|

Trong số 25 loài động vật có vú sống ở ngoài khơi của Đảo
Sakhalin là 11 loài có nguy cơ tuyệt chủng gồm có cá voi xám có
nguy cơ nhiều hơn cả, cá voi xám Tây Thái Bình Dương. Cá voi xám
nằm trong danh sách những loài có nguy cơ tuỵệt chủng của Hoa Kỳ
và Nga, đã được công nhận như có nguy cơ tuyệt chủng bởi Liên
Hiệp Quốc Tế Bảo Tồn Thiên Nhiên (IUCN). Chứng cứ khoa học mới
gợi ý là dưới 100 cá thể, và có thể ít hơn 20 cá cái sinh sản có
thể mang cá con còn lại. Sakhalin II có thể đã làm hư hỏng môi
trường biển với việc lắp đặt nền móng đầu tiên của nó, Milikpaq.
Những nhà nghiên cứu đã quan sát lắng tụ trầm tích có ý nghĩa
trong miền ăn mồi của cá voi, có thể việc làm ít đi sinh vật đáy
và cá voi có thể tin cậy. Điều này có thể đã phối hợp tích tụ
với động đất và những va chạm khác tin bởi những nhà khoa học đã
góp phần vào việc làm hao tổn nhiều cá voi Tây Thái Bình Dương
đã được quan sát bởi những nhà khoa học trong những năm sau
Sakhalin II bắt đầu hoạt động khai thác.
Điều kiện của cá voi xám ốm yếu, hoặc gầy còm là mối bận tâm
nhiều nhất với những nhà khoa học tập trung vào loài này, ai nói
cá voi sẽ cần thu hồi dự trữ mỡ trong khi di trú đông và cho cá
com bú sữa. Tỷ lệ sinh của cá voi xám Tây Thái Bình Dương vượt
quá tỷ lệ tử vong chỉ khoảng 1%, có ngiã là sự va chạm âm cộng
từ Sakhalin II tạo rủi ro đẩy loài này trên bờ vực tuyệt chủng.
Liên quan đe dọa từ Sakhalin II với cá voi xám Tây Thái Bình
Dương, Ủy ban Khoa học của Ủy hội nuôi cá voi Quốc tế (IWC) ghi
chép "Đây là vấn đề bức xúc tuyệt đối (nhấn mạnh được duy trì)…
để làm giảm bớt những kiểu khuấy động nguồn gốc loài người khác
nhau ở chừng mực thấp nhất có thể thực hiện". Những viện sĩ Nga
và chuyên gia hình tượng M. E. Vinogradov đã nói, "Không có
việc tạo ra những biện pháp đặc biệt trong việc bảo tồn cá voi
xám, tính thường xuyên của dự án "Sakhalin II" có thể đưa đến sự
tuyệt chủng của quần thể độc nhất này." Hội thảo IWC mới nhất về
cá voi xám miền Tây được tổ chức tại Triều Tiên tháng 10-2002.
Brownell ghi chép là va tích tụ trên cá voi từ tiếp xúc có lập
lại và dài hơi với hoạt động dầu và khí đáng quan tâm, đặc biệt
liên quan việc xê dịch từ nơi ở ưa thích, với hậu quả của thời
gian và chất lượng cỏ, điều này được quan tâm đặc biệt liên quan
cá voi gầy yếu." Hội thảo còn công nhận là "Sakhalin vẫn là nền
cỏ đã biết độc nhất đối với quần thể này, và là có hoặc không lộ
trình di trú và vị trí của nền cỏ cho việc nuôi cá voi con là
điều thấy rõ.
Kế hoạch cá voi không hoàn thiện:
Năm 1997, OPIC, EBRD và JEXIM yêu cầu Sakhalin II công nhận một
kế hoạch bảo tồn nơi ở cho cá voi xám Tây Thái Bình Dương trong
giai đoạn đầu của dự án phát triển. Tuy nhiên, thay vì Shell và
những nhà bảo trợ khác tạo ra cho những người cho vay một kế
hoạch Bảo tồn Cá voi xám miền Tây không dủ tính chất hợp pháp và
khoa học, chỉ được duyệt thuận bởi chủ nợ cho đến tháng 12,
2001, bốn năm sau khi duyệt dự án và hai năm sau sản xuất dầu
bắt đầu. Shell và những nhà bảo trợ khác sau đó từ chối kế hoạch
khỏi quần chúng cho đến tháng 3, 2002. Theo chuyên gia, đầu vào
đệ trình bởi hai mươi lăm NGOs không lệ thuộc thiếu sự tín nhiệm
khoa học do:
. Việc từ chối của người bảo trợ dự án trong việc xem xét kế
hoạc dự thảo theo ý kiến quần chúng trước khi duyệt thuận bởi
OPIC, EBRD và JEXIM và từ chối của công ty tiết lộ những ý kiến
chống lại đệ trình kế hoạch dự thảo của những chuyên gia động
vật biển có vú.
. Thiếu xem lại khoa học không lệ thuộc và tiếp cận của quần
chúng tới những dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
. Việc trình bày không chính xác những dữ liệu khoa học như là
một kết quả áp lực tài chính bởi người bảo trợ dự án trên những
nhà khoa học liên quan khảo nghiệm cá voi.
. Thiếu thông tin về làm giảm nhẹ những hiệu ứng nghịch.
. Thiếu xem lại tiềm năng và có thể va chạm cá voi xám từ việc
phát triển giai đoạn hai của Sakhalin II và va chạm tích tụ của
phát triển dầu khác trong miền.
. Thiếu xem lại va chạm trên dự trữ cá voi đề nghị trong miền.
Vi
phạm của Luật nước chủ:
NGOs của Nga đã thu thập tài liệu tố tụng về môi trường chống
lại chính phủ Nga tạm dừng lại bất kỳ công trình xây dựng hoặc
phát triển công nghệ trong miền nơi ở xác định của cá voi xám,
được gọi là Công ty Đầu tư Năng lượng Sakhalin Ltd. như một bên
thứ ba bị kiện. Luật của Nga rõ ràng ngăn cấm gây hại nơi ở của
Loài (ghi có nguy cơ tuyệt chủng) Sách Đỏ. Đồng thời, tử vong
hàng loạt cá trích và suy giảm đột ngột quần thể cá tuyết vàng
liên kết một cách tiềm tàng với dự án đưa những người dân địa
phương đến đòi hỏi thường xuyên thông tin từ OPIC, EBRD và JEXIM
trong những chiến dịch hiện hành của Sakhalin II. Mặc dù hưa
nhiều lần bởi nhà bảo trợ dự án về việc tư vấn hiện hành và tiếp
cận thông tin, NGOs bị buộc thu thập tài liệu tố tụng chống lại
chính phủ Nga và những nhà bảo trợ dự án để có những thông tin
quan tâm chung về dự án này do việc công ty thiếu phổ biến thông
tin hoặc làm việc hợp tác với người dân địa phương quan tâm.
Cũng phải lưu ý là trong giai đoạn đầu của dự án Sakhalin II,
việc hoạt hóa tài chính bởi OPIC, EBRD và JEXIM bị hoãn lại gần
một năm do không thành công trong việc thích ứng với luật pháp
môi trường Nga vào thời điểm chờ duỵệt thuận của những trường
viện này.
Việc
thả rác ra biển:
Shell và những nhà bảo trợ khác không thành công trong việc giải
quyết những vấn đề môi trường theo một phương pháp thỏa đáng khi
họ quyết định đổ chất thải do sản xuất và đào từ Sakhalin II
trực tiếp ra biển. Mặc dù sự việc là những luật môi trường Nga
ngăn cấm phương pháp thực hành này, và là công nghệ cao tránh
điều này là có thể sử dụng với những nhà bảo trợ dự án, phương
pháp hạ cấp này về việc đổ rác xuống biển bị loại một cách hợp
pháp bởi Thỏa hiệp Chia sẻ Sản xuất của dự án, nhượng bộ quá mức
luật Nga về ưu thế môi trường. Shell và những nhà bảo trợ dự án
khác đã là những đối tượng phê phán quốc tế mãnh liệt cho phương
pháp thực hành này chưa được thống nhất hoàn toàn tiêm lại những
rác do việc khoan giếng.
Mỉa
mai tràn lan dầu
Trong lúc đó, Shell đã thực hiện ít điều để đảm bảo ngăn ngừa
tràn lan dầu và hệ thống phản ứng đáp ứng những tiêu chuẩn của
Mỹ hoặc quốc tế. Những chuyên gia độc lập từ Alaska và Shetland
Islands đã phổ biến một báo cáo năm 1999- gọi là “Dầu Sakhalin:
Thực hiện nó đúng”- cảnh báo là việc ngăn cản tràn lan dầu hiện
nay và những biện pháp phản ứng để lại ven bờ Sakhalin và
Hokkaido không được bảo vệ lan tràn thê thảm. Báo cáo đã khuyến
cáo 78 biện pháp đặc biệt- gồm có những khuyến cáo cơ bản như lộ
trình bắt buộc cho tàu chở dầu, theo dõi tăng lên giao thông tàu
chở dầu, thông báo đến những tàu đánh cá nếu một tàu chở dầu ở
trong và trang thiết bị phản ứng tràn lan dầu gia tăng và phương
pháp tiếp cận cải tiến ở ven bờ nơi có thể được triển khai-
nhưng phần lớn tất cả những điều này không được hành động bởi
Shell và nhà bảo trợ dự án.
Như là một kết quả, Sakhalin và Hokkaido vẫn không được bảo vệ
chống lại sự lan tràn dầu thê thảm, làm cho dễ dàng nhiều hơn
giao thông tàu chở dầu tăng lên đã thấy ở giai đoạn II của dự
án. Khi bài báo của The Wall Street Jourrnal chỉ dáu, “Phản ứng
tràn lan dầu ở Canada, Na-Uy và Anh thường là tổng hợp nhiều
hơn”, và ở Alaska, theo sau trường hợp tràn lan dầu Exxon Valdez
thảm khốc, “ viên chức bang và Hoa Kỳ ra lệnh cho công nghiệp
thiết lập một hệ thống phản ứng tràn lan dầu khối lượng đối với
Prince William Sound.” Shell và những nhà bảo trợ dự án khác
thiếu hành động làm tăng biện pháp ngăn ngừa tràn lan dầu và
những biện pháp phản ứng- mặc dù những yêu cầu lập lại từ quần
chúng làm như vậy chấm điểm dưới mức xa hơn thiếu chú ý của họ
vào tiêu chuẩn môi trường và những va chạm môi trường đối nghịch
có ý nghĩa không thể vượt qua của dự án.
Vận
chuyển hàng tăng lên
Giai đoạn II của Sakhalin II sẽ làm tăng lên một cách mạnh mẽ
giao thông tàu chở dầu tưa đảo Sakhalin xuống miền Nam, nơi đó
những dòng nước lừa dối chờ đợi ở eo biển La Perouse. Vài tai
nạn chở hàng hóa đã xảy ra ở đây mỗi năm. Lại, Năng lượng
Sakhalin không nhận trách nhiệm ngăn cản tràn lan dầu và phản
ứng lai tàu chở dầu trong môi trường thách thức độc nhất này.
Va
chạm trên cá hồi hoang dã
Sakhalin II đề xuất ý kiến 800km đường ống đi xuống gần bằng
toàn bộ chiều dài của dảo Sakhalin cho những phương tiện xuất
khẩu mới ở đầu miền Nam đảo. Đường ống này sẽ đi qua 1100 suối,
sông và những đường thủy khác, gồm có nhiều loài cá hồi sinh sản
sống động về mặt sinh thái và kinh tế và những dạng cá hồi khác,
gồm có Sakhalin taimen, trình bày như có nguy cơ tuyệt chủng
trong Sách Đỏ Liên Bang Nga (danh sách loài có nguy cơ tuyệt
chủng). Những loài này gồm có hải sản phong phú nghĩa là cột
sống truyền thống của kinh tế địa phương và một phần quan trọng
của văn hóa của người dân Nivkh bản địa. Việc bảo vệ những đường
thủy này vì thế là một đầu ra nổi bật của dự án Sakhalin II. Với
những mục đích xác định chừng mực thay đổi bảo vệ để cho những
đường thủy này, dự án Sakhalin II đã phát triển ba phân loại
dưới đây:
. Nhóm I- đường nước không có đẻ trứng cá hồi, và tầm quan trọng
không đáng kể cho ngành ngư nghiệp,
. Nhóm II- đường nước có đẻ trứng cá hồi không đáng kể, và quan
trọng nhỏ với ngành ngư nghiệp,
. Nhóm III- đường nước có đẻ trứng cá hồi có ý nghĩa và quan
trọng lớn đối với ngành ngư nghiệp.
Trong khi thẩm quyền nông nghiệp cấp miền, Sakhalinrybvod thống
nhất với hệ thống phân loại, nó không thống nhất với sự phân
loại những dòng chảy bởi sự có ý nghĩa về việc đẻ trứng cá hồi.
Đồng thời, trường viện nghiện cứu ngành ngư nghiệp Nga, VNIRO,
tin là 663 đường thủy pgải có cấp hạng bảo vệ cao nhất. Việc
phân loại Dự án Sakhalin II chỉ gồm có 62 đường nước số lượng
mười lần nhỏ hơn. Điều gì tồi tệ hơn, Sakhalin II đề xuất ý kiến
Khoan định hướng ngang (HDD) trong chỉ 8 trong 1100 những ngã
nước, và đào kênh trong phần lớn tất cả dòng nước khác. Những
đường nước nâng cao (bắc cầu), một hệ thống chứng tỏ hiệu quả
trên đường ống Xuyên-Alaska đã có 25 năm qua, là phương pháp cần
để đan tréo nhiều loại đường nước. Việc đào mương, và nói riêng,
đào mương ướt, được xem là những phương pháp tác hại nhất của
những ngã sông. Việc sử dụng phương pháp này, một mương mở được
khoét rộng qua đáy suối hoặc sông, su đó đường ống được đặt trên
mương và phủ lại. Điều này có thể cho kết quả là nhiều tải trọng
đất mùn và trầm tích có thể phá hủy thảm sinh sản cuối nguồn và
những nơi ở thủy sinh khác.
Trong lúc đó, Sakhalin II đề xuất ý kiến đan tréo trong-suối với
phần lớn trang thiết bị xây dựng, tạo ra những khuấy động của
những thảm suối. Những phương pháp phản hồi này khoét trở lại
những phương pháp công nghệ va nặng của Liên Hiệp Xô Viết là
Shell và những nhà bảo trợ khác than phiền là dự án Sakhalin II
sẽ thay. Những phương pháp lỗi thời này đã từ lâu dừng lại ở
nhiều nơi khác trên thế giới nơi đó Shell và những nhà bảo trợ
dự án khác hoạt động.
Đã
biết sự phân loại cao chính phủ Nga cho phần lớn những đường
nước này, và sự hiện diện của cá hồi hoang dã và có nguy cơ
tuyệt chủng, điều này chỉ dấu là đường ống Sakhalin II trên bờ
sẽ dẫn đến vieeci aui đổi có ý nghĩa hoặc thoái hóa nơi ở tự
nhiên nguy kịch. Tầm quan trọng của 1100 đường nước với văn hóa
và kinh tế địa phương làm cho phương pháp xử lý này không thể
chấp nhận.
Va nghiêm trọng nhất trên loài cá hồi sẽ được tạo ra bởi một mây
nước lớn, và sự ô nhiễm của sông bởi hóa chất dầu và những vật
liệu khác. Một yếu tố khác ảnh hưởng cá ngược sông để đẻ sẽ là
phương pháp tiếp cận tăng với sông và vịnh cho những người săn
trộm. Rủi ro đối với cá hồi, bao gồm goy (không phải là cá
hồi,ND), một loài có nguy cơ tuyệt chủng và trình bày trong Sách
Dữ liệu Đỏ của Nga, cũng như với những loài cá khác và chim nước
sẽ phát triển rất nhiều cả nơi tràn lan dầu công nghệ, có thể
lan tràn bởi dòng thủy triều vào vịnh và phá.
Giá
trị đa dạng sinh học xa hơn
Những hệ sinh thái biển chung quanh đảo Sakhalin trong số độc
nhất trên thế giới. Chúng cung cấp nơi ở cho vài loài hiếm và có
nguy cơ tuyệt chủng và cũng với những quần thể chim biển lớn,
chim ven bờ và hải cẩu da lông thú. Danh sách chim biển bảo vệ
trong miền phát triển gồm có 11 loài, trình bày trong sách đỏ
của ICUN (5 tổ hiện nay), 22 loài trình bày trong Sách Đỏ của
Liên Bang Nga(8 tổ hiện nay) và 39 loài trình bày trong Sách Đỏ
của miền Sakhalin. Trong loài cá nghĩa là cần bảo vệ, goy
(=Sakhalin taimen) phải được đề cập đến. Loài này được trình bày
trong Sách Đỏ của Liên Bang Nga và đẻ trứng trong sông Đông
Sakhalin. Mặc dù danh sách của loài chim hiếm nghĩa là cần bảo
vệ được trình bày trong Đánh giá Va Môi trường trình bày bởi
Sakhalin Energy (= Năng lượng Sakhalin), tình trạng của quần thể
chim quan trong đối với miền như là đại bàng biển đuôi trắng và
đại bàng biển Steller, chim xanh chân dài có đốm và cú bắt cá
không được đánh giá. Những biện pháp đặc biệt dưới đây liên quan
việc bảo vệ chúng không được tham khảo. Có hoặc không sẽ có một
va trên miền ăn mồi của chim xanh chân dài có đốm và cú bắt cá
không được đánh giá chút nào. Đối với cú bắt cá nhân tố gây
phiền phức cho con người là lý do chính làm giảm bớt số lượng
của nó. Giai đoạn thứ hai của dự án Sakhalin II đề xuất ý kiến
đặt tuyến ống trên mặt đất trên vài trăm cây số qua nơi ở của cú
bắt cá. Mặc dù phương pháp đánh giá va môi trường không trình
bày bất kỳ biện pháp dùng để làm nhẹ va công nghệ (giới hạn theo
mùa và theo thời gian trên công trình sẽ được thực hiện v.. v…).
Phương pháp đánh giá va môi trường trình bày bởi Năng Lượng
Sakhalin cho là một trong những yếu tố quan trọng nhiều nhất tạo
ra va trên loài chim hiếm là sự gia tăng khả năng tiếp cận nơi ở
của chúng bởi những người đi săn. Phương pháp thực hành của công
ty “Sakhalin Energy” không cho phép công nhân hợp đồng đánh bắt
cá, săn bắt hoặc thu gom động vật sẽ không nghi ngờ hỗ trợ việc
làm nhẹ hiệu ứng này. Tuy nhiên, điều không rõ làm cách nào kiểu
phòng trừ này sẽ được thực thi khi công trình khế ước phụ và làm
cách nào sẽ là hiệu quả việc quản lý kiểu hoạt động trên thực
hiện bởi những người không ký hợp đồng bởi công ty mà số lượng
sẽ tăng lên không thể tránh được.
Điều không thể chấp nhận thực hiện một dự án lớn như trên bên
trong nơi ở của loài cần được bảo vệ đặc biệt, như là cá hồi
quan trọng về mặt thương phẩm, cá ngược dong để đẻ hiếm, cú bắt
cá và những chim khác, gồm có trong Sách Đỏ của IUCN và Sách Đỏ
của Liên Bang Nga, không nêu lên những biện pháp đặc biệt, định
hướng vào việc làm giảm bớt va trên chúng.
Rủi
ro về động đất
800 cây số đường ống trên bờ băng qua những phay địa chấn trên
24 địa điểm (bằng so sánh, Đường Ống Xuyên Alaska băng qua chỉ
ba tuyến phay). Dự án Sakhalin II hoạt động trong một miền có
hoạt động động đất rất cao. Theo sau trận động đất Neftegorsk
Thang Richter 7,6 tàn phá năm 1996 (phá hủy một thị xã), tỷ lệ
động đất cho nhiều lộ trình đường ống tăng lên từ một phạm vi
6-7 trường hợp mỗi một ngàn năm đến một phạm vi 8-9 trường hợp
mỗi một ngàn năm. Một trận động đất nghiêm trọng có thể làm cho
đường ống Sakhalin II không thành công (như đã xảy ra với trận
động đất Neftegorsk), một cách tiềm tàng tạo ra tràn lan dầu
thảm khốc có thể gây hại hoặc phá hủy nơi ở trên đất liền hoặc
thủy sinh. Trong lúc đó, Shell đang đề xuất ý kiến một đường ống
ngầm dùng công nghệ để bảo vệ chống lại động đất chưa được thử
nghiệm trong miền động đất mạnh như trên mọi nơi trên thế giới.
Thay vì, đường ống nâng cao có thiết kế uốn cong động đất, như
là được sử dụng thành công trên Đường ống Xuyên-Alaska, phải
được sử dụng ở đây.
Một
báo cáo đánh giá rủi ro địa chấn thực hiện bởi Shell được tiến
hành bởi Richard Fineberg, một nhà địa chấn học kinh nghiệm đã
nghiên cứu đường ống xuyên Alaska, (còn đối mặt hoạt động địa
chấn có ý nghĩa). Phân tích của ông về thông tin cung cấp bởi
Năng lượng Sakhalin tìm ra là không thể kết luận là Shell đã
đánh giá đầy đủ những rủi ro. Thật vậy, ông tìm ra là thông tin
cung cấp trong tài liệu khác nhau không phù hợp và cũng không
tổng hợp.
Nhà máy LNG lớn nhất trên thế giới
Ở đầu cực Nam của dự án Sakhalin II Shell và những nhà bảo trợ
dự án khác đề xuất ý kiến về Nhà máy Khí Thiên nhiên lỏng lớn
nhất trên thế giới. Năng lượng Sakhalin gom rác trên 1 triệu m3
rác thải đào trong khi xây dựng, và 500,000 m3 rác thải trôi các
loại mỗi năm vào Vịnh Aniva giàu loài cá. Vịnh Aniva cung cấp
25% cá hồi màu hồng đấnh bắt trên đảo Sakhalin, làm cho sự bảo
vệ nó cần cho sức khỏe của nền kinh tế đánh bắt cá và đánh bắt
cá tự sản tự tiêu. Việc đổ dung dịch có hạt vào nước chia tầng
của Vịnh, có một trao đổi nước giới hạn với biển chung quanh có
thể có những hậu quả không thể dự báo cho toàn thể hệ sinh thái,
lắng tụ lại trầm tích và việc thay đổi cảnh quan đáy biển và làm
tăng việc tiêu dùng oxy trong cột nước.
Cán
bộ ngư nghiệp của chính phủ và NGOs đã đề xuất ý kiến là Năng
lượng Sakhalin sử dụng những rác thải này ở một địa điểm ngoài
khơi nghĩa là sâu hơn và ít sản xuất về mặt sinh học. Lại Năng
lượng Sakhalin không biết phương pháp đan xen có thể sống này.
Va
kinh tế-xã hội và văn hóa-xã hội
Những
va kinh tế-xã hội đối nghịch phát sinh từ giai đoạn thứ nhất
gồm có những mức giảm sưu tập tài liệu về quần thể cá, gồm có
giảm bớt nhiều về dự trữ cá tuyết màu vàng nghệ và cá trích có
nghĩa là một nguồn thực phẩm chủ yếu cho người dân Nivkh bản
địa. Ngư dân địa phương báo cáo là "trong năm 1999, năm đầu của
sản xuất dầu thương phẩm, cá trích bởi hàng ngàn cá chết trên
bãi biển địa phương, và ngư trường địa phương cá tuyết vàng nghệ
đã bị chìm mạnh". Những va âm tính trong giai đoạn hai sẽ có thể
bao gồm suy giảm về cá hồi hoang dã và những loài cá khác từ
những va đường ống đào trên đất qua suối và việc xả rác vật liệu
đào vào trong Vịnh Aniva. Những loài cá này suy giảm về va âm
tính đặc biệt trên cư dân địa phương, lệ thuộc vào cá như là một
cơ sở của khinh tế họ và văn hóa truyền thống. Riêng Đông
Sakhalin cung cấp ước chừng 40% đánh bắt cá hồi tổng cộng ở Nga,
và ước chừng 10% đánh bắt tôm, và ước chừng 35% cỏ biển thu
hoạch trong va phát triển bền vững Viễn Đông ở Nga để làm giảm
nhẹ va kinh tế - xã hội ngược không đến. Theo một báo cáo của
Phòng Kiểm toán Liên Bang Nga (tháng 2, 2000), dự án không có
lợi tức kinh tế trong ngân sách của Nga. Theo báo cáo này, do
những điều khoản trong Thỏa ước Chia sẻ Sản xuất, những nhà bảo
trợ dự án sẽ thanh toán 19 tỉ thuế ít hơn trong đời sống của dự
án. Ngoài ra, nhwngx thiệt hại hiện nay và tiềm tàng với loài cá
địa phương phát sinh một cách tiềm tàng từ dự án sẽ có một va âm
tính phụ. Hơn nữa, những nhà bảo trợ dự án hứa hẹn là Sakhalin
II sẽ hỗ trợ việc khí hóa đảo Sakhalin đã bị bể.
Tiếng Việt RGC (09-12-2005)
WWF Contacts
Vassily Spiridov
WWF Russia
Moscow
E-mail :
vspiridonov@wwf.ru
Phone: +7 957270939
James Leaton
WWF UK
London
E-mail:
jleaton@wwf.org.uk
Phone: +44 (0)1483 412513
Francis Grant-Suttie
WWF US
Washington
E-mail:
francis.grant-suttie@wwfus.org
Phone: +1 2027789718
Trở về Trang Chính
|