Các phương pháp tính toán số lượng khí thải

từ bếp lò gia đình ở Ấn Độ


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

24 tháng 05 năm 2007

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Công trình nghiên cứu này được thực hiện để tính toán các yếu tố phóng xạ của chất khí thải từ các bếp lò gia đình ở Ấn Độ và tính toán sơ khởi tổng số phóng xạ quốc gia từ các nguồn nói trên. Các mục tiêu đặc biệt là để:

• chọn các phổi hợp chất đốt/bếp lò thường dùng ở Ấn Độ đại diện mọi loại chất đốt chính;

• xác định hàm lượng năng lượng và thành phần hoá học của mọi loại chất đốt đã chọn;

• thu gom các mẫu phóng xạ thể khí tiếp theo một phương pháp lấy mẫu đại diện các điều kiện điều hành ngoài đồng ruộng;

• phân tích những mẫu phẩm này trong phòng thí nghiệm trong việc tính toán nồng độ của CO2, CO, CH4, N2O, TNMOC;

• tính toán các nồng độ của các chất ô nhiễm quan trọng khác gồm có các thể hạt huyền phù tổng số (TSP), sulfur dioxide (SO2) và nitrogen dioxide (NO2);

• tính toán các tham số nhiệt như là tỷ lệ đốt và xác định hiệu quả nhiệt ở mức độ cao nhất của từng phối hợp chất đốt/bếp lò;

• căn cứ trên các nguồn dữ liệu hiện có, tính toán việc tiêu dùng mỗi năm về chất đốt dùng trong việc nấu ăn ở các vùng Ấn Độ khác nhau và

• tính toán kiểm kê GHG quốc gia về các bếp lò ở Ấn Độ.

Để hoàn tất các mục tiêu này, các phương pháp tiếp cận dưới đây đã được thực hiện;

A. Đề cương thực nghiệm

Việc nấu ăn không phải là một quá trình thường xuyên và phương pháp thực hành thay đổ ở các phần khác nhau của đất nước như là bảng phân tích giữa năng lượng cao, năng lượng thấp và các pha khác. Không giống như chất đốt thể khí, các đặc tính phóng xạ của chất đốt thể rắn thay đổi ở các thời gian khác nhau trong khi đốt. Vì thế điều cần thiết là việc chọn một chu kỳ đốt thích hợp gần với phương pháp thực hành nấu ăn phổ biến ở ngoài đồng ruộng. Trong công trình nghiên cứu hiện nay “trắc nghiệm đun sôi nước,” một phương pháp phát triển như một phương pháp quốc tế tiêu chuẩn trong việc so sánh các hiệu quả của các loại bếp lò khác nhau được dùng với một chút sửa đổi (VITA 1985). Khảo nghiệm đun sôi nước là một phương pháp tương đối ngắn, mô phỏng giản đơn phương pháp nấu ăn phổ biến trong đó chất lượng tiêu chuẩn nước được dùng trong việc mô phỏng lương thực. Khảo nghiệm gồm có các pha “năng lượng cao ” và “năng lượng thấp”. Pha năng lượng cao gồm có việc đun nóng số lượng nước tiêu chuẩn từ nhiệt độ trong phòng đến nhiệt độ đun sôi càng nhanh càng tốt. Pha năng lượng thấp tiếp theo trong đó năng lượng bị giảm bớt đến mức thấp nhất cần cho việc giữ nước ở tình trạng sủi bọt. Phương pháp có ưu thế phụ tạo điều kiện phóng xạ và hiệu quả đồng thời. Chu kỳ đốt nóng thay đổi từ 30-45 phút trong đa phần các phối hợp chất đốt/bểp lò.

Mọi lò bếp được đặt một cái nắp đậy và các mẫu thể khí được thu gom thông qua một con dò đặt bên trong ống xả nắp. Phương pháp nắp đậy (thỉnh thoảng được gọi là phương pháp “trực tiếp”) đã được dùng trong các khảo nghiệm bếp lò không thông gió và lò sưởi bằng dầu lửa.(Davidson et al.1987; Lionel et al. 1986; Ballard and Jawurek 1996). Các túi Tedlar được dùng để thu gom số lượng phóng xạ từ khi nhóm lửa đến khi lửa tắt. Trong một túi Tedlar thứ hai, không khí nền trong thời gian không nấu ăn cũng được thu gom.

Một khảo nghiệm kiểu mẫu được thực hiện với củi đốt trong một bếp lò truyền thống để kết thúc phương pháp. Nắp đậy và các mẫu nền được phân tích trong các phòng thí nghiệm TERI và OGIST và các kết quả được so sánh. Các khảo nghiệm pha chính được bắt đầu sau khi có các kết luận thoả đáng từ pha kiểu mẫu. Trong pha chính ba khảo nghiệm chu kỳ đốt được thực hiện trong từng phối hợp chất đốt.bếp lò. Một tổng số 28 phối hợp chất đốt/bếp lò được khảo nghiệm.

Mọi khảo nghiệm được thực hiện trong một nhà bếp nông thôn có mô phỏng (SRK) được xây dựng trong trại Gual Pahari campus của TERI. Kiểu mẫu của nhà bếp dựa trên một phương tiện đầu tiên dùng để khảo nghiệm hiệu suất nhiệt và đặc tính toả nhiệt của bếp lò (Ahuja et al.1987).

Mặc dù khảo nghiệm đầu tiên dùng vách bùn và một mái lá tranh, bếp lò hiện nay được xây dựng với tường gạch có trét xi măng và mái ngói. Lớp phủ xi măng dùng để tránh việc tái huyền phù của các thể hạt từ tường. Phương tiện được đặt trong một môi trường nông thôn ở đó không có các nguồn gây ô nhiễm lân cận. Các điều kiện thông gió của nhà bếp mô phỏng có thể được điều chỉnh bởi các nhà khoa học. Số lượng phóng xạ được nắm bắt bởi một cái nắp đậy thông qua đó một tỷ lệ quạt gió cố định được duy trì bởi một quạt điện. Các bếp lò, có hoặc không thích hợp với một ống khói, được đặt sao cho chất khí thải ra được nắm bắt hoàn toàn bởi nắp đậy này. Một bản mô tả đặc tính chi tiết của hệ thống bếp lò nông thôn mô phỏng và nắp đậy được trình bày trong Phụ bản A.

B. Chất đốt

Nhiều loại chất đốt được dùng trong việc nấu ăn gia đình ở Ấn Độ, (1991) đã thấy sự phân bổ gia đình dưới đây:

Phân súc vật: 15%

Dư thừa gỗ và cây trồng: 62%

Than củi: 0.8%

Than đá: 3.5%

Dầu lửa: 7.2%

LPG (liquid petroleum gas=khí dầu mỏ nước): 7.9%

Biogas (thể khí sinh học): 0.5%

Điện và các loại khác: 3.2%

Cuộc kiểm tra quốc gia cuối cùng có các khác biệt lớn giữa các miền và môi trường nông thôn và thành thị. (Các  tính  toán  chi tiết và  mơới  nhâất  đ ư ơợc  trình  bày  trong Phần V và Phụ bản G.) Ở đây, 11 loại chất đốt điển hình che phủ phổ hoàn toàn được chọn để khảo nghiệm:

Eucalyptus (safeda). Cây bạch đàn được trồng đa phần trong các lâm trường (cây đại mộc với cây thảo mộc) và các hàng đọc bên đường lộ và đường xe lửa. Bộ Tài nguyên và Lâm nghiệp đẩy mạnh cây bạch đàn vì nó có giá trị thương phẩm tốt, được trồng trên bất kể diện tích nào và không bị gặm bởi đông vật.

Vì số lượng calori cao của nó, cây được ưa chuộng trong việc nấu ăn. Cây bạch đàn trồng nhiều ở các bang Ấn Độ: Pụnab, Haryana, Uttar Pradesh, Karnataka và Maharashtra.

Acacia (keekar). Cây keo là cây đại mộc nhỏ chủ yếu trên đất trống và lề đường. Những cây này phổ biến trên các phần ở Ấn Độ và chủ yếu dùng như chất đốt.

Chất đốt rễ cây (Calligonium poligonidus ). Trên vài phần đất của bang Rajasthan (ở đó lớp che phủ của rừng ít và đất bị khô) người ta dùng phần rễ cây như chất đốt. Cây này là loại cây kiểu bụi rậm phát triển nhanh và rễ của nó dùng như củi đốt.

Than đá. Khi gỗ bị đốt cháy trong điều kiện thiếu không khí (điều này được thực hiện chậm dưới đất hoặc các điều kiện nửa kín gió), hàm lượng thăng hoa trong sinh khối sẽ bị giảm bớt nhiều để lại một thể rắn ước chừng hai lần tỷ trọng năng lượng của gỗ. Sản phẩm kết quả được biết như than đá. Ở Ấn Độ ước chừng ba phần tư của than đá tạo ra được dùng trong công nghiệp qui mô nhỏ như là làm nữ trang, giặt ủi (trong bàn ủi truyền thống), các đơn vị quay tơ và lò bánh mì. Chỉ ước chừng một phần tư dùng cho việc nấu ăn. Ở đây chúng ta mua than đá chất lượng thấp ngoài thị trường của kiểu được dùng trong các hộ gia đình-.

Bánh than đá (Char-briquette). Vật liệu than thải còn lại trong máy khí hoá sau khi sự sinh hoá sinh khối được làm bánh than thành những bánh than. Cac than bánh trong khảo nghiệm này phát sinh từ một máy khí hoá bằng cách sử dụng củi.

Phân súc vật. At 15% Trong 10% hộ gia đình, các bánh được tạo ra từ phân bò, trâu, hoặc lạc đà được dùng như chất đốt chính. Chúng được dùng chủ yếu trong vùng nông thôn và các nhóm dân nghèo trong thành phố. Phân súc vật (bánh dầu) (phân trâu bò) được trộn chung với dư thừa thực vật và phơi khô.  Bánh dầu thường dùng trong mọi phần đất nước trừ các bang Đông Bắc. Haryana và Utter Pradesh dùng rất nhiều bánh dầu như chất đốt (Joshi và Sinha 1993).

Thân cây mù tạt và rơm rạ (cây lúa), Dư thừa cây trồng còn được dùng bởi ước chừng 15% hộ gia đình trong cả nước. Chúng là các vật liệu thực vật còn lại ở ngoaid đồng ruộng sau khi sản phẩm cây trồng chính đã được trích và có thể là dưới hình thức rơm rạ, thân cây, trấu, hoặc vật liệu sợi. Kiểu dư thừa cây trồng hiện có trong chất đốt thay đổi khi loại cậy trồng được trồng trong miền. Dưa thừa cây trồng phổ biến khác dùng như là chất đốt là thân cây bông vải, thân cây đay, thân cây thuốc lá, thân cây lúa mì, và thân cây đậu lăng.

Dầu lửa, một sản phẩm chưng cất trung bình từ việc tinh chế dầu khí, chủ yếu được dùng trong các thành phố ở đó ước chừng 25% dân số tin cậy vào nó (Census of India 1991).

Liquid Petroleum Gas (LPG=Hơi đốt Dầu khí nước) bán ra ngoài thị trường bởi Indian Oil Corporation và Bharat Petroleum dưới các tên "Indane" và "Bharat" trong các ống hình trụ 14.2 kg. Điển hình hơi đốt gồm có ước chừng 80% butane và 20% propane.

Biogas là một chất khí đốt đa dạng dùng trong việc nấu ăn và thắp sáng. Biogas là một chất đôt tương đối sạch tạo ra chủ yếu từ phân súc vật và phân động vật khác trong vật tiêu hoá kỵ khí. Một cách điển hình chất đốt có ước chừng 60 % methane, 30 % CO2 và 2 % H2 với các vết ammonia, nitrogen, và hydrogen sulfide. Sự phổ biến rộng rãi các nhà máy biogas bắt đầu trong năm 1981 thông qua thông qua Dự án Quốc gia Phát triển Biogas (the National Project on Biogas development) (Ramana 1991). Vì vài loài động vật cần được cung cấp cho từng nhà máy biogas, bếp lò biogas chủ yếu được tìm thấy trong các vùng nông thôn ở đó, toàn diện, ước chừng nhiều hơn 1% có các thiết bị trên.

C. Bếp lò

Đây là một bản mô tả đặc tính ngắn của mọi kiểu bếp lò đã khảo nghiệm. Chi tiết của từng kiểu bếp lò với các bảng vẽ được tìm thấy trong Phụ bản B. Lưu ý là chỉ có hai kiểu có “thông gió” rõ rệt đươc trang bị với ống khói.

Bếp lò bùn truyền thống (-tm). Đây là một kiểu lò nặng hình thức `U' trong một chậu riêng tạo ra bởi hộ gia đình có sẵn đất sét địa phương và và được trét một hỗn hợp phân bò và đất sét.

Sắp xếp ba hòn đá (3-R). Người dân nông thôn có xu hướng du cư và người dân sống lề đường không có nhà ở thường xuyên sắp xếp ba hòn đá hoặc gạch trong việc nấu ăn và các mục đich sưởi ấm. Đây là sự sắp xếp nấu ăn lửa mở giản đơn. Không có kỹ năng đặc biệt hoặc chi phí đầu tư trong việc xây dựng, điều hành và duy trì chúng. Kích thước lỗ chậu còn có thể được thay đổi bằng cách điều chỉnh các hòn đá.

Kim loại cải tiến (imet) Đây là kiểu bếp lò không ống khói kim loại mang tay có một lỗ chậu phát triển trong năm 1983 bởi Central Power Research Institute CPRI), Bangalore, India. Năm 1991, bếp lò được mang dưới các tiêu chuẩn Ấn Độ  (BIS 1991).

Bùn thông gió cải tiến (ivm) Đây là một kiểu bếp lò hai chậu có ống khói, gọi là Nada chulha. Một đường hầm liên kết hộp lửa với lỗ chậu thứ hai và với một ống khói. Vì hai lỗ chậu được tạo ra hai thứ có thể được nấu trên nó cùng một lúc với chỉ một ngọn lửa.

Gốm thông gió cải tiến (ivc). Đây cũng là một kiểu bếp lò hai chậu có ống khói. Làm bằng một con lươn bằng gạch có một lớp bùn bao phủ, kiểu bếp lò này được phát triển ở Central Glass and Ceramic Research Institute, Khirja, Uttar Pradesh, là một trong những đơn vị Technical Back-up của chương trình bếp lò cải tiến quốc gia.

Chậu đốt Hara. Đây là một chậu đốt bằng đất truyền thống trong việc đốt bánh dầu và dùng chủ yếu trong việc hâm nóng chậm sữa trong thời gian từ ba đến bốn tiếng đồng hồ như trên, không đun sôi, kem của sữa tách riêng như là một lớp dầy ở trên mặt. Kiểu chậu này còn được dùng trong việc nấu nướng cỏ khô.

Angethi (dùng trong than đá và bánh than). Đây là một kiểu bếp lò sách tay tạo ra với một thùng sắt mạ kẽm, bùn/xi măng, và vỉ lò. Loại nhiên liệu phải được nấu trên vỉ lò bằng cách nâng cao chậu trong một hoạt động từng đợt.

Bấc dầu lửa (kero-wick). Mô hình được dùng trong khảo nghiệm được phát triển bởi Indian Oil Corporation và bán ra ngoài thị trường từ năm 1977 dưới thên thương phẩm "NUTAN."

Áp lực dầu lửa (kero-pres) Kiểu bếp lò dầu lửa kiểu bơm chất đốt đơn nawmg trong số những phiên bản rẻ tiền có thể sử dụng.

Bếp lò LPG. Các bếp lò LPG thường được dùng bởi các hộ gia đình ở thành thị. Có hai kiểu bếp lò LPG, có mỏ đèn đơn và kép, trong việc nấu ăn gia đình. Bếp lò khảo nghiệm trong khảo ngiệm hiện nay là một mô hình mỏ đền đơn có tiêu chuẩn được mô tả đặc tính bởi Indian standards (các tiêu chuẩn Ấn Độ) (BIS,1978).

Bếp lò Biogas. Một mô hình hai-mỏ đèn được dùng trong khảo nghiệm, nhưng chỉ một mỏ đèn hoạt động trong quá trình khảo nghiệm.

D. Phối hợp chất đốt/bếp lò

Vì phóng xạ và hiệu quả là các hàm số của chất đốt và bếp lò (cũng như phương pháp nấu ăn và các yếu tố khác), điều này thích hợp nhất trong việc trình bày các kết quả của chúng tôi bởi “phối hợp chất đốt/bếp lò”. 28 phối hợp chất đốt/bếp lò khảo nghiệm thành công được trình bày trong các Bảng 1-2.

Lưu ý là vài kiểu bếp lò được dùng với cùng loại chất đốt sinh khối: bùn truyền thống, ba hòn đá, kim loại cải tiến, bùn cải tiến có ống khói, và gốm cải tiến có ống khói.

E. Việc thu gom mẫu và các tham số tính toán (chi tiết trong Phụ bản C):

Trong mỗi khảo nghiệm các chất khí được thải ra và mẫu không khí trong phòng được thu gom trong dòng chảy khí đốt trong ống khói, được giữ lại theo một tỷ lệ thông lưu không thay đổi bởi một máy quạt gió (Phụ bản A). Mẫu toả nhiệt được lấy trong các điều kiện gần cùng động lực thông qua một con dò trong nắp đậy với một ống góp không khí khối lượng thấp ở một tỷ lệ thông lưu không thay đổi (ước chừng 2 lít/phút) thông qua một bộ phận lọc và vào trong một túi Tedlar.

Các mẫu nền trong nhà được thu gom ở chiều cao miệng bếp lò gần cửa bằng cách dùng cùng một sắp xếp. Tính toán bao quanh (trong nhà và ngoài trời) cũng được thực hiện trong thời gian không nấu ăn. Các mẫu ngoài trời bao quanh được thu gom ở chiều cao 8 bộ anh (2.5 m).

Thời gian, nhiệt độ, và trọng lượng nước, chất đốt, và than được ghi chép vào đầu và cuối của các pha nấu ăn cao và thấp. Với chất đốt thể khí, khối lượng khí đã tiêu dùng được ghi chép trong mỗi thí nghiệm. Những trị số calo của chất đốt và độ ẩm cũng được phân tích trong việc tính toán hiệu quả nhiệt toàn diện. (Xem Phụ bản C-F.)

Các mẫu chất đốt, tro, và than được phân tích về hàm lượng carbon, sulfur, tro và nitrogen. Các mẫu không khí được phân tích về carbon dioxide (CO2), carbon monoxide (CO), methane (CH4), không-methane hydrocarbon tổng số, sulfur dioxide (SO2), and nitrogen dioxide (NO2). TSP được xác định bằng cách trừ trọng lượng trước và sau của các bộ lọc. Một bộ lọc từ mỗi phối hợp chất đốt/bếp lò được phân tích về hàm lượng carbon.

Một mẫu chất đốt đã phát ra trong từng phối hợp chất đốt/bếp lò được đặt trong một hộp nhỏ bằng thép không gỉ 850-ml và được gửi đến OGIST để phân tích hơi đốt, thêm vào các khí đốt nói trên gồm có N2O và hình thành hydrocarbon. Trong mỗi loại hơi đốt, một hộp nhỏ được đổ đầy thành một bản sao thông qua một bẫy bằng ascarite (giun đũa) (giảm bớt việc tạo ra N2O trong hộp nhỏ).

F. Các cố gắng cẩn thận được thực hiện trong việc duy trì Kế hoạch Kiểm tra Chất lượng.

• Sáu khảo nghiệm pha kiểu mẫu được thực hiện trong việc phát triển các qui trình và trở thành thân hữu với việc thao tác phương pháp.

• Trong mỗi phối hợp chất đốt/bếp lò, một hoặc hai khảo nghiệm sơ khởi được thực hiện trong việc tiêu chuẩn hoá chu kỳ đốt và tối thiểu hoá sức sống thiên nhiên do các khác biệt trong tập tính của người điều hành (một tham số không được khảo nghiệm trong những khảo nghiệm này). Trước ba khảo nghiệm có kế hoạch trong mỗi phối hợp chất đốt/ bếp lò, các thử nghiệm được thực hiện với một độ chính xác thoả đáng của phương pháp có được. Kết quả của các mẫu lập lại này là  <20% RSD.

• Mỗi loại chất đốt thuộc thể rắn sẽ được khảo nghiệm được lấy từ một lô, phơi khô, và được bọc trong những tấm lát tích để tránh bất kể thay đổi độ ẩm.

• Củi và chất đốt rễ được cắt nhỏ có cùng bề dài và bề rộng trước khi đống gói.

• Bánh dầu dùng trong mọi phối hợp chất đốt/bếp lò được tạo ra bởi cùng một người bằng cách dùng cùng một tỷ lệ phân súc vật và dư thừa cây trồng.

• Sau mỗi khảo nghiệm, các cửa và cửa sổ được mở. Quạt hút và quạt bên được mở để làm sạch phòng một cách thich hợp.

• Than và tro còn lại trong mỗi khảo nghiệm được che phủ với lá nhôm và nhãn để phân tích carbon.

• Các túi Tedlar và việc đặt ống Teflon dùng trong mỗi thí nghiệm được xúc với không khí sạch nén trong việc làm sạch.

• Túi Tedlar và việc đặt ống Teflon dùng với chất đốt cấp hạng thấp như là chất đốt sinh khối thuộc thể rắn không được dùng lại.

• Sau mỗi phối hợp chất đốt/bếp lò được khảo nghiệm, con dò và nắp đậy được làm sạch với máy quét chân không.

• Một hộp hợp khí đốt định cỡ đượi gửi từ EWC đến TERI và OGIST được dùng để xác định kích cỡ TERI GC.

• Chứng cứ rò rỉ khảo nghiệm và những hộp nhỏ chứng nhận được đổ đầy với các mẫu sao và gửi đến OGIST để phân tích thêm việc phát ra khí đốt. Các trị số OGIST được so sánh với trị số TERI và trong các tình huống trong đó có niều độ lệch (>20%) khảo nghiệm được lập lại.

• Các bơm được dùng trong việc thu gom các mẫu bình phun được xác định kích cỡ bới một ống bọt trước và sau mỗi khảo nghiệm.

• Các bộ lọc dùng trong việc tính toán TSP được xác định trọng lượng ít nhất hai lần. Nếu khác biêt nhiều hơn 0.005 milligram trong hai lần cân, tình trạng cân bằng được xác định kích cỡ và bộ lọc được cân lại.

• Những bộ lọc trống không được cân và xử lý theo cùng một kiểu; ước chừng một khoảng trống trong 20 mẫu được dùng.

• Sau khi cân sau, các cát sét của bộ lọc được khằn để phân tích hàm lượng carbon.

• Máy đo ảnh phổ đã dùng trong phân tích SO2 và NO2 được xác định kích cỡ một cách cẩn thận và kiểm tra với các tiêu chuẩn sau mỗi bộ phân tích (Xem Phụ bản C ).

G. Các yếu tố phát

Vì mỗi khảo nghiệm được thực hiện trong khi thực hiện khảo nghiệm nấu ăn tiêu chuẩn hoá (Phụ bản C), số lượng phát tổng số đã tính toán là những yếu tố phát của nhiệm vụ nấu ăn tiêu chuẩn, gồm có việc hâm nóng 2.2 kg nước từ nhiệt độ chung quanh đến điểm sôi, tiếp theo là trạng thái sôi (Ahuja et al.,1987). Ở đây chúng tôi chia các tính toán phóng xạ thành hai phần. Một là, được gọi là “toả khí đốt cấp thời,” giải quyết khí đốt phát ra trong một khảo nghiệm riêng. Tỷ lệ của các khí đốt phát ra thích hợp trong việc tính toán nồng độ trong nhà và cục bộ. Hai là, gọi là “toả khí đốt cuối,” là một tính toán khí đốt cuối trong điều kiện hộ gia đình riêng ở Ấn Độ từ một đơn vị chất đốt và là điều thích hợp nhất trong việc xác định bản kê khí đôt hiệu ứng nhà kính từ yêu cầu chất đốt. Hai khí đốt phát ra chỉ khác nhau trong vài loại chất đốt thể rắn. Tính toán của mỗi loại chỉ khác nhau về phương pháp xử lý một phần chất đốt than còn lại.

G.1. Khí đốt phát cấp tính: Phân tích cân bằng carbon (Smith et al.1992;1993) được dùng trong việc tính toán các yếu tố phát. Trong khi đốt, chất đốt carbon (FC) chủ yếu được qui đổi thành khí đốt, carbon dioxide (CO2), carbon monoxide (CO), methane (CH4), và các hợp chất hữu cơ không-methane tổng số (TNMOC). Vài chất được chuyển thành bình phun trên không (TSP) và tro đáy hoặc còn lại như vật liệu đốt một phần, than đá. Vì chúng ta đang tập trung vào các yếu tố phát trong thành phần trên không, chúng tôi trừ đi than đá và tro carbon khỏi chất đốt đã dùng. Điều này cũng thích ứng với phương pháp thực hành hiện tại, ở chỗ các hộ gia đình thường để dành than không cháy để dùng sau này, ví dụ, vào bữa ăn kế tiếp. Để theo dõi một cách chính xác mọi chất carbon, điều này cũng cần trong việc giải trình số lượng nhỏ dầu lửa đã dùng trong việc khởi động bếp lò chất đốt thể rắn, được thực hiện để có tính đồng nhất nhiều hơn trong giai đoạn đầu có khói thường đốt cháy và còn là phương pháp thực hành trong nhiều hộ gia đình.

Trên một cơ sở carbon,

FC =CO+CH4+TNMOC+CO2+TSP                                                                       (1)

FC =[(Chất đốt tiêu dùng × mảnh carbon)+(dầu lửa,2 nếu có × mảnh carbon)]-

[(than đá tạo ra × mảnh fraction)+(tro tạo ra × mảnh fraction)]

CO2 =FC -(CO+CH4+TNMOC+TSP)                                                                    (2)

Chia cho CO2

1 =FC/CO2-(CO+CH4+TNMOC+TSP)/CO2                                                          (3)

1 =(FC/CO2)-

K =là tổng số tỷ lệ phát ra CO2 =(CO+CH4+TNMOC+TSP)/CO2

Yếu tố phát ra trong khảo nghiệm mỗi chu kỳ phát = EFbc (g/burncycle).

CO2 bằng g carbon =FC/(1+K)                                                                                 (4)

CO bằng g carbon =(tỷ lệ phát trong CO)× CO2 như g carbon                                   (5)

CH4 như g carbon =(tỷ lệ phát trong CH4)× CO2 như g carbon                      (6)

TNMOC như g carbon =(tỷ lệ phát trong TNMOC)× CO2 như g carbon       (7)

(Chúng tôi giả định là trọng lượng phân tử tương đương của TNMOC là 18 mỗi nguyên tử carbon)

Yếu tố phát trong TSP carbon được tính toán

TSPc =(TSP/CO2 ratio)× CO2                                                                                  (8)

Điều này được qui đổi thành khối lượng TSP:

TSPm =TSPc/mảnh carbon tính toán trong TSP                                                         (9)

Vì chất này không có carbon, N2O không bao gồm trong phương trình cân bằng carbon. Yếu tố phát của nó có thể được tính toán như

2 dùng trong số lượng nhỏ để bắt đầu đốt cháy trong vài loại chất đốt thể rắn.

N2O (g) = (N2O chất phát ra như tỷ lệ phân tử với CO2)

× CO2 như g carbon)) × 3.67                                                                        (10)

Vì trọng lượng phân tử của N2O là 3.67 lần nặng hơn trọng lượng nguyên tử của  carbon. Các yếu tố phát nói trên được tính toán trong một khảo nghiệm chu kỳ đốt cháy. Yếu tố phát mỗi chất đốt đơn vị:

EFm = (EFbc)/khối lượng chất đốt đã dùng trong khảo nghiệm                       (11)

Trong đó (EFm) được hiển thị như g/kg chất đốt khô.

Yêú tố phát mỗi đơn vị hàm lượng năng lượng chất đốt (g/MJ) được tìm thấy như

EFe =EFm/(hàm lượng năng lượng của chất đốt (MJ/kg)                                (12)

Yếu tố phát mỗi đơn vị cấp phát năng lượng (g/MJd) là

EFt =EFe/h                                                                                                               (13)

Trong đó  h là hiệu quả nhiệt của bếp lò (Phụ bản D).

G.2. Yếu tố phát cuối: Yếu tố phát cấp tính tính toán trên là chuyên tính các điều kiện của các khảo nghiệm, nhưng cần sửa đổi trong vài trường hợp trong việc phản ảnh điều kiện ngoài đồng ruộng. Điều này là vì sự chuyển hướng của một số lượng có ý nghĩa carbon chất đốt thành sản xuất than củi chất lượng thấp trong rễ và lò bếp dùng cây. Lẽ dĩ nhiên, trong các hộ gia đình, loại than củi này thường không bị phí phạm, hoặc là để lại trong bếp lò để được đốt cháy cùng với củi mới vào lần đốt sau hoặc là lấy ra và tồn trữ để dùng sau này trong việc nấu ăn hoàn toàn với chất đốt than củi. Cả hai phương pháp thực hành dùng phổ biến ở Ấn Độ, nhưng chúng tôi không có dữ liệu chỉ dấu phân tích thống kê số phần trăm hiện tại. Vì thế, giả thiết vốn có trong phân tích của Phần G.1 là carbon của than củi không đi vào không khí không có giá trị.

Hình 3a cho biết một kết quả điển hình trong bếp lò đốt bằng củi trong khảo nghiệm này, trong trường hợp này Eucalyptus trong bếp lò thông gió cải tiến bằng gốm (ivc), một kiểu bếp lò có xu hướng tạo ra năng suất than củi cao.

Chú ý là một kilô củi tạo ra 161 g than củi có 130 g hoặc 29% carbon gốc. Kết quả trình bày phát sinh từ phân tích cấp tính. Vì loai than củi này cuối cùng có thể bị đốt cháy trong điều kiện ngoài đồng ruộng, tuy nhiên, các số lượng này không thể dùng một cách trực tiếp trong việc tính toán yếu tố phát cuối. Để xử lý trình huống này, chúng tôi cũng tính toán các yếu tố phát về loại than củi đốt chất lượng thấp tạo ra trong các lò bếp trên. Hình 3b trình bày yếu tố phát phụ có thể phát sinh từ việc đốt 161g của than củi tạo ra từ loại củi gốc tạo ra từ gỗ gốc trong Hình 3a. Chú ý là than đá còn lại tạo ra trong trường hợp này có ít hơn 0.4% của carbon gốc (1.6 g) trong vật liệu chỉ là 20% carbon, nghĩa là, quá nghèo để thu hút như một loại chất đốt. Hình như có thể xác minh được, vì thế, việc xem xét điều này như một carbon thể rắn trở thành một phần của tro đã dùng và than đá và vì thế ẩn mình khỏi không khí, nếu không là thường xuyên, ít nhất trong thời gian dài.

Yếu tố phát cuối mỗi ki lô củi trong trường hợp này, vì thế, là tổng số của những yếu tố trình bày trong các Hình 3a&b. Chú ý là so sánh với yếu tố phát cấp tính riêng mọi yếu tố phát chủ yếu tăng lên chừng mực cùng một số lượng như các mảnh carbon của than củi so với carbon của chất đốt, nghĩa là 20-30%, trừ CO, gần như gấp đôi. Gia tăng CO càng lớn phản ảnh ưu thế của việc đốt cháy than đá so với việc đốt cháy bằng ngọn lửa vì hàm lươngthăng hoa thấp của than củi so với củi đốt.

Trong một kiểu tương tự, yếu tố K cuối chừng mực khác nhau so với điều được tìm thấy bằng phân tích cấp tính riêng. Vì thế cả hai kiểu được trình bày ở đây.

Trong việc báo cáo yếu tố phát mỗi đơn vị năng lượng chất đốt, giản đơn là cần chia yếu tố phát cuối mỗi kilô bởi trị số hâm nóng thấp của chất đốt gốc tính bằng  megajoules (MJ/kg), như trong phương trình 12. Trong việc báo cáo yếu tố phát mỗi đơn vị năng lượng cấp phát, tuy nhiên, cần xem xét hiệu quả bếp lò nào điều (h) áp dụng. Có  hai cách  chọn  chính:

A. Dùng hiệu quả năng lượng tính toán trong bếp lò sơ cấp (kiểu bếp lò dùng chất đốt thể rắn gốc) trong quá trình hoàn toàn; hoặc B. Dùng hiệu quả năng lượng chỉ tính toán kiểu bếp lò sơ cấp trong chất đốt tiêu dùng trong quá trình trình bàt trong hình  3a áp dụng hiệu quả tính toán kiểu bếp lò than củi (Angethi) phần còn lại tiêu dùng trong quá trình của Hình 3b .

Chúng tôi đã chọn cách chọn thứ nhất, cơ bản giả định là đa phần thạn đá tạo ra sẽ được dùng kiểu bếp lò gốc và không để dành dùng lại sau này trong một kiểu bếp lò than củi đặc biệt (Phương trình 13 ). Vì hiệu quả đã tính toán (18%) cuả Angethi dùng than củi là trong nhiều kiểu bếp lò dùng củi đốt (17-29%) và chất đốt rễ (14-23%), và chỉ một phần carbon được qui đổi thành than củi, khác biệt về yếu tố phát cuối mỗi MJ năng lượng cấp phát giữa hai cách chọn không lớn trong bất kể trường hợp nào.

Yếu tố phát cuối mỗi kilô củi trong trường hợp này, vì vậy, là tổng số của các yếu tố trình bày trong các Hình 3a&b. Chú ý là so sánh với yếu tố phát cấp tính riêng mọi yếu tố phát chính tăng lên ước chừng cùng một số lượng như mảnh carbon của than củi so với các yếu tố phát cấp tính riêng mọi yếu tố phát chính tăng lên ước chừng cùng một số lượng như mảnh carbon của than củi so với carbon của chất đốt, nghĩa là 20-30%, trừ CO, gần như gấp đôi. Gia tăng CO lớn nhiều hơn phản ảnh ưu thế của việc đốt cháy than đá so với đốt cháy với ngọn lửa vì hàm lượng thang hoa thấp của than củi so với củi đốt.

Trong một kiểu tương tự, yếu tố K cuối ở chừng mực khác nhau so với yêú tố được tìm thấy bằng cách phân tích cấp tính riêng. Vì vậy, cả hai kiểu được báo cáo ở đây.

Trong việc báo cáo yếu tố phát mỗi đơn vị năng lượng chất đốt, điều giản đơn là việc chia yếu tố phát cuối mỗi kilô bởi trị số hâm nóng thấp của chất đốt gốc tính bằng  megajoules (MJ/kg), nhe trong Phương trình 12. Trong việc báo cáo yếu tố phát mỗi đơn vị năng lượng đã cấp, tuy nhiên, điều cần là việc xem xét hiệu quả của bếp lò nào (h) áp dụng. Có hai cách chọn chính:

A. Dùng hiệu quả năng lượng tính toán trong kiểu bếp lò sơ cấp (kiểu bếp lò dùng chất đốt thể rắn gốc) trong toang bộ quá trình; hoặc 

B. Dùng hiệu quả năng lượng tính toán chỉ trong kiểu bếp lò sơ cấp với chất đốt tiêu dùng trong qui trình trình bày trong Hình 3a và áp dụng hiệu quả tính toán trong kiểu bếp lò dùng than củi (Angethi) với phần còn lại tiêu dùng trong quá trình của Hình 3b .

Chúng tôi đã chọn cách chọn thứ nhất, về mặt cơ bản giả định là đa phần than đá tạo ra sẽ được dùng trong kiểu bếp lò đầu tiên và không để dành để dùng sau này trong một kiểu bếp lò than củi đặc biệt (Phương trình .13 ). Vì hiệu quả đã tính toán (18%) của Ăngthi dùng than củi bên trong nhiều kiểu bếp lò dùng củi đốt (17-29%) và rễ đốt (14-23%), và chỉ một mảnh carbon được qui đổi thành than củi, khác biệt về yếu tố phát cuối đã tính toán mỗi MJ năng lượng đã cấp giữa hai cách chọn không lớn trong bất kể trường hợp nào.

RGC 07-05-2007

 

Trở về Trang Chính