Phát triển thị trường các loài gỗ ít nổi tiếng từ Châu Úc nhiệt đới1

John Herbohn, David Smorfitt và Steve Harrison


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

27 tháng 09 năm 2007

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

 Báo cáo này kiểm tra các vấn đề liên quan đến thị trường của các loài gỗ riêng của rừng có mưa nhiệt đới và gỗ bạch đàn ở miền Bắc Queensland, việc báo cáo từ các phát kiến của các hãng riêng. Giá trị, tính thích ứng, yêu cầu của khách hàng và màu sắc và hạt gỗ là các yếu tố quan trọng trong quyết định của các hãng riêng trong việc chọn lọc các loài đặc biệt. Giá cả của gỗ chỉ trở thành quan trọng khi nó không thể được chuyển qua cho người mua. Các loại gỗ mới từ rừng có mưa Úc được xem nhiều bởi các nhà kế hoạch mới và quần chúng nói chung; tuy nhiên, việc sử chúng bị giới hạn bởi giá trị hiện tại và nhận thức.

 

Quá trình nghiên cứu

Các loại gỗ mỹ thuật trong rừng có mưa nhiệt đới và bạch đàn là các ví dụ về điều gì thường được biết như là ‘loại ít nổi tiếng’, với nhận biết thị trường tương đối thấp trên trường quốc tế và ngay cả trong nước. Nhiều loại gỗ cứng trồng ở các nước nhiệt đới, trong khi có những đặc tính gỗ tốt, chịu đựng sự thiếu nhận thức này, điều tạo ra các khó khăn riêng biệt ngoài thị trường. Một phần của vấn đề phát sinh ở chỗ là một cách điển hình nhiều loài cá thể, với những đặc tính gỗ khác nhau, và khối lượng tương đối nhỏ của mỗi loại, đã giới hạn việc thiết lập chuỗi cung cấp cao đưa vào quá trình. Tài liệu tham khảo về việc sử dụng loài ít nổi tiếng đã được xem xét lại bởi Venn và Whittaker (2003), những người đã xem xét triển vọng thị trường và lợi tức tiềm tàng của gỗ cứng chuyên tính từ miền Tây Queensland.

Trước Di sản Thế giới trình bày trong Nhiệt đới Ẩm ướt của Queensland (Wet Tropics of Queensland), các loài thuộc rừng có mưa được dùng trong sản xuất đồ gỗ chất lượng cao. Vài việc trồng những loài này xuất hiện trên đất ruộng, đặc biệt là được hỗ trợ bởi Chương trình Trồng Rừng có mưa cộng đồng (Community Rainforest Reforestation Program (CRRP), minh chứng là các loài này có thể được trồng trong các trang trại. Các cuộc khảo sát cho biết mức quan tâm cao bởi các chủ đất trong việc trồng loài rừng có mưa và bạch đàn. Tuy nhiên, giá cả tính theo tuổi cây đối với các loài này là tương đối thấp (mặc dù có vài trường hợp đáng chú ý giá cả gỗ cao trong các cuộc đấu giá khối lượng gỗ nhỏ), và một sự hiểu biết về thực tế thị trường tới hạn trong việc đầu tư vào các trang trại trồng các loài này.

Nhiều công cuộc khảo sát đã được thực hiện bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật trong việc xác định cách dùng và các thái độ cho những loài cây gỗ rừng có mưa và bạch đàn và sản phẩm gỗ tổng hợp. Những điều này được tạo ra để làm tăng nhận thức vai trò tương lai có thể của loài cây rừng có mưa nói riêng, và trong việc cung cấp thông tin về chính sách rừng, như là các loài nào đã thúc đẩy các nông dân có triển vọng. Phần kế tiếp của báo cáo này, giải thích về phương pháp khảo sát công nhận. Mô tả sơ lược được trình bày của các trang trại hoạch định mới, tiếp theo là một cuộc kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lọc đầu vào của gỗ. Các yếu tố ảnh hưởng việc chọn lựa của người tiêu dùng về các sản phẩm sản xuất từ gỗ mỹ thuật của rừng có mưa (RFCTs) sau đó được kiểm tra ngắn gọn, tiếp theo là một phác thảo loài mà các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật muốn thấy được trồng để thỏa mãn các yêu cầu gỗ trong tương lai. Cuối cùng, các kết quả của những công trình nghiên cứu khác nhau được trình bày theo nội dung các điều kiện bắt buộc về việc tiếp thị các loại gỗ mỹ thuật rừng có mưa từ miền Bắc Queensland.

  

Phương pháp nghiên cứu

Ba công trình nghiên cứu riêng biệt nhưng có tương quan với nhau (và các bộ liên kết khảo sát) đã được thực hiện cung cấp thông tin về tiếp thị các loại gỗ mỹ thuật từ rừng có mưa ở Queensland. Công trình nghiên cứu đầu tiên liên quan đến một cuộc khảo sát của các nhà quản lý trang trại mới lập, thực hiện ở Cairns, Townsville và Brisbane. Mẫu câu hỏi gồm có ba phần: thông tin tổng hợp về các người quản lý và các đặc trưng trang trại của họ; các câu hỏi liên quan một cách đặc biệt đến việc dùng gỗ mỹ thuật từ rừng có mưa và nhiều đầu vào gỗ khác trong hoạt động mới; những câu hỏi nhiều phần hỏi các nhà quản lý về ý kiến của họ liên quan việc tại sao người ta mua, hoặc không mua, sản phẩm sản xuất từ RFCTs. Trong các cuộc phỏng vấn, các nhà quản lý còn có cơ hội trình bày thêm các yếu tố chưa được bao gồm trong từng lời phát biểu. Thêm những chi tiết của quá trình chọn lọc mẫu vật và các phương pháp nghiên cứu áp dụng có thể được tìm thấy trong báo cáo của Herbohn et al. (1997), Smorfitt et al. (1997), Peterson et al. (1997) và Herbohn et al. (2001).

Cuộc khảo sát thứ hai là của các nhân viên (riêng biệt hẳn các nhà quản lý) của cùng các trang trại mới lập, và các quan điểm về loài nào có thể được trồng để thỏa mãn yêu cầu gỗ trong tương lai của các trang trại. Các câu hỏi được bao gồm cảnh giác, sử dụng, và tính thích ứng với ba mục đích, ví dụ. đồ gỗ, mặt ghế dài trong bếp và cửa tủ nhà bếp.. Cuộc khảo sát thứ ba khảo sát về thái độ của quần chúng nói chung đối với các loại sản phẩm sản xuất từ gỗ rừng có mưa và các lý do tại sao họ đã mua hoặc không mua sản phẩm sản xuất từ gỗ rừng có mưa. Cuộc khảo sát này không trình bày ở đây, nhưng được trình bày trong Chương 11 của tài liệu chuyên khảo này.

 

Sơ lược đặc điểm của các trang trại mới thiết lập ở QUEENSLAND

Như đã chỉ dấu trong Bảng 1, việc tạo ra đồ đạc gồm có một tỷ lệ lớn hỗn hợp sản phẩm của trang trại có mức doanh thu thấp (ít hơn $100.000 mỗi năm) ở mỗi thành phố. Trái lại, việc xây dựng nhà bếp gồm có một tỷ lệ cao hơn nhiều hỗn hợp sản phẩm của mức doanh thu trung bình ($100.000 đến $300.000 mỗi năm) và các trang trại lớn (nhiều hơn $300.000 mỗi năm). Vật liệu và lao động của mỗi kiểu gồm có khoảng 40% chi phí của sản phẩm sản xuất bởi các trang trại mới thiết lập, với tổng phí không chuyên gồm có phần còn lại (Herbohn et al. 1997).

Với các tên gọi tương đối, các trang trại mới nhỏ tính đến nay các người sử dụng lớn nhất gỗ mỹ thuật rừng có mưa (Bảng 1). Những trang trại này còn dùng các tỷ lệ lớn tương đối các loại gỗ giá trị cao khác như là các loại gỗ cứng châu Úc khác và nhập khẩu các loại gỗ nhiệt đới (Herbohn et al. 1997, Petersen et al. 1997, Smorfitt et al. 1997). Tỷ lệ trung bình mà các loại gỗ mỹ thuật rừng có mưa gồm có sản phẩm gỗ tổng số dùng bởi các trang trại giảm xuống mạnh với kích thước trang trại, nhất là ở Townsville và Cairns (ví dụ 32%, 18% và 6% đối với các trang trại Townsville nhỏ, trung bình và lớn tương ứng). Ngược lại, các trang trại trung bình và lớn trong mỗi miền dùng một tỷ lệ cao về mặt thực chất của sản phẩm gỗ composite.

Việc dùng gỗ mỹ thuật rừng có mưa của các trang trại Úc châu Bắc Queensland (Cairns và Townsville) lớn hơn nhiều so sới các trang trại Brisbane (Bảng 2). Điều này không ngạc nhiên đã biết là đa phần mọi cung cấp những loại gỗ này được bảo hiểm bởi Bắc Queensland. Trong nhiều công dụng, gỗ mới rừng có mưa châu Úc, những loại gỗ cứng Úc châu khác và các loại gỗ nhiệt đới nhập khẩu gần thay thế. Nếu các loại gỗ này được kết hợp thành một loại đơn “gỗ mỹ thuật” sau đó các mô hình gỗ ở các trang trại Brisbane và Bắc Queensland được đặt thẳng hàng nhiều hơn. Có nhiều loài bạch đàn dùng phổ biến trong các xí nghiệp bếp núc. Vì lý do này, loài bạch đàn phổ biến (ví dụ các loại bán dưới tên thương phẩm sồi Tasmanian) dùng bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật đã được phân loại như ‘gỗ mỹ thuật’ dù cho điều này không phải là trường hợp truyền thống.

 

Tiếp thị gỗ trồng trong các trang trại ở Bắc Queensland nhiệt đới

Bảng 1. Hỗn hợp sản phẩm của các trang trại sản xuất mỹ thuật ở Cairns, Townsville và Brisbane

Thành phố

Kích thước trang trại

           Chia sẻ kiểu sản phẩm (%)

Đồ đạc

       Bếp

Khác

Cairns

Nhỏ

14

42

39

Trung bình

                    11

              71

       18

Lớn

                    16

              59

       25

Townsville

Nhỏ

46

40

14

Trung bình

                    11

              71

       19

Lớn

                      6

              64

       29

Brisbane

Nhỏ

24

51

25

Trung bình

                    20

              61

       19

Lớn

                      7

              61

       32

                   

 

Các sản phẩm gỗ composite như là vỏ bào ép và sợi thủy tinh có tỷ trọng trung bình là những vật liệu chính dùng trong xây dựng nhà bếp hiện đại. Các đầu vào gỗ rắn như là Sồi Tasmanian (bao gồm trong ‘gỗ cứng Úc châu khác’), và qui mô nhỏ gỗ rừng có mưa, còn được dùng một cách phổ biến trong các phần trình bầy nhà bếp chất lượng cao. Các sản phẩm gỗ composite được dùng với gỗ xây dựng này, trong các lãnh vực ẩn dấu trong quan điểm. Mô hình sử dụng tương đối cao gỗ cứng Úc châu bởi các xí nghiệp kích thước trung bình và nhỏ gợi ý mạnh mẽ là những xí nghiệp này chuyên hóa trong xây dựng nhà bếp chất lượng cao. Số lượng nhỏ gỗ cứng Úc châu dùng bởi các xí nghiệp lớn, gợi ý là các xí nghiệp này xây dựng chủ yếu các nhà bếp chất lượng thấp đến trung bình và biên độ giá.

Chỉ trên một phần ba số lượng xí nghiệp mới không giữ bản liệt kê loại gỗ xây dựng, với một phần ba nữa giữ lại ít hơn 2 m3   trên tay (Herbohn et al. 1997, Peterson et al. 1997, Smorfitt et al. 1997). Tuy nhiên, có nhiều trường hợp biệt lệ đáng chú ý, với chín xí nghiệp trong mẫu giữ giữa 10 và 65 m3. Chừng mực liệt kê thấp như là những chừng mực được gợi ý một cách mạnh mẽ là phần lớn các xí nghiệp chỉ đặt hàng những loại vật liệu khi môt việc đặt hàng đã được đặt. Ở Townsville nơi đó chừng mực sử dụng gỗ xây dựng rừng có mưa gồm có 78% liệt kê gỗ xây dựng tổng số (Herbohn et al. 1997). Hơn nữa, 13 trong số 15 xí nghiệp bằng cách sử dụng RFCTs giữ bản kê, và RFCTs gồm có 90% hoặc nhiều hơn bản kê tám trong những xí nghiệp này. Ngược lại, chỉ một trong chín xí nghiệp không sử dụng RFCTs giữ bất kể sản phẩm gỗ như bản kê, chỉ 0.3 m3. Số phần trăm cao không cân đối này của RFCTs về hàng hóa tồn kho gỗ xây dựng so sánh với các chừng mực sử dụng gợi ý là các xí nghiệp có khó khăn trong việc nhận các loại gỗ xây dựng này trên cơ sở đều đặn, c.f. sản phẩm gỗ composite để sẵn sàng sử dụng từ nhiều nhà cung cấp theo yêu cầu. Các mô hình tương tự, dù cho ít được nhấn mạnh, được tìm thấy trong các xí nghiệp ở Cairns (Smorfitt et al. 1997) dù cho cũng ít như vậy trong các xí nghiệp ở Brisbane (Peterson et al. 1997). Lý do là phần lớn chắc chắn tỷ lệ thấp các loại gỗ xây dựng rừng có mưa so với mức khả dụng lớn làm giảm yêu cầu giữ lại số lượng dự trữ.

 

Các yếu tố ảnh hưởng việc chọn dầu vò các loại gỗ xây dựng bởi các nhà sản xuất mới

Bảng 3 trình bày mức độ ảnh hưởng của giá cả, chất lượng, tính thích ứng và yêu cầu của người tiêu dùng về việc chọn của các nhà quản lý về sản phẩm gỗ. Giá cả thấp là một yếu tố quyết định của các nhà quản lý của các xí nhiệp sản xuất gỗ mỹ thuật trong việc sử dụng các sản phẩm gỗ composite. Ảnh hưởng của giá cả thấp trong việc quyết định sử dụng các sản phẩm này một cách có ý nghiã lớn hơn các kiểu đầu tư gỗ khác. Đối với các loại khác, tất cả là các loại gỗ thể rắn, không có các khác biệt có ý nghĩa trong việc chia hạng giá cả thấp như là một yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lựa. Điều này gợi ý là một khi quyết định sử dụng đầu vào gỗ thể rắn. Điều này gợi ý là khi đã ra một quyết định trong việc sử dụng đầu vào gỗ rắn, giá cả không phải là một yếu tố quyết định trong việc chon đầu vào. Sản phẩm gỗ thể rắn được xem như tốn kém so với sản phẩm gỗ composite. Nếu một khách hàng yêu cầu dùng một đầu vào dắt tiền, sau đó xí nghiệp mới giản đơn thông qua chi phí về vật liệu trên người khách hàng. Chi phí đầu vảo gỗ thể rắn như là RFCTs chỉ trở thành quan trọng đối với người quản lý nếu xí nghiệp không thể thông qua chi phí sang khách hàng. Trong khi chi phí có thể không phải là một yếu tố quan trọng trong quyết định sử dụng RFCTs mỹ thuật so sánh với các đầu vào gỗ thể rắn, điều này là một yếu tố chính trong các nhà quản lý quyết định không sử dụng gỗ xây dựng từ rừng nhiệt đới, ví dụ khi chi phí không thể thông qua.

 

Chất lượng cao của gỗ mỹ thuật rừng có mưa hình như là một nhân tố trong quyết định của các nhà quản lý sử dụng các loại gỗ xây dựng này, với việc chia hạng trung bình chất lượng như là một nhân tố trong quyết định của họ sử dụng chúng cao nhiều hơn một cách có ý nghĩa đối với các hạng loại khác của gỗ xây dựng (ở mức 5%). Các hạng bậc của chừng mực ảnh hưởng của tính thích ứng của các loại gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa trên các quyết định của những người quản lý trong việc sử dụng chúng cũng lớn một cách có ý nghĩa nhiều hơn các loại gỗ xây dựng khác ngoại trừ các loại gỗ cứng Úc và sản phẩm gỗ composite. Với ít khác biệt có ý nghĩa được tìm thấy giữa các loại gỗ xây dựng khác nhau về mặt yêu cầu của khách hàng, với các nhà quản lý có xu hướng đính kèm một trọng lượng cao hơn trên nhân tố này so sánh với ba loại khác dù cho các khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê..

 

Việc tiếp thị gỗ xây dựng trồng ở các trang trại theo yêu cầu của khách hàng ở Bắc Queensland nhiệt đới về các sản phẩm sẽ được thực hiện từ các loại gỗ xây dựng rừng có mưa đã nhận không thường xuyên tương đối trong cả ba thành phố (Herbohn et al. 1997, Peterson et al. 1997, Smorfitt et al. 1997). Một cách có ý nghĩa số ít yêu cầu của khách hàng về RFCTs được thực hiện cho các nhà quản lý ở Brisbane so sánh với các người quản lý ở Cairns và Townsville. Điều này chỉ dấu là yêu cầu của khách hàng là một nhân tố quan trọng đối với các nhà quản lý quyết định về đầu vào gỗ xây dựng. bởi các xí nghiệp lớn. Vì các xí nghiệp lớn đang sản xuất một cách nổi bật nhà bếp “sản xuất theo khối lượng” giá thấp, thực hiện từ các loại vật liệu rẻ tiền như là sản phẩm gỗ composite, điều này không thể là chi phí đầu vào cao có thể được thông qua với khách hàng. Các nhận thức về chi phí cao của RFCTs kết hợp với không có khả năng thông qua những điều này với các xí nhiệp mới trung bình khách hàng không thể thực hiện trong việc sử dụng những điều này như là đầu vào trừ phi khách hàng yêu cầu chúng một cách đặc biệt.

 

Bảng 3. Ảnh hưởng của chi phí, chất lượng, tính thích ứng và các yêu cầu của khách hàng về việc chọn của các nhà quản lý về sản phẩm gỗ trong việc sử dụng sản xuất nhà bếp và đồ đạc (n = 24)

Kiểu sản phẩm gỗ

Chi phí thấp (lc)

Chất lượng (q) (màu sắc, hạt)

Tính thích ứng (s)

Yêu cầu của khách hàng (r)

Khác biệt có ý nghĩa (qua hàng)

Gỗ xây dựng rừng có mưa Úc châu (r)

2.5

4.1

4.0

4.2

lc < q,s,r

Gỗ cứng Úc (ah)

2.9

3.7

3.8

4.2

lc < q,s,r

Gỗ mềm Úc (as)

3.1

3.4

3.5

3.9

c < r

Gỗ xây dựng nhiệt đới nhập khẩu (it)

2.7

3.8

3.8

4.0

lc < q,s,r

Gỗ mềm nhập khẩu (is)

2.8

3.4

3.4

3.7

ns

Gỗ xây dựng khác (ot)

2.9

3.6

3.7

3.8

ns

Sản phẩm Composite  (c)

3.7

3.1

4.0

3.9

q < s

Tóm tắt khác biệt có ý nghĩa (cột xuống):

c>(r, ah, as, it, is, ot)

r>(ah, as, it, is, ot, c)

r>(as, it, is, ot); it>is

r>is, ot

               

 

Yếu tố ảnh hưởng việc mua sản phẩm chế tạo từ RFCTs

Khách hàng của thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật có thể được chia ra một ba cấp hạng: những người mua, những người quan tâm nhưng không mua; và những người không quan tâm mua. Phản ứng của các nhà quản lý liên quan đến nhiều vấn đề về ba cấp hạng này giống nhau trong ba thành phố (Herbohn et al. 1997, Smorfitt et al. 1997, Peterson et al. 1997). Nói chung, các nhà quản lý tin tưởng là các khách hàng mua sản phẩm chế tạo từ gỗ mỹ thuật rừng có mưa chủ yếu là vì họ thích chúng nhiều hơn so sánh với các sản phẩm khác. Chất lượng sản phẩm cao và “giá trị tốt về tiền bạc” cũng được xem xét như là các nhân tố quan trong. Đa phần các nhà quản lý tin tưởng là tình trạng không thể cung cấp sản phẩm chế tạo từ RFCTs là lý do chính tại sao khách hàng hoặc là không quan tâm trong việc mua các sản phẩm này hoặc quan tâm mua nhưng không làm điều đó. Các nhà quản lý cũng tin tưởng là ‘giá trị tồi về tiền bạc’ và ‘thích các sản phẩm gỗ xây dựng khác’ là các nhân tố góp phần vào tình hình thiếu yêu cầu sản phẩm chế tạo từ RFCT’s. Gần phân nửa số lượng người quản lý còn xem xét là một niềm tin của khách hàng là gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa không còn sử dụng được nữa là một nhân tố quan trọng tại sao  các khách hàng đó quan tâm đến việc mua sản phẩm chế phẩm từ RFCTs không làm như trên. Vì thế, việc khuyến khích RFCTs đến quần chúng có thể làm tăng yêu cầu về các sản phẩm trên..

 

Chừng mực thỏa hiệp cao của các nhà quản lý với tuyên bố là ‘khách hàng không mua sản phẩm chế tạo từ RFCTs vì họ không thể chi trả chúng’ vhỉ dấu là một giá cả sản phẩm cuối cao chắc là một giới hạn chính về mặt yêu cầu. Phần lớn chi phí cao sản phẩm chế tạo từ RFCTs không nghi ngờ là có liên kết với chi phí cao của RFCTs như đầu vào cho quá trình sản xuất so sánh với các sản phẩm khác như là sản phẩm gỗ composite. Ngoài ra, chi phí lao động gắn với việc sản xuất chế phẩm từ RFCTs có thể sẽ là về mặt bản chất cao nhiều hơn sản phẩm được tạo ra khi sử dụng đầu vào khác. Vì không có công nghệ thứ cấp tạo ra các thành phần thông dụng như là các cửa và mặt ghế dài, mọi thành phần này phải được chế tạo trên một cơ sở một lần trong nhà (a one-off basis in-house). Các sản phẩm chế phẩm hàng loạt thường có một thành phần lao động ước chừng 20% chi phí tổng số trong khi một hạng mục chuyên tính ngoài một có thể có thành phần lao động lên đến 60% (McLennan 1995).

 

Trong những năm gần đây quan tâm nhiều đã được biểu cảm bởi các nhóm môi trường về các ảnh hưởng của việc đốn gỗ trong rừng nhiệt đới. Một cách phù hợp, mối quan tâm của quần chúng về các ảnh hưởng của việc đốn gỗ trong rừng có mưa có thể ảnh hưởng đến yêu cầu về các sản phẩm sẽ được tạo ra ngoài RFCTs. Ước chừng 30% số người quản lý đã chỉ dấu là nhưng quan tâm môi trường là một lý do tại sao người ta không mua chế phẩm làm ra từ RFCTs.

 

Thái độ của người tiêu dùng đối với các sản phẩm làm ra từ RFCTs

Khảo sát về các người tiêu dùng như là báo cáo của Smorfitt et al. (2001) cung cấp thông tin quan trọng về việc tiếp thị RFCTs và các sản phẩm làm ra từ chúng. Trong công trình nghiên cứu đó, các người tiêu dùng được tìm thấy xem sản phẩm làm ra từ RFCTs như là có ưu thế cao trên các sản phẩm từ sản phẩm gỗ composite. Nhiều người còn xem các sản phẩm làm ra từ RFCTs có ưu thế trên các sản phẩm làm ra từ gỗ bạch đàn, dù cho ước chừng một phần ba đã suy nghĩ là cả hai có thể so sánh về chất lượng. Một tỷ lệ cao những người trong tuổi giữa 25 và 54 vừa mua sản phẩm làm từ gỗ mỹ thuật rừng có mưa. Thái độ của người tiêu dùng được trình bày chi tiết trong các Chương 9, 11, và 12 của chuyên khảo này.

 

Thái độ của thợ đóng đồ gỗ mỹ thuất đối với RFCTs và khuyến cáo trồng

Các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật ở Cairns, và với một qui mô nhỏ hơn Brisbane, đều quen thuộc với nhiều loại và tỷ lệ gỗ mỹ thuật rừng nhiệt đới nhiều trong số này cao đối với việc sử dụng nhà bếp hoặc đồ đạc. Hơn nữa, có sự tình nguyên dùng các loại này ngay cả trường hợp chúng không được sử dụng trước đây (Smorfitt et al. 2002). Bảng 4 trình bày các quan điểm của những người thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật Cairns và Brisbane liên quan đến loài nào phải được trồng để thỏa mãn yêu cầu gỗ trong tương lai.

 

Bảng 4. So sánh 15 khuyến cáo loài hàng đầu gỗ mỹ thuật Cairns và Brisbane chống lại việc trồng CRRP

Loài

Chia hạng  

Chia hạng  Brisbane

Một  phần  bên  bị  của  Cairns (%)*

Một phần bên bị của Brisbane (%)*

Một phần của tổng số lần trồng của CRRP (%)

Qld Maple

1

4

83.9

60.0

7.7

Northern Silky Oak

2

5

82.1

51.4

0.5

Red Cedar

3

2

78.6

70.0

0.2

Qld Walnut

4

6

75.0

51.4

**

Tasmanian Oak

5

1

67.9

77.1

***

Northern Silver Ash

6

7

60.7

47.1

1.8

Maple Silkwood

7

(17)

57.1

20.0

1.4

Qld Silver Ash

8

8

51.8

45.7

1.4

Kauri Pine

9

14

51.8

28.6

6.0

Black Wattle

10

13

53.6

27.1

2.1

Black Bean

11

12

48.2

28.6

2.6

Red Silkwood

12

19

51.8

17.1

**

Satin Silky Oak

13

11

44.6

30.0

**

Red Siris

14

(20)

55.4

17.1

2.1

Hoop Pine

15

3

35.7

67.1

10.3

Rose Mahogany

(20)

9

28.6

48.6

**

Red Mahogany

(21)

10

25.0

38.6

12.7

White Beech

(23)

15

26.8

25.7

0.3

 

Các kết quả chỉ dấu là nhiều loài cây rừng có mưa và bạch đàn, nói riêng Queensland maple, red cedar, northern silky oak, black walnut, Tasmanian oak và hoop pine, có triển vọng tiếp thị chắc chắn. Một so sánh các loài khuyến cáo bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật và những người đã trồng theo CRRP ở miền Bắc Queensland cho biết sự chênh lệch đáng chú ý. Như đã trình bày trong Bảng 4, trong năm loài chia hạng cao nhất bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật Cairns (tất cả là các loài cây rừng có mưa bản địa), chỉ Queensland Maple được trồng theo bất kể qui mô (7.7% trồng CRRP lên đến 1997).

 

Các điều kiện trong việc tiếp thị gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa Bắc QUEENSLAND

Gresham (1995) đã gợi ý là các yếu tố dưới đây (theo thứ tự ưu tiên) ảnh hưởng đến việc mua gỗ xây dựng bởi các xí nghiệp sản xuất chế phẩm gỗ: màu sắc, hạt, khối lượng có thể sử dụng, tầm sử dụng cuối, Giá cả và đặc tính vật lý. Trong công trình nghiên cứu hiện nay, ‘màu sắc’ và ‘hạt’ được tập hợp trong một hạng đơn của ‘chất lượng gỗ xây dựng’. Các vật liệu chọn về gỗ mỹ thuật Queensland là sản phẩm gỗ composite và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn này tốn kém và tính thích ứng. Rõ ràng, các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật đang đáp ứng lại các điều kiện thị trường ở nơi yêu cầu cao về đồ đạc trong nhà và nhà bếp hình như là một sản phẩm giá hạ làm ra từ một vật liệu có thể phục vụ. Bằng chứng này đối lập với thứ tự ưu tiên của Gresham’s về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn sản phẩm gỗ xây dựng. Các thợ đóng đồ gỗ mỹ thật, điều khiển bởi yêu cầu của khách hàng, đang muốn hy sinh chất lượng vì giá cả và khả năng phục vụ.

 

Nếu chỉ các sản phẩm gỗ composite dược loại trừ có hoặc không bất kể biện pháp hỗ trợ về thứ tự ưu tiên gợi ý bởi Gresham’s. Đối với các loại gỗ xây dựng khác, gồm có RFCTs, giá cả không phải là một yếu tố nổi bật ảnh hưởng đến việc chọn. Mặc dù ‘chất lượng’ hình như có một ảnh hưởng mạnh, liên quan đến đồ đạc trong nhà và trong nhà bếp, như được gợi ý bởi Gresham, ‘yêu cầu của khách hàng’ quan trọng bằng nhau hoặc nhiều hơn. Mô hình này có những điều kiện bắt buộc trong việc sử dụng mọi sản phẩm gỗ xây dựng trong việc tạo ra đồ đạc. Trước hết, nhiều người quản lý (53%) công nhận là các loại gỗ xây dựng rừng có mưa Úc ‘mắc tiền’ hoặc ‘rất mắc tiền’ (Herbohn et al. 1997, Peterson et al. 1997, Smorfitt et al. 1997) và số ít (10%) xem chúng như là ‘rẻ’ hoặc ‘rất rẻ’. Hai là, một lý dô có thể thực hiện tại sao ‘giá cả’ của một sản phẩm đắt tiền là không liên quan, theo quan điểm của các nhà sản xuất, là các loại gỗ xây dựng chất lượng cao này, như là RFCTs, chỉ được dùng căn bản khi có yêu cầu của khác hàng. Trong những trường hợp này, điều này tương đối dễ đối với người sản xuất trong việc thông qua giá gỗ xây dựng cao với khách hàng. Ba là, các yêu cầu của khách hàng đến các nhà quản lý về các sản phẩm sẽ được thực hiện từ RFCTs nhận không thường xuyên một cách tương đối; 59% số người quản lý ở Brisbane và 36% ở Bắc Queensland đã báo cáo là các khách hàng của họ ít khi hoặc không bao giờ yêu cầu sản phẩm sẽ được làm ra từ RFCTs.

 

Gresham đã gợi ý là có thể sử dụng sẵn có là một yếu tố quan trọn trong việc chọn đầu vào của gỗ. Không có bằng chứng trực tiếp đã được thu thập về việc có hoặc không mức khả dụng của RFCTs ó một ảnh hưởng chủ yếu trên tỷ lệ sử dụng. Tuy nhiên, trên các diện tích Townsville và Cairns nơi sử dụng các loại gỗ xây dựng này là lớn nhất, các nhà quản lý đã báo cáo chừng mực khó khăn cao trong việc nhận gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa (Herbohn et al. 1997, Peterson et al. 1997, Smorfitt et al. 1997). Hơn nữa, bằng chứng giai thoại gợi ý là mức khả dụng chắc hẳn xếp hạng với chất lượng gỗ xây dựng (màu sắc và hạt) và các yêu cầu của khách hàng về tầm quan trọng. Ví dụ, Sồi Braxin nhập khẩu, điều gần như không thể phân biệt với sồi tơ miền Bắc có nguồn gốc địa phương (Cardwellia sublimis) hiện nay đang bán $2.200/m3. Đồng thời, C. sublimis đang bán với giá $1.800/m3. Một sai khác giá cả như trên đối với một sản phẩm gâng như giống nhau đáng ngạc nhiên, nhất là đã biết sưh quan tâm nhiều và truyền thống lâu dài sử dụng gắn với sồi tơ miền Bắc. Một thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật, khi được hỏi về vấn đề này, nói là các xí nghiệp đang dùng gỗ xây dựng như là các loại gỗ này muốn thanh toán tiền thưởng cho mức khả dụng sẵn có.. Một lần nữa, điều này là vì chi phí của đầu vào gỗ xây dựng đến khách hàng; khách hàng thanh toán tiền thưởng về mức khả dụng sẵn có (nghĩa là lợi ích cho thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật).

 

Việc tiếp thị gỗ trông ở trang trại ở miền Bắc Queensland nhiệt đới. Ở Brisbane, các vấn đề về việc khả dụng hình như quan trọng ít hơn với nhiều xí nghiệp chỉ dấu họ ít hoặc không nhận  RFCTs (Peterson et al. 1997). Điều này chắc là một chức năng sử dụng thấp nhiều hơn (gắn với yêu cầu của khách hàng). Sự quan tâm lớn ở thị trường Brisbane là nhiều xí nghiệp (30%) chỉ dấu là họ không cố gắng nhận RFCTs trong năm trước vì họ không dùng vật liệu. Vì thế, điều này có thể xuất hiện sau đó là nếu dễ dàng tiếp cận với các loại gỗ mỹ thuật rừng có mưa tăng lên, điều này có thể không cần đưa đến việc sử dụng tăng lên.

 

Về mặt giá cả và chất lượng, các loại gỗ xây dựng nhiệt đới nhập khẩu và gỗ cứng Úc có thể được xem như thay thế cho RFCTs. Có bằng chứng giai thoại gợi ý là cả hai cấp hạng đầu vào gỗ xây dựng này có thể sử dụng cho các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật theo yêu cầu và điều này là một lý do chính sử dụng theo ưa thích của họ với RFCTs. Vì vậy, việc làm tăng sự dễ dàng theo đó RFCTs có thể được nhận có thể làm cho chúng cạnh tranh nhiều hơn với vật thay thế trực tiếp chúng. Tuy nhiên, việc sử dụng hiện nay gỗ cứng Úc và các loại gỗ cứng Úc và loại gỗ xây dựng nhiệt đới bởi đa phần xí nghiệp không lớn, đặc biệt là các xí nghiệp lớn, vì thế chỉ có phạm vi giới hạn trong việc thay thế số lượng tuyệt đối. Lại, RFCTs không phải là vật thay thế hoàn hảo, đặc biệt là các loại gỗ cứng Úc.. Loại sau là một đầu vào gỗ xây dựng thích hợp hơn đối với thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật vì mức khả dụng của các sản phẩm tiền chế (nghĩa là mặt ghế dài, cửa tủ đựng ly) hiện nay không thể sử dụng với RFCTs.

 

Nếu các cố gắng được thực hiện trong việc làm tăng mức sử dụng RFCTs và gỗ cứng Úc, các nhân tố khác ngoài giá cả và mức sử dụng phải được xem xét. Một cơ chế làm tăng yêu cầu của khách hàng về các sản phẩm sẽ được thực hiện từ RFCTs là việc tiếp thị tốt nhiều hơn. Từ khi RFCTs được chú ý nhiều bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật về mặt chất lượng và tính thích ứng trong việc sử dụng nhà bếp và đồ đạc, có tiềm nămg tiếp thị RFCTs với công chúng như là một sản phẩm ưu thế (nghĩa là gỗ xây dựng kim cương). Tiềm năng này sẽ không được thực hiện trừ phi công nghệ chấp nhận chiến lược tiếp thị tốt nhiều hơn..

 

Sinclair (1992) đã nhận diện nhiều yếu tố ảnh hưởng đến yêu cầu về đồ đạc. Các yếu tố này bao gồm lợi tức cá nhân có thể sử dụng, tỷ lệ lợi tức (và do đó chi phí tài trợ việc mua bán), vận động địa lý quần thể (với kết quả thay thế đồ đạc), nhân khẩu học của hộ gia đình và sự hình thành hộ gia đình. Một công trình nghiên cứu của Epperson và Wacker (1988) đã nhận diện nhóm tuổi từ 25 đến 54 năm như có chi phí cao nhất về đồ đạc, gắn với sự hình thành gia đình.

 

Các chiến dịch quảng cáo có thể được dùng trong việc làm tăng chia sẻ thị trường bằng cách làm tăng sự cảnh giác của công chúng đối với một sản phẩm. Một phương pháp tiếp cận có thể là việc làm giảm giá cả, nhưng điều này hình như không khả thi trong các tình huống hiện nay khi mà các giá cả theo tuổi cây cao với RFCTs được mong đợi. Một phương pháp luân phiên là việc tiếp thị gỗ xây dựng nhiệt đới như là ‘gỗ xây dựng kim cương’ như gợi ý bởi Johnson và Sarre (1995) từ International Tropical Timber Organisation Secretariat (Ban Thư ký Tổ chức Gỗ xây dựng Nhiệt đới Quốc tế). Các loại gỗ xây dựng kim cương là gỗ thích hợp trong việc sử dụng trang trí, nghĩa là các loại đồ đạc đỉnh cao và các loại ván lát đặc biệt, và gỗ xây dựng trong việc phục hồi các kiểu xây dựng cổ xưa và cũ kỹ, nhạc cụ và các hạng mục tiểu thủ công nghệ. Nguyên tắc này có thể đến lượt phát triển thành các sản phẩm làm từ các loại gỗ xây dựng này. Johnson và Sarre đã gợi ý là có tiềm năng lớn về giá cao sẽ nhận được với các loại gỗ xây dựng này vì về mặt thẩm mỹ các đặc tính dễ chịu của chúng và tính ổn định vật lý vốn có. Nhiều loài cây rừng có mưa Úc thể hiện các đặc tính của gỗ xây dựng “kim cương” và vài loài, như là cây tuyết tùng đỏ (red cedar), đã có giá cao.

 

Trước khi gỗ xây dựng mỹ thuật từ cây rừng có mưa có thể được quảng cáo và bán như là gỗ xây dựng ‘kim cương’, một nhận thức về thị trường cuối phải được hoàn tất (Johnson và Sarre 1995), đặc biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn đầu vào của gỗ xây dựng. Các công trình nghiên cứu đã báo cáo trong chương này là một giai đoạn đầu quan trọng trong việc cung cấp như là một nhận thức.

 

Một tổ chức tiếp thị trung tâm về gỗ xây dựng mỹ thuật cây rừng có mưa có thể tập hợp các nguồn cung cấp hiện nay chưa hoàn thành về gỗ xây dựng mỹ thuật này, và về mặt thực chất làm tăng sự dễ dàng với nó thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật có thể tiếp cận chúng. Các công trình nghiên cứu báo cáo bởi Herbohn et al. (1997), Peterson et al. (1997) và Smorfitt et al. (1997) gợi ý là việc làm cho các loại gỗ xây dựng này có thể sẵn sàng sử dụng cho các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật hẳn là một chất tiền tố cần thiết cho một chiến dịch tiếp thị trong việc làm tăng đặc tính của các loại gỗ xây dựng này với công chúng. Điều này có thể là một nhiệm vụ dễ dàng trong việc thuyết phục người tiêu dùng là RFCTs là một vật liệu chất lượng cao, ưu thế về nhiều mặt với các vật liệu khác. Điều này có thể là còn có khả năng cải thiện mức khả dụng nguồn cung cấp RFCTs mặc dù điều này sẽ không dễ dàng. Khó khăn sẽ là việc thuyết phục người tiêu dùng là xứng đáng thanh toán tiền thưởng cho chất lượng này. Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện ngay cả có khó khăn nhiều hơn vì các vật liệu thay thế này đã nhận được sự công nhận của thị trường.

 

Tóm tắt

Gỗ xây dựng mỹ thuật rừng có mưa Úc được đánh giá cao bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật và công chúng. Các xí nghiệp nhỏ đóng đồ gỗ mỹ thuật là những người sử dụng lớn nhất RFCTs; việc sử dụng của các xí nghiệp trung bình và lớn khá thấp, sản phẩm chọn của họ là các sản phẩm gỗ composite. Các yếu tố hình như là quan trọng trong việc chọn đầu vào bởi các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật là chất lượng, mức khả dụng, yêu cầu của khách hàng, tính thích ứng và chi phí. Chi phí chỉ là quan trọng khi nó không thể thông qua với các khách hàng. Nơi nào chi phí là một yếu tố, sản phẩm chọn là sản phẩm gỗ composite. Các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật muốn thanh toán một phần thưởng về mức khả dụng và sẽ tránh các sản phẩm không thể sẵn sàng sử dụng trừ phi khách hàng yêu cầu một cách đặc biệt việc sử dụng chúng. Nhiều thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật có khó khăn trong việc nhận cung cấp đều đặn RFCTs và trong nhiều tình huống đang quay sang các sản phẩm khác. Trong các thị trường miền Nam, dữ liệu liên quan nhiều hơn – nhiều thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật, mặc dù quan tâm rất nhiều về RFCTs, giản đơn là việc không thử nhận chúng. Dữ liệu đã báo cáo trong chương này ủng hộ các hoạt động của nông dân địa phương trong việc hình thành các hợp tác xã với gỗ xây dựng ngoài thị trường. Các hợp tác xã có thể hỗ trợ trong việc khắc phục vài vấn đề có thể sử dụng và vì thế đưa đến yêu cầu lớn nhiều hơn. Tuy nhiên, trong việc làm tăng yêu cầu của các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật, số lượng khách hàng phải trước hết được gia tăng. Các thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật chắc sẽ thanh toán giá cả cao nhiều hơn cho RFCTs chừng nào họ có thể thông qua với các khách hàng. Một phát kiến khác của chương này là  các loài cây RFCT đang trồng ở Bắc Queensland không phù hợp gần với các loài mong đợi sẽ là yêu cầu lớn nhât trong tương lai.

 

RGC 19-09-02007

 1 Báo cáo này phần lớn dựa trên báo cáo của Herbohn et al. (2001). 

 

REFERENCES

Epperson, W. and Wacker, B. (1988), 1988 Home Furnishings Compendium, Wheat First Securities, Richmond, VA.

Gresham, G. (1995), ‘In Quest of the Unknown: Marketing is the Key to Increasing the Use of Lesser-known Species in Trade’, ITTO Tropical Forest Update, 5(2): 3-5.

Herbohn, J.L., Smorfitt, D.B. Peterson, R. and Harrison, S.R. (1997), Cabinet-making Firms and the Demand for Rainforest Cabinet Timbers: (I) Townsville Survey, Research Report Series No. 7, James Cook University of North Queensland, Townsville.

Herbohn, J.L., Smorfitt, D.B. and Harrison, S.R. (2001), ‘Choice of Timber Inputs by Small to Medium Sized Cabinet-making Firms in Queensland and Implications for the Marketing of Lesser-know Tropical Species’, in S.R. Harrison and J.L. Herbohn, eds., Sustainable Farm Forestry in the Tropics: Social and Economic Analysis and Policy, Edward Elgar, Cheltenham, pp. 89-104.

Johnson, S. and Sarre, A. (1995), ‘Economics and Natural Tropical Forest Management: An Overview of the Economic Hurdles Facing Natural Tropical Forest’, ITTO Tropical Forest Update, 5(4): 3-6.

McLennan, J. (1995), ‘At What Price Profit?’, Australian Wood Review, 9(December): 27-30.

Peterson, R., Smorfitt, D.B., Herbohn, J.L. and Harrison, S.R. (1997), Cabinet-making Firms and the Demand for Rainforest Cabinet Timbers: (III) Brisbane Survey, Research Report Series No. 9, James Cook University of North Queensland, Townsville.

Sinclair, S. (1992), Forest Products Marketing, McGraw-Hill, New York.

Smorfitt, D.B., Herbohn, J.L., Peterson, R. and Harrison, S.R. (1997), Cabinet-making Firms and the Demand for Rainforest Cabinet Timbers: (II) Cairns Survey, Research Report Series No. 8, James Cook University of North Queensland, Townsville.

Smorfitt, D.B., Herbohn, J.L. and Harrison, S.R. (2001), ‘Australian Rainforest Timbers as a Valuable Resource: Community Perceptions and Purchase Habits of Rainforest Timber Products’, Economic Analysis and Policy, 31(2): 161-173.

Smorfitt, D.B., Herbohn, J.L. and Harrison, S.R. (2002), ‘Cabinet-Makers’ Awareness and Usage of Rainforest Cabinet Timbers in Queensland’, Small-scale Forest Economics, Management and Policy, 1(1):103-117.

Venn, T.J. and Whittaker, K. (2003), ‘Potential Specialty Timber Markets for Hardwoods of Western Queensland, Australia’, Small-scale Forest Economics, Management and Policy, 2(3): 377-395.

 

 

Trở về Trang Chính