Cá voi xám


Chu Hữu Tín

22 tháng 12 năm 2005

 


Trong số 25 loài động vật có vú sống ở ngoài khơi của Đảo Sakhalin là 11 loài có nguy cơ tuyệt chủng gồm có cá voi xám có nguy cơ nhiều hơn cả, cá voi xám Tây Thái Bình Dương. Cá voi xám nằm trong danh sách những loài có nguy cơ tuỵệt chủng của Hoa Kỳ và Nga, đã được công nhận như có nguy cơ tuyệt chủng bởi Liên Hiệp Quốc Tế Bảo Tồn Thiên Nhiên (IUCN). Chứng cứ khoa học mới gợi ý là dưới 100 cá thể, và có thể ít hơn 20 cá cái sinh sản có thể mang cá con còn lại. Sakhalin II có thể đã làm hư hỏng môi trường biển với việc lắp đặt nền móng đầu tiên của nó, Milikpaq. Những nhà nghiên cứu đã quan sát lắng tụ trầm tích có ý nghĩa trong miền ăn mồi của cá voi, có thể việc làm ít đi sinh vật đáy và cá voi có thể tin cậy. Điều này có thể đã phối hợp tích tụ với động đất và những va chạm khác tin bởi những nhà khoa học đã góp phần vào việc làm hao tổn nhiều cá voi Tây Thái Bình Dương đã được quan sát bởi những nhà khoa học trong những năm sau Sakhalin II bắt đầu hoạt động khai thác.


Điều kiện của cá voi xám ốm yếu, hoặc gầy còm là mối bận tâm nhiều nhất với những nhà khoa học tập trung vào loài này, ai nói cá voi sẽ cần thu hồi dự trữ mỡ trong khi di trú đông và cho cá com bú sữa. Tỷ lệ sinh của cá voi xám Tây Thái Bình Dương vượt quá tỷ lệ tử vong chỉ khoảng 1%, có ngiã là sự va chạm âm cộng từ Sakhalin II tạo rủi ro đẩy loài này trên bờ vực tuyệt chủng.
Liên quan đe dọa từ Sakhalin II với cá voi xám Tây Thái Bình Dương, Ủy ban Khoa học của Ủy hội nuôi cá voi Quốc tế (IWC) ghi chép "Đây là vấn đề bức xúc tuyệt đối (nhấn mạnh được duy trì)… để làm giảm bớt những kiểu khuấy động nguồn gốc loài người khác nhau ở chừng mực thấp nhất có thể thực hiện". Những viện sĩ Nga và chuyên gia hình tượng M. E.  Vinogradov đã nói, "Không có việc tạo ra những biện pháp đặc biệt trong việc bảo tồn cá voi xám, tính thường xuyên của dự án "Sakhalin II" có thể đưa đến sự tuyệt chủng của quần thể độc nhất này." Hội thảo IWC mới nhất về cá voi xám miền Tây được tổ chức tại Triều Tiên tháng 10-2002. Brownell ghi chép là va tích tụ trên cá voi từ tiếp xúc có lập lại và dài hơi với hoạt động dầu và khí đáng quan tâm, đặc biệt liên quan việc xê dịch từ nơi ở ưa thích, với hậu quả của thời gian và chất lượng cỏ, điều này được quan tâm đặc biệt liên quan cá voi gầy yếu." Hội thảo còn công nhận là  "Sakhalin vẫn là nền cỏ đã biết độc nhất đối với quần thể này, và là có hoặc không lộ trình di trú và vị trí của nền cỏ cho việc nuôi cá voi con là điều thấy rõ.

 


Kế hoạch cá voi không hoàn thiện:
Năm 1997, OPIC, EBRD và JEXIM yêu cầu Sakhalin II công nhận một kế hoạch bảo tồn nơi ở cho cá voi xám Tây Thái Bình Dương trong giai đoạn đầu của dự án phát triển. Tuy nhiên, thay vì Shell và những nhà bảo trợ khác tạo ra cho những người cho vay một kế hoạch Bảo tồn Cá voi xám miền Tây không dủ tính chất hợp pháp và khoa học, chỉ được duyệt thuận bởi chủ nợ cho đến tháng 12, 2001, bốn năm sau khi duyệt dự án và hai năm sau sản xuất dầu bắt đầu. Shell và những nhà bảo trợ khác sau đó từ chối kế hoạch khỏi quần chúng cho đến tháng 3, 2002. Theo chuyên gia, đầu vào đệ trình bởi hai mươi lăm NGOs không lệ thuộc thiếu sự tín nhiệm khoa học do:
. Việc từ chối của người bảo trợ dự án trong việc xem xét kế hoạc dự thảo theo ý kiến quần chúng trước khi duyệt thuận bởi OPIC, EBRD và JEXIM và từ chối của công ty tiết lộ những ý kiến chống lại đệ trình kế hoạch dự thảo của những chuyên gia động vật biển có vú.
. Thiếu xem lại khoa học không lệ thuộc và tiếp cận của quần chúng tới những dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
. Việc trình bày không chính xác những dữ liệu khoa học như là một kết quả áp lực tài chính bởi người bảo trợ dự án trên những nhà khoa học liên quan khảo nghiệm cá voi.
. Thiếu thông tin về làm giảm nhẹ những hiệu  ứng nghịch.
. Thiếu xem lại tiềm năng và có thể va chạm cá voi xám từ việc phát triển giai đoạn hai của Sakhalin II và va chạm tích tụ của phát triển dầu khác trong miền.
. Thiếu xem lại va chạm trên dự trữ cá voi đề nghị trong miền.

 

Vi phạm của Luật nước chủ:
NGOs của Nga đã thu thập tài liệu tố tụng về môi trường chống lại chính phủ Nga tạm dừng lại bất kỳ công trình xây dựng hoặc phát triển công nghệ trong miền nơi ở xác định của cá voi xám, được gọi là Công ty Đầu tư Năng lượng Sakhalin Ltd. như một bên thứ ba bị kiện. Luật của Nga rõ ràng ngăn cấm gây hại nơi ở của Loài (ghi có nguy cơ tuyệt chủng) Sách Đỏ. Đồng thời, tử vong hàng loạt cá trích và suy giảm đột ngột quần thể cá tuyết vàng liên kết một cách tiềm tàng với dự án đưa những người dân địa phương đến đòi hỏi thường xuyên thông tin từ OPIC, EBRD và JEXIM trong những chiến dịch hiện hành của Sakhalin II. Mặc dù hưa nhiều lần bởi nhà bảo trợ dự án về việc tư vấn hiện hành và tiếp cận thông tin, NGOs bị buộc thu thập tài liệu tố tụng chống lại chính phủ Nga và những nhà bảo trợ dự án để có những thông tin quan tâm chung về dự án này do việc công ty thiếu phổ biến thông tin hoặc làm việc hợp tác với người dân địa phương quan tâm. Cũng phải lưu ý là trong giai đoạn đầu của dự án Sakhalin II, việc hoạt hóa tài chính bởi OPIC, EBRD và JEXIM bị hoãn lại gần một năm do không thành công trong việc thích ứng với luật pháp môi trường Nga vào thời điểm chờ duỵệt thuận của những trường viện này.

 

Việc thả rác ra biển:
Shell và những nhà bảo trợ khác không thành công trong việc giải quyết những vấn đề môi trường theo một phương pháp thỏa đáng khi họ quyết định đổ chất thải do sản xuất và đào từ Sakhalin II trực tiếp ra biển. Mặc dù sự việc là những luật môi trường Nga ngăn cấm phương pháp thực hành này, và là công nghệ cao  tránh điều này là có thể sử dụng với những nhà bảo trợ dự án, phương pháp hạ cấp này về việc đổ rác xuống biển bị loại một cách hợp pháp bởi Thỏa hiệp Chia sẻ Sản xuất của dự án, nhượng bộ quá mức luật Nga về ưu thế môi trường. Shell và những nhà bảo trợ dự án khác đã là những đối tượng phê phán quốc tế mãnh liệt cho phương pháp thực hành này chưa được thống nhất hoàn toàn tiêm lại những rác do việc khoan giếng.

 

Mỉa mai tràn lan dầu
Trong lúc đó, Shell đã thực hiện ít điều để đảm bảo ngăn ngừa tràn lan dầu và hệ thống phản ứng đáp ứng những tiêu chuẩn của Mỹ hoặc quốc tế. Những chuyên gia độc lập từ Alaska và Shetland Islands đã phổ biến một báo cáo năm 1999- gọi là “Dầu Sakhalin: Thực hiện nó đúng”- cảnh báo là việc ngăn cản tràn lan dầu hiện nay và những biện pháp phản ứng để lại ven bờ Sakhalin và Hokkaido không được bảo vệ lan tràn thê thảm. Báo cáo đã khuyến cáo 78 biện pháp đặc biệt- gồm có những khuyến cáo cơ bản như lộ trình bắt buộc cho tàu chở dầu, theo dõi tăng lên giao thông tàu chở dầu, thông báo đến những tàu đánh cá nếu một tàu chở dầu ở trong và trang thiết bị phản ứng tràn lan dầu gia tăng và phương pháp tiếp cận cải tiến ở ven bờ nơi có thể được triển khai- nhưng phần lớn tất cả những điều này không được hành động bởi Shell và nhà bảo trợ dự án.
Như là một kết quả, Sakhalin và Hokkaido vẫn không được bảo vệ chống lại sự lan tràn dầu thê thảm, làm cho dễ dàng nhiều hơn giao thông tàu chở dầu tăng lên đã thấy ở giai đoạn II của dự án. Khi bài báo của The Wall Street Jourrnal chỉ dáu, “Phản ứng tràn lan dầu ở Canada, Na-Uy và Anh thường là tổng hợp nhiều hơn”, và ở Alaska, theo sau trường hợp tràn lan dầu Exxon Valdez thảm khốc, “ viên chức bang và Hoa Kỳ ra lệnh cho công nghiệp thiết lập một hệ thống phản ứng tràn lan dầu khối lượng đối với Prince William Sound.” Shell và những nhà bảo trợ dự án khác thiếu hành động làm tăng biện pháp ngăn ngừa tràn lan dầu và những biện pháp phản ứng- mặc dù những yêu cầu lập lại từ quần chúng làm như vậy chấm điểm dưới mức xa hơn thiếu chú ý của họ vào tiêu chuẩn môi trường và những va chạm môi trường đối nghịch có ý nghĩa không thể vượt qua của dự án.

 

Vận chuyển hàng tăng lên
Giai đoạn II của Sakhalin II sẽ làm tăng lên một cách mạnh mẽ giao thông tàu chở dầu tưa đảo Sakhalin xuống miền Nam, nơi đó những dòng nước lừa dối chờ đợi ở eo biển La Perouse. Vài tai nạn chở hàng hóa đã xảy ra ở đây mỗi năm. Lại, Năng lượng Sakhalin không  nhận trách nhiệm ngăn cản tràn lan dầu và phản ứng lai tàu chở dầu trong môi trường thách thức độc nhất này.

 

Va chạm trên cá hồi hoang dã
Sakhalin II đề xuất ý kiến 800km đường ống đi xuống gần bằng toàn bộ chiều dài của dảo Sakhalin cho những phương tiện xuất khẩu mới ở đầu miền Nam đảo. Đường ống này sẽ đi qua 1100 suối, sông và những đường thủy khác, gồm có nhiều loài cá hồi sinh sản sống động về mặt sinh thái và kinh tế và những dạng cá hồi khác, gồm có Sakhalin taimen, trình bày như có nguy cơ tuyệt chủng trong Sách Đỏ Liên Bang Nga (danh sách loài có nguy cơ tuyệt chủng). Những loài này gồm có hải sản phong phú nghĩa là cột sống truyền thống của kinh tế địa phương và một phần quan trọng của văn hóa của người dân Nivkh bản địa. Việc bảo vệ những đường thủy này vì thế là một đầu ra nổi bật của dự án Sakhalin II. Với những mục đích xác định chừng mực thay đổi bảo vệ để cho những đường thủy này, dự án Sakhalin II đã phát triển ba phân loại dưới đây:
. Nhóm I- đường nước không có đẻ trứng cá hồi, và tầm quan trọng không đáng kể cho ngành ngư nghiệp,
. Nhóm II- đường nước có đẻ trứng cá hồi không đáng kể, và quan trọng nhỏ với ngành ngư nghiệp,
. Nhóm III- đường nước có đẻ trứng cá hồi có ý nghĩa và quan trọng lớn đối với ngành ngư nghiệp.
Trong khi thẩm quyền nông nghiệp cấp miền, Sakhalinrybvod thống nhất với hệ thống phân loại, nó không thống nhất với sự phân loại những dòng chảy bởi sự có ý nghĩa về việc đẻ trứng cá hồi.
Đồng thời, trường viện nghiện cứu ngành ngư nghiệp Nga, VNIRO, tin là 663 đường thủy pgải có cấp hạng bảo vệ cao nhất. Việc phân loại Dự án Sakhalin II chỉ gồm có 62 đường nước  số lượng mười lần nhỏ hơn. Điều gì tồi tệ hơn, Sakhalin II đề xuất ý kiến Khoan định hướng ngang (HDD) trong chỉ 8 trong 1100 những ngã nước, và đào kênh trong phần lớn tất cả dòng nước khác. Những đường nước nâng cao (bắc cầu), một hệ thống chứng tỏ hiệu quả trên đường ống Xuyên-Alaska đã có 25 năm qua, là phương pháp cần để đan tréo nhiều loại đường nước. Việc đào mương, và nói riêng, đào mương ướt, được xem là những phương pháp tác hại nhất của những ngã sông. Việc sử dụng phương pháp này, một mương mở được khoét rộng qua đáy suối hoặc sông, su đó đường ống được đặt trên mương và phủ lại. Điều này có thể cho kết quả là nhiều tải trọng đất mùn và trầm tích có thể phá hủy thảm sinh sản cuối nguồn và những nơi ở thủy sinh khác.
Trong lúc đó, Sakhalin II đề xuất ý kiến đan tréo trong-suối với phần lớn trang thiết bị xây dựng, tạo ra những khuấy động của những thảm suối. Những phương pháp phản hồi này khoét trở lại những phương pháp công nghệ va nặng của Liên Hiệp Xô Viết là Shell và những nhà bảo trợ khác than phiền là dự án Sakhalin II sẽ thay. Những phương pháp lỗi thời này đã từ lâu dừng lại ở nhiều nơi khác trên thế giới nơi đó Shell và những nhà bảo trợ dự án khác hoạt động.

Đã biết sự phân loại cao chính phủ Nga cho phần lớn những đường nước này, và sự hiện diện của cá hồi hoang dã và có nguy cơ tuyệt chủng, điều này chỉ dấu là đường ống Sakhalin II trên bờ sẽ dẫn đến vieeci aui đổi có ý nghĩa hoặc thoái hóa nơi ở tự nhiên nguy kịch. Tầm quan trọng của 1100 đường nước với văn hóa và kinh tế địa phương làm cho phương pháp xử lý này không thể chấp nhận.
Va nghiêm trọng nhất trên loài cá hồi sẽ được tạo ra bởi một mây nước lớn, và sự ô nhiễm của sông bởi hóa chất dầu và những vật liệu khác. Một yếu tố khác ảnh hưởng cá ngược sông để đẻ sẽ là phương pháp tiếp cận tăng với sông và vịnh cho những người săn trộm. Rủi ro đối với cá hồi, bao gồm goy (không phải là cá hồi,ND), một loài có nguy cơ tuyệt chủng và trình bày trong Sách Dữ liệu Đỏ của Nga, cũng như với những loài cá khác và chim nước sẽ phát triển rất nhiều cả nơi tràn lan dầu công nghệ, có thể lan tràn bởi dòng thủy triều vào vịnh và phá.

 

Giá trị đa dạng sinh học xa hơn
Những hệ sinh thái biển chung quanh đảo Sakhalin trong số độc nhất trên thế giới. Chúng cung cấp nơi ở cho vài loài hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng và cũng với những quần thể chim biển lớn, chim ven bờ và hải cẩu da lông thú. Danh sách chim biển bảo vệ trong miền phát triển gồm có 11 loài, trình bày trong sách đỏ của ICUN (5 tổ hiện nay), 22 loài trình bày trong Sách Đỏ của Liên Bang Nga(8 tổ hiện nay) và 39 loài trình bày trong Sách Đỏ của miền Sakhalin. Trong loài cá nghĩa là cần bảo vệ, goy (=Sakhalin taimen) phải được đề cập đến. Loài này được trình bày trong Sách Đỏ của Liên Bang Nga và đẻ trứng trong sông Đông Sakhalin. Mặc dù danh sách của loài chim hiếm nghĩa là cần bảo vệ được trình bày trong Đánh giá Va Môi trường trình bày bởi Sakhalin Energy (= Năng lượng Sakhalin), tình trạng của quần thể chim quan trong đối với miền như là đại bàng biển đuôi trắng và đại bàng biển Steller, chim xanh chân dài có đốm  và cú bắt cá không được đánh giá. Những biện pháp đặc biệt dưới đây liên quan việc bảo vệ chúng không được tham khảo. Có hoặc không sẽ có một va trên miền ăn mồi của chim xanh chân dài có đốm và cú bắt cá không được đánh giá chút nào. Đối với cú bắt cá nhân tố gây phiền phức cho con người là lý do chính làm giảm bớt số lượng của nó. Giai đoạn thứ hai của dự án Sakhalin II đề xuất ý kiến đặt tuyến ống trên mặt đất trên vài trăm cây số qua nơi ở của cú bắt cá. Mặc dù phương pháp đánh giá va môi trường không trình bày bất kỳ biện pháp dùng để làm nhẹ va công nghệ (giới hạn theo mùa và theo thời gian trên công trình sẽ được thực hiện v.. v…).

Phương pháp đánh giá va môi trường trình bày bởi Năng Lượng Sakhalin cho là một trong những yếu tố quan trọng nhiều nhất tạo ra va trên loài chim hiếm là sự gia tăng khả năng tiếp cận nơi ở của chúng bởi những người đi săn. Phương pháp thực hành của công ty “Sakhalin Energy” không cho phép công nhân hợp đồng đánh bắt cá, săn bắt hoặc thu gom động vật sẽ không nghi ngờ hỗ trợ việc làm nhẹ hiệu ứng này. Tuy nhiên, điều không rõ làm cách nào kiểu phòng trừ này sẽ được thực thi khi công trình khế ước phụ và làm cách nào sẽ là hiệu quả việc quản lý kiểu hoạt động trên thực hiện bởi những người không ký hợp đồng bởi công ty mà số lượng sẽ tăng lên không thể tránh được.
Điều không thể chấp nhận thực hiện một dự án lớn như trên bên trong nơi ở của loài cần được bảo vệ đặc biệt, như là cá hồi quan trọng về mặt thương phẩm, cá ngược dong để đẻ hiếm, cú bắt cá và những chim khác, gồm có trong Sách Đỏ của IUCN và Sách Đỏ của Liên Bang Nga, không nêu lên những biện pháp đặc biệt, định hướng vào việc làm giảm bớt va trên chúng.

 

Rủi ro về động đất
800 cây số đường ống trên bờ băng qua những phay địa chấn trên 24 địa điểm (bằng so sánh, Đường Ống Xuyên Alaska băng qua chỉ ba tuyến phay). Dự án Sakhalin II hoạt động trong một miền có hoạt động động đất rất cao. Theo sau trận động đất Neftegorsk Thang Richter 7,6 tàn phá năm 1996 (phá hủy một thị xã), tỷ lệ động đất cho nhiều lộ trình đường ống tăng lên từ một phạm vi 6-7 trường hợp mỗi một ngàn năm đến một phạm vi 8-9 trường hợp mỗi một ngàn năm. Một trận động đất nghiêm trọng có thể làm cho đường ống Sakhalin II không thành công (như đã xảy ra với trận động đất Neftegorsk), một cách tiềm tàng tạo ra tràn lan dầu thảm khốc có thể gây hại hoặc phá hủy nơi ở trên đất liền hoặc thủy sinh. Trong lúc đó, Shell đang đề xuất ý kiến một đường ống ngầm dùng công nghệ để bảo vệ chống lại động đất chưa được thử nghiệm trong miền động đất mạnh như trên mọi nơi trên thế giới. Thay vì, đường ống nâng cao có thiết kế uốn cong động đất, như là được sử dụng thành công trên Đường ống Xuyên-Alaska, phải được sử dụng ở đây.

Một báo cáo đánh giá rủi ro địa chấn thực hiện bởi Shell được tiến hành bởi Richard Fineberg, một nhà địa chấn học kinh nghiệm đã nghiên cứu đường ống xuyên Alaska, (còn đối mặt hoạt động địa chấn có ý nghĩa). Phân tích của ông về thông tin cung cấp bởi Năng lượng Sakhalin tìm ra là không thể kết luận là Shell đã đánh giá đầy đủ những rủi ro. Thật vậy, ông tìm ra là thông tin cung cấp trong tài liệu khác nhau không phù hợp và cũng không  tổng hợp.


Nhà máy LNG lớn nhất trên thế giới
Ở đầu cực Nam của dự án Sakhalin II Shell và những nhà bảo trợ dự án khác đề xuất ý kiến về Nhà máy Khí Thiên nhiên lỏng lớn nhất trên thế giới. Năng lượng Sakhalin gom rác trên 1 triệu m3 rác thải đào trong khi xây dựng, và 500,000 m3 rác thải trôi các loại mỗi năm vào Vịnh Aniva giàu loài cá. Vịnh Aniva cung cấp 25% cá hồi màu hồng đấnh bắt trên đảo Sakhalin, làm cho sự bảo vệ nó cần cho sức khỏe của nền kinh tế đánh bắt cá và đánh bắt cá tự sản tự tiêu. Việc đổ dung dịch có hạt vào nước chia tầng của Vịnh, có một trao đổi nước giới hạn với biển chung quanh có thể có những hậu quả không thể dự báo cho toàn thể hệ sinh thái, lắng tụ lại trầm tích và việc thay đổi cảnh quan đáy biển và làm tăng việc tiêu dùng oxy trong cột nước.

Cán bộ ngư nghiệp của chính phủ và NGOs đã đề xuất ý kiến là Năng lượng Sakhalin sử dụng những rác thải này ở một địa điểm ngoài khơi nghĩa là sâu hơn  và ít sản xuất về mặt sinh học. Lại Năng lượng Sakhalin không biết phương pháp đan xen có thể sống này.

 

Va kinh tế-xã hội và văn hóa-xã hội

Những va kinh tế-xã hội đối nghịch phát sinh từ giai đoạn thứ nhất gồm  có những mức giảm sưu tập tài liệu về quần thể cá, gồm có giảm bớt nhiều về dự trữ cá tuyết màu vàng nghệ và cá trích có nghĩa là một nguồn thực phẩm chủ yếu cho người dân Nivkh bản địa. Ngư dân địa phương báo cáo là "trong năm 1999, năm đầu của sản xuất dầu thương phẩm, cá trích bởi hàng ngàn cá chết trên bãi biển địa phương, và ngư trường địa phương cá tuyết vàng nghệ đã bị chìm mạnh". Những va âm tính trong giai đoạn hai sẽ có thể bao gồm suy giảm về cá hồi hoang dã và những loài cá khác từ những va đường ống đào trên đất qua suối và việc xả rác vật liệu đào vào trong Vịnh Aniva. Những loài cá này suy giảm về va âm tính đặc biệt trên cư dân địa phương, lệ thuộc vào cá như là một cơ sở của khinh tế họ và văn hóa truyền thống. Riêng Đông Sakhalin cung cấp ước chừng 40% đánh bắt cá hồi tổng cộng ở Nga, và ước chừng 10% đánh bắt tôm, và ước chừng 35% cỏ biển thu hoạch trong va phát triển bền vững Viễn Đông ở Nga để làm giảm nhẹ va kinh tế - xã hội ngược không đến. Theo một báo cáo của Phòng Kiểm toán Liên Bang Nga (tháng 2, 2000), dự án không có lợi tức kinh tế trong ngân sách của Nga. Theo báo cáo này, do những điều khoản trong Thỏa ước Chia sẻ Sản xuất, những nhà bảo trợ dự án sẽ thanh toán 19 tỉ thuế ít hơn trong đời sống của dự án. Ngoài ra, nhwngx thiệt hại hiện nay và tiềm tàng với loài cá địa phương phát sinh một cách tiềm tàng từ dự án sẽ có một va âm tính phụ. Hơn nữa, những nhà bảo trợ dự án hứa hẹn là Sakhalin II sẽ hỗ trợ việc khí hóa đảo Sakhalin đã bị bể.

 

Tiếng Việt RGC (09-12-2005)

 


WWF Contacts
Vassily Spiridov
WWF Russia
Moscow
E-mail :
vspiridonov@wwf.ru
Phone: +7 957270939
James Leaton
WWF UK
London
E-mail:
jleaton@wwf.org.uk
Phone: +44 (0)1483 412513
Francis Grant-Suttie
WWF US
Washington
E-mail:
francis.grant-suttie@wwfus.org
Phone: +1 2027789718

 

 

Trở về Trang Chính