|
Z. Hong Zhou1,2,
Matthew L. Baker2,3, Wen Jiang2,3,
Matthew
Dougherty3, Joanita Jakana3, Gang Dong4,
Guangying Lu4
and Wah Chiu2,3
1Department of
Pathology and Laboratory Medicine, University of Texas–Houston
Medical School, Houston, Texas 77030, USA. 2Program in
Structural and Computational Biology and Molecular Biophysics
and 3National Center for Macromolecular Imaging, Verna and Marrs
McLean
Department of
Biochemistry and Molecular Biology, Baylor College of Medicine,
Houston, Texas 77030, USA. 4National Laboratory of Protein
Engineering and Plant Genetic Engineering, College of Life
Sciences, Peking University, Beijing, 100871, China.
|
Cấu trúc ba chiều của virus gây bệnh lúa lùn được xác
định ở độ phân giải 6.8 bằng phương pháp kính hiển
vi lạnh điện tử hạt đơn. Bằng cách hội nhập phân tích
cấu trúc với tin sinh học, những nhóm protein trong dạng
quả nang hai vỏ được phát sinh. Trong protein vỏ ngoài,
những miền cao và thấp có định hướng độc nhất gồm có
những yếu tố cấu trúc thứ cấp tương tự nhưng có nhưng
phương hướng tương đối khác nhau so với phương hướng của
virus lưỡi xanh dương (bluetongue virus) trong cùng họ
Reoviridae. Những khác biệt về chuỗi và cấu trúc giữa
những protein này có thể là quan trọng trong việc xác
định những phản ứng tương hỗ virus-ký chủ. Protein vỏ
trong chấp nhận một cấu hình giống như những thành phần
khác của Reiviridae, gợi ý một tổ tiên chung đã tiến hóa
lây nhiễm sinh vật ký chủ thay đổi từ thực vật sang động
vật. Sự không tương thích đối xứng giữa hai phản ứng
tương hỗ góp phần vào tính ổn định của cỗ máy phân tử
lớn lớn.
Virus lúa lùn (RDV) là một mầm bệnh chủ yếu của cây lúa
ở Đông Nam Á, nơi mà sự lan truyền RDV có thể co những
hậu quả kinh tế nghiêm trọng. RDV, thuộc về Reoviridae,
được lan truyền bởi rầy xanh Nephotettix cincticeps
sang những loài cây dễ nhiễm, việc lập lại trên ký chủ
và vectơ. Virus trong Reoviridae, mà ký chủ gồm có thực
vật, côn trùng và động vật, chia sẻ một cơ chế chung lập
lại1,2 nhưng thay đổi về mặt thực chất trong
tổ chức3 cấu trúc của chúng. RDV, một hạt vỏ
kép có 12 đoạn dsRNA, có một khối lượng protein tổng số
>26 MDA. Những cố gắng trước đây trong việc khảo nghiệm
RDV bằng phương pháp kính hiển vị lạnh điện tử ở độ phân
giải thấp đã trình bày tổ chức4-7. Vỏ dạng
nang ngoài có 260 trimers (chất tam phân) của P8 (46kDa)
sắp xếp trên một T= 13/thể thức lô phụ 20 mặt
(icosahedral lattice). Vỏ dạng nang trong gồm có 60
dimers (chất nhị phân) của P3 (114 kDa) sắp xếp trên một
T= 1 thể thức lô phụ 20 mặt. Mặc dù tổ chức dạng nang
này cùng là một tổ chức của những hạt vỏ kép của vài
thành phần khác của Reoviridae, tính đồng dạng chuỗi với
P3 và P8 không ý nghĩa (đồng dạng <20%)4.
Cấu trúc tổng hợp
Với những hoàn chỉnh mới trong việc nhận và xử lý những
ảnh kính hiển vi lạnh điện tử, trong việc xác đinh cấu
trúc RDV đến một độ phân giải cao có ý nghĩa đã trở
thành có thể thực hiện, Việc hội nhập phân tích chuỗi và
công cụ tính toán9 đã cho phép chúng tôi nhận
diện những yếu tố cấu trúc thứ cấp của P3 cà P8 và, vì
thế, xây dựng một mô hình cấu trúc trong thể dạng nang
RDV vỏ đôi.
Ohor lực trên máy vi tính của một miền đại diện từ một
vi ký gần trung tâm (close-to-focus micrograph) của RDV
(Hình 1a) có độ đen trắng có thể khám phá vượt quá 6 Ă
(Hình 1b). Độ phân giải hiệu quả của tái xây dựng này
được đánh giá sẽ là 6.8 Ă (Hình 1c) từ đó những cấu trúc
của những vỏ ngoài và trong của thể dạng nang được chia
đoạn về mặt tính toán (Hình 1d, e). Mặc dù tổ chức tổng
hợp của thể dạng nang (capsid) giống như tổ chức của hạt
có khả năng dịch mã của virus lưỡi xanh (bluetongue)
(BTV)10 và reovirus11 động vật,
gình tròn, RDV có góc riêng biệt
Thể dạng nang ngoài và mô hình P8
Vỏ ngoài của mỗi thể dạng nang RDV được tạo thành năm
chất tam phân (trimers) độc nhất (P, Q, R, S và T) (Hình
1d) của protein P8 tổ chức trên một T = 13Ɩ thể thức lô
phụ 20 mặt. Mặc dù chỉ có chất tam phân T có tính đối
xứng ba nhóm 20 mặt bắt buộc trong suốt thời kỳ xây dựng
lại, tất cả năm chất tam phân khác xuất hiện rất giống
lẫn nhau.
Ngoài ra, tất cả những chất tam phân có quan hệ tương hỗ
tốt với chất nọ chất kia và trình bày một mức độ cao
tính đối xứng ba nhóm với một hệ số quan hệ tương hỗ
>0,85. Vì thế, để cải thiện tỷ lệ tín hiệu - đối - tiếng
động, và những chất tam phân P, Q. R và S được đặt trên
một đường thẳng và tính toán trung bình. Chất tam phân
trung bình là 70 Å cao và 70 đường kính, với một
đơn vị phụ đơn phân (monomeric subunit) gồm có một miền
cao và thấp xoắn 60o với nhau khoảng trục
3-nhóm (Hình 2a). Miền cao của mỗi đơn vị phụ P8 cơ bản
có những tỷ trọng mỏng, phẳng, và cạnh nhau, nhưng trái
lại miền thấp chủ yếu gồm có những tỷ trọng dạng que
(Hình 2b). Việc sử dụng HELIXHUNTER9. Chúng
tôi đã nhận diện và đặt chín vòng xoắn (helices) ơt miền
thấp P8 (Hình 2c). Để nhận diện những chuỗi amino acid
tương ứng với những vòng xoắn này, chúng tôi xác định
quan hệ tương hỗ những điểm không gian tương đối và độ
dài những đoạn xoắn của chúng với những điểm dự báo từ
phương pháp dự báo cấu trúc thứ cấp bội (PsiPred12.
PHD13 và SSPRO14).
Mặc dù những điểm của chín vòng xoắn liên ứng đx nhận
diện bởi phương pháp dự báo thứ cấp trong chuỗi P8 (Bảng
1) không thay đổi, độ dài chính xác của những vòng xoắn
dự báo thay đổi đến bẩy độ dài tồn lưu. Việc chỉ định
chuỗi cho những vòng xoắn giả định từ phân tích
HELIXHUNTER (Bảng 1) được đề xuất dựa trên sự tương
thích độ dài vòng xoắn và tính liên tục của tỷ trọng
khối lượng giữa vòng xoắn chuỗi ở những mức độ diễn biến
khác nhau (Hình 2e). Ở đầu N, năm vòng xoắn (1-5) và
những điểm nối của chúng có thể được chỉ định.
Tuy nhiên, trên những vòng xoắn đầu C, những tỷ trọng
khối lượng của chỉ những vòng xoắn 6, 7 và 9 là cạnh
nhau. Vòng xoắn 8 không được chỉ định, vì nó pphân giải
tồi trên chuỗi và cũng như cấu trúc không nối với tỷ
trọng ở miền đầu C. Việc chỉ định vòng xoắn này được hỗ
trợ thêm bởi sự tương thích thứ tự trên chuỗi đến thứ tự
của vòng xoắn trên VP7 protein dạng nang ngoài BTV, như
được đánh giá bởi hai phương pháp dùng phổ biến của việc
so sánh những cấu trúc proteins9, 15.16. Ví
dụ, sáu trong những vòng xoắn ở RDV P8 (những vòng xoắn
1, 2, 4, 6, 7 và 9) tương thích tốt, với độ lệch <5 Å
(r.m.s) bình phương trung bình căn dựa trên những dạng
trung tâm vòng xoắn (helical centroids), với những vòng
xoắn tương ứng ở BTV VP7 (Bảng 1). Những vòng xoắn đầu N
hình như rõ nét là tương thích với vòng xoắn BTV tương
ứng tốt nhiều hơn những vòng xoắn đầu C, gợi ý là một di
chuyển miền liên quan những miền đầu N và đầu C.
Những phương pháp dự báo cấu trúc thứ cấp còn cho biết
là miền giữa của chuỗi P8 (128-135) có những sợi b. Tuy
nhiên, tính biến đổi của dự báo trong miền này cao rất
nhiều so với những miền đầu giàu vòng xoắn. Việc nhận
biết nhóm17, miền này được dự báo sẽ là đồng nhất về mặt
cấu trúc với miền bánh kẹp (sandwich) b của BTV VP7
(tham khảo 4). Mặc dầu sợi b cá thể không thể phận giải
được trên bản đồ 6,8 Å,những hình dạng phẳng, liên tục
trong miền trên thể hiện những đặc tính điển hình của
những tấm b ở độ phân giải này (Hình 2b), Việc dùng
FOLDHUNTER9, nhóm bánh kẹp b đồng nhất được đặt vào miền
trên của đơn vị phụ RDV P8 (Hình 2d). Mặc dù sự rương
thích tổng hợp hình như là hợp lý, một trường hợp không
tương thích rõ nét ở phần ngoài cùng của miền trên P8 có
thể được vẽ nản đồ lại mộtt khác biệt tương ứng giữa
miền tấm b của RDV P8 và những chuỗi4 protein
BTV VP7. Khác biệt cấu trúc này trong miền ngoài cùng
của P8 gợi ý một liên quan có thể thực hiện trong việc
nhận biết thể nhận tế bào ký chủ đặc biệt, đính kèm
và/hoặc lối vào.
Từ việc phân tích chuỗi và cấu trúc, chúng tôi đề nghị
một mô hình nhóm (fold model) cho RDV P8 (Hình 2e). Mặc
dù việc đặt những sợi và tính liên kết của chúng trong
miền trên có tính chất suy đoán, nhóm của miền xoắn thấp
được chứng minh bởi những vòng xoắn phân giải tốt, tính
liên kết của chúng rõ nét ở một diễn biến tỷ trọng thấp,
phù hợp với dự báo cấu trúc thứ cấp trên nền chuỗi và
tương thích với những yếu tố cấu trúc tương ứng từ BTV
VP7 (Bảng 1). Mặc dầu cấu trúc miền hai của P8 giống
nhau với cấu trúc VP7 của BTV, phương hướng tương đối
của những miền này khác nhau so với đồng dạng cấu trúc
của VP7: REF và HEX, hiện có hai dạng tinh thể18,
19 khác nhau. P8 hình như sẽ là trong một cấu hình
ít xoắn (60o) giữa những miền cao và thấp so
với đồng dạng REF (120o) nhưng nhiều hơn so
với đồng dạng HEX (Oo) của VP7. Khác biệt này
có thể bị ảnh hưởng bới những biến đổi trên những đoạn
linh hoạt trong miền bản lề (dấu hoa thị, Hình 2e).
Ngoài ra, sự sắp xếp đơn vị phụ đưa đến miệng của hình
thức đường hầm trên đỉnh của chất tam phân, ngược lại
với tỷ trọng đầy hoàn toàn trên bề mặt đỉnh của chất tam
phân tương ứng của BTV. Cấu hình độc nhất này có thể làm
dễ dàng phản ứng tương hỗ đơn vị phụ cần cho tính ổn
định của dạng nang trong khi duy trì bề mặt tiên quyết
của phản ứng tương hỗ thể nhận ký chủ.
Dạng nang trong và mô hình P3
Nằm dưới những chất tam phân của vỏ ngoài là những chất
nhị phân 60 P3 tạo ra T = 1 vỏ trong (Hình 1e). Những
cấu trúc của đơn vị phụ A và B của chất nhị phân P3 trên
RDV được chia đoạn trên biểu đồ từ dạng nang trong. P3 A
và B cần có hai chiều (planar), dài 150 Å và dày 25-35
Å, có một hình thức lưỡi liềm tổng hợp. P3 có thể được
chia ra thành ba miền, miền tham khảo như đỉnh (gần trục
nhóm năm), miền mai (dạng đĩa) và miền chất nhị phân hóa
(gần trục nhóm hai) trên BTV10. Một tính đồng dạng thô
với proteins dạng nang trong reovirus khác là rõ nét.
Việc sử dụng HELIXHUNTER9, 28 vòng xoắn trong mỗi đơn vị
phụ trong một máy không đối xứng của vỏ trong được nhận
diện (Hình 3a, b). Tuy nhiên, những độ dài và vị trí
đúng cửanhngx vòng xoắn tương ứng trên P3A và P3B hơi
thay đổi, phản ánh biến đổi cấu hình giữa những đơn vị
phụ như còn thấy trên reovirus BTV và động vật. Như với
P8, ba phương pháp dự báo cấu trúc thứ cấp đã trình bày
cho những điểm chuỗ và độ dài tương tự của vòng xoắn đã
dự báo (Hình 3g). Những vòng xoắn dự báo chuỗi sau đó có
quan hệ tương hỗ với những vòng xoắn đã thấy trong cấu
trúc của chúng tôi như đã trình bày trong P8 (Hình
3a,b). Ngoài ra, bốn tấm b thấy rõ nét trong miền chất
nhị phân hóa của cả hai đơn vị phụ như trong miền
carapace (mai) của đơn vị phụ A.
Một tính đồng dạng tổng hợp giữa sự sắp xếp yếu tố cấu
trúc thứ cấp trong đơn vị phụ P3A và P3B với những đơn
vị phụ tương ứng BTV10 và lõi 11 reovirus động vật là rõ
nét và, vì thế, làm dễ dàng cho việc liên kết những yếu
tố cấu trúc đã quan trắc (Hình 3c,d). Ngoài ra, tính
liên kết của những vòng xoắn rõ nét trong bản đồ của
chúng tôi (Hình 3f). Tính liên kết đề xuất (đường đỏ,
hình 3c,d) giữa những vòng xoắn, dựa trên proteins lõi
reovirus BTV và động vật, phù hợp với tỷ trọng đã quan
trắc trong bản đồ của chúng tôi, nhưng trái lại những
mối liên kết của sợi b (đường chấm đỏ, hình 3c,d) không
được phân giải tốt và vì thế, có tính chất suy doán
nhiều hơn.
Những khác biệt đã quan trắc trong sắp xếp không gian
chi tiết của những yếu tố cấu truc thứ cấp giữa P3A và
P3B có thể có liên quan với những vai trò chức năng và
cấu trúc khác nhau của chúng, Những miền đỉnh của P3 A
và B, mặc dù rất giống nhau, thể hiện những khác biệt
trong một dải ba vòng xoắn ngắn (những vòng xoắn 13-15).
Những vòng xoắn này trên P3A hình như sẽ là thứ tự tốt
và đặt gần trục năm nhóm. Tuy nhiên, những vòng xoắn
tương ứng trên P3B ít được phân giải. Việc chia nhóm của
những miền vòng xoắn có thể thay đổi P3A này khoảng trục
nhóm năm đưa đến hình thành một khổng dọc trục này (Hình
1e). Vì thế, những vòng xoắn này có thể có liên quan
trong dịch mã mRNA mới sinh và đẩy ra trong quá trình
lập lại vi rút, một quá trình chung trong số những virus
dsRNA xuất hiện gần trục nhóm năm2,20,21.
Tính linh hoạt đội hình của những vòng xoắn này có thể
cho phép một cách tin được trong việc phát triển và/hoặc
co rút không cần trong và sau khi thả mRNA.
Giống như những vòng xoắn ở miền đỉnh, những vòng xoắn ở
miền mai (carapace) đã được quan trắc tốt giữa P3A và
P3B. Tuy nhiên, có một khác biệt rõ trong một miền
(carapace) bao gồm trong khi tiếp xúc đơn vị phụ
(intersubunit). Trên P3B, một vòng xoắn dài 30 Å (vòng
xoắn 1), còn thấy trong một điểm tương đương trong
reovirus11 động vật, nhô ra khỏi lưng miền
mai. Trên P3B, vòng xoắn này chèn vào một túi hìnhthành
bởi những vòng xoắn 22-25 của P3A (Hình 1e. 3c,d) nhưng
không thấy rõ trong điểm tương ứng ở P3A, giống như cả
hai proteins dang nang trong tương ứng của BTV và lõi
reovirus động vật.
Những miền chất nhị phân hóa có số lượng đồng đạng ít
nhất giữa P3A và P3B, và mô hình của chúng tôi gợi ý là
cả hai gồm có chủ yếu những vong và tấm b. Việc đóng gói
những đơn vị phụ dạng nang trong kết hợp với tính chất
linh hoạt tiềm tàng của miền này có thể chịu trách nhiệm
về những khác biệt cấu hình.
Không tương thích đối xứng
Như đã trình bày trong những thành phần khác của
Reoviridae3, chức năng sơ cấp của vỏ trong lè để bảo vệ
RNA và cung cấp những điểm thả neo cho enzymes trong
việc làm dễ dàng quá trình dịch mã nội sinh, nhưng trái
lại vỏ ngoài trung gian chuyên tính của sinh vật ký
chủvà giữ những vai trò quan trọng trong tập hợp dạng
nang và tính ổn định. Trong cấu trúc của chúng tôi,
không có chất nhị phân P3 cũng không có tam phân P8 có
những tiếp xúc rộng trong vở tương ứng của chúng (Hình
Id,e). Tuy nhiên, những phản ứng tương hỗ giữa proteins
dạng nang trong và ngoài là có thật, vì mỗi chất tam
phân dạng nang ngoài tiếp xúc proteins dạng nang trong
bội. Những điểm tiếp xúc giữa hai vỏ chủ yếu được đặt
vào những vòng xoắn 2 và 3 của P8 nhưng phổ biến nhiều
hơn trên P3 (Hình 4). Đặc biệt, chất tam phân P của P8
tạo ra những tiếp xúc độc quyền với những miền đỉnh của
P3A và P3B (đỏ, Hình 4c), nhưng trái lại chất tam phân T
tạo ra những tiếp xúc với những miền chất nhị phân hóa
của ba phân tử P3B lân cận khoản trục nhóm ba (xanh
nhạt, hình 4c). Ba chất tam phân còn lại duy trì những
điểm tiếp xúc bội với vài phân tử P3A và P3B lân cận
(Hình 4b,c). Những điểm tiếp xúc đã nhận diện được bảo
toàn qua mọi đơn vị không đối xứng. Những phản ứng tương
hỗ không tương đương và chuyên tính cho phép T = 1 vỏ
trong và T = 13l vỏ ngoài trong việc duy trì một quan hệ
hình học độc nhất và ổn định trong suốt thờikỳ lập lại
và thả RNA.
Kết luận
Phân tích của chúng tôi gợi ý những nhóm tổng hợp của
những proteins vỏ dạng nang RDV xuất hiện giống nhau
trong số những thành phần khác nhau trong cùng một họ3
virus, mặc dầu chúng không có tính đồng nhất chuỗi có ý
nghĩa. Đây là một chỉ dấu tiến hóa phân kỳ của những
loại virus này từ một tổ tiên chung nhằm để thích ứng
với môi trường và ký chủ khác nhau. Bằng cách duy trì
một cấu trúc dạng nang giống nhau và cấu trúc protein,
những phản ứng tương hỗ đặc biệt cần cho tính ổn định
dạng nang có thể được duy trì, nhưng trái lại những khác
biệt cấu trúc trong số proteins vỏ ngoài có thể giữ
những vai trò chủ yếu trong việc cho chuyên tính ký chủ
trong khi lây lan.
Việc xác đinh cấu trúc của RDV cung cấp trình diễn đầu
phát sinh từ một mô hình phân giải cao trong những hợp
phần phân tử trong một tập hợp lớn không có một tinh
thể, thông qua sự hội nhập kính hiển vi lạnh điện tử với
công cụ tin sinh học. Chúng tôi cho biết là ở độ phân
giải 6,8 Å, mặc dù chỉ những vòng xoắn và tấm b của
proteins có thể nhận rõ được, việc thiết lập một mô hình
nhóm độ phân giải cao có thể thực thi được. Việc xây
dựng những mô hình này thu nhỏ sự hội nhập thông tin,
bắc cầu lại việc chỉ định cấu trúc (miền thấp P8), việc
đặt miền thông qua sự nhận biết nhóm (miền trên P8) và
việc chỉ định nhóm nhờ vào mô hình (P3). Một phương pháp
tiếp cận tổng hợp thường là có thể sử dụng cho những cỗ
máy sinh học lớn khác.
Phương pháp
Kính hiển vi lạnh điện tử, kính hiển vi lạnh điện tử A.
JEOL4000 với một máy giữ lạnh Gatan được dùng để ghi
những cặp tiêu cự của RDV tinh chế ở 400keV như đã trình
bày8. Máy vi ký cá thể được số hóa ở 1.35 Å
pixel-1 trên một máy quét SCAI (Z/I Imaging) và kế tiếp
trung bình đến 2.7 Å pixel-1. Từ 81 cặp tiêu cự, >4.000
cặp ảnh hạt RDV được chọn để phân tích thêm. Ảnh hạt từ
máy vi ký xa-từ-tiêu điểm (far-from-focus micrograpjs)
được dùng trong việc xác định những tham số định hướng
đầu trong những hạt tương ứng trong vi ký8,22,23
gần-lại-tiêu diểm. Những tham số định hướng và trung tâm
của mỗi hạt gần-lai-tiêu điểm được tinh chế nhiều lần
như đã trình bày23,24. Một hiệu chỉnh hoạt
động chuyển giao tương phản với một độ tương phản phóng
lớn 7% và yếu tố làm ướt phóng Fourier 100 Å2 được áp
dụng cho mối ảnh hạt trước khi 3D hòa lẫn không gian25
iFourrier. Chỉ những ảnh hạt gần lại tiêu điểm, từ 0.3
đến 2.2 mm dưới tiêu điểm, được bao gồm trong xây dựng
lại 3D cuối, được tính toán bằng cách hòa lẫn 3,261 hat25,26.
Độ phân giải hiệu quả được xác định với tiêu chuẩn
ngưỡng 0,5 trong hệ số quan hệ tương hỗ vỏ Fourrier giữa
hai tái xây dựng không phụ thuộc27.28.
Phân tích cấu trúc
Từ bản đồ tỷ trọng, hơi lớn so với một may không dối
xứng được trích về mặt biểu đồ bằng cách sử dụng mô đun
tùy chỉnh xây dựng trên IRIS Explorer (NAG). Những định
nghĩa giữa proteins dạng nang, cũng như tiếp xúc của
chúng, được nhận diện bằng mắt, cho phép những máy phụ
riêng về mặt hình học sẽ chia đoạn thêm từ thể dạng
nang. Mỗi chất tam phân được đặt trên đường thẳng đến
chất tam phân T bằng cách sử dụng FOLDHUNTER9. Trục đối
xứng nhóm ba cục bộ trong những chất tam phân được tinh
chế nhiều lần và mức độ của đối xứng nhóm ba được đánh
giá khoảng trục29. Những chất tam phân đặt
thẳng hàng, trừ chất tam phân T, sau đó được cộng lại để
tạo ra một chất tam phân trung bình. Một chất đơn phân
được trích sau đó từ chất tam phân P8 trung bình.
HELIXHUNTER9 sau đó chạy trên mọi máy phụ dạng nang và
những chất đơn phân P3 trong việc nhận diện những vòng
xoắn tiềm tàng. Hơn nữa, miền tấm b của BTV VP7 bị mờ
đến đến độ phân giải 7 Å bằng cách sử dụng PDB2MRC30 và
đặt ở RDV P8 bằng cách sử dụng FOLDHUNTER9. Việc dự báo
cấu trúc thứ cấp bằng cách sử dụng SSPRO14, PsiPred12 và
PHD13 được thực hiện trong P3 (SWISS-PROT ID VP8_RDVF)
và P8 (SWISS PROT ID VP3_RDVF). Những kết quả nhận từ
HELIXHUNTER9 và những dự báo cấu trúc thứ cấp sau đó có
quan hệ tương hỗ để vẽ bản đồ chuỗi đến vòng xoắn đã
quan trắc. Việc chỉ định những vòng xoắn dựa trên độ
dài, điểm, tính liên tục tỷ trọng và sắp xếp không gian.
Trên P3, những cấu trúc của BTV tương ứng và proteins
reovirus được dùng để tham khảo trong quá trình xây dựng
mô hình. Những mối nối phỏng chừng giữa những miền vòng
xoắn và tấm b được chỉ định dựa cơ bản trên tính liên
kết đã nhận diện bằng mắt những yếu tố cấu trúc thứ cấp
trong bản đồ tỷ trọng của chúng tôi và tính đồng nhất
với những cấu trúc BTV và reovirus.
Ngày 25-07-2006 |
Acknowledgments
This research has been supported by grants from National
Institutes of Health, the Robert Welch Foundation and the
National Natural Science Foundation of China. Z.H.Z. is a Pew
Scholar in the Biomedical Sciences and a Basil O’Connor Starter
Scholar of the March of Dimes Foundation. M.L.B. was supported
in part by Baylor Research Advocates for Student. We would like
to thank B.V.V. Prasad,
M.F. Schmid and M. Baker for their helpful comments on the
manuscript.
Supplementary animations and 3D VRML models are available at
http://ncmi.bcm.tmc.edu/ ∼wjiang/rdv/.
Correspondence should be addressed to W.C. email:
wah@bcm.tmc.edu
Received 24 May, 2001; accepted 23 August, 2001.
References
1. Gouet, P. et al. Cell 97, 481–490 (1999).
2. Lawton, J.A., Estes, M.K. & Prasad, B.V. Nature Struct.
Biol. 4, 118–121 (1997).
3. Nibert, M.L., Schiff, L.A. & Field, B.N. in Fields
Virology, Vol. 2 (eds. Fields, B.N. et al.) 1557–1596
(Lippincott-Raven, Philadelphia; 1996).
4. Lu, G. et al. J. Virol. 72, 8541–8549 (1998).
5. Zhu, Y. et al. J. Virol. 71, 8899–8901. (1997).
6. Wu, B. et al. Virology 271, 18–25. (2000).
7. Shao, C., Zhou, Z.H. & Lu, G. Science in China 44,
192–198 (2001).
8. Zhou, Z.H. et al. Science 288, 877–880 (2000).
9. Jiang, W., Baker, M.L., Ludtke, S.J. & Chiu, W. J. Mol.
Biol. 308, 1033–1044 (2001).
10. Grimes, J.M. et al. Nature 395, 470–477 (1998).
11. Reinisch, K.M., Nibert, M.L. & Harrison, S.C. Nature
404, 960–967. (2000).
12. McGuffin, L.J., Bryson, K. & Jones, D.T. Bioinformatics
16, 404–405. (2000).
13. Rost, B., Sander, C. & Schneider, R. Comput. Appl.
Biosci. 10, 53–60. (1994).
14. Baldi, P., Brunak, S., Frasconi, P., Soda, G. & Pollastri,
G. Bioinformatics 15,
937–946. (1999).
15. Mizuguchi, K. & Go, N. Protein Eng. 8, 353–362.
(1995).
16. Kleywegt, G.J. & Jones, T.A. Methods Enzymol. 277,
525–545 (1997).
17. Fisher, D. & Eisenberg, D. Protein Sci. 5, 947–955
(1996).
18. Grimes, J.M., Basak, A.K., Roy, P. & Stuart, D.I. Nature
373, 167–170 (1995).
19. Grimes, J.M. et al. Structure 5, 885–893 (1997).
20. Pesavento, J.B., Lawton, J.A., Estes, M.K. & Prasad, B.V.
Proc. Natl. Acad. Sci. USA
98, 1381–1386. (2001).
21. Zhang, H. et al. J. Virol. 73, 1624–1629. (1999).
22. Fuller, S.D. Cell 48, 923–934 (1987).
23. Zhou, Z.H. et al. Nature Struct. Biol. 2, 1026–1030
(1995).
24. Zhou, Z.H. et al. Biophys. J. 74, 576–588 (1998).
25. Zhou, Z.H., Chen, D.H., Jakana, J., Rixon, F.J. & Chiu, W.
J. Virol. 73, 3210–3218
(1999).
26. Crowther, R.A. Phil. Trans. R Soc. Lond. B Biol. Sci.
261, 221–230 (1971).
27. van Heel, M. Ultramicroscopy 21, 95–100 (1987).
28. Böttcher, B., Wynne, S.A. & Crowther, R.A. Nature
386, 88–91 (1997).
29. He, J., Schmid, M.F., Zhou, Z.H., Rixon, F. & Chiu, W. J.
Mol. Biol. 309, 903–914
(2001).
30. Ludtke, S.J., Baldwin, P.R. & Chiu, W. J. Struct. Biol.
128, 82–97 (1999).
Trở về Trang Chính
|