|
Báo
cáo này kiểm tra các vấn đề liên quan đến thị trường của các
loài gỗ riêng của rừng có mưa nhiệt đới và gỗ bạch đàn ở miền
Bắc Queensland, việc báo cáo từ các phát kiến của các hãng
riêng. Giá trị, tính thích ứng, yêu cầu của khách hàng và màu
sắc và hạt gỗ là các yếu tố quan trọng trong quyết định của các
hãng riêng trong việc chọn lọc các loài đặc biệt. Giá cả của gỗ
chỉ trở thành quan trọng khi nó không thể được chuyển qua cho
người mua. Các loại gỗ mới từ rừng có mưa Úc được xem nhiều bởi
các nhà kế hoạch mới và quần chúng nói chung; tuy nhiên, việc sử
chúng bị giới hạn bởi giá trị hiện tại và nhận thức.
Quá trình nghiên
cứu
Các loại gỗ mỹ
thuật trong rừng có mưa nhiệt đới và bạch đàn là các ví dụ về
điều gì thường được biết như là ‘loại ít nổi tiếng’, với nhận
biết thị trường tương đối thấp trên trường quốc tế và ngay cả
trong nước. Nhiều loại gỗ cứng trồng ở các nước nhiệt đới, trong
khi có những đặc tính gỗ tốt, chịu đựng sự thiếu nhận thức này,
điều tạo ra các khó khăn riêng biệt ngoài thị trường. Một phần
của vấn đề phát sinh ở chỗ là một cách điển hình nhiều loài cá
thể, với những đặc tính gỗ khác nhau, và khối lượng tương đối
nhỏ của mỗi loại, đã giới hạn việc thiết lập chuỗi cung cấp cao
đưa vào quá trình. Tài liệu tham khảo về việc sử dụng loài ít
nổi tiếng đã được xem xét lại bởi Venn và Whittaker (2003),
những người đã xem xét triển vọng thị trường và lợi tức tiềm
tàng của gỗ cứng chuyên tính từ miền Tây Queensland.
Trước Di sản Thế
giới trình bày trong Nhiệt đới Ẩm ướt của Queensland (Wet
Tropics of Queensland), các loài thuộc rừng có mưa được dùng
trong sản xuất đồ gỗ chất lượng cao. Vài việc trồng những loài
này xuất hiện trên đất ruộng, đặc biệt là được hỗ trợ bởi Chương
trình Trồng Rừng có mưa cộng đồng (Community Rainforest
Reforestation Program (CRRP), minh chứng là các loài này có thể
được trồng trong các trang trại. Các cuộc khảo sát cho biết mức
quan tâm cao bởi các chủ đất trong việc trồng loài rừng có mưa
và bạch đàn. Tuy nhiên, giá cả tính theo tuổi cây đối với các
loài này là tương đối thấp (mặc dù có vài trường hợp đáng chú ý
giá cả gỗ cao trong các cuộc đấu giá khối lượng gỗ nhỏ), và một
sự hiểu biết về thực tế thị trường tới hạn trong việc đầu tư vào
các trang trại trồng các loài này.
Nhiều công cuộc
khảo sát đã được thực hiện bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật trong
việc xác định cách dùng và các thái độ cho những loài cây gỗ
rừng có mưa và bạch đàn và sản phẩm gỗ tổng hợp. Những điều này
được tạo ra để làm tăng nhận thức vai trò tương lai có thể của
loài cây rừng có mưa nói riêng, và trong việc cung cấp thông tin
về chính sách rừng, như là các loài nào đã thúc đẩy các nông dân
có triển vọng. Phần kế tiếp của báo cáo này, giải thích về
phương pháp khảo sát công nhận. Mô tả sơ lược được trình bày của
các trang trại hoạch định mới, tiếp theo là một cuộc kiểm tra
các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lọc đầu vào của gỗ. Các yếu
tố ảnh hưởng việc chọn lựa của người tiêu dùng về các sản phẩm
sản xuất từ gỗ mỹ thuật của rừng có mưa (RFCTs) sau đó được kiểm
tra ngắn gọn, tiếp theo là một phác thảo loài mà các thợ đóng đồ
gỗ mỹ thuật muốn thấy được trồng để thỏa mãn các yêu cầu gỗ
trong tương lai. Cuối cùng, các kết quả của những công trình
nghiên cứu khác nhau được trình bày theo nội dung các điều kiện
bắt buộc về việc tiếp thị các loại gỗ mỹ thuật rừng có mưa từ
miền Bắc Queensland.
Phương pháp nghiên
cứu
Ba công trình
nghiên cứu riêng biệt nhưng có tương quan với nhau (và các bộ
liên kết khảo sát) đã được thực hiện cung cấp thông tin về tiếp
thị các loại gỗ mỹ thuật từ rừng có mưa ở Queensland. Công trình
nghiên cứu đầu tiên liên quan đến một cuộc khảo sát của các nhà
quản lý trang trại mới lập, thực hiện ở Cairns, Townsville và
Brisbane. Mẫu câu hỏi gồm có ba phần: thông tin tổng hợp về các
người quản lý và các đặc trưng trang trại của họ; các câu hỏi
liên quan một cách đặc biệt đến việc dùng gỗ mỹ thuật từ rừng có
mưa và nhiều đầu vào gỗ khác trong hoạt động mới; những câu hỏi
nhiều phần hỏi các nhà quản lý về ý kiến của họ liên quan việc
tại sao người ta mua, hoặc không mua, sản phẩm sản xuất từ
RFCTs. Trong các cuộc phỏng vấn, các nhà quản lý còn có cơ hội
trình bày thêm các yếu tố chưa được bao gồm trong từng lời phát
biểu. Thêm những chi tiết của quá trình chọn lọc mẫu vật và các
phương pháp nghiên cứu áp dụng có thể được tìm thấy trong báo
cáo của Herbohn et al.
(1997), Smorfitt et
al. (1997), Peterson et al. (1997) và Herbohn et al.
(2001).
Cuộc khảo sát thứ
hai là của các nhân viên (riêng biệt hẳn các nhà quản lý) của
cùng các trang trại mới lập, và các quan điểm về loài nào có thể
được trồng để thỏa mãn yêu cầu gỗ trong tương lai của các trang
trại. Các câu hỏi được bao gồm cảnh giác, sử dụng, và tính thích
ứng với ba mục đích, ví dụ. đồ gỗ, mặt ghế dài trong bếp và cửa
tủ nhà bếp.. Cuộc khảo sát thứ ba khảo sát về thái độ của quần
chúng nói chung đối với các loại sản phẩm sản xuất từ gỗ rừng có
mưa và các lý do tại sao họ đã mua hoặc không mua sản phẩm sản
xuất từ gỗ rừng có mưa. Cuộc khảo sát này không trình bày ở đây,
nhưng được trình bày trong Chương 11 của tài liệu chuyên khảo
này.
Sơ lược đặc điểm của các trang trại mới thiết lập ở QUEENSLAND
Như đã chỉ dấu
trong Bảng 1, việc tạo ra đồ đạc gồm có một tỷ lệ lớn hỗn hợp
sản phẩm của trang trại có mức doanh thu thấp (ít hơn $100.000
mỗi năm) ở mỗi thành phố. Trái lại, việc xây dựng nhà bếp gồm có
một tỷ lệ cao hơn nhiều hỗn hợp sản phẩm của mức doanh thu trung
bình ($100.000 đến $300.000 mỗi năm) và các trang trại lớn
(nhiều hơn $300.000 mỗi năm). Vật liệu và lao động của mỗi kiểu
gồm có khoảng 40% chi phí của sản phẩm sản xuất bởi các trang
trại mới thiết lập, với tổng phí không chuyên gồm có phần còn
lại (Herbohn et al. 1997).
Với các tên gọi
tương đối, các trang trại mới nhỏ tính đến nay các người sử dụng
lớn nhất gỗ mỹ thuật rừng có mưa (Bảng 1). Những trang trại này
còn dùng các tỷ lệ lớn tương đối các loại gỗ giá trị cao khác
như là các loại gỗ cứng châu Úc khác và nhập khẩu các loại gỗ
nhiệt đới (Herbohn et al. 1997, Petersen et al. 1997, Smorfitt
et al. 1997). Tỷ lệ trung bình mà các loại gỗ mỹ thuật rừng có
mưa gồm có sản phẩm gỗ tổng số dùng bởi các trang trại giảm
xuống mạnh với kích thước trang trại, nhất là ở Townsville và
Cairns (ví dụ 32%, 18% và 6% đối với các trang trại Townsville
nhỏ, trung bình và lớn tương ứng). Ngược lại, các trang trại
trung bình và lớn trong mỗi miền dùng một tỷ lệ cao về mặt thực
chất của sản phẩm gỗ composite.
Việc dùng gỗ mỹ thuật rừng có mưa của các trang
trại Úc châu Bắc Queensland (Cairns và Townsville) lớn hơn nhiều
so sới các trang trại Brisbane (Bảng 2). Điều này không ngạc
nhiên đã biết là đa phần mọi cung cấp những loại gỗ này được bảo
hiểm bởi Bắc Queensland. Trong nhiều công dụng, gỗ mới rừng có
mưa châu Úc, những loại gỗ cứng Úc châu khác và các loại gỗ
nhiệt đới nhập khẩu gần thay thế. Nếu các loại gỗ này được kết
hợp thành một loại đơn “gỗ mỹ thuật” sau đó các mô hình gỗ ở các
trang trại Brisbane và Bắc Queensland được đặt thẳng hàng nhiều
hơn. Có nhiều loài bạch đàn dùng phổ biến trong các xí nghiệp
bếp núc. Vì lý do này, loài bạch đàn phổ biến (ví dụ các loại
bán dưới tên thương phẩm sồi Tasmanian) dùng bởi các thợ đóng đồ
gỗ mỹ thuật đã được phân loại như ‘gỗ mỹ thuật’ dù cho điều này
không phải là trường hợp truyền thống.
Tiếp thị gỗ trồng
trong các trang trại ở Bắc Queensland nhiệt đới
Bảng 1. Hỗn hợp sản
phẩm của các trang trại sản xuất mỹ thuật ở Cairns, Townsville
và Brisbane
|
Thành phố
|
Kích thước
trang trại |
Chia sẻ kiểu sản phẩm (%) |
|
Đồ đạc |
Bếp
|
Khác |
|
Cairns |
Nhỏ |
14 |
42 |
39
|
|
Trung bình
|
11 |
71 |
18
|
|
Lớn
|
16 |
59 |
25
|
|
Townsville |
Nhỏ |
46
|
40
|
14
|
|
Trung bình
|
11 |
71 |
19
|
|
Lớn
|
6 |
64 |
29
|
|
Brisbane
|
Nhỏ
|
24
|
51
|
25
|
|
Trung bình
|
20 |
61 |
19
|
|
Lớn |
7 |
61 |
32
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Các sản phẩm gỗ
composite như là vỏ bào ép và sợi thủy tinh có tỷ trọng trung
bình là những vật liệu chính dùng trong xây dựng nhà bếp hiện
đại. Các đầu vào gỗ rắn như là Sồi Tasmanian (bao gồm trong ‘gỗ
cứng Úc châu khác’), và qui mô nhỏ gỗ rừng có mưa, còn được dùng
một cách phổ biến trong các phần trình bầy nhà bếp chất lượng
cao. Các sản phẩm gỗ composite được dùng với gỗ xây dựng này,
trong các lãnh vực ẩn dấu trong quan điểm. Mô hình sử dụng tương
đối cao gỗ cứng Úc châu bởi các xí nghiệp kích thước trung bình
và nhỏ gợi ý mạnh mẽ là những xí nghiệp này chuyên hóa trong xây
dựng nhà bếp chất lượng cao. Số lượng nhỏ gỗ cứng Úc châu dùng
bởi các xí nghiệp lớn, gợi ý là các xí nghiệp này xây dựng chủ
yếu các nhà bếp chất lượng thấp đến trung bình và biên độ giá.
Chỉ trên một phần
ba số lượng xí nghiệp mới không giữ bản liệt kê loại gỗ xây
dựng, với một phần ba nữa giữ lại ít hơn 2 m3
trên tay (Herbohn et al. 1997, Peterson et al.
1997, Smorfitt et al. 1997). Tuy nhiên, có nhiều trường hợp biệt
lệ đáng chú ý, với chín xí nghiệp trong mẫu giữ giữa 10 và 65 m3.
Chừng mực liệt kê thấp như là những chừng mực được gợi ý một
cách mạnh mẽ là phần lớn các xí nghiệp chỉ đặt hàng những loại
vật liệu khi môt việc đặt hàng đã được đặt. Ở Townsville nơi đó
chừng mực sử dụng gỗ xây dựng rừng có mưa gồm có 78% liệt kê gỗ
xây dựng tổng số (Herbohn et al. 1997). Hơn nữa, 13 trong số 15
xí nghiệp bằng cách sử dụng RFCTs giữ bản kê, và RFCTs gồm có
90% hoặc nhiều hơn bản kê tám trong những xí nghiệp này. Ngược
lại, chỉ một trong chín xí nghiệp không sử dụng RFCTs giữ bất kể
sản phẩm gỗ như bản kê, chỉ 0.3 m3.
Số phần trăm cao không cân đối này của RFCTs về hàng hóa tồn kho
gỗ xây dựng so sánh với các chừng mực sử dụng gợi ý là các xí
nghiệp có khó khăn trong việc nhận các loại gỗ xây dựng này trên
cơ sở đều đặn, c.f. sản phẩm gỗ composite để sẵn sàng sử dụng từ
nhiều nhà cung cấp theo yêu cầu. Các mô hình tương tự, dù cho ít
được nhấn mạnh, được tìm thấy trong các xí nghiệp ở Cairns
(Smorfitt et al. 1997) dù cho cũng ít như vậy trong các xí
nghiệp ở Brisbane (Peterson et al. 1997). Lý do là phần lớn chắc
chắn tỷ lệ thấp các loại gỗ xây dựng rừng có mưa so với mức khả
dụng lớn làm giảm yêu cầu giữ lại số lượng dự trữ.
Các yếu tố ảnh
hưởng việc chọn dầu vò các loại gỗ xây dựng bởi các nhà sản xuất
mới
Bảng 3 trình bày
mức độ ảnh hưởng của giá cả, chất lượng, tính thích ứng và yêu
cầu của người tiêu dùng về việc chọn của các nhà quản lý về sản
phẩm gỗ. Giá cả thấp là một yếu tố quyết định của các nhà quản
lý của các xí nhiệp sản xuất gỗ mỹ thuật trong việc sử dụng các
sản phẩm gỗ composite. Ảnh hưởng của giá cả thấp trong việc
quyết định sử dụng các sản phẩm này một cách có ý nghiã lớn hơn
các kiểu đầu tư gỗ khác. Đối với các loại khác, tất cả là các
loại gỗ thể rắn, không có các khác biệt có ý nghĩa trong việc
chia hạng giá cả thấp như là một yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn
lựa. Điều này gợi ý là một khi quyết định sử dụng đầu vào gỗ thể
rắn. Điều này gợi ý là khi đã ra một quyết định trong việc sử
dụng đầu vào gỗ rắn, giá cả không phải là một yếu tố quyết định
trong việc chon đầu vào. Sản phẩm gỗ thể rắn được xem như tốn
kém so với sản phẩm gỗ composite. Nếu một khách hàng yêu cầu
dùng một đầu vào dắt tiền, sau đó xí nghiệp mới giản đơn thông
qua chi phí về vật liệu trên người khách hàng. Chi phí đầu vảo
gỗ thể rắn như là RFCTs chỉ trở thành quan trọng đối với người
quản lý nếu xí nghiệp không thể thông qua chi phí sang khách
hàng. Trong khi chi phí có thể không phải là một yếu tố quan
trọng trong quyết định sử dụng RFCTs mỹ thuật so sánh với các
đầu vào gỗ thể rắn, điều này là một yếu tố chính trong các nhà
quản lý quyết định không sử dụng gỗ xây dựng từ rừng nhiệt đới,
ví dụ khi chi phí không thể thông qua.
Chất lượng cao của gỗ mỹ thuật rừng có mưa hình
như là một nhân tố trong quyết định của các nhà quản lý sử dụng
các loại gỗ xây dựng này, với việc chia hạng trung bình chất
lượng như là một nhân tố trong quyết định của họ sử dụng chúng
cao nhiều hơn một cách có ý nghĩa đối với các hạng loại khác của
gỗ xây dựng (ở mức 5%). Các hạng bậc của chừng mực ảnh hưởng của
tính thích ứng của các loại gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa
trên các quyết định của những người quản lý trong việc sử dụng
chúng cũng lớn một cách có ý nghĩa nhiều hơn các loại gỗ xây
dựng khác ngoại trừ các loại gỗ cứng Úc và sản phẩm gỗ
composite. Với ít khác biệt có ý nghĩa được tìm thấy giữa các
loại gỗ xây dựng khác nhau về mặt yêu cầu của khách hàng, với
các nhà quản lý có xu hướng đính kèm một trọng lượng cao hơn
trên nhân tố này so sánh với ba loại khác dù cho các khác biệt
này không có ý nghĩa về mặt thống kê..
Việc tiếp thị gỗ
xây dựng trồng ở các trang trại theo yêu cầu của khách hàng ở
Bắc Queensland nhiệt đới về các sản phẩm sẽ được thực hiện từ
các loại gỗ xây dựng rừng có mưa đã nhận không thường xuyên
tương đối trong cả ba thành phố (Herbohn et al. 1997, Peterson
et al. 1997, Smorfitt et al. 1997). Một cách có ý nghĩa số ít
yêu cầu của khách hàng về RFCTs được thực hiện cho các nhà quản
lý ở Brisbane so sánh với các người quản lý ở Cairns và
Townsville. Điều này chỉ dấu là yêu cầu của khách hàng là một
nhân tố quan trọng đối với các nhà quản lý quyết định về đầu vào
gỗ xây dựng. bởi các xí nghiệp lớn. Vì các xí nghiệp lớn đang
sản xuất một cách nổi bật nhà bếp “sản xuất theo khối lượng” giá
thấp, thực hiện từ các loại vật liệu rẻ tiền như là sản phẩm gỗ
composite, điều này không thể là chi phí đầu vào cao có thể được
thông qua với khách hàng. Các nhận thức về chi phí cao của RFCTs
kết hợp với không có khả năng thông qua những điều này với các
xí nhiệp mới trung bình khách hàng không thể thực hiện trong
việc sử dụng những điều này như là đầu vào trừ phi khách hàng
yêu cầu chúng một cách đặc biệt.
Bảng 3. Ảnh hưởng
của chi phí, chất lượng, tính thích ứng và các yêu cầu của khách
hàng về việc chọn của các nhà quản lý về sản phẩm gỗ trong việc
sử dụng sản xuất nhà bếp và đồ đạc (n = 24)
|
Kiểu sản
phẩm gỗ |
Chi phí
thấp (lc) |
Chất lượng
(q) (màu sắc, hạt) |
Tính thích
ứng (s) |
Yêu cầu của
khách hàng (r) |
Khác biệt
có ý nghĩa (qua hàng) |
|
Gỗ xây dựng
rừng có mưa Úc châu (r) |
2.5
|
4.1
|
4.0
|
4.2
|
lc < q,s,r
|
|
Gỗ cứng Úc
(ah) |
2.9
|
3.7
|
3.8
|
4.2
|
lc < q,s,r
|
|
Gỗ mềm Úc
(as) |
3.1
|
3.4
|
3.5
|
3.9
|
c < r
|
|
Gỗ xây dựng
nhiệt đới nhập khẩu (it) |
2.7
|
3.8
|
3.8
|
4.0
|
lc < q,s,r
|
|
Gỗ mềm nhập
khẩu (is) |
2.8
|
3.4
|
3.4
|
3.7
|
ns
|
|
Gỗ xây dựng
khác (ot) |
2.9
|
3.6
|
3.7
|
3.8
|
ns
|
|
Sản phẩm
Composite (c) |
3.7
|
3.1
|
4.0
|
3.9
|
q < s
|
|
Tóm tắt
khác biệt có ý nghĩa (cột xuống): |
|
c>(r, ah,
as, it, is, ot) |
r>(ah, as,
it, is, ot, c) |
r>(as, it,
is, ot); it>is |
r>is, ot
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
Yếu tố ảnh hưởng
việc mua sản phẩm chế tạo từ RFCTs
Khách hàng của thợ
đóng đồ gỗ mỹ thuật có thể được chia ra một ba cấp hạng: những
người mua, những người quan tâm nhưng không mua; và những người
không quan tâm mua. Phản ứng của các nhà quản lý liên quan đến
nhiều vấn đề về ba cấp hạng này giống nhau trong ba thành phố
(Herbohn et al. 1997, Smorfitt et al. 1997, Peterson et al.
1997). Nói chung, các nhà quản lý tin tưởng là các khách hàng
mua sản phẩm chế tạo từ gỗ mỹ thuật rừng có mưa chủ yếu là vì họ
thích chúng nhiều hơn so sánh với các sản phẩm khác. Chất lượng
sản phẩm cao và “giá trị tốt về tiền bạc” cũng được xem xét như
là các nhân tố quan trong. Đa phần các nhà quản lý tin tưởng là
tình trạng không thể cung cấp sản phẩm chế tạo từ RFCTs là lý do
chính tại sao khách hàng hoặc là không quan tâm trong việc mua
các sản phẩm này hoặc quan tâm mua nhưng không làm điều đó. Các
nhà quản lý cũng tin tưởng là ‘giá trị tồi về tiền bạc’ và
‘thích các sản phẩm gỗ xây dựng khác’ là các nhân tố góp phần
vào tình hình thiếu yêu cầu sản phẩm chế tạo từ RFCT’s. Gần phân
nửa số lượng người quản lý còn xem xét là một niềm tin của khách
hàng là gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa không còn sử dụng được
nữa là một nhân tố quan trọng tại sao các khách hàng đó quan
tâm đến việc mua sản phẩm chế phẩm từ RFCTs không làm như trên.
Vì thế, việc khuyến khích RFCTs đến quần chúng có thể làm tăng
yêu cầu về các sản phẩm trên..
Chừng mực thỏa hiệp
cao của các nhà quản lý với tuyên bố là ‘khách hàng không mua
sản phẩm chế tạo từ RFCTs vì họ không thể chi trả chúng’ vhỉ dấu
là một giá cả sản phẩm cuối cao chắc là một giới hạn chính về
mặt yêu cầu. Phần lớn chi phí cao sản phẩm chế tạo từ RFCTs
không nghi ngờ là có liên kết với chi phí cao của RFCTs như đầu
vào cho quá trình sản xuất so sánh với các sản phẩm khác như là
sản phẩm gỗ composite. Ngoài ra, chi phí lao động gắn với việc
sản xuất chế phẩm từ RFCTs có thể sẽ là về mặt bản chất cao
nhiều hơn sản phẩm được tạo ra khi sử dụng đầu vào khác. Vì
không có công nghệ thứ cấp tạo ra các thành phần thông dụng như
là các cửa và mặt ghế dài, mọi thành phần này phải được chế tạo
trên một cơ sở một lần trong nhà (a one-off basis in-house). Các
sản phẩm chế phẩm hàng loạt thường có một thành phần lao động
ước chừng 20% chi phí tổng số trong khi một hạng mục chuyên tính
ngoài một có thể có thành phần lao động lên đến 60% (McLennan
1995).
Trong những năm gần
đây quan tâm nhiều đã được biểu cảm bởi các nhóm môi trường về
các ảnh hưởng của việc đốn gỗ trong rừng nhiệt đới. Một cách phù
hợp, mối quan tâm của quần chúng về các ảnh hưởng của việc đốn
gỗ trong rừng có mưa có thể ảnh hưởng đến yêu cầu về các sản
phẩm sẽ được tạo ra ngoài RFCTs. Ước chừng 30% số người quản lý
đã chỉ dấu là nhưng quan tâm môi trường là một lý do tại sao
người ta không mua chế phẩm làm ra từ RFCTs.
Thái độ của người tiêu dùng đối với các
sản phẩm làm ra từ RFCTs
Khảo sát về các
người tiêu dùng như là báo cáo của Smorfitt et al. (2001) cung
cấp thông tin quan trọng về việc tiếp thị RFCTs và các sản phẩm
làm ra từ chúng. Trong công trình nghiên cứu đó, các người tiêu
dùng được tìm thấy xem sản phẩm làm ra từ RFCTs như là có ưu thế
cao trên các sản phẩm từ sản phẩm gỗ composite. Nhiều người còn
xem các sản phẩm làm ra từ RFCTs có ưu thế trên các sản phẩm làm
ra từ gỗ bạch đàn, dù cho ước chừng một phần ba đã suy nghĩ là
cả hai có thể so sánh về chất lượng. Một tỷ lệ cao những người
trong tuổi giữa 25 và 54 vừa mua sản phẩm làm từ gỗ mỹ thuật
rừng có mưa. Thái độ của người tiêu dùng được trình bày chi tiết
trong các Chương 9, 11, và 12 của chuyên khảo này.
Thái độ của thợ
đóng đồ gỗ mỹ thuất đối với RFCTs và khuyến cáo trồng
Các thợ đóng đồ gỗ
mỹ thuật ở Cairns, và với một qui mô nhỏ hơn Brisbane, đều quen
thuộc với nhiều loại và tỷ lệ gỗ mỹ thuật rừng nhiệt đới nhiều
trong số này cao đối với việc sử dụng nhà bếp hoặc đồ đạc. Hơn
nữa, có sự tình nguyên dùng các loại này ngay cả trường hợp
chúng không được sử dụng trước đây (Smorfitt et al. 2002). Bảng
4 trình bày các quan điểm của những người thợ đóng đồ gỗ mỹ
thuật Cairns và Brisbane liên quan đến loài nào phải được trồng
để thỏa mãn yêu cầu gỗ trong tương lai.
Bảng 4. So sánh 15
khuyến cáo loài hàng đầu gỗ mỹ thuật Cairns và Brisbane chống
lại việc trồng CRRP
|
Loài
|
Chia hạng |
Chia hạng
Brisbane |
Một phần
bên bị của Cairns (%)* |
Một phần
bên bị của Brisbane (%)* |
Một phần
của tổng số lần trồng của CRRP (%) |
|
Qld Maple
|
1
|
4
|
83.9
|
60.0
|
7.7
|
|
Northern
Silky Oak |
2
|
5
|
82.1
|
51.4
|
0.5
|
|
Red Cedar
|
3
|
2
|
78.6
|
70.0
|
0.2
|
|
Qld Walnut
|
4
|
6
|
75.0
|
51.4
|
**
|
|
Tasmanian
Oak |
5
|
1
|
67.9
|
77.1
|
***
|
|
Northern
Silver Ash |
6
|
7
|
60.7
|
47.1
|
1.8
|
|
Maple
Silkwood |
7
|
(17)
|
57.1
|
20.0
|
1.4
|
|
Qld Silver
Ash |
8
|
8
|
51.8
|
45.7
|
1.4
|
|
Kauri Pine
|
9
|
14
|
51.8
|
28.6
|
6.0
|
|
Black
Wattle |
10
|
13
|
53.6
|
27.1
|
2.1
|
|
Black Bean
|
11
|
12
|
48.2
|
28.6
|
2.6
|
|
Red
Silkwood |
12
|
19
|
51.8
|
17.1
|
**
|
|
Satin Silky
Oak |
13
|
11
|
44.6
|
30.0
|
**
|
|
Red Siris
|
14
|
(20)
|
55.4
|
17.1
|
2.1
|
|
Hoop Pine
|
15
|
3
|
35.7
|
67.1
|
10.3
|
|
Rose
Mahogany |
(20)
|
9
|
28.6
|
48.6
|
**
|
|
Red
Mahogany |
(21)
|
10
|
25.0
|
38.6
|
12.7
|
|
White Beech
|
(23)
|
15
|
26.8
|
25.7
|
0.3
|
Các kết quả chỉ dấu
là nhiều loài cây rừng có mưa và bạch đàn, nói riêng Queensland
maple, red cedar, northern silky oak, black walnut, Tasmanian
oak và hoop pine, có triển vọng tiếp thị chắc chắn. Một so sánh
các loài khuyến cáo bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật và những
người đã trồng theo CRRP ở miền Bắc Queensland cho biết sự chênh
lệch đáng chú ý. Như đã trình bày trong Bảng 4, trong năm loài
chia hạng cao nhất bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật Cairns (tất
cả là các loài cây rừng có mưa bản địa), chỉ Queensland Maple
được trồng theo bất kể qui mô (7.7% trồng CRRP lên đến 1997).
Các điều kiện trong
việc tiếp thị gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa Bắc QUEENSLAND
Gresham (1995) đã
gợi ý là các yếu tố dưới đây (theo thứ tự ưu tiên) ảnh hưởng đến
việc mua gỗ xây dựng bởi các xí nghiệp sản xuất chế phẩm gỗ: màu
sắc, hạt, khối lượng có thể sử dụng, tầm sử dụng cuối, Giá cả và
đặc tính vật lý. Trong công trình nghiên cứu hiện nay, ‘màu sắc’
và ‘hạt’ được tập hợp trong một hạng đơn của ‘chất lượng gỗ xây
dựng’. Các vật liệu chọn về gỗ mỹ thuật Queensland là sản phẩm
gỗ composite và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn này tốn kém
và tính thích ứng. Rõ ràng, các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật đang đáp
ứng lại các điều kiện thị trường ở nơi yêu cầu cao về đồ đạc
trong nhà và nhà bếp hình như là một sản phẩm giá hạ làm ra từ
một vật liệu có thể phục vụ. Bằng chứng này đối lập với thứ tự
ưu tiên của Gresham’s về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn sản
phẩm gỗ xây dựng. Các thợ đóng đồ gỗ mỹ thật, điều khiển bởi yêu
cầu của khách hàng, đang muốn hy sinh chất lượng vì giá cả và
khả năng phục vụ.
Nếu chỉ các sản
phẩm gỗ composite dược loại trừ có hoặc không bất kể biện pháp
hỗ trợ về thứ tự ưu tiên gợi ý bởi Gresham’s. Đối với các loại
gỗ xây dựng khác, gồm có RFCTs, giá cả không phải là một yếu tố
nổi bật ảnh hưởng đến việc chọn. Mặc dù ‘chất lượng’ hình như có
một ảnh hưởng mạnh, liên quan đến đồ đạc trong nhà và trong nhà
bếp, như được gợi ý bởi Gresham, ‘yêu cầu của khách hàng’ quan
trọng bằng nhau hoặc nhiều hơn. Mô hình này có những điều kiện
bắt buộc trong việc sử dụng mọi sản phẩm gỗ xây dựng trong việc
tạo ra đồ đạc. Trước hết, nhiều người quản lý (53%) công nhận là
các loại gỗ xây dựng rừng có mưa Úc ‘mắc tiền’ hoặc ‘rất mắc
tiền’ (Herbohn et al. 1997, Peterson et al. 1997, Smorfitt et
al. 1997) và số ít (10%) xem chúng như là ‘rẻ’ hoặc ‘rất rẻ’.
Hai là, một lý dô có thể thực hiện tại sao ‘giá cả’ của một sản
phẩm đắt tiền là không liên quan, theo quan điểm của các nhà sản
xuất, là các loại gỗ xây dựng chất lượng cao này, như là RFCTs,
chỉ được dùng căn bản khi có yêu cầu của khác hàng. Trong những
trường hợp này, điều này tương đối dễ đối với người sản xuất
trong việc thông qua giá gỗ xây dựng cao với khách hàng. Ba là,
các yêu cầu của khách hàng đến các nhà quản lý về các sản phẩm
sẽ được thực hiện từ RFCTs nhận không thường xuyên một cách
tương đối; 59% số người quản lý ở Brisbane và 36% ở Bắc
Queensland đã báo cáo là các khách hàng của họ ít khi hoặc không
bao giờ yêu cầu sản phẩm sẽ được làm ra từ RFCTs.
Gresham đã gợi ý là
có thể sử dụng sẵn có là một yếu tố quan trọn trong việc chọn
đầu vào của gỗ. Không có bằng chứng trực tiếp đã được thu thập
về việc có hoặc không mức khả dụng của RFCTs ó một ảnh hưởng chủ
yếu trên tỷ lệ sử dụng. Tuy nhiên, trên các diện tích Townsville
và Cairns nơi sử dụng các loại gỗ xây dựng này là lớn nhất, các
nhà quản lý đã báo cáo chừng mực khó khăn cao trong việc nhận gỗ
xây dựng mỹ thuật rừng có mưa (Herbohn et al. 1997, Peterson et
al. 1997, Smorfitt et al. 1997). Hơn nữa, bằng chứng giai thoại
gợi ý là mức khả dụng chắc hẳn xếp hạng với chất lượng gỗ xây
dựng (màu sắc và hạt) và các yêu cầu của khách hàng về tầm quan
trọng. Ví dụ, Sồi Braxin nhập khẩu, điều gần như không thể phân
biệt với sồi tơ miền Bắc có nguồn gốc địa phương (Cardwellia
sublimis) hiện nay đang bán $2.200/m3.
Đồng thời, C. sublimis đang bán với giá $1.800/m3.
Một sai khác giá cả như trên đối với một sản phẩm gâng như giống
nhau đáng ngạc nhiên, nhất là đã biết sưh quan tâm nhiều và
truyền thống lâu dài sử dụng gắn với sồi tơ miền Bắc. Một thợ
đóng đồ gỗ mỹ thuật, khi được hỏi về vấn đề này, nói là các xí
nghiệp đang dùng gỗ xây dựng như là các loại gỗ này muốn thanh
toán tiền thưởng cho mức khả dụng sẵn có.. Một lần nữa, điều này
là vì chi phí của đầu vào gỗ xây dựng đến khách hàng; khách hàng
thanh toán tiền thưởng về mức khả dụng sẵn có (nghĩa là lợi ích
cho thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật).
Việc tiếp thị gỗ
trông ở trang trại ở miền Bắc Queensland nhiệt đới. Ở Brisbane,
các vấn đề về việc khả dụng hình như quan trọng ít hơn với nhiều
xí nghiệp chỉ dấu họ ít hoặc không nhận RFCTs (Peterson et al.
1997). Điều này chắc là một chức năng sử dụng thấp nhiều hơn
(gắn với yêu cầu của khách hàng). Sự quan tâm lớn ở thị trường
Brisbane là nhiều xí nghiệp (30%) chỉ dấu là họ không cố gắng
nhận RFCTs trong năm trước vì họ không dùng vật liệu. Vì thế,
điều này có thể xuất hiện sau đó là nếu dễ dàng tiếp cận với các
loại gỗ mỹ thuật rừng có mưa tăng lên, điều này có thể không cần
đưa đến việc sử dụng tăng lên.
Về mặt giá cả và
chất lượng, các loại gỗ xây dựng nhiệt đới nhập khẩu và gỗ cứng
Úc có thể được xem như thay thế cho RFCTs. Có bằng chứng giai
thoại gợi ý là cả hai cấp hạng đầu vào gỗ xây dựng này có thể sử
dụng cho các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật theo yêu cầu và điều này là
một lý do chính sử dụng theo ưa thích của họ với RFCTs. Vì vậy,
việc làm tăng sự dễ dàng theo đó RFCTs có thể được nhận có thể
làm cho chúng cạnh tranh nhiều hơn với vật thay thế trực tiếp
chúng. Tuy nhiên, việc sử dụng hiện nay gỗ cứng Úc và các loại
gỗ cứng Úc và loại gỗ xây dựng nhiệt đới bởi đa phần xí nghiệp
không lớn, đặc biệt là các xí nghiệp lớn, vì thế chỉ có phạm vi
giới hạn trong việc thay thế số lượng tuyệt đối. Lại, RFCTs
không phải là vật thay thế hoàn hảo, đặc biệt là các loại gỗ
cứng Úc.. Loại sau là một đầu vào gỗ xây dựng thích hợp hơn đối
với thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật vì mức khả dụng của các sản phẩm
tiền chế (nghĩa là mặt ghế dài, cửa tủ đựng ly) hiện nay không
thể sử dụng với RFCTs.
Nếu các cố gắng
được thực hiện trong việc làm tăng mức sử dụng RFCTs và gỗ cứng
Úc, các nhân tố khác ngoài giá cả và mức sử dụng phải được xem
xét. Một cơ chế làm tăng yêu cầu của khách hàng về các sản phẩm
sẽ được thực hiện từ RFCTs là việc tiếp thị tốt nhiều hơn. Từ
khi RFCTs được chú ý nhiều bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật về
mặt chất lượng và tính thích ứng trong việc sử dụng nhà bếp và
đồ đạc, có tiềm nămg tiếp thị RFCTs với công chúng như là một
sản phẩm ưu thế (nghĩa là gỗ xây dựng kim cương). Tiềm năng này
sẽ không được thực hiện trừ phi công nghệ chấp nhận chiến lược
tiếp thị tốt nhiều hơn..
Sinclair (1992) đã
nhận diện nhiều yếu tố ảnh hưởng đến yêu cầu về đồ đạc. Các yếu
tố này bao gồm lợi tức cá nhân có thể sử dụng, tỷ lệ lợi tức (và
do đó chi phí tài trợ việc mua bán), vận động địa lý quần thể
(với kết quả thay thế đồ đạc), nhân khẩu học của hộ gia đình và
sự hình thành hộ gia đình. Một công trình nghiên cứu của
Epperson và Wacker (1988) đã nhận diện nhóm tuổi từ 25 đến 54
năm như có chi phí cao nhất về đồ đạc, gắn với sự hình thành gia
đình.
Các chiến dịch
quảng cáo có thể được dùng trong việc làm tăng chia sẻ thị
trường bằng cách làm tăng sự cảnh giác của công chúng đối với
một sản phẩm. Một phương pháp tiếp cận có thể là việc làm giảm
giá cả, nhưng điều này hình như không khả thi trong các tình
huống hiện nay khi mà các giá cả theo tuổi cây cao với RFCTs
được mong đợi. Một phương pháp luân phiên là việc tiếp thị gỗ
xây dựng nhiệt đới như là ‘gỗ xây dựng kim cương’ như gợi ý bởi
Johnson và Sarre (1995) từ International Tropical Timber
Organisation Secretariat (Ban Thư ký Tổ chức Gỗ xây dựng Nhiệt
đới Quốc tế). Các loại gỗ xây dựng kim cương là gỗ thích hợp
trong việc sử dụng trang trí, nghĩa là các loại đồ đạc đỉnh cao
và các loại ván lát đặc biệt, và gỗ xây dựng trong việc phục hồi
các kiểu xây dựng cổ xưa và cũ kỹ, nhạc cụ và các hạng mục tiểu
thủ công nghệ. Nguyên tắc này có thể đến lượt phát triển thành
các sản phẩm làm từ các loại gỗ xây dựng này. Johnson và Sarre
đã gợi ý là có tiềm năng lớn về giá cao sẽ nhận được với các
loại gỗ xây dựng này vì về mặt thẩm mỹ các đặc tính dễ chịu của
chúng và tính ổn định vật lý vốn có. Nhiều loài cây rừng có mưa
Úc thể hiện các đặc tính của gỗ xây dựng “kim cương” và vài
loài, như là cây tuyết tùng đỏ (red cedar), đã có giá cao.
Trước khi gỗ xây
dựng mỹ thuật từ cây rừng có mưa có thể được quảng cáo và bán
như là gỗ xây dựng ‘kim cương’, một nhận thức về thị trường cuối
phải được hoàn tất (Johnson và Sarre 1995), đặc biệt về các yếu
tố ảnh hưởng đến việc chọn đầu vào của gỗ xây dựng. Các công
trình nghiên cứu đã báo cáo trong chương này là một giai đoạn
đầu quan trọng trong việc cung cấp như là một nhận thức.
Một tổ chức tiếp
thị trung tâm về gỗ xây dựng mỹ thuật cây rừng có mưa có thể tập
hợp các nguồn cung cấp hiện nay chưa hoàn thành về gỗ xây dựng
mỹ thuật này, và về mặt thực chất làm tăng sự dễ dàng với nó thợ
đóng đồ gỗ mỹ thuật có thể tiếp cận chúng. Các công trình nghiên
cứu báo cáo bởi Herbohn et al. (1997), Peterson et al. (1997) và
Smorfitt et al. (1997) gợi ý là việc làm cho các loại gỗ xây
dựng này có thể sẵn sàng sử dụng cho các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật
hẳn là một chất tiền tố cần thiết cho một chiến dịch tiếp thị
trong việc làm tăng đặc tính của các loại gỗ xây dựng này với
công chúng. Điều này có thể là một nhiệm vụ dễ dàng trong việc
thuyết phục người tiêu dùng là RFCTs là một vật liệu chất lượng
cao, ưu thế về nhiều mặt với các vật liệu khác. Điều này có thể
là còn có khả năng cải thiện mức khả dụng nguồn cung cấp RFCTs
mặc dù điều này sẽ không dễ dàng. Khó khăn sẽ là việc thuyết
phục người tiêu dùng là xứng đáng thanh toán tiền thưởng cho
chất lượng này. Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện ngay cả có khó
khăn nhiều hơn vì các vật liệu thay thế này đã nhận được sự công
nhận của thị trường.
Tóm tắt
Gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa Úc được đánh giá
cao bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật và công chúng. Các xí nghiệp
nhỏ đóng đồ gỗ mỹ thuật là những người sử dụng lớn nhất RFCTs;
việc sử dụng của các xí nghiệp trung bình và lớn khá thấp, sản
phẩm chọn của họ là các sản phẩm gỗ composite. Các yếu tố hình
như là quan trọng trong việc chọn đầu vào bởi các thợ đóng đồ gỗ
mỹ thuật là chất lượng, mức khả dụng, yêu cầu của khách hàng,
tính thích ứng và chi phí. Chi phí chỉ là quan trọng khi nó
không thể thông qua với các khách hàng. Nơi nào chi phí là một
yếu tố, sản phẩm chọn là sản phẩm gỗ composite. Các thợ đóng đồ
gỗ mỹ thuật muốn thanh toán một phần thưởng về mức khả dụng và
sẽ tránh các sản phẩm không thể sẵn sàng sử dụng trừ phi khách
hàng yêu cầu một cách đặc biệt việc sử dụng chúng. Nhiều thợ
đóng đồ gỗ mỹ thuật có khó khăn trong việc nhận cung cấp đều đặn
RFCTs và trong nhiều tình huống đang quay sang các sản phẩm
khác. Trong các thị trường miền Nam, dữ liệu liên quan nhiều hơn
– nhiều thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật, mặc dù quan tâm rất nhiều về
RFCTs, giản đơn là việc không thử nhận chúng. Dữ liệu đã báo cáo
trong chương này ủng hộ các hoạt động của nông dân địa phương
trong việc hình thành các hợp tác xã với gỗ xây dựng ngoài thị
trường. Các hợp tác xã có thể hỗ trợ trong việc khắc phục vài
vấn đề có thể sử dụng và vì thế đưa đến yêu cầu lớn nhiều hơn.
Tuy nhiên, trong việc làm tăng yêu cầu của các thợ đóng đồ gỗ mỹ
thuật, số lượng khách hàng phải trước hết được gia tăng. Các thợ
đóng đồ gỗ mỹ thuật chắc sẽ thanh toán giá cả cao nhiều hơn cho
RFCTs chừng nào họ có thể thông qua với các khách hàng. Một phát
kiến khác của chương này là các loài cây RFCT đang trồng ở Bắc
Queensland không phù hợp gần với các loài mong đợi sẽ là yêu cầu
lớn nhât trong tương lai.
RGC 19-09-02007
1 Báo cáo này phần
lớn dựa trên báo cáo của Herbohn et al. (2001).
REFERENCES
Epperson, W. and
Wacker, B. (1988), 1988 Home Furnishings Compendium, Wheat First
Securities, Richmond, VA.
Gresham, G. (1995),
‘In Quest of the Unknown: Marketing is the Key to Increasing the
Use of Lesser-known Species in Trade’, ITTO Tropical Forest
Update, 5(2): 3-5.
Herbohn, J.L.,
Smorfitt, D.B. Peterson, R. and Harrison, S.R. (1997),
Cabinet-making Firms and the Demand for Rainforest Cabinet
Timbers: (I) Townsville Survey, Research Report Series No. 7,
James Cook University of North Queensland, Townsville.
Herbohn, J.L.,
Smorfitt, D.B. and Harrison, S.R. (2001), ‘Choice of Timber
Inputs by Small to Medium Sized Cabinet-making Firms in
Queensland and Implications for the Marketing of Lesser-know
Tropical Species’, in S.R. Harrison and J.L. Herbohn, eds.,
Sustainable Farm Forestry in the Tropics: Social and Economic
Analysis and Policy, Edward Elgar, Cheltenham, pp. 89-104.
Johnson, S. and
Sarre, A. (1995), ‘Economics and Natural Tropical Forest
Management: An Overview of the Economic Hurdles Facing Natural
Tropical Forest’, ITTO Tropical Forest Update, 5(4): 3-6.
McLennan, J.
(1995), ‘At What Price Profit?’, Australian Wood Review,
9(December): 27-30.
Peterson, R.,
Smorfitt, D.B., Herbohn, J.L. and Harrison, S.R. (1997),
Cabinet-making Firms and the Demand for Rainforest Cabinet
Timbers: (III) Brisbane Survey, Research Report Series No. 9,
James Cook University of North Queensland, Townsville.
Sinclair, S.
(1992), Forest Products Marketing, McGraw-Hill, New York.
Smorfitt, D.B.,
Herbohn, J.L., Peterson, R. and Harrison, S.R. (1997),
Cabinet-making Firms and the Demand for Rainforest Cabinet
Timbers: (II) Cairns Survey, Research Report Series No. 8, James
Cook University of North Queensland, Townsville.
Smorfitt, D.B.,
Herbohn, J.L. and Harrison, S.R. (2001), ‘Australian Rainforest
Timbers as a Valuable Resource: Community Perceptions and
Purchase Habits of Rainforest Timber Products’, Economic
Analysis and Policy, 31(2): 161-173.
Smorfitt, D.B.,
Herbohn, J.L. and Harrison, S.R. (2002), ‘Cabinet-Makers’
Awareness and Usage of Rainforest Cabinet Timbers in
Queensland’, Small-scale Forest Economics, Management and
Policy, 1(1):103-117.
Venn, T.J. and
Whittaker, K. (2003), ‘Potential Specialty Timber Markets for
Hardwoods of Western Queensland, Australia’, Small-scale Forest
Economics, Management and Policy, 2(3): 377-395.
Trở về Trang Chính
|