sulphate, calcium carbonate, và magnesium
carbonate thường là vượt quá mức, trong trường hợp trên chúng bị
kết tủa với sự gia tăng tương ứng vối tỷ lệ liên quan của natri.
Trong các điều kiện trên, một phần của manhê và canxi có thể
trao đổi gốc được thay bằng natri.
Trên quan điểm thực hành,
may là các cation canxi và manhê trong dung dịch đất đều bị hút
bám mạnh vào phức hợp có thể trao đổi hơn là các cation natri.
Với liều lượng dung dịch tương đương, lượng canxi và manhê bị
hút bám nhiều lần cao hơn natri. Nói chung, nửa hay hơn cation
có thể hòa tan phải là natri trước khi lượng có ý nghiã bị hút
bám trên phức hợp trao đổi. Tuy nhiên, một số dung dịch đất mặn,
thực tế tất cả các cation đều là natri, và trong các natri trên
là cation bị hút bám có ưu thế.
CÁC ĐẶC TÍNH CÙA ĐẤT MẶN
VÀ ĐẤT KIỀM
Tư “ĐẤT” được sử dụng theo
nhiều nghiã của các nhà trồng trọt. Theo một nghiã một loại đất
được xem là một mảnh cảnh quan 3-chiều có hình dạng, diện tích
và bề sâu. (Soil Survey 1951). Quan điểm về một loại đất như là
trắc diện có chiều sâu không cần hính dạng hay diện tích còn là
một hình thức sử sụng phỏ biến của từ nói trên. Theo một nghiã
khác, thường được sử dụng trong tài liệu này, từ được sử dụng
với các mẫu đại diện các lớp hay điểm trong trắc diện đất. Các
loại đất mặn và đất kiềm đã được định nghiã và chẩn đoán trên cơ
sở việc xác định đã thực hiện trên các mẫu đất, và ý nghiã của
thông tin do đó đã thu gom được góp phần lớn vào nền nông nghiệp
khoa học. Sự mở rộng và sự hài hòa các định nghiã trên đối với
bài toán và mục đích khảo sát đất đai và phân loại đất chưa có
cố gắng thực hiện, vì nó dựa vào chứng mực vượt tầm của tài liệu
này.
Để làm dễ dàng và nói rõ
phần thảo luận, các loại đất có vấn đề đang được xem xét đã được
tách riêng thành ba nhóm: đất mặn, đất kiềm -mặn và đất không
kiềm.
ĐẤT MẶN
Mặn được sử dụng gắn với
đất mà tính dẫn điện của chất chiết xuất no hơn 4 mmhos /cm ở
25o C và số phần trăm natri có thể trao đổi nhỏ hơn 15. Thường
pH nhỏ hơn 8, 5.. Các loại đất trên tương ứng với Hilgard (1906)
“đất kiềm trắng” và "solonchaks" của các nhà khoa học Nga. Khi
tiêu nước thích hợp đã được thành lập, các muối có thể hoà tan
dư thừa có thể được lấy đi do sự trực di và chúng lại trở thành
đất thường.
Đất mặn thường được công
nhân vì sự hiện diện của lớp muối trắng trên bề mặt. Độ mặn của
đất có thể xảy ra trong các loại đất có tính trạng trắc diện đã
phát triển rõ hay vật liệu đất không phân sai như đất phù sa.
Các hóa tính của đất được
phân loại như mặn chủ yếu được xác định bởi loại và lượng muối
hiện diện. Lượng muối hòa tan hiện diện điều khiển àp lực thẩm
thấu của dung dịch đất. Natri hiềm khi gồm có nửa lượng cation
có thể hòa tan và vì vậy không bị hút bám với bất kỳ chừng mực
có ý nghiã. Lượng tương đối canxi và manhê hiện diện trong dung
dịch đất và trên phức hợp trao đổi có thể thay đổi rất lớn. Kali
có thể thay đổi và có thể hòa tan thường là các yếu tố cấu tạo
vi lượng, nhưng thỉnh thỏng chúng có thể là các yếu tố cấu tạo
đa lượng, Các anion chính là chloride, sulphate và thỉng thoảng
nitrate. Lượng nhỏ bicarbonate có thể xảy ra, nhưng carbonate có
thể hòa tan phần lớn vắng mặt một cách không thay đổi. Bên cạnh
các muối có thể hòa tan rõ, đất mặn có thể chứa các muối có độ
hòa tan thấp, như calcium sulphate (thạch cao) và canxi và manhê
cacbonat (vôi).
Vì sự hiện diện dư thừa
muối và sự thiếu lượng có ý nghiã natri có thể trao đổi, đất mặn
thường bị kết bông; và như là một hệ quả, tính thấm bằng hay cao
hơn tính thấm của đất không mặn tương tự.
ĐẤT KIỀM MẶN
Kiềm mặn được sử dụng với
các loại đất mà tính dẫn điện của chất chiết xuất no lớn hơn 4
mmhos /cm ở 25o C, và số phần trăm natri có thể trao
đổi lớn hơn 15. Các loại đất trên hình thành như là kết quả một
quá trình tổng hợp mặn hóa và kiềm hóa. Cùng thời gian với muối
dư thừa hiện n, hình dạng và đặc tính của các loại đất trên
thường giống như hình dạng và đặc tính của đất mặn. Trong điều
kiện muối dư thừa trị số pH ít khi cao hơn 8, 5 và hạt đất vẫn ở
tình trạng kết bông. Nếu muối có thể hòa tan dư thừa bị trực di,
đặc tính của các loại đất trên có thể thay đổi rõ và trở nên
giống như đặc tính của các loại đất không mặn -kiềm. Vì liều
lượng muối trong dung dịch đất bị giảm bớt, một số natri có thể
trao đổi thủy phân và tạo ra sodium hydroxide, Chất trên có thể
thay đổi thành sodium carbonate phản ứng với carbon dioxide bị
hấp thu từ lớp khí quyển. Trong bất kỳ biến cố, với sự trực di,
đất có thể trở thành kiềm nặng (pH trên 8,5), các hạt đất phân
tán, và đất trở nên bất thuận cho nhập và di chuyển của nước và
dọn đất. Dù cho sự trở lại của các muối có thể hòa tan có thể
làm giảm pH và làm hồi phục các hạt đất đến điều kiện bị kết
bông, việc quản trị các loại đất mặn -kiềm tiếp tục là một vấn
đề cho đến khi muối dư thừa và natri có thể trao đổi bị lấy đi
khỏi vùng rễ và một điều kiện lý tính thuận lợi của đất được xác
lập.
Thỉnh thoảng các loại đất
mặn -kiềm chứa thạch cao. Khi loài đất trên bị trực di, canxi
hòa tan và xảy ra sự thay thế natri có thể trao đổi bằng canxi
cùng với sự lấy đi muối dư thừa.
ĐẤT KHÔNG MẶN KIỀM
Không mặn -kiềm được sử
dụng với các loại đất mà số phần trăm natri có thể trao đổi lớn
hơn 15 và tính dẫn điện của chất chiết xuất no nhỏ hơn 4 mmohs
/cm ở 25o C, Trị số pH thường thay đổi giữa 8, 5 và
10. Các loại đất trên tương ứng với đất “kiềm đen” của Hilgard
và trong một số trường hợp với "Solonetz" vì từ nói sau đã được
người Nga sử dụng. Chúng thường xảy ra tại các vùng khô hạn và
nửa khô hạn tại các khu vực không đều và nhỷ, thường được tham
khảo như là "điểm thú vị”. Trừ khi thạch cao hiện diện trong đất
hay trong nước tưới, việc tiêu nước và sự trực di của đất mặn
-kiềm dẫn đến sự hình thành đất không mặn -kiềm. Như đã trình
bày trong phần thảo luận về đất mặn -kiềm, việc lấy đi các muối
dư thừa trong loài đất trên có xu thế làm tăng mức thủy phân của
natri có thê trao đổi và thường tạo ra sự gia tăng pH của đất.
Các chất hữu cơ hòa tan và phân tán hiện diện trong dung dịch
đất của đất kiềm nặng có thm lắng trên mặt đất do sự bốc hơi, do
đó tạo ra màu tối và cho tên gọi "kiềm đen".
Nếu thời gian cho phép đủ,
đất không mặn -kiềm phát triển các đạc tính hình thái đặc trưng.
Vì một phần đất sét no -natri bị phân tán cao, nó có thể được
chuyển tải xuống qua đất và tích lũy ở mức thấp.. Như là một kết
quả, một vài phân anh của đất mặt có thể là tương đối thô về kết
cấu và dễ vỡ, nhưng bên dưới, nơi có đất sét tích tụ, đất có thể
phát triển một lớp dày có tính thấm thấp có thể có cấu trúc hình
trụ hay hình lăng trụ. Tuy nhiên, thường điều kiện kiềm phát
triển trong loại đất trên như là kết quả của việc tưới nước.
Trong trường hợp nói trên, thời gian đủ thường không đi qua vì
sự phát triển của cấu trúc trụ điển hình, mà vì đất có độ thấm
thấp và khó cày bừa.
Natri có thể trao đổi hiện
diện trong đất không mặn -kiềm có thể có ảnh hưởng rõ trên các
lý tính và hóa tính. Vì tỷ lệ của natri có thể trao đổi tăng
lên, đất có xu thế trở thành phân tán hơn.. Trị số pH có thể
tăng lên, thỉnh thoảng cao đến 10. Dung dịch của đất không mặn
-kiềm, dù cho tương đối thấp về lượng muối có thể hòa tan, có
một thành phần khác nhiều so với các loại đất mặn và đất thường.
Trong khi anion hiện diện gồm có phần lớn chloride, sulphate, và
bicarbonate, lượng nhỏ carbonate thường xảy ra. Với trị số pH
cao và với sự hiện diện của ion carbonate, canxi va manhê bị kết
tủa; vì vậy dung dịch đất của đất không mặn -kiềm thường chỉ
chứa lượng nhỏ các cation trên, natri là cation ưu thế. Lượng
lớn kali có thể hòa tan và có thể trao đổi có thể xảy ra trên
một số loại đất trên. ảnh hưởng của kali có thể trao đổi dư thừa
trên các đặc tính đất chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Các loại đất không mặn
-kiềm trong một số vùng miền Tây Hoa Kỳ có số phần trăm natri có
thể trao đổi trên 15 rất nhiều, và pH, đặc biệt trên lớp đất
mặt, có thể thấp bằng 6. Các loại đất nói trên đã được De
Sigmond (1938) trình bày như loại đất kiềm bị xuống cấp. Chúng
chỉ xảy ra khi không có vôi, và pH thấp là kết quả của lượng
hydro có thể trao đối. Tuy nhiên, lý tính bị chi phối bởi natri
có thể trao đổi và điển hình là của loại đất không mặn-kiềm.
RGC 08-03-2007
Trở về Trang Chính
|