Dẫn luận
Cà chua là một
trong các loại rau được trồng rộng rãi nhất trên thế giới. Tính
phổ biến của cà chua trong các người tiêu dùng đã làm cho nó
thành một nguồn vitamin A và C quan trọng trong bữa ăn.
Yêu cầu về thời tiết và đất
Cà chua sinh
trưởng tốt nhất trong các nhiệt độ 20-27oC. Việc tạo
quả kém khi các nhiệt độ trung bình vượt quá 30oC hay
rớt xuống dưới 10oC. Cà chua thích loại đất dễ tiêu
nước vì chúng rất nhạy cảm với tình trạng ngập úng. pH đất tối
ưu là 6,0-7,0.
Cà chua lợi
dụng sự luân canh, việc trồng cà chua sau cây lúa, thí dụ, làm
giảm bớt sự xuất hiện của bệnh và tuyến trùng. Nên tránh trồng
cà chua trên một ruộng đã trồng vụ trước cà chua, ớt, cà thay
các cây họ Cà khác. Cây loại cây trồng này chia xẻ một số vấn đề
về côn trùng và bệnh.
Phương pháp chọn giống
Việc chon lọc
một giống tốt nhất là quan trọng cho sự thành công. Có nhiều yếu
tố để xem xét:
Kiểu trái:
Các giống cà chua được phân ra thành một trong ba hạng trên thị
trường:
(1)
Thị trường tươi - Quả thường đỏ nhưng thay
đổi về màu sắc, hình dạng và kích cỡ.
(2)
Quả:- Một kiểu có quả nhỏ (dưới 30g), thuộc
về kiểu thị trường tươi mang trên các chùm dài, và
(3)
Chế biến - Quả có màu đỏ sậm và rất chắc thịt
thích hợp cho việc chế biến
Tập tính
của cây: Các giống cà chua còn
được phân loại theo tập tính của cây: xác định, nửa xác định hay
bất định. Các giống xác định và nửa xác định tạo ra các thân kết
thúc với một chùm bông. Cà chua có thân xác định thì thấp và xum
xê trong khi nửa xác định sinh trưởng cao hơn chút it.
Các giống cà
chua bất định tạo ra thường xuyên các lá và hoa mới, và có thể
sinh trưởng rất cao. Các giống bất định tạo quả trong một thời
gian dài hơn. Thời gian thu hoạch dài hơn này là một ưu thế nếu
giá cả ngoài thị trường biến động, vì lợi tức có xu thế huề vốn.
Các giống bất định phải được làm giàn và tỉa thưa và thường cần
lao động nhiều hơn.
Tính
kháng bệnh: Các bệnh quan
trọng thay đổi theo vị trí và môi trường, nhưng bệnh héo rủ, đốm
nâu, hay lá xoắn vàng do vi rút hay đốm xám trên lá là phổ biến
trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một số giống kháng lại
nhiều bệnh. Thông tin về tính kháng bệnh của một giống thường có
thể tìm thấy trên các bao hạt giống.
Tính
thích ứng theo mùa: Hầu hết
các giống cà chua thích ứng với mùa nắng. Các giống cà chua có
thể tạo quả ở các nhiẹt độ lớn hơn 30oC có thể được
trồng trong mùa nóng để lợi dụng giá thị trường cao hơn. AVRDC
đã phát triển các dòng cà chua thích hợp với mùa nóng ẩm. Tuy
nhiên, sản xuất mùa mưa thành công cần một phối hợp giống thích
ứng và phương pháp quản lý đặc biệt, như là sử dụng điều hoà
sinh dưỡng tạo quả, lên líp, tháp ghép hay nhà ở để quản lý vũ
lượng dư thừa.
Dòng lai
hay dòng cận giao? Các giống
lai đang trở thành phổ biến vì chúng thường tạo ra năng suất cao
hơn và quả đồng nhất hơn so với các dòng cận giao. Tuy nhiên,
một dòng lai không phải luôn có ưu thế trên một giống lai cận
giao. Hạt giống lai thường là đắt hơn các giống cận giao, và hạt
giống không thể thu hoạch để trồng trong tương lai. Hạt giống
của dòng cận giao có thể được thu hoạch và để dành trồng vào mùa
tới.
Việc sản xuất cây con
Khoảng 250g hạt
giống (khoảng 70.000 hạt) là cần để tạo ra đủ cây con để trồng 1
ha giống cà chua bất định và 125g hạt giống đối với một giống
xác định. Gieo hạt 0, 5cm sâu.
Cây con sẽ xuất
hiện trong vòng 8 ngày tại các nhiệt độ đất tối ưu 20-30oC.
Cây con tăng trưởng trong khay của các vật chứa cá thể khoẻ mạnh
hơn so với cây con trồng trên luống /líp. Cây con trồng trên líp
hay luống bị hư hại rễ khi cây bị nhổ lên để cấy lại.
Tại AVRDC chúng tôi trồng 33.333 cây /ha đối với các giống bất
định (được tỉa cành lá), và 16.666 cây /ha đối với dạng xác định
(thường không được tỉa cành lá). Kế hoạch để gieo hai lần nhiều
giống là cần để đảm bảo là có đủ cây.
Phương
pháp dùng khay cây con. Lấp
đầy các hốc với một môi trường dễ tiêu nước, như là rong rêu
than bùn, đất chậu hàng hóa, hay một hỗn hợp cát, phân rác, và
tro. Đặt khay trên các ghế dài trong một nơi có mái che. Gieo 2
hạt mỗi hốc và tỉa thưa cây con 2-3 ngày sau khi lá thật (không
phải là lá mầm) đầu tiên xuuất hiện.
Phương
pháp nương mạ. Chọn một vùng
dễ tiêu nước không vừa trồng với một loai cây trồng họ cà, Việc
đốt bỏ một lớp rơm rạ 3-4cm trên líp trước khi gieo, và làm
thành luống 15cm hay cao hơn để dễ thoát nước, có thể giảm bớt
vấn đề bệnh tật do đất.
Gieo hạt thành
hàng 6cm cách nhau với một lượng hạt giống 750-900 hạt /m2.
Phủ lên mặt luống với một lớp mỏng phân rác hay tủ rơm rạ. Không
cho phép để dất khô và tạo ra lớp vỏ cứng trên mặt có thể ngăn
cản sự nẩy mầm của hạt, hay sự xuất hiện của cây con. Tưới nước
mặt luống đều để cho đất ẩm nhưng không bị úng. Tỉa thưa cây con
2-3 ngày sau khi lá thật (không phải là lá mầm) đầu tiên xuất
hiện.
Vào giai đoạn
hai lá, tưới cây con một lần với một dung dịch suyn phát amôn
0,5% (5g suynphat amôn hòa tan trong 1 lít nước), 0,25% dung
dịch phân đạm (2, 5g urê hòa tan trong 1 lít nước), hay 0,1%
dung dịch Nitrophoska (1g hòa tan trong 1 lít nước). Không bón
nhiều phân đạm hay cây sẽ tăng trưởng cao và mảnh mai.
Bệnh héo cây
con (damping off) hay sinh dưỡng kém do bị lây nhiễm khuẩn. Các
loại thuốc trừ khuẩn, như là Ridomil Gold (mefenoxam), có thể
được áp dụng cho luống ươm tại hay trước khi gieo để tránh bệnh
làm chết cây con. Hạt giống có thể được xử lý với các loại thuốc
trừ nấm có phổ tác dụng rộng, như là Captan và /hay Thiram để
giảm bớt thiệt hại do bệnh làm chết cây con.
Côn trùng như
là ruồi trắng, bù lạch, và rệp sáp, có thể truyền vi rút sang
cây cà chua con. Admire (imidacloprid) có hiệu quả như xử lý
trên hạt, trong đất hay trên lá đối với các loại côn trùng trên.
Nếu ruồi trắng là một vấn đề trong vườn ươm, chúng tôi khuyến
cáo là cây cà chua con phải được phủ với một tấm lưới, 60-lỗ hay
mịn hơn, để ngăn ngừa lây lan côn trùng.
Phương pháp cấy
Có thể giữ cứng
các cây con bằng cách giảm bớt ít nước và để chúng tiếp xúc trực
tiếp với nắng mặt trời 6-9 ngày trước khi cấy. Tưới kỹ các cây
con khoảng 12 tiếng đồng hồ trước khi cấy ra ruộng. Một cây con
tốt là trong giai đoạn 4-5 lá (khoảng 4 tuần tuổi), mạnh và lùn
mạnh (stocky) (Hình 2).
Cấy vào cuối
buổi chiều hay vào một ngày có mây để giữ sốc do cấy ở mức thấp
nhất. Chèn cây trong một hốc để cho các lá mầm trên mặt đất. Cây
con cao, mảnh mai (dạng thoi) phải được lấp sâu hơn. Đè chặt đất
quanh rễ, và tưới quanh gốc cây để đất chắc lại. Tưới ruộng càng
sớm càng tốt sau khi cấy.
Khoảng cách cây
phụ thuộc vào hệ thống canh tác, loại đất và tập tính cây. Tại
AVRDC chúng tôi đã trồng hai hàng trên một luống rộng 1m (60cm
khoảng cách hàng) và 40cm khoảng cách cây trên hàng đối với các
giống bất định (có tỉa cành lá) với một mật số cây 33.333 cây
/ha. Đối với các giống có dạng cây xác định (không tỉa cành lá)
chúng tôi trồng một hàng mỗi luống với 40cm khoảng cách cây
(16.666 cây /ha).
Sửa soạn đồng ruộng
Lên luống và
trồng cà chua trên đỉnh luống để tạo thuận lợi cho các rãnh tưới
cây trồng và tiêu nước sau khi mưa nhiều. Luống có thể được sửa
soạn theo nhiều phương pháp. Tại AVRDC, luống được tạo ra với
máy lên luống và khoảng 1m rộng với các rãnh (mương) 50cm rộng.
Cao luống thay đổi theo mùa: 20cm trong mùa khô và 35cm trong
mùa mưa.
Phương pháp phủ
nông nghiệp, một tấm nylon mỏng, hay vật liệu khác được sử dụng
để che phủ mặt đất. Rơm tủ lên làm giảm bớt lượng phân bị trôi,
giữ ẩm, và giảm bớt cỏ. Nếu các nhiệt độ không khí trung bình
vượt quá 28oC, nên che phủ bằng tấm nylon với rơm rạ
để ngăn ngừa nó khỏi bị quá nóng.
Việc quản lý dinh dưỡng
Cây cà chua
phải được bón phân hữu cơ (phân của động vật nuôi) và/hay phân
hoá học để tạo năng suất cao. N tổng số (kg/ha) cần để có một
năng suất quả mục tiêu được tính toán bằng cách nhân năng suất
mục tiêu (t/ha) với 2, 4. Yêu cầu (kg/ha) Lân và Bồ tạt được ước
tính bằng cách nhân lượng N sử dụng với 0, 35 và 1,45, tương
ứng.
Thí dụ, đối với
một năng suất cà chua tiềm tàng 40 t /ha, ta cần 40 x 2,4 = 96
kg N. Đối với P2O5 và K20, nhân
yêu cầu về N 96 x 0,35 = 34kg P2O5, và 96
x 1,45 = 140 kg K2O.
Lượng NPK đã có
trong đất có thể được tính toán bởi một thí nghiệm phân tích đất
trong phòng thí nghiệm. Việc bón thêm phân là cần để có thể phân
biệt giữa yêu cầu về NPK đối với năng suất mục tiêu và NPK có
thể sử dụng trong đất. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng phân bón bởi
một loại cây trồng thay đổi rất nhiều và phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, gồm có dạng phân và phương pháp bón (trên mặt hay vùi sâu
vào đất theo hàng), cũng như tưới nước và các phương pháp quản
lý khác.
Trong vùng
nhiệt đới, lượng sử dụng phân bón phổ biến là 60-120 kg N/ha,
60- 140 kg P2O5/ha và 6—120 kg K2O
/ha. Điều đã được khuyến cáo là một nửa phân bón được sử dụng
như là bón lót (hay bón căn bản) và phần phân bón còn lại được
bón thêm khi tượng quả đầu tiên.
Quản lý nước
Thiếu nước vào
bất kỳ giai đoạn sinh dưỡng sẽ làm giảm năng suất và chất lượng
quả. Cà chua nhạy cảm nhất với tình trạng thiếu nước trong khi
trổ, chừng mực nhạy cảm ngay sau khi cấy và trong khi phát triển
quả, và nhạy cảm ít nhất trong giai đoạn sinh dưỡng. Vì các
giống bất định trổ và tạo quả liên tục, chúng luôn nhạy cảm với
tình trạng thiếu nước.
Cà chua sinh
trưởng tốt trong đất ẩm nhưng không trong đất sũng nước và luống
cày đúng thời gian hay tưới nhỏ giột thì có hiệu quả. Tình trạng
héo rủ muộn trong mùa nắng cho thấy là cây trồng phải được tưới.
Như là một định
luật chung trong mùa nắng, tưới nước hàng tuần trong tháng đầu
tiên sau khi cấy, và kế đó mỗi 10 ngày cho đến khi hoàn tất vụ
trồng. Vùng rễ cây cấy nhỏ thì cạn nên việc tưới phải là thường
xuyên vừa đủ để thay đổi lại vùng rễ. Khi cây trồng phát triển,
vùng rễ mở rộng và ít thường xuyên nhưng tưới thật nhiều hơn là
cần. Cây cà chua nhạy cảm với tình trạng ngập úng và ngập lụt
trong ruộng phải được tiêu nước trong 1-3 ngày.
Phương pháp dựng cột
Phương pháp
dụng cột hay làm giàn thưa (staking hay trellising) cho cây cà
chua với cột tre, cột gỗ, hay các vật liệu cứng khác tạo cột
chống đỡ và giữ cho quả và lá khỏi mặt đất. Dựng cột có thể làm
tăng năng suất quả và kích cỡ, làm giảm bớt thúi quả và làm cho
việc phun thuốc và thu hoạch dễ dàng hơn.
Các giống cà
chua có dạng bất định phải được dựng cột để dễ tỉa cành lá, ngắt
ngọn, thu hoạch hay các phương pháp canh tác khác. Các giống cà
chua có dạng xác định phải được dựng cột trong mùa mưa để ngăn
cản không cho quả tiếp xúc với đất.
Nhiều phương
pháp sắp xếp cột có thể (Hình 3). Cây phải được cố định an toàn
vào cột hay giá đỡ bằng dây, bắt đầu từ khoảng hai tuần lễ sau
khi cấy. Rơm rạ, dải nhựa, dây cố định hoa kiểng (horticultural
fixing tape) hay vật liệu khác có thể được sử dụng để cố định.
Việc cố định phải được thực hiện để cho các chùm quả được chống
đỡ.
Việc tỉa thưa cành lá
Việc tỉa thưa
cành lá (lấy đi có chọn lọc các chồi phụ (bìa) để giới hạn sự
tăng trưởng của cây) có thể làm cho quả chín sớm hơn và phát
triển kích cỡ quả lớn hơn và đồng nhất hơn. Việc tỉa thưa cành
lá cải tiến sự thông gió trong bộ lá cây làm giảm bớt bệnh trên
lá, và tạo thuận lợi cho việc phun thuốc và thu hoạch. Các giống
có dạng cây bất định phải luôn được tỉa thưa cành lá để cho
chúng không tạo ra sự phát triển sinh dưỡng quá mức. Mức độ tỉa
thưa cành lá thay đổi tùy theo mùa (xem AVRDC Cooperator’s
Guide, Pruning and Staking Tomatoes).
Tại AVRDC,
chúng tôi tỉa thưa cành lá cây bất định chỉ để lại một thân
trong suốt mùa khô mát và giữ hai cành mỗi cây (cành chính và
cành thứ cấp dưới chùm quả đầu tiên) trong suốt các mùa khô nóng
và ẩm nóng. Hai cành cung cấp nhiều bóng mát hơn cho quả, và do
đó giảm bớt nóng bỏng do ánh sáng mặt trời và chín từng chòm.
Nếu giá cả ngoài thị trường cao hơn đối với loại quả lớn hơn, có
thể gia tăng kích cỡ quả bằng cách giữ bốn quả mỗi chùm và ngắt
đi các hoa dư thừa.
Phương pháp phòng trừ cỏ dại
Cỏ dại phải
được phòng trừ trên cây cà chua vì chúng đấu tranh ánh sáng,
nước, và dưỡng liệu. Thỉnh thoảng chúng là các cây ký chủ của
bệnh cà chua, như bệnh xoắn lá vàng cà chua. Phương pháp tủ rơm
loại bỏ sự phát triển của cỏ trên luống. Nhổ bỏ cỏ khỏi luống
cày bằng cách nhổ hay cuốc.
Phương pháp phòng trừ bệnh /côn trùng
Các đề xuất về
việc phòng trừ các vấn đề bệnh /côn trùng có chọn lọc trên cây
cà chua trong các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới được trình bày
trong Bảng 1. Chúng tôi khuyến cáo là nên thăm đồng đều đặn và
nhận dạng các vấn đề bệnh và côn trùng một cách thích hợp trước
khi áp dụng biện pháp phòng trừ.
Nếu sử dụng một
loại thuốc trừ dịch hại, hãy tin chắc là thuốc có hiệu quả để
giải quyết vấn đề bệnh và côn trùng ở ngoài đồng, và là thuốc đã
được đăng ký trong nước để sử dụng trên cà chua.
Hãy đọc cẩn
thận nhãn và sử dụng liều lượng phun được khuyến cáo tại các
khoảng thời gian được khuyến cáo với trang thiết bị được điều
chỉnh chính xác. Nhãn sẽ còn cho biết thời gian tối thiểu giữa
lần áp dụng cuối và thu hoạch. Sử dụng thuốc trừ dịch hại dư
thừa có thể là nguy hiểm cho người sử dụng và môi trường.
Các người phun thuốc trừ dịch hại phải mang quần áo bảo hộ để
giảm bớt tiếp xúc với thuốc qua tiếp xúc da hay hít phải.
Các sắp xếp kiểu giàn thường gặp:
A.
Kiểu giàn dạng nôi (Cradle type)
B.
Kiểu giàn tựa (Lean-to type)
C.
Kiểu giàn thường (Conventional type)
D.
Kiểu giàn đường hầm (Tunnel type)
(xem hình trang 6- bản gốc)
Các chất điều hoà phát triển tạo quả
Các nhiệt độ
cao (vượt quá 30oC) hay thấp (dưới 10oC)
sẽ giảm bớt sự tạo quả. Trong các điều kiện như trên, việc áp
dụng các chất điều hoà có tên thương mại như là Tomatotone hay
Tomatolan có thể làm tăng năng suất. Nói chung, các giống chịu
nhiệt đáp ứng tốt nhất với chất điều hoà sinh dưỡng. Nếu
Tomatotone hay Tomatolan không thể sử dụng, chất điều hoà sinh
dưỡng CPA (4-chlorophenoxyacetic acid) có thể được sửa soạn theo
các hướng dẫn trong Bảng 2.
Sửa soạn dung
dịch điều hoà tăng trưởng theo các hướng dẫn trên nhãn. Đổ thuốc
vào trong một bình xịt. Trên các lỗ tia, đặt một tách giấy lớn
đủ để bao chùm hoa. Các chùm được xử lý khi 3-5 bông đã mở (Hình
4). Đặt tách giấy trên chùm hoa và phun tia nước (squirt). Hướng
bình xịt về phía đài hoa (calyx), không bên trong hoa.
Xử lý mỗi chùm
hoa chỉ một lần; sử dụng nhiều lần trên cùng chùm hoa có thể tạo
ra biến dạng quả. Nên tránh phun trôi (drift) trên bộ lá. Một
khi được hoà tan, chất điều hoà tăng trưởng có thể kéo dài tối
đa bốn tuần lễ nếu để trong điều kiện lạnh, nhưng tốt nhất sử
dụng trong một tuần lễ.
Thu hoạch
Cà chua có thể
được thu hoạch vào các giai đoạn khác nhau, lệ thuộc vào thời
gian cần để đưa quả ra ngoài thị trường. Với đường vận chuyển
dài, quả có thể được thu hoạch vào giai đoạn dồn dập (breaker
time) (không quá 10% diện tích có màu vàng nâu nhạt, hồng, hay
đỏ). Quả đối với thang điểm tại chỗ có thể được thu hoạch các
giai đoạn chín muộn hơn.
Chăm sóc quả kém sau khi thu hoạch sẽ dẫn đến chất lượng quả
kém. Tránh gây hại cho quả và không trộn chung các quả nguyên
vẹn và quả bị hư hỏng. Thu hoạch trong các thời kỳ mát, như là
muộn trong buổi chiều hay là sớm trong buổi sáng. Tạo bóng râm
cho quả đã thu hoạch và tránh để quả tiếp xúc với các nhiệt độ
trên 25oC. Nếu có thể được, tồn trữ quả trong một nơi
thoáng gió có ẩm độ tương đối 85-90% để làm chậm đi sự mất nước.
Bảng
1. Các khuyến cáo quản lý bệnh và côn trùng
|
Sự truyền bệnh |
Ngoại hình |
Biện pháp phòng trừ |
|
Bệnh cháy bìa lá muộn
do Phytophthora infestans |
|
Do thời tiết mát, ẩm |
Lớn, không đều, xanh
nhạt hay vết thương ngâm nước trên lá, thân, và quả.
Chấy bìa lá nhanh trên toàn cây |
Thuốc trừ nấm như là
Bravo (Chlorothalonil). Dithane
(mancozeb); hợp chất
đồng, ưu tiên trong các loại thuốc này Ridomil Gold
(mefonoxam), hay Quadris (azoxystrobin); một số giống
kháng có thể sử dụng; tiêu diệt cà chua bệnh hay mành
khoai tây; tránh trồng gần các ruộng khoai tây hay ruộng
trước có trồng khoai tây |
|
Bệnh đốm nâu do khuẩn:
Xanthomonas campestris pv.
vesicatoria |
|
Lan truyền do mưa hay
nước tưới phun; thuận lợi hơn nếu có điều kiện nóng và
ẩm; lan truyền do giống |
Nhỏ, các vết thương
ngâm nước trên lá và thân chuyển sang màu sậm và thường
bị bao quanh bởi một vòng màu vàng, đen nổi hay sọc nâu
trên quả, thỉnh thoảng bị bao quanh bởi vòng màu trắng |
Các hợp chất đồng và
vật chứa hợp chất đồng trộn chung với mancozeb; giữ
luống tách riêng khỏi ruộng sản xuất; sử dụng tủ rơm để
giảm bớt nước mưa văng, rãnh tuới, lấy đi các mảnh cây
bệnh |
|
Bệnh cháy bìa lá sớm:
Alternaria solani |
|
Do điều kiện ẩm, nóng
và nhiều sương mù |
Các vết thương già hơn
là các vòng dồng tâm giống như một mục tiêu. Được tìm
thấy trên các lá, thân và quả |
Các loại thuốc trừ nấm
như là Bravo (chlorothalonil), Dithane (mancozeb) hay
Quadris (azoxystrobin); phá hủy các mảnh cây bệnh, một
số giống chịu có thể sử dụng |
|
Bệnh đốm lá xám:
Stemphylium solani |
|
Do thời tiết ẩm, nóng
và sương mù nhiều |
Nhỏ, đốm lá đen nâu
nhạt thường được tìm thấy trước hêt trên cac lá thấp
hơn, vết thương trở thành nâu xám nhạt và thường bị bao
quanh bởi vòng màu vàng |
Các giống kháng có thể
sử dụng; thuốc trừ nấm như là Bravo (chlorothalonil) hay
Dithane (mancozeb) |
|
Bệnh héo rủ do khuẩn:
Ralstonia (trước có tên là Pseudomonas) solanaceaum |
|
Trong đất, do thời
tiết nóng và đất ẩm |
Héo rủ trên các lá
thấp hơn và cuối cùng trên toàn cây, không lá vàng, thân
cắt lát đặt trong nước tạo ra giọt sữa |
Không phòng trừ hiệu
quả bằng hóa chất; chọn giống chịu, đất dễ tiêu nước, pH
đất 5, 5 và trên; tránh các ruộng nhiễm tuyến trùng,
trồng cà chua sau vụ lúa |
|
Bệnh cháy bìa lá
Southern: Sclerotium rolfsii |
|
Trong đất, do điều
kiện ẩm, nóng |
Héo rủ cây nhanh không
vàng lá, tăng trưởng nấm màu trắng thường hiện diện trên
thân tại tuyến đất |
Trì hoãn cho đến khi
phân xanh đã phân hủy, thuốc trừ nấm như Terraclor F
(PCNB), đất dễ tiêu nước, giữ mặt luống khô, trồng cà
chua sau vụ lúa hay bắp |
|
Bệùnh héo rủ Fusarium:
Fusarium oxysporium f. sp.
lycopersici |
|
Trong đất, do điều
kiện nóng, ba nòi của tác nhân gây bệnh đã được báo cáo |
Vàng lá thường bắt đầu
trên các lá thấp hơn, thường trên một cạnh của cành,
mạch bạc, cây héo |
Không phòng trừ hữu
hiệu bằng hóa chất, sử dụng giống kháng, tiêu nước tốt,
giữ mặt luống càng khô càng tốt, trồng cà chua sau vụ
lúa |
|
Bệnh xoắn lá vàng do
vi rút trên cây cà chua (TYLCV) |
|
Lan truyền do ruồi
trắng (Bemisia tabaci) |
Thấp giàn, vàng, lá
con dạng tách, cành thẳng đứng |
Các giống chịu, thời
gian hưu canh 60 ngày giữa cây trồng nhiễm cũ và cây
trồng mới; trước khi cấy, che phủ cây con với lưới 60-lỗ
để tránh ruồi trắng khỏi cây, các loại thuốc trừ sâu như
là Confidor (Admire (imidacloprid) hay Asana
(esfenvalerate); sử dụng luân phiên thuốc trừ sâu để
tránh tạo ra các ruồi trắng chịu thuốc trừ sâu |
|
Sâu đục trái cà chua:
Helicoverpa armigera |
|
Các bướm non có các
hàng nổi sậm trên lưng, các bướm già xám sậm đến nâu
nhạt và có sọc dài trên thân |
Nhỏ, lõm màu sậm dưới
cuống quả, thường dưới đài hoa |
Các loại thuốc trừ sâu
như là Guthion (azinphos-methyl), Javelin (Bacillus
thuringiensis), Lannate (methomyl), Asana
(esfenvalerate), hay pyrethrins; thuốc trừ sâu có hiệu
quả trừ trứng và bướm non trước khi vào quả |
|
Tuyến trùng gây bướu
rễ: Meloidogyne incognita, M.
javanica, M. arenaria |
|
Tuyến trùng gây bướu
rễ sống trong đất và tấn kích rễ của nhiều loại cây
trồng, do đất cát và các nhiệt độ nóng |
Các triệu chứng trên
mặt đất gồm có thấp giàn, héo, và vàng lá, rễ phát triển
các bướu lớn (ghẻ) |
Các giống kháng, cày
ải hưu canh, luân canh với lúa |
Để biết thêm
chi tiết về bệnh cà chua, liên hệ về Blancard, D. 1994 A Colour
Atlas of Tomato Diseases: Observation, Identification, and
Control Manson Publishing, London, U.K.; Jones, J.B. Jones J.P.,
Stall. R.E., and Zitter, T.A. 1993. Conpendium of Tomato
Diseases, APS Press, USA
Bảng 2. Chế
phẩm dung dịch CPA
1.
Mua CPA của
Sigma hay một công ty cung ứng hóa chất khác.
2.
Hòa tan 1, 5
g CPA trong 100 ml nước cất và lắc cho đến khi hòa tan.
3.
Thêm nước
cất cho đến khi dung dịch tổng số là 1000 ml. Điều nói trên mang
lại 0,15% hay 1500 phần triệu (ppm) CPA “dung dịch dự trữ”. Dung
dịch dự trữ phải được giữ lạnh cho đến khi sử dụng.
4.
Nồng độ CPA
có thể thay đổi từ 15 đến 75 ppm. Các nồng độ CPA tối ưu phụ
thuộc vào giống, môi trường sinh dưỡng, và phương pháp canh tác.
Thường, các nhiệt độ cực cần nồng độ CPA cao hơn.
5.
Ngay trước
khi sử dụng CPA cho hoa, hòa tan dung dịch dự trữ như sau:
Đối với 15 ppm
CPA, hòa tan 10 ml dung dịch dự trữ trong 1000 ml nước cất. Thêm
0,2 ml Tween 20 (chất surfactant giúp CPA kết dính vào hoa).
Đối với 30 ppm
CPA, hòa tan 20 ml dung dịch dự trữ vào 1000 ml nước cất. Thêm
0,2 ml Tween 20.
Đối với 75 ppm
CPA, hòa tan 50 ml dung dịch dự trữ vào 1000 ml nước cất. Thêm
0,2 ml Tween 20.
RGC 07-07-2006
|