Phương pháp canh tác cà chua (đề xuất)

R.HANSEN và ctv.


Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

27 tháng 07 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Dẫn luận

Cà chua là một trong các loại rau được trồng rộng rãi nhất trên thế giới. Tính phổ biến của cà chua trong các người tiêu dùng đã làm cho nó thành một nguồn vitamin A và C quan trọng trong bữa ăn.

 

Yêu cầu về thời tiết và đất

Cà chua sinh trưởng tốt nhất trong các nhiệt độ 20-27oC. Việc tạo quả kém khi các nhiệt độ trung bình vượt quá 30oC hay rớt xuống dưới 10oC. Cà chua thích loại đất dễ tiêu nước vì chúng rất nhạy cảm với tình trạng ngập úng. pH đất tối ưu là 6,0-7,0.

Cà chua lợi dụng sự luân canh, việc trồng cà chua sau cây lúa, thí dụ, làm giảm bớt sự xuất hiện của bệnh và tuyến trùng. Nên tránh trồng cà chua trên một ruộng đã trồng vụ trước cà chua, ớt, cà thay các cây họ Cà khác. Cây loại cây trồng này chia xẻ một số vấn đề về côn trùng và bệnh.

 

Phương pháp chọn giống

Việc chon lọc một giống tốt nhất là quan trọng cho sự thành công. Có nhiều yếu tố để xem xét:

Kiểu trái: Các giống cà chua được phân ra thành một trong ba hạng trên thị trường:

(1)                       Thị trường tươi - Quả thường đỏ nhưng thay đổi về màu sắc, hình dạng và kích cỡ.

(2)                       Quả:- Một kiểu có quả nhỏ (dưới 30g), thuộc về kiểu thị trường tươi mang trên các chùm dài, và

(3)                       Chế biến - Quả có màu đỏ sậm và rất chắc thịt thích hợp cho việc chế biến

 

Tập tính của cây: Các giống cà chua còn được phân loại theo tập tính của cây: xác định, nửa xác định hay bất định. Các giống xác định và nửa xác định tạo ra các thân kết thúc với một chùm bông. Cà chua có thân xác định thì thấp và xum xê trong khi nửa xác định sinh trưởng cao hơn chút it.

Các giống cà chua bất định tạo ra thường xuyên các lá và hoa mới, và có thể sinh trưởng rất cao. Các giống bất định tạo quả trong một thời gian dài hơn. Thời gian thu hoạch dài hơn này là một ưu thế nếu giá cả ngoài thị trường biến động, vì lợi tức có xu thế huề vốn. Các giống bất định phải được làm giàn và tỉa thưa và thường cần lao động nhiều hơn.

 

Tính kháng bệnh: Các bệnh quan trọng thay đổi theo vị trí và môi trường, nhưng bệnh héo rủ, đốm nâu, hay lá xoắn vàng do vi rút hay đốm xám trên lá là phổ biến trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một số giống kháng lại nhiều bệnh. Thông tin về tính kháng bệnh của một giống thường có thể tìm thấy trên các bao hạt giống.

 

Tính thích ứng theo mùa: Hầu hết các giống cà chua thích ứng với mùa nắng. Các giống cà chua có thể tạo quả ở các nhiẹt độ lớn hơn 30oC có thể được trồng trong mùa nóng để lợi dụng giá thị trường cao hơn. AVRDC đã phát triển các dòng cà chua thích hợp với mùa nóng ẩm. Tuy nhiên, sản xuất mùa mưa thành công cần một phối hợp giống thích ứng và phương pháp quản lý đặc biệt, như là sử dụng điều hoà sinh dưỡng tạo quả, lên líp, tháp ghép hay nhà ở để quản lý vũ lượng dư thừa.

 

Dòng lai hay dòng cận giao? Các giống lai đang trở thành phổ biến vì chúng thường tạo ra năng suất cao hơn và quả đồng nhất hơn so với các dòng cận giao. Tuy nhiên, một dòng lai không phải luôn có ưu thế trên một giống lai cận giao. Hạt giống lai thường là đắt hơn các giống cận giao, và hạt giống không thể thu hoạch để trồng trong tương lai. Hạt giống của dòng cận giao có thể được thu hoạch và để dành trồng vào mùa tới.

 

Việc sản xuất cây con

Khoảng 250g hạt giống (khoảng 70.000 hạt) là cần để tạo ra đủ cây con để trồng 1 ha giống cà chua bất định và 125g hạt giống đối với một giống xác định. Gieo hạt 0, 5cm sâu.

Cây con sẽ xuất hiện trong vòng 8 ngày tại các nhiệt độ đất tối ưu 20-30oC. Cây con tăng trưởng trong khay của các vật chứa cá thể khoẻ mạnh hơn so với cây con trồng trên luống /líp. Cây con trồng trên líp hay luống bị hư hại rễ khi cây bị nhổ lên để cấy lại.

Tại AVRDC chúng tôi trồng 33.333 cây /ha đối với các giống bất định (được tỉa cành lá), và 16.666 cây /ha đối với dạng xác định (thường không được tỉa cành lá). Kế hoạch để gieo hai lần nhiều giống là cần để đảm bảo là có đủ cây.

 

Phương pháp dùng khay cây con. Lấp đầy các hốc với một môi trường dễ tiêu nước, như là rong rêu than bùn, đất chậu hàng hóa, hay một hỗn hợp cát, phân rác, và tro. Đặt khay trên các ghế dài trong một nơi có mái che. Gieo 2 hạt mỗi hốc và tỉa thưa cây con 2-3 ngày sau khi lá thật (không phải là lá mầm) đầu tiên xuuất hiện.

 

Phương pháp nương mạ. Chọn một vùng dễ tiêu nước không vừa trồng với một loai cây trồng họ cà, Việc đốt bỏ một lớp rơm rạ 3-4cm trên líp trước khi gieo, và làm thành luống 15cm hay cao hơn để dễ thoát nước, có thể giảm bớt vấn đề bệnh tật do đất.

Gieo hạt thành hàng 6cm cách nhau với một lượng hạt giống 750-900 hạt /m2. Phủ lên mặt luống với một lớp mỏng phân rác hay tủ rơm rạ. Không cho phép để dất khô và tạo ra lớp vỏ cứng trên mặt có thể ngăn cản sự nẩy mầm của hạt, hay sự xuất hiện của cây con. Tưới nước mặt luống đều để cho đất ẩm nhưng không bị úng. Tỉa thưa cây con 2-3 ngày sau khi lá thật (không phải là lá mầm) đầu tiên xuất hiện.

Vào giai đoạn hai lá, tưới cây con một lần với một dung dịch suyn phát amôn 0,5% (5g suynphat amôn hòa tan trong 1 lít nước), 0,25% dung dịch phân đạm (2, 5g urê hòa tan trong 1 lít nước), hay 0,1% dung dịch Nitrophoska (1g hòa tan trong 1 lít nước). Không bón nhiều phân đạm hay cây sẽ tăng trưởng cao và mảnh mai.

Bệnh héo cây con (damping off) hay sinh dưỡng kém do bị lây nhiễm khuẩn. Các loại thuốc trừ khuẩn, như là Ridomil Gold (mefenoxam), có thể được áp dụng cho luống ươm tại hay trước khi gieo để tránh bệnh làm chết cây con. Hạt giống có thể được xử lý với các loại thuốc trừ nấm có phổ tác dụng rộng, như là Captan và /hay Thiram để giảm bớt thiệt hại do bệnh làm chết cây con.

Côn trùng như là ruồi trắng, bù lạch, và rệp sáp, có thể truyền vi rút sang cây cà chua con. Admire (imidacloprid) có hiệu quả như xử lý trên hạt, trong đất hay trên lá đối với các loại côn trùng trên. Nếu ruồi trắng là một vấn đề trong vườn ươm, chúng tôi khuyến cáo là cây cà chua con phải được phủ với một tấm lưới, 60-lỗ hay mịn hơn, để ngăn ngừa lây lan côn trùng.

 

Phương pháp cấy

Có thể giữ cứng các cây con bằng cách giảm bớt ít nước và để chúng tiếp xúc trực tiếp với nắng mặt trời 6-9 ngày trước khi cấy. Tưới kỹ các cây con khoảng 12 tiếng đồng hồ trước khi cấy ra ruộng. Một cây con tốt là trong giai đoạn 4-5 lá (khoảng 4 tuần tuổi), mạnh và lùn mạnh (stocky) (Hình 2).

Cấy vào cuối buổi chiều hay vào một ngày có mây để giữ sốc do cấy ở mức thấp nhất. Chèn cây trong một hốc để cho các lá mầm trên mặt đất. Cây con cao, mảnh mai (dạng thoi) phải được lấp sâu hơn. Đè chặt đất quanh rễ, và tưới quanh gốc cây để đất chắc lại. Tưới ruộng càng sớm càng tốt sau khi cấy.

Khoảng cách cây phụ thuộc vào hệ thống canh tác, loại đất và tập tính cây. Tại AVRDC chúng tôi đã trồng hai hàng trên một luống rộng 1m (60cm khoảng cách hàng) và 40cm khoảng cách cây trên hàng đối với các giống bất định (có tỉa cành lá) với một mật số cây 33.333 cây /ha. Đối với các giống có dạng cây xác định (không tỉa cành lá) chúng tôi trồng một hàng mỗi luống với 40cm khoảng cách cây (16.666 cây /ha).

 

Sửa soạn đồng ruộng

Lên luống và trồng cà chua trên đỉnh luống để tạo thuận lợi cho các rãnh tưới cây trồng và tiêu nước sau khi mưa nhiều. Luống có thể được sửa soạn theo nhiều phương pháp. Tại AVRDC, luống được tạo ra với máy lên luống và khoảng 1m rộng với các rãnh (mương) 50cm rộng. Cao luống thay đổi theo mùa: 20cm trong mùa khô và 35cm trong mùa mưa.

Phương pháp phủ nông nghiệp, một tấm nylon mỏng, hay vật liệu khác được sử dụng để che phủ mặt đất. Rơm tủ lên làm giảm bớt lượng phân bị trôi, giữ ẩm, và giảm bớt cỏ. Nếu các nhiệt độ không khí trung bình vượt quá 28oC, nên che phủ bằng tấm nylon với rơm rạ để ngăn ngừa nó khỏi bị quá nóng.

 

Việc quản lý dinh dưỡng

Cây cà chua phải được bón phân hữu cơ (phân của động vật nuôi) và/hay phân hoá học để tạo năng suất cao. N tổng số (kg/ha) cần để có một năng suất quả mục tiêu được tính toán bằng cách nhân năng suất mục tiêu (t/ha) với 2, 4. Yêu cầu (kg/ha) Lân và Bồ tạt được ước tính bằng cách nhân lượng N sử dụng với 0, 35 và 1,45, tương ứng.

Thí dụ, đối với một năng suất cà chua tiềm tàng 40 t /ha, ta cần 40 x 2,4 = 96 kg N. Đối với P2O5 và K20, nhân yêu cầu về N 96 x 0,35 = 34kg P2O5, và 96 x 1,45 = 140 kg K2O.

Lượng NPK đã có trong đất có thể được tính toán bởi một thí nghiệm phân tích đất trong phòng thí nghiệm. Việc bón thêm phân là cần để có thể phân biệt giữa yêu cầu về NPK đối với năng suất mục tiêu và NPK có thể sử dụng trong đất. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng phân bón bởi một loại cây trồng thay đổi rất nhiều và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, gồm có dạng phân và phương pháp bón (trên mặt hay vùi sâu vào đất theo hàng), cũng như tưới nước và các phương pháp quản lý khác.

Trong vùng nhiệt đới, lượng sử dụng phân bón phổ biến là 60-120 kg N/ha, 60- 140 kg P2O5/ha và 6—120 kg K2O /ha. Điều đã được khuyến cáo là một nửa phân bón được sử dụng như là bón lót (hay bón căn bản) và phần phân bón còn lại được bón thêm khi tượng quả đầu tiên.

 

Quản lý nước

Thiếu nước vào bất kỳ giai đoạn sinh dưỡng sẽ làm giảm năng suất và chất lượng quả. Cà chua nhạy cảm nhất với tình trạng thiếu nước trong khi trổ, chừng mực nhạy cảm ngay sau khi cấy và trong khi phát triển quả, và nhạy cảm ít nhất trong giai đoạn sinh dưỡng. Vì các giống bất định trổ và tạo quả liên tục, chúng luôn nhạy cảm với tình trạng thiếu nước.

Cà chua sinh trưởng tốt trong đất ẩm nhưng không trong đất sũng nước và luống cày đúng thời gian hay tưới nhỏ giột thì có hiệu quả. Tình trạng héo rủ muộn trong mùa nắng cho thấy là cây trồng phải được tưới.

Như là một định luật chung trong mùa nắng, tưới nước hàng tuần trong tháng đầu tiên sau khi cấy, và kế đó mỗi 10 ngày cho đến khi hoàn tất vụ trồng. Vùng rễ cây cấy nhỏ thì cạn nên việc tưới phải là thường xuyên vừa đủ để thay đổi lại vùng rễ. Khi cây trồng phát triển, vùng rễ mở rộng và ít thường xuyên nhưng tưới thật nhiều hơn là cần. Cây cà chua nhạy cảm với tình trạng ngập úng và ngập lụt trong ruộng phải được tiêu nước trong 1-3 ngày.

 

Phương pháp dựng cột

Phương pháp dụng cột hay làm giàn thưa (staking hay trellising) cho cây cà chua với cột tre, cột gỗ, hay các vật liệu cứng khác tạo cột chống đỡ và giữ cho quả và lá khỏi mặt đất. Dựng cột có thể làm tăng năng suất quả và kích cỡ, làm giảm bớt thúi quả và làm cho việc phun thuốc và thu hoạch dễ dàng hơn.

Các giống cà chua có dạng bất định phải được dựng cột để dễ tỉa cành lá, ngắt ngọn, thu hoạch hay các phương pháp canh tác khác. Các giống cà chua có dạng xác định phải được dựng cột trong mùa mưa để ngăn cản không cho quả tiếp xúc với đất.

Nhiều phương pháp sắp xếp cột có thể (Hình 3). Cây phải được cố định an toàn vào cột hay giá đỡ bằng dây, bắt đầu từ khoảng hai tuần lễ sau khi cấy. Rơm rạ, dải nhựa, dây cố định hoa kiểng (horticultural fixing tape) hay vật liệu khác có thể được sử dụng để cố định. Việc cố định phải được thực hiện để cho các chùm quả được chống đỡ.

 

Việc tỉa thưa cành lá

Việc tỉa thưa cành lá (lấy đi có chọn lọc các chồi phụ (bìa) để giới hạn sự tăng trưởng của cây) có thể làm cho quả chín sớm hơn và phát triển kích cỡ quả lớn hơn và đồng nhất hơn. Việc tỉa thưa cành lá cải tiến sự thông gió trong bộ lá cây làm giảm bớt bệnh trên lá, và tạo thuận lợi cho việc phun thuốc và thu hoạch. Các giống có dạng cây bất định phải luôn được tỉa thưa cành lá để cho chúng không tạo ra sự phát triển sinh dưỡng quá mức. Mức độ tỉa thưa cành lá thay đổi tùy theo mùa (xem AVRDC Cooperator’s Guide, Pruning and Staking Tomatoes).

Tại AVRDC, chúng tôi tỉa thưa cành lá cây bất định chỉ để lại một thân trong suốt mùa khô mát và giữ hai cành mỗi cây (cành chính và cành thứ cấp dưới chùm quả đầu tiên) trong suốt các mùa khô nóng và ẩm nóng. Hai cành cung cấp nhiều bóng mát hơn cho quả, và do đó giảm bớt nóng bỏng do ánh sáng mặt trời và chín từng chòm. Nếu giá cả ngoài thị trường cao hơn đối với loại quả lớn hơn, có thể gia tăng kích cỡ quả bằng cách giữ bốn quả mỗi chùm và ngắt đi các hoa dư thừa.

 

Phương pháp phòng trừ cỏ dại

Cỏ dại phải được phòng trừ trên cây cà chua vì chúng đấu tranh ánh sáng, nước, và dưỡng liệu. Thỉnh thoảng chúng là các cây ký chủ của bệnh cà chua, như bệnh xoắn lá vàng cà chua. Phương pháp tủ rơm loại bỏ sự phát triển của cỏ trên luống. Nhổ bỏ cỏ khỏi luống cày bằng cách nhổ hay cuốc.

 

Phương pháp phòng trừ bệnh /côn trùng

Các đề xuất về việc phòng trừ các vấn đề bệnh /côn trùng có chọn lọc trên cây cà chua trong các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới được trình bày trong Bảng 1. Chúng tôi khuyến cáo là nên thăm đồng đều đặn và nhận dạng các vấn đề bệnh và côn trùng một cách thích hợp trước khi áp dụng biện pháp phòng trừ.

Nếu sử dụng một loại thuốc trừ dịch hại, hãy tin chắc là thuốc có hiệu quả để giải quyết vấn đề bệnh và côn trùng ở ngoài đồng, và là thuốc đã được đăng ký trong nước để sử dụng trên cà chua.

Hãy đọc cẩn thận nhãn và sử dụng liều lượng phun được khuyến cáo tại các khoảng thời gian được khuyến cáo với trang thiết bị được điều chỉnh chính xác. Nhãn sẽ còn cho biết thời gian tối thiểu giữa lần áp dụng cuối và thu hoạch. Sử dụng thuốc trừ dịch hại dư thừa có thể là nguy hiểm cho người sử dụng và môi trường.

Các người phun thuốc trừ dịch hại phải mang quần áo bảo hộ để giảm bớt tiếp xúc với thuốc qua tiếp xúc da hay hít phải.

Các sắp xếp kiểu giàn thường gặp:

A.     Kiểu giàn dạng nôi (Cradle type)

B.     Kiểu giàn tựa (Lean-to type)

C.     Kiểu giàn thường (Conventional type)

D.     Kiểu giàn đường hầm (Tunnel type)

(xem hình trang 6- bản gốc)

 

Các chất điều hoà phát triển tạo quả

Các nhiệt độ cao (vượt quá 30oC) hay thấp (dưới 10oC) sẽ giảm bớt sự tạo quả. Trong các điều kiện như trên, việc áp dụng các chất điều hoà có tên thương mại như là Tomatotone hay Tomatolan có thể làm tăng năng suất. Nói chung, các giống chịu nhiệt đáp ứng tốt nhất với chất điều hoà sinh dưỡng. Nếu Tomatotone hay Tomatolan không thể sử dụng, chất điều hoà sinh dưỡng CPA (4-chlorophenoxyacetic acid) có thể được sửa soạn theo các hướng dẫn trong Bảng 2.

Sửa soạn dung dịch điều hoà tăng trưởng theo các hướng dẫn trên nhãn. Đổ thuốc vào trong một bình xịt. Trên các lỗ tia, đặt một tách giấy lớn đủ để bao chùm hoa. Các chùm được xử lý khi 3-5 bông đã mở (Hình 4). Đặt tách giấy trên chùm hoa và phun tia nước (squirt). Hướng bình xịt về phía đài hoa (calyx), không bên trong hoa.

Xử lý mỗi chùm hoa chỉ một lần; sử dụng nhiều lần trên cùng chùm hoa có thể tạo ra biến dạng quả. Nên tránh phun trôi (drift) trên bộ lá. Một khi được hoà tan, chất điều hoà tăng trưởng có thể kéo dài tối đa bốn tuần lễ nếu để trong điều kiện lạnh, nhưng tốt nhất sử dụng trong một tuần lễ.

 

Thu hoạch

Cà chua có thể được thu hoạch vào các giai đoạn khác nhau, lệ thuộc vào thời gian cần để đưa quả ra ngoài thị trường. Với đường vận chuyển dài, quả có thể được thu hoạch vào giai đoạn dồn dập (breaker time) (không quá 10% diện tích có màu vàng nâu nhạt, hồng, hay đỏ). Quả đối với thang điểm tại chỗ có thể được thu hoạch các giai đoạn chín muộn hơn.

Chăm sóc quả kém sau khi thu hoạch sẽ dẫn đến chất lượng quả kém. Tránh gây hại cho quả và không trộn chung các quả nguyên vẹn và quả bị hư hỏng. Thu hoạch trong các thời kỳ mát, như là muộn trong buổi chiều hay là sớm trong buổi sáng. Tạo bóng râm cho quả đã thu hoạch và tránh để quả tiếp xúc với các nhiệt độ trên 25oC. Nếu có thể được, tồn trữ quả trong một nơi thoáng gió có ẩm độ tương đối 85-90% để làm chậm đi sự mất nước.

Bảng 1.  Các khuyến cáo quản lý bệnh và côn trùng

Sự truyền bệnh

Ngoại hình

Biện pháp phòng trừ

Bệnh cháy bìa lá muộn do Phytophthora infestans

Do thời tiết mát, ẩm

Lớn, không đều, xanh nhạt hay vết thương ngâm nước trên lá, thân, và quả. Chấy bìa lá nhanh trên toàn cây

Thuốc trừ nấm như là Bravo (Chlorothalonil).               Dithane

(mancozeb); hợp chất đồng, ưu tiên trong các loại thuốc này Ridomil Gold (mefonoxam), hay Quadris (azoxystrobin); một số giống kháng có thể sử dụng; tiêu diệt cà chua bệnh hay mành khoai tây; tránh trồng gần các ruộng khoai tây hay ruộng trước có trồng khoai tây

Bệnh đốm nâu do khuẩn: Xanthomonas campestris pv. vesicatoria

Lan truyền do mưa hay nước tưới phun; thuận lợi hơn nếu có điều kiện nóng và ẩm; lan truyền do giống

Nhỏ, các vết thương ngâm nước trên lá và thân chuyển sang màu sậm và thường bị bao quanh bởi một vòng màu vàng, đen nổi hay sọc nâu trên quả, thỉnh thoảng bị bao quanh bởi vòng màu trắng

Các hợp chất đồng và vật chứa hợp chất đồng trộn chung với mancozeb; giữ luống tách riêng khỏi ruộng sản xuất; sử dụng tủ rơm để giảm bớt nước mưa văng, rãnh tuới, lấy đi các mảnh cây bệnh

Bệnh cháy bìa lá sớm: Alternaria solani

Do điều kiện ẩm, nóng và nhiều sương mù

Các vết thương già hơn là các vòng dồng tâm giống như một mục tiêu. Được tìm thấy trên các lá, thân và quả

Các loại thuốc trừ nấm như là Bravo (chlorothalonil), Dithane (mancozeb) hay Quadris (azoxystrobin); phá hủy các mảnh cây bệnh, một số giống chịu có thể sử dụng

Bệnh đốm lá xám: Stemphylium solani

Do thời tiết ẩm, nóng và sương mù nhiều

Nhỏ, đốm lá đen nâu nhạt thường được tìm thấy trước hêt trên cac lá thấp hơn, vết thương trở thành nâu xám nhạt và thường bị bao quanh bởi vòng màu vàng

Các giống kháng có thể sử dụng; thuốc trừ nấm như là Bravo (chlorothalonil) hay Dithane (mancozeb)

Bệnh héo rủ do khuẩn: Ralstonia (trước có tên là Pseudomonas) solanaceaum

Trong đất, do thời tiết nóng và đất ẩm

Héo rủ trên các lá thấp hơn và cuối cùng trên toàn cây, không lá vàng, thân cắt lát đặt trong nước tạo ra giọt sữa

Không phòng trừ hiệu quả bằng hóa chất; chọn giống chịu, đất dễ tiêu nước, pH đất 5, 5 và trên; tránh các ruộng nhiễm tuyến trùng, trồng cà chua sau vụ lúa

Bệnh cháy bìa lá Southern: Sclerotium rolfsii

Trong đất, do điều kiện ẩm, nóng

Héo rủ cây nhanh không vàng lá, tăng trưởng nấm màu trắng thường hiện diện trên thân tại tuyến đất

Trì hoãn cho đến khi phân xanh đã phân hủy, thuốc trừ nấm như Terraclor F (PCNB), đất dễ tiêu nước, giữ mặt luống khô, trồng cà chua sau vụ lúa hay bắp

Bệùnh héo rủ Fusarium: Fusarium oxysporium f. sp. lycopersici

Trong đất, do điều kiện nóng, ba nòi của tác nhân gây bệnh đã được báo cáo

Vàng lá thường bắt đầu trên các lá thấp hơn, thường trên một cạnh của cành, mạch bạc, cây héo

Không phòng trừ hữu hiệu bằng hóa chất, sử dụng giống kháng, tiêu nước tốt, giữ mặt luống càng khô càng tốt, trồng cà chua sau vụ lúa

Bệnh xoắn lá vàng do vi rút trên cây cà chua (TYLCV)

Lan truyền do ruồi trắng (Bemisia tabaci)

Thấp giàn, vàng, lá con dạng tách, cành thẳng đứng

Các giống chịu, thời gian hưu canh 60 ngày giữa cây trồng nhiễm cũ và cây trồng mới; trước khi cấy, che phủ cây con với lưới 60-lỗ để tránh ruồi trắng khỏi cây, các loại thuốc trừ sâu như là Confidor (Admire (imidacloprid) hay Asana (esfenvalerate); sử dụng luân phiên thuốc trừ sâu để tránh tạo ra các ruồi trắng chịu thuốc trừ sâu

Sâu đục trái cà chua: Helicoverpa armigera

Các bướm non có các hàng nổi sậm trên lưng, các bướm già xám sậm đến nâu nhạt và có sọc dài trên thân

Nhỏ, lõm màu sậm dưới cuống quả, thường dưới đài hoa

Các loại thuốc trừ sâu như là Guthion (azinphos-methyl), Javelin (Bacillus thuringiensis), Lannate (methomyl), Asana (esfenvalerate), hay pyrethrins; thuốc trừ sâu có hiệu quả trừ trứng và bướm non trước khi vào quả

Tuyến trùng gây bướu rễ: Meloidogyne incognita, M. javanica, M. arenaria

Tuyến trùng gây bướu rễ sống trong đất và tấn kích rễ của nhiều loại cây trồng, do đất cát và các nhiệt độ nóng

Các triệu chứng trên mặt đất gồm có thấp giàn, héo, và vàng lá, rễ phát triển các bướu lớn (ghẻ)

Các giống kháng, cày ải hưu canh, luân canh với lúa

Để biết thêm chi tiết về bệnh cà chua, liên hệ về Blancard, D. 1994 A Colour Atlas of Tomato Diseases: Observation, Identification, and Control Manson Publishing, London, U.K.; Jones, J.B. Jones J.P., Stall. R.E., and Zitter, T.A. 1993. Conpendium of Tomato Diseases, APS Press, USA

Bảng 2. Chế phẩm dung dịch CPA

1.     Mua CPA của Sigma hay một công ty cung ứng hóa chất khác.

2.     Hòa tan 1, 5 g CPA trong 100 ml nước cất và lắc cho đến khi hòa tan.

3.     Thêm nước cất cho đến khi dung dịch tổng số là 1000 ml. Điều nói trên mang lại 0,15% hay 1500 phần triệu (ppm) CPA “dung dịch dự trữ”. Dung dịch dự trữ phải được giữ lạnh cho đến khi sử dụng.

4.     Nồng độ CPA có thể thay đổi từ 15 đến 75 ppm. Các nồng độ CPA tối ưu phụ thuộc vào giống, môi trường sinh dưỡng, và phương pháp canh tác. Thường, các nhiệt độ cực cần nồng độ CPA cao hơn.

5.     Ngay trước khi sử dụng CPA cho hoa, hòa tan dung dịch dự trữ như sau:

Đối với 15 ppm CPA, hòa tan 10 ml dung dịch dự trữ trong 1000 ml nước cất. Thêm 0,2 ml Tween 20 (chất surfactant giúp CPA kết dính vào hoa).

Đối với 30 ppm CPA, hòa tan 20 ml dung dịch dự trữ vào 1000 ml nước cất. Thêm 0,2 ml Tween 20.

Đối với 75 ppm CPA, hòa tan 50 ml dung dịch dự trữ vào 1000 ml nước cất. Thêm 0,2 ml Tween 20.

 

            RGC 07-07-2006