Stephen
Jay Gould giảng dạy môn sinh học, địa chất học và lịch sử môn
khoa học tại trường đại học Harvard, nơi ông đã công tác tại
Khoa từ năm 1967. Ông nhận một bằng A.B. từ trường Cao Đẳng
Antioch và một bằng Ph.D. về môn cổ sinh vật học từ trường đại
học Columbia. Nổi tiếng về những bài viết khoa học phổ biến, nói
riêng trong cột báo hàng tháng trong báo ảnh Lịch Sử Thiên
nhiên, ông là tác giả của 13 cuốn sách.
Vài nhà
sáng chế thông báo những phát kiến của họ rất sáng ngời. Chúa
nói, “Fiat lux” (Ánh sáng chói chan), và sau đó tràn ngập thế
giới mới của ngài với hào quang. Những tác giả khác mang đến
những khám phá lớn dưới một lớp vỏ khiêm nhường, như Charles
Darwin trong việc xác định những cơ chế mới của ông về thuyết
nhân quả tiến hoá năm 1859: “Tôi đã gọi nguyên tắc này, theo đó
mỗi biến đổi nhẹ, nếu có ích, được bảo tồn, theo từ “Chọn lọc Tự
nhiên”. Việc chọn lọc tự nhiên là một lý thuyết rất mạnh và rất
giản đơn đã tổ chức rất tốt, nghiên cứu rộng và liên tục và khảo
nghiệm, trong 135 năm. Về mặt bản chất, việc chọn lọc tự nhiên
đặt cơ chế thay đổi tiến hoá trong một “cuộc đấu tranh” giữa
những sinh vật thành công trong việc sinh sản, đưa đến viếc
thích nghi cải thiện quần thể trong việc thay đổi môi trường.
(Cuộc đấu tranh thường là miêu tả ẩn dụ và cần không xem lại như
một cuộc đấu tranh mở, súng rực lửa. Những chiến thuật của việc
thành công sinh sản gồm có nhiều hoạt động không thượng võ như
trước kia và giao phối thường xuyên nhiều hơn và hợp tác nhiều
hơn với đối tác trong việc nuôi dưỡng con cái). Việc chọn lọc tự
nhiên vì thế là một nguyên tắc thích ứng địa phương, không của
tiến bộ tổng hợp hoặc tiến triển.
Những
tiêu bản có phiến (slab) của Pteridinium từ Namibia cho biết một
sinh vật nổi bật từ động vật đa bào đầu tiên trên địa cầu, gọi
là Ediacaran, xuất hiện vài 600 triệu năm qua. Những động vật
Ediacaran tử vong trước vụ nổ Cambrian (cambri) của cuộc sống
hiện nay, Những sinh vật này mỏng, quilted, giống như phiến có
thể là tổ tiên của vài hình thức hiện đại nhưng có thể cũng tiêu
biểu một khảo nghiệm riêng biệt và cuối cùng không thành công
trong đời sống của sinh vật đa bào. Lịch sử của đời sống có xu
hướng di chuyển trong những đoạn nhanh và giỏi nguỵ biện, nhiều
hơn là cải thiện dần.
Dù
nguyên tắc có thể là mạnh đủ, việc chọn lọc tự nhiên không chỉ
là nguyên nhân của thay đổi tiến hoá (vàcó thể, trong nhiều
trường hợp, bị che khuất bởi những lực khác). Điểm này cần nhấn
mạnh giữa việc ứng dụng sai tiêu chuẩn của lý thuyết tiến hoá
giả định là lời giải trình sinh học có thể cũng cân bằng với
thiết kế, thường là có tính cách suy đoán và phỏng đoán trong
thực hành, về giá trị thích nghi của đặc tính đã biết bất kỳ
trong môi trường, xuất xứ của nó (ví dụ, sự tấn công của con
người cũng như trong săn bắn, âm nhạc và tôn giáo và sự va cham
bộ lạc). Chính ông Darwin đã nhấn mạnh nhiều đến tính chất nhiều
mặt của thay đổi tiến hoá và đã cảnh báo chống lại sự tin tưởng
quá độc quyền vào việc chọn lọc tự nhiên, bằng cách thay lời
phát biểu dưới vào cuối phần dẫn nhập của ông “tôi bị thuyết
phục là sự chọn lọc tự nhiên đã là quan trọng nhất, nhưng không
độc quyền, những biện pháp sửa đổi”.
Sự chọn
lọc tự nhiên không đủ hoàn toàn để giải trình về thay đổi tiến
hoá vì hai lý do chính. Một là, nhiều nguyên khác mạnh, đặc biệt
ở chừng mực tổ chức sinh học trên và dưới sự tập trung Darwin
truyền thống vào sinh vật và những cuộc đấu tranh của chúng
trong thành công sinh sản. {mức độ thấp nhất thay những cặp gốc
riêng DNA, thay đổi thường là trung tính một cách hiệu quả và vì
thế ngẫu nhiên. Ở chừng mực cao, gồm có loài hoặc động vật hoàn
toàn, tình trạng cân bằng điểm có thể tạo ra xu hướng tiến hoá
bằng cách chọn lọc loài dựa trên tỷ lệ xuất xứ và tuyệt chủng
của chúng, nhưng trái lại việc tuyệt chủng theo khối lượng (hàng
loạt) quét sạch những bộ phận quan trọng của những vùng sinh vật
vì những lý do không liên quan đến những cuốc đấu tranh thích
ứng của loài cấu thành vào những thời kỳ “bình thường” giữa
những biến cố trên.
Hai là,
và trung tâm của bài báo này, không cần biết mức đầy đủ là bao
nhiêu, lý thuyết tổng hợp của chúng ta về thay đổi tiến hoá,
chúng ta còn khao khát thu thập tài liệu và hiểu rõ đường dẫn
hiện nay của lịch sử của cuộc sống. Lý thuyết, lẽ dĩ nhiên, có
liên quan đến việc giải trình đường dẫn (không gì về đường dẫn
có thể không phù hợp với lý thuyết tốt, và lý thuyết có thể dự
báo vài mặt tổng hợp của mô hình địa chất của cuộc sống. Nhưng
đường dẫn hiện tại được xác định dưới mức nhiều hơn bởi lý
thuyết tổng hợp của chúng ta về tiến hoá của cuộc sống. Điểm này
cần nên một trận nên thân như trung tâm bị hiểu lầm nhiều mặt
phức tạp của thế giới. Nhiều biến cố lịch sử rắc rối rất nhiều,
thấm nhuần với những yếu tố ngẫu nhiên và lộn xộn, không thể
nhắc lại nhiều hơn trong khi chứa đựng nhiều biến cố độc nhất
(và phản ứng tương hỗ độc nhất), mà những mô hình chuẩn của việc
dự báo giản đơn và nhắc lại không ứng dụng. Lịch sử có thể được
giải trình, với sức mạnh thoả đáng nếu chứng cớ đầy đủ, sau
nhiều biến cố bộc lộ, nhưng điều này không thể dự báo trước với
độ chính xác bất kỳ. Pierre-Simon Laplace, cộng hưởng sự phát
triển và quyết tâm tin tưởng của cuối thế kỷ thứ 18, một khi nói
là ông có thể mô tả đặc tính những tình trạng trong tương lai
nếu ông có thể biết rõ vị trí và chuyển động của mọi hạt trong
vũ trụ vào bất kỳ lúc nào, nhưng tính chất của tính phức tạp
toàn cầu làm tiêu tan giấc mộng hão huyền. Lịch sử gồm có rất
nhiều hỗn độn, hoặc lệ thuộc cảm ứng cực kỳ vào những khác biệt
rất nhỏ và không thể đo đếm trong điều kiện nguyên thuỷ, đưa đến
đầu ra phân kỳ rất lớn dựa trên những chênh lệch rất nhỏ và
không thể biết rõ ở những điểm bắt đầu.
Tiến
triển không thống trị (vàcũng không phải đảy mạnh cơ bản của)
quá trình tiến hoá. Vì lý do hoá học và vật lý, cuộc sống phát
sinh gần “vách trái” của tính phức tạp có thể thấu hiểu và có
thể bảo tồn giản đơn nhất. Kiểu đời sống này (vi sinh) vẫn là
phổ biến nhất và thành công nhất. Một số ít sinh vật thỉnh
thoảng di chuyển về phía phải, vì thế mở rộng đuôi phải trong
phân bố của tính phức tạp. Nhiều sinh vật luôn di chuyển về phía
trái, nhưng chúng bị hấp thu trong không gian đã bị chiếm. Lưu ý
là kiểu vi sinh không bao giờ thay đổi về vị trí, chỉ phát triển
cao nhiều hơn.
Một
lịch sử gồm có quá nhiều bất ngờ hoặc phát sinh hình dạng kết
quả hiện nay bằng những chuỗi dài của tình trạng trước không thể
dự báo, nhiều hơn là việc xác định ngay bởi luật vô thời gian
của thiên nhiên.
Trí
khôn của con người không xuất hiện trên quả đất, chỉ là một yếu
tố địa chất phụ, vì qui luật tiến hoá dự báo một đầu ra như trên
dựa trên những đề tài của tiến triển và tính phức tạp thần kinh
tăng. Con người đứng lên, nói đúng hơn, khi một đầu ra tình cờ
và ngẫu nhiên của hàng ngàn biến cố liên kết, bất kỳ một trong
những biến cố có thể đã xảy ra khác nhau và gửi lịch sử trên một
đường dẫn đan xen có thể đã không đưa đến lương tri. Để chỉ
trình bày bốn trong đa số:
(1) Nếu
dòng dõi kín đáo và dễ vỡ của chúng ta không trong số ít sinh
vật sống sót qua bức xạ đầu của đời sống động vật đa bào trong
vụ nổ Cambri 530 triệu năm qua, sau đó không có động vật có
xương sống có thể cư trú trên quả đất (Chỉ một thành phần của
ngành có dây sống, giống Pikaia, đã được tìm thấy giữa những hoá
thạch sớm nhất này. Sinh vật bơi nhỏ và giản đơn này, cho thấy
lòng trung thành của nó với chúng ta bằng cách sở hữu một
notochord (=dây sống) hoặc que cứng sống lưng, trong số những
hoá thạch hiếm nhất của Burgess Shale, động vật Cambri bảo tồn
tốt nhất của chúng ta );
(2) Nếu
một nhóm nhỏ và không triển vọng của những loài cá có vây thuỳ
không tiến hoá xương vây với một trục trung tâm mạnh có thể mang
trọng lượng trên đất liền, sau đó động vật có xương sống có thể
không bao giờ sống trên mặt đất;
(3) Nếu
số lớn động vật ngoài đất liền không đánh mạnh vào quả đất 65
triệu năm qua, sau đó khủng long vẫn còn tiếp tục thống trị và
động vật có vú thì không có ý nghĩa (tình huống thường gặp trong
100 triệu năm trước);
(4) Nếu
một dòng dõi nhỏ động vật nguyên thuỷ đã không tiến hoá vị thế
thẳng đứng trên thảo nguyên châu Phi khô trong 2-4 triệu năm
qua, sau đó tổ tiên của chúng ta có thể đã kết thúc trong một
dòng khỉ không đuôi, giống như tinh tinh vàkhỉ đột hiện nay, có
thể đã ở bên lề sinh thái vàchắc bị tuyệt chủng mặc dù phức tạp
tập tính đáng chú ý của chúng.
Vì thế,
để hiểu rõ những biến cố và đại cương về đường dẫn của đời sống,
chúng ta phải vượt qua những nguyên tắc của qui luật tiến hoá
đến việc kiểm tra cổ sinh vật học của mô hình lịch sử của cuộc
sống ngẫu nhiên trên hành tinh của chúng ta- phiên bản cập nhật
hoá đơn giữa hàng triệu phương pháp đan xen có thể chấp nhận
hình như đã không xuất hiện. Quan điểm trên về lịch sử cuộc sống
ngược lại rất nhiều mô hình quyết định thường của khoa học
phương Tây và với truyền thống xã hội sâu nhất vàhi vọng tâm lý
của văn hoá phương Tây trong một lịch sử đỉnh cao trên con người
như biểu hiện cao nhất của cuộc sống và phục vụ hành tinh có ý
đồ.
Khoa
học có thể, và phải, cố gắng nắm bắt thực tiễn thiên nhiên,
nhưng toàn bộ khoa học gắn vào xã hội, và mọi nhà khoa học ghi
chép ”sự tin chắc” thường gặp, tuy nhiên, khó mà họ có thể nhắm
vào mục đích khách quan thuần. Chính Darwin, trong những dòng
kết thúc của “Xuất xứ Loài”, thể hiện sự ưa thích của xã hội
Victori nhiều hơn ghi chép về thiên nhiên trong tài liệu
viết.”Khi việc chọn lọc tự nhiên thực hiện riêng tốt bởi và cho
mỗi sinh vật, tài năng vật chất và tinh thần sẽ có xu hướng tiến
về phía hoàn thiện.”
Đường
dẫn của cuộc sống chắc gồm có nhiều đặc tính có thể dự báo từ
Luật Thiên nhiên, nhưng những mặt này quá rộng và tổng hợp để
cung cấp “sự công bằng” mà chúng ta tìm để hợp lý hoá những kết
quả tiến hoá riêng- hoa hồng, nấm, con người. Sinh vật thích ứng
với, và bị giới hạn bởi, những nguyên tắc vật lý. Ví dụ, ít ngạc
nhiên, luật trọng lực đã biết, động vật có xương sống lớn nhất
trong biển (cá voi) vượt quá trọng lượng của những động vật nặng
nhất trên đất liền (voi hiện nay, khủng long trong quá khứ), đến
lượt, khối lượng lớn hơn so với động vật có xương sống lớn nhất
luôn bay (thằn lằn bay (pterosaurs) tuyệt chủng của thời đại
trung sinh).
Những
qui luật sinh thái có dự báo điều khiển cấu trúc hoá cộng động
bởi những qui luật về dòng chảy năng lượng và nhiệt động học (ví
dụ, nhiều sinh khối trên con mồi so với trên vật ăn thịt,) Xu
hướng tiến hoá, một khi đã bắt đầu, có thể có khả năng dự báo
từng phần (những “nòi có tay”. trong đó vật ăn thịt và con mồi
mài bảo vệ và khí giới của chúng, ví dụ, một mô hình màGeerat J.
Vermeij của trường đại học Cali ở Davis đã gọi “ sự leo thang “
và thu thập tài liệu trong việc gia tăng lực của càng và vỏ cua
của con mồi chân bụng qua thời gian). Nhưng Luật Thiên nhiên
không nói cho chúng ta biết tại sao có những con cua và ốc chút
nào, tại sao côn trùng thống trị thế giới đa bào và tại sao động
vật có xương sống bền nhiều hơn so với thảm tảo hiện có khi
những hình thức phức tạp nhất của cuộc sống trên quả đất.
Liên
quan đến quan điểm thường về lịch sử đời sống rộng ít nhất một
quá trình có thể dự báo rộng của tính phức tạp tiến triển dần
qua thời gian, ba đặc tính của ghi chép cổ sinh vật học chống
đối lại và vì thế phải phục vụ khi tổ chức những đề tài trong
phần còn lại của bài báo này: tính không thay đổi của tính phức
tạp mô hình trong suốt lịch sử của cuộc sống, sự tập trung của
những biến cố chính trong những cuộc bùng nổ ngắn rải rác trong
thời gian dài ổn định tương đối, và vai trò lường gạt bên ngoài,
cơ bản là tuyệt chủng hàng loạt, trong việc làm gián đoạn những
mô hình của thời kỳ “thường”. Ba đặc tính này, kết hợp với đề
tài tổng hợp nhiều hơn của tình trạng hỗn loạn và ngẫu nhiên,
cần một khuôn khổ mới trong việc phát sinh quan điểm và vẽ lịch
sử của đời sống, và bài báo này vì thế kết thúc với những đề
nghị trong một mô tả bằng tranh của sự tiến hoá.
Sự kiện
cổ sinh vật học đầu về điểm bắt đầu cuộc sống đến việc dự báo sự
xuất hiện và rất ít trong những đường dẫn riêng biệt sau đó. Quả
đất 4,6 tỉ năm tuổi, nhưng những hòn đá già nhất có tuổi 3,9 tỉ
năm vì bề mặt quả đất bị nóng chảy sớm trong lịch sử của nó, một
kết quả của sự bắn phá bởi nhiều số lượng mảnh vũ trụ trong suốt
thời kỳ hợp nhất hệ mặt trời, và của sức nóng phát sinh bởi tình
trạng phân huỷ phóng xạ của đồng vị có đời sống ngắn. Những đá
già nhất này cũng bị biến hoá bởi sức nhiệt kế tiếp và áp lực để
bảo tồn hoá thạch (qua vài nhà khoa học giải trình tỷ lệ đồng vị
cacbon trong những đá này như dấu hiệu của phát sinh hữu cơ).
Những đá già nhất không thay đổi đủ để giữ lại hoá thạch tế bào-
những trầm tích Phi châu vàÚc châu có tuổi từ 3,5 tỷ năm- bảo
tồn những tế bào tiền hạch (vi khuẩn vàtảo lam) và đá đệm (thảm
trầm tích đánh bẫy và liên kết bởi những tế bào này trong nước
biển cạn). Vì thế, cuộc sống trên quả đất tiến hoá nhanh và
giàchừng nào có thể. Riêng sự kiện này hình như chỉ dấu một tính
chắc chắn. hoặc ít nhất tính dự báo, trong xuất xứ cuộc sống từ
những thành phần hoá học đầu của lớp khí quyển và biển.
Không
ai có thể nghi ngờ những sinh vật phức tạp nhiều hơn phát sinh
liên tục sau thời kỳ tiền hạch đầu- tế bào chân hạch đầu, có thể
khoảng 2 tỷ năm qua, sau đó những động vật đa bào ước chừng 600
triệu năm qua, với một trì hoãn về tính phức tạp cao nhất giữa
những động vật đi qua từ động vật không xương sống, đến động vật
biển và cuối cùng (nếu chúng ta muốn. dù là một cách thiển cận,
để tôn kính cấu trúc thần kinh như một tiêu chuẩn đầu), đến loài
bò sát, động vật có vú và con người. Đây là chuỗi thường thể
hiện trong những sơ đồ và nội dung cũ như một “tuổi của động vật
không xương sống” theo sau là một “tuổi của cá” “tuổi của lớp bó
sát” “tuổi của động vật có vú” và “tuổi của con người” (thêm vào
độ lệch giống già vào mọi thành kiến khác đòi hỏi bởi chuỗi
này).
Tôi
không phủ nhận những sự kiện của đoạn trước nhưng muốn thảo luận
là mong đợi thường để xem xét lịch sử như tiến triển, và để xem
con người như trội về mặt dự báo, đã bóp méo một cách thô bạo
lời giải trình của chúng tôi về đường dẫn của cuộc sống bằng
cách đặt sai chỗ trung tâm của sự việc một hiện tượng nhỏ tương
đối chỉ phát sinh khi một hậu quả phụ của một điểm bắt đầu bị
giới hạn về mặt vật lý. Đặc tính nổi bật nhất của đời sống ổn
định kiểu vi khuẩn của nó từ bắt đầu ghi chép hoá thạch đến nay
và, ít nghi ngờ, trong tương lai chừng nào quả đất tồn tại. Đây
thật là“tuổi của vi khuẩn” như khi ở thời kỳ bắt đầu, hiện nay
và mãi trong mai sau.
Sách mô
tả bằng tranh mới của cây đời sống cho biết là tính đa dạng tối
đa dưới hình thức giãi phẫu học (không về số lượng loài) đất
được rất sớm trong lịch sử đa bào của cuộc sống. Thời gian sau
mộ tả đặc tính tuyệt chủng của nhiều khảo nghiệm đầu này và
thành công rất lớn trên những dòng sống sót. Thành công này được
tính toán trong việc nhân giống loài nhưng không trong việc phát
triển khoa giải phẫu mới. Ngày nay chúng ta có loài nhiều hơn
bất kỳ thời gian trước, mặc dù chúng bị giới hạn khoa giải phẫu
cơ bản ít.
Vì
những lý do liên quan hoá học của xuất xứ của cuộc sống và vật
lý tự tổ chức, sinh vật đầu phát sinh từ giới hạn thấp của tính
phức tạp có thể tưởng tượng và có thể bảo tồn cuộc sống. Gọi
điều này giới hạn thấp “vách trái” của một cấu trúc phức tạp. Vì
rất ít không gian hiện có giữa vách trái và kiểu vi khuẩn đầu
của cuộc sống trong ghi chép hoá thạch chỉ một phương hướng cho
việc gia tăng tương lai hiện có- về phía tính phức tạp lớn ở bên
phải. Vì thế, thỉnh thoảng, một sinh vật phức tạp nhiều hơn tiến
hoá và phát triển những khoảng cách đa dạng của cuộc sống chỉ
trong phương hướng có thể sr dụng được. Theo thuật ngữ, sự phân
bố tính phức tạp trở nên đối xứng lệch mạnh nhiều hơn thông qua
những phụ trội cơ hội này.
Nhưng
những phụ trội thì hiếm vàtừng đoạn. Chúng không tạo ra một huỗi
tiến hoá nhưng hình thành một chuỗi pha tạp tên liên quan khác
xa nhau, thường miêu tả như tế bào chân hạch, con sứa, bọ ba
thuỳ, dong (anh vũ), eurypterid (một dạng liên quan với loài cua
đế ngựa), cá, động vật lưỡng cư như làEryops một khủng long, một
động vật có vú, một con người. Chuỗi này không thể giải thích
khi sự thúc đảy chính hoặc xu hướng của lịch sử cuộc sống. Nghĩ
nhiều hơn về một sinh vật cơ hội đang rơi xuống miền phải trống
của không gian tính phức tạp. Trong suốt trọn thời gian này,
kiểu vi sinh đã phát triển về bề cao vàkhông thay đổi vị thế. Vi
sinh thể hiện lịch sử thành công lớn của cuộc sống. Chúng chiếm
một miền môi trường rộng vàkhoảng cách rộng nhiều hơn về mặt
sinh hoá học so với bất kỳ nhóm khác. Chúng thích ứng, không thể
phá huỷ vàđa dạng một cách ngạc nhiên. Chúng ta không thể tưởng
tượng làm cách nào sự can thiệp phát sinh loài người có thể đe
doạ sự tuyệt chủng của chúng, mặc dù chúng ta lo ngại về sự va
chạm cuả chúng ta vào mỗi hình thức của cuộc sống khác. Số lượng
tế bào E. coli trong ruột mỗi con người vượt quá số lượng người
đã sống trên hành tinh này.
Ta phải
công nhận làphức tạp hoá trong cuộc sống khi toàn bộ thể hiện
một xu hướng giả dựa trên giới hạn ở vách trái nhưng vẫn giữ
làsự tiến hoá trong những nhóm riêng biệt chiếu cố khác nhau
tính phức tạp khi dòng dõi tạo ra bắt đầu xa đủ từ vách trái để
cho phép di chuyển theo cả hai hướng. Khảo nghiệm thực nghiệm
của giả thuyết thích thú này chỉ đang bắt đầu (khi quan tâm đề
tài giữa những nhàkhảo cổ học), vàchúng tôi không có đủ trường
hợp để thúc đẩy tính phổ biến. Nhưng hai khảo nghiệm đầu- bởi
Daniel W. McShea của trường đại học Michigan trên động vật có
xương sống có vú vàbởi GeorgeF. Boyajian của trường đại học
Pennsylvania trên dòng khớp cúc- cho thấy không có xu hướng tiến
hoá để tạo thuận lợi cho tính phức tạp gia tăng.
Hơn
nữa, khi xem xét làvới mõi kiểu đời sống liên quan tính phức tạp
lơn nhiều hơn, chắc hiện có một kiểu ưu thế bằng nhau dựa trên
tính giản đơn nhiều hơn của hình thức (ví dụ như thường tìm thấy
trên loài ký sinh), sau đó tiến hoá tuỳ ý về phía tính phức tạp
hình như không thể làmột ưu tiên. Ấn tượng của chúng tôi làcuộc
sống tiến hoá về tính phắc tạp lớn nhiều hơn chắc làchỉ một độ
lệch cảm hứng bởi tâm điểm giáo xứ trên chúng ta, vàsự chú ý quá
mức hậu quả đến việc phức tạp hoá sinh vật, trong khi chúng tôi
không biết nhiều dòng dõi thích ứng tốt bằng nhau trở thành giản
đơn nhiều hơn về hình thức. Ký sinh xuống cấp về mặt hình thái,
an toàn bên trong ký sinh của nó, có nhiều viễn vọng về thành
công tiến hoá như dòng liên quan kỹ lưỡng tuyệt vời theo kịp ná
bắn đá vàmũi tên của sự giàu có thái quá trong một thế giới
ngoài khắc nghiệt.
Dù cho
tính phức tạp chỉ xê dịch cách xa trong giới hạn vách trái,
chúng ta phải xem những xu hướng theo hướng này có thể dự báo
nhiều hơn vàđặc trưng đường dẫn của cuộc sống như làtoàn bộ nếu
gia tăng tính phức tạp tích luỹ theo cách tích tụ bền vàdần qua
thời gian. Nhưng chẳng có gì về lịch sử đời sống đặc biệt nhiều
hơn về mặt phổ biến (nhưng sai) mong đợi so với mô hình hiện nay
của tính ổn định phát triển vàdi chuyển từng đoạn nhanh, như
được tiết lộ bởi ghi chép hoá thạch.
Cuộc
sống phần lớn độc quyền đơn bào trong năm phần sáu đầu lịch sử
của nó- từ hoá thạch ghi chép đầu ở 3,5 tỷ năm đến động đa bào
thu thập tài liệu tốt đầu ít hơn 600 triệu năm qua. (Vài loại
tảo đa bào giản đơn tiến hoá nhiều hơn một tỷ năm qua, nhưng
những sinh vật này thuộc về giới thực vật vàkhông có quan hệ phả
hệ với động vật). Thời gian dài này của đời sống đơn bào không
bao gồm, chắc làvậy, thườ kỳ chuyển tiếp cực kỳ quan trọng từ
những tế bào tiền hạch không hạt cơ quan đến tế bào chân hạch có
nhân, thể hạt sợi vànhững phức tạp khác có cấu trúc nội bào
nhưng không đạt được đã ghi chép của tổ chức động vật đa bào
trong 3 tỷ năm trọn vẹn. Nếu tính phức tạp làmột điều tốt trên,
vàtính đa bào thể hiện giai đoạn đầu quan điểm thường của chúng
tôi, khi cuộc sống chắc sử dụng thời gian của nó trong việc tạo
ra bước quyết định này. Những trì hoãn nói mạnh chống lại tiến
triển tổng hợp khi đề tài chính của lịch sử đời sống, dù cho
chúng có thể được giải trình một cách có thể chấp nhận bởi thiếu
oxy khí quyển trong phần lớn thời tiền sử hoặc bởi sự không
thành công của đời sống đơn bào để hoàn tất vài ngưỡng cấu trúc
hành động như một tiên quyết của tính đa bào.
2.
Vauxia (gracile)
2.
Branchiocaris
3.
Opabinia
4.
Amiskwia
5.
Vauxia (robust)
6.
Molaria
7.
Aysheaia
11.
Micromitra
12.
Echmatocrinus
13.
Chancelloria
14.
Pirania
15.
Choia
16.
Leptomitus
17.
Dinomischus
18.
Wiwaxia
19.
Naraoia
20.
Hyolithes
21.
Habelia
22.
Emeraldella
23.
Burgessia
24.
Leanchoilia
25.
Sanctacaris
26.
Ottoia
27.
Louisella
28.
Actaeus
29.
Yohoia
30.
Peronochaeta
31.
Selkirkia
32.
Ancalagon
33.
Burgessochaeta
34.
Sidneyia
35.
Odaraia
36.
Eiffelia
37.
Mackenzia
38.
Odontogriphus
39.
Hallucigenia
40.
Elrathia
41.
Anomalocaris
42.
Lingulella
43.
Scenella
44.
Canadaspis
45 .
Marrella
46.
Olenoides
Tò mò
nhiều hơn, tất cả những giai doạn chính trong việc tổ chức cấu
trúc đa bào của đời sống động vật sau đó xuất hiện trong một
thời gian ngắn ít hơn 600 triệu năm qua vàkết thúc ước chừng 530
triệu năm qua, vànhững bước trong chuỗi này cũng làkhông liên
tục vàtừng đoạn, không tích luỹ dần. Đông vật đầu, gọi
làEdiacaran tôn trọng địa phương châu Úc khám phá đầu của nó
nhưng hiện nay đã biết từ đá tảng trên tất cả lục địa, gồm có
những u hình lá rất dẹp, những phiến vàvòng nhỏ gồm có nhiều
đoạn thon quyện lại với nhau. Tính chất của động vật Ediacaran
hiện nay làmột đề tài bàn cãi rộng. Những sinh vật này hình như
sẽ không làchất tiền tố của những hình thức về sau. Chúng có thể
tạo ra một khảo nghiệm riêng biệt vàkhông thành công trong cuộc
sống động vật, hoặc chúng có thể thể hiện phạm vi tổ chức hoàn
toàn hai lớp, trong đó ngành mới Cnidaria (san hô, con sứa
vàđồng minh của nó) vẫn làphần còn lại nhỏ vàthay đổi nhiều.
Trong
mọi trường hợp, chúng tử vong hết thấy rõ trước khi sinh quyển
Cambri tiến hoá. Sau đó Cambri bắt đầu với một tập hợp những
viên, khó giải trình chống lại, gọi là“động vật có vỏ nhỏ”. Đậu
HàLan chính kế tiếp, bắt đầu ước chừng 530 triệu năm qua, tạo ra
vụ nổ lớn Cambri nổi tiếng, trong quá trình đó tất cả trừ một
ngành mới đời sống động vật tạo ra một hình thức đầu trong ghi
chép hoá thạch (Những nhàđịa chất đã cho phép trước đến 40 triệu
năm trong biến cố này, nhưng một khảo nghiệm thanh lịch, công bố
năm 1993, giới hạn rõ thời kỳ của ngành trổ hoa này gần 5 triệu
năm). Bryozoa (cây rêu), một nhóm sinh vật biển không cuống
vàthành cụm, không phát sinh cho đến đầu thời kỳ kế tiếp,
Ordovici (thời kỳ trung cổ), nhưng trì hoãn này có thể làmột
công cụ không thành công trong việc khám phá những tiêu biểu
Cambri.
Tính đa
dạng lớn tiến hoá nhanh vào buổi bình minh của đời sống động vật
đa bào trong thời kỳ Cambri (530 triệu năm qua). Sinh vật trình
bày ở đây được tìm thấy trong động vật Burgess Shale của Canada.
Chúng gồm có vài hình thức quen thuộc (bọt biển, động vật tay
cuộn) đã sống sót. Nhưng nhiều sinh vật (như Anomalocaris khổng
lồ ở bên phải thấp, lớn nhất của tất cả động vật Cambri) không
sống lâu vàlạ kỳ về mặt giải phẫu (quan hệ với động vật sống
sót) màchúng ta không thể phân loại chúng giữa những ngành đã
biết.
Mặc dù
những biến cố thích thú vàkỳ lạ đã xuất hiện vì, thời kỳ nở rộ
khủng long đến xuất xứ của ý thức con người, chúng tôi không
cường điệu nhiều khi nói làlịch sử kế tiếp của đời sống động vật
không nhiều hơn so với những biến đổi về giải phẫu học thiết lập
trong Vụ Nổ Cambri trong 5 triệu năm. Ba tỷ năm của tính đơn
bào, theo sau là5 triệu năm sáng tạo rộng rãi vàsau đó đỉnh
là500 triệu năm biến đổi về những đề tại giải phẫu học bộ có thể
ít được đọc như xu hướng có thể dự báo, không lay chuyển được
hoặc liên tục về phía tiến triển hoặc tính phức tạp gia tăng.
Chúng
tôi không biết tại sao Vụ Nổ Cambri có thể thiết lập tất cả
những thể thức giải phẫu chính khá nhanh. Một lời giải trình
“ngoài” dựa trên sinh thái học hình như làhấp dẫn: Vụ Nổ Cambri
thể hiện một sự đổ đầy “thùng phuy sinh thái” của những tổ sinh
vật đa bào, vàbất kỳ khảo nghiệm tìm ra một không gian. Thùng
không bao giờ trống trơn vì, ngay cả khối lượng lớn tuyệt chủng
để lai số ít loài trong mỗi vai trò chính, vàviệc chiếm giữ của
chúng không gian sinh thái đóng trước cơ hội về những đổi mới cơ
bản. Nhưng một lời giải trình “trong” dựa trên di truyền học
vàphát triển hình như cũng làcần như một phần phụ: những động
vật đa bào sớm nhất có thể đã giữ lại tính linh hoạt trong thay
đổi di truyền vàbiến đổi phôi bị giảm xuống nhiều khi sinh vật
“khoá bên trong” một tập hợp thể thức ổn định vàthành công.
Trong
mọi trường hợp, thời kỳ đầu này của tính linh hoạt trong vàngoài
cho nhiều giải phẫu động vật không xương sống có thể đã vượt quá
(chỉ số ít triệu năm sản xuất) phạm vi hoàn toàn của hình thức
động vật trong môi trường trên quả đất hiện nay (sau nhiều hơn
500 triệu năm thời gian phụ để mở rộng thêm). Những nhàkhoa học
phân chia về vấn đề này. Vài người cho rằng phại vi giải phẫu
học của vụ nổ đầu vượt quá vụ nổ trong đời sống mới, khi nhiều
khảo nghiệm mới chết hết vàkhông có ngành mới phát sinh. Nhưng
những nhàkhoa học phần lớn đối kháng mạnh về quan điểm này cho
phép làtính đa dạng Cambri ít nhất cân bằng phạm vi mới- dù cho
tư tưởng thận trọng nhất giữ lại là500 triệu năm kế tiếp cơ hội
đã không phát triển phạm vi Cambri, hoàn tất trong chỉ 5 triệu
năm. Vụ nổ Cambri làbiến cố đáng chú ý nhất vàđố ô chữ nhiều
nhất trong lịch sử của đời sống.
Hơn
nữa, chúng tôi không biết tại sao phần lớn những khảo nghiệm mới
tử vong, trong khi số ít sống sót trở thành những ngành mới của
chúng ta. Điểu đang thử nói lànhững động vật Victori thắng được
tính phức tạp giải phẫu học lớn, thích ứng sinh thái nhiều hơn
vàvài đặc tính có thể dự báo khác của cuộc đấu tranh Darwin
thường. Những không có tính trạng đã nhận biết thống nhất những
động vật victori, vàbiện pháp đan xen gốc phải chắc làmỗi khảo
nghiệm mới nhận ít tương đương một vé trong cuộc xổ số lớn nhất
chưa bao giờ chơi trên hành tinh của chúng ta, gồm có ngành
riêng động vật có xương sống, cư trú trên quả đất hiện nay nhiều
hơn do cơ may rút ra bởi bất kỳ cuộc đấu tranh có dự báo về sự
hiện có. Lịch sử của đời sống động vật đa bào có thể nhiều hơn
làmột lịch sử giảm lớn trong những khả năng đầu, với việc ổn
định hoá những động vật sống sót, so với một câu chuyện thường
phát triển sinh thái đều vàtiến triển hình thái trong tính phức
tạp.
Cuối
cùng, mô hình tĩnh tại lâu dài này, với thay đổi tập trung vào
những đoạn nhanh thiết lập tình trạng cân bằng mới, có thể làkhá
tổng hợp ở vài tháng thời gian vàphạm vi, tạo ra một kiểu mô
hình fractal (mảnh) trong tính tự đồng nhất. Theo mô hình cân
bằng có điểm của mô tả đặc tính, những xu hướng bên trong dòng
dõi xuất hiện bởi những đoạn tích tụ mô tả đặc tính tự phát về
mặt địa chất, nhiều hơn so với thay đổi dần bên trong quần thể
liên tục (như việc leo thang nhiều hơn là lăn tròn một quả bóng
lên một mặt phẳng nghiêng).
Nếu cả
qui luật tiến hoá đòi hỏi một định hướng nội tiềm tàng trong
đường dẫn của đời sống (mặc dù những dữ liệu trước và luận cứ về
bài báo này gieo nghi ngờ về lời than phiền trên), sự đòi hỏi
quá đáng cơ hội của một thay đổi môi trường nhanh vàquan trọng,
có thể thật làtai hoạ, có thể đã can thiệp đến tình trạng lúng
túng trong mô hình. Những thay đổi môi trường bắt đầu làm tuyệt
chủng hàng loạt với tỷ lệ cao của quả đất.
Sự thể
hiện cổ điển của lịch sử đời sông cho biết độ lệch nghiêm trọng
khi xem xét sự tiến hoá như biểu hiện một nguyên tắc trung tâm
của tiến triển vàphức tạp hoá. Trong những bức tranh này của
Charles R. Knight từ một vấn đề năm 1942 của Địa Lý Quốc Gia,
danh sách đầu cho biết động vật không xương sống của Burgess
Shale. Nhưng ngay khi các loài cá tiến hoá (danh sách 2), không
có quang cảnh kế tiếp cho biết một động vật không xương sống
khác, mặc dù chúng không đi xa hoặc dừng tiến hoá lại. Khi động
vật có xương sống trên đất liền (danh sách 3) phát sinh, chúng
tôi không bao giờ thấy loài cá khác, dù cho dòng dõi động vật có
xương sống trở lại biển có thể được theo dõi (danh sách 4).
Chuỗi luôn kết thúc với động vật có vú (danh sách 5)- mặc dù
loài cá, động vật không xương sống vàbò sát vẫn còn phát triển
mạnh- và, lẽ dĩ nhiên, con người (danh sách 6) …. vàcó thể trật
bánh bất bỷ phương hướng nội và điều chỉnh lại đường dẫn là mô
hình ròng của lịch sử đời sống thấy thất thường và tập trung
trong những đoạn so với đều vàcó định hướng. Những tuyệt chủng
hàng loạt đã được nhận biết từ rạng đông của môn cổ sinh vật
học, những phân chia chính của phạm vi thời gian địa chất được
thiết lập ở ranh giới đánh dấu bởi những biến cố trên. Nhưng đến
khi quan tâm trở lại bất đầu từ cuối những năm 1970, phần lớn
những nhàcổ sinh vật học đã xử lý tuyệt chủng hàng loạt chỉ khi
tăng cao biến cố thường, đưa đến (phần lớn) thúc đảy những xu
hướng lan tràn khắp thời kỳ thường. Trong qui luật ”tiến dần”
của tuyệt chủng hàng loạt, những biến cố này cần vài triệu năm
để bộc lộ ra (với sự xuất hiện “tính chất đột ngột” giải trình
như một công cụ của ghi chép hoá thạch không hoàn toàn), vàchúng
chỉ tạo ra tính chất thường xuất hiện nhanh nhiều hơn (sự đấu
tranh Darwin rộng trong thời gian khắc nghiệt, ví dụ, đưa đến
việc thay hiệu quả nhiều hơn ít thích ứng bởi hình thức ưu
việt).
Sự giải
trình lại tuyệt chủng hàng loạt như trung tâm đường dẫn của cuộc
sống vàkhác nhau cơ bản trong hiệu ứng bắt đầu với việc trình
bày những dữ liệu bởi Luis vàWalter Alvarez năm 1979, chỉ dấu
làsự va của một vật thể ngoài đất liền lớn (họ gợi ý một thiên
thạch 7-10 km đường kính làm nổi bật sự tuyệt chủng lớn cuối
cùng ở ranh giới Cretaceous-Tertiary 65 triệu năm qua. Mặc dù
giả thuyết Alvarez bắt đầu bị đối xử rất nghi ngờ từ những
nhàkhoa học (một phương pháp tiếp cận thích hợp với những lời
giải trình rất bất thường), trường hợp hiện nay hình như được
chứng tỏ rõ bởi sự khám phá của “súng khói”, một miệng núi lửa
có kích thước thích hợp vàtuổi nằm ngoài bán đảo Yucatan ở
Mehico.
Sự làm
thức tỉnh lại quan tâm cũng tạo cảm hứng cho những nhàcổ sinh
vật học để lập bảng dữ liệu tuyệt chủng hàng loạt chính xác
nhiều hơn. Công trình của David M. Raup, J. J. Sepkoski, Jr,
vàDavid Jablonski của trường đại học Chicago đã thiết lập làđời
sống động vật đa bào trải qua 5 thời kỳ chính (cuối kỷ
Ordovici), cuối kỷ devon), cuối kỷ Pecmi), cuối kỷ triat) vàcuối
kỷ creta)) vànhiều tuyệt chủng hàng loạt nhỏ trong suốt lịch sử
530 triệu năm của nó. Chúng tôi không có chững cớ rõ bất kỳ trừ
lần cuối những biến cố đã bắt đầu bởi va chạm tai hại, nhưng
khảo nghiệm cẩn thận trên đưa đến kết luận tổng hợp làtuyệt
chủng hàng loạt xuất hiện thường xuyên hơn, nhanh nhiều hơn,
phát triển nhiều hơn về phạm vi và khác nhau nhiều hơn về hiệu
quả so với những nhàcổ sinh vật học đã hình dung trước. Bốn đặc
tính này bao gồm điều kiện bắt buộc cơ bản của tuyệt chủng hàng
loạt trong việc hiểu rõ đường dẫn của cuộc sống ngẫu nhiên vàbấp
bênh nhiều hơn so với có thể dự báo vàcó định hướng.
Tuyệt
chủng hàng loạt không ngẫu nhiên về va chạm trên cuộc sống. Vài
dòng dõi gục ngã vànhững dòng dõi khác sống sót khi đầu ra nhạy
cảm dựa trên hiện diện hoặc vắng những đặc tính đã tiến hoá.
Nhưng một cách đặc biệt nếu nguyên nhân bắt đầu của của sự tuyệt
chủng đột ngột vàtai hoạ, những lý do trong cuộc sống hoặc tử
vong có thể là ngẫu nhiên về mật giá trị nguyên thuỷ của những
đặc tính chủ yếu khi tiến hoá lần đầu trong cuộc đấu tranh
Darwin của thời đại thường. Những mô hình “qui luật khác nhau”
này của tuyệt chủng hàng loạt phổ biến một tính trạng đến đường
dẫn của cuộc sống dựa trên than phiền rõ lànhững dòng dõi không
thể dự kiến những bất ngờ trong tương lai của phạm vi vàđiều
hành khác nhau như trên.
Để kể
ra hai ví dụ từ sự va chạm bắt đầu sự tuyệt chủng
Cretaceous-Tertiary 65 triệu năm qua. Trước hết, một công trình
nghiên cứu quan trọng công bố năm 1986 ghi chép làtảo cát
(diatoms) sống sót qua sự tuyệt chủng tốt nhiều hơn so với phù
du đơn bào (trước làcoccoliths (gai vôi) vàradiolaria). Công
trình nghiên cứu này tìm ra lànhiều tảo cát đã tiến hoá một
chiến lược ngủ nghỉ bằng cách kết nang, có thể để sống sót qua
thời vụ có điều kiện không thích hợp (tháng tối trên loài địa
cực nhưng trái lại tai hại cho những tế bào quang tổng hợp, có
thể sử dụng rải rác silica cần để xây dựng bộ xương của chúng).
Những tế bào phù du khác đã không tiến hoá bất kỳ cơ chế trong
thời gian ngủ nghỉ. Nếu va chạm Creta cuối tạo ra một đám mây
bụi ngăn cản ánh sáng trong nhiều tháng hoặc lâu hơn (một quan
điểm phổ biến trong một “viễn cảnh tàn sát” trong tuyệt chủng),
sau đó tảo cát có thể sống sót như một kết quả ngẫu nhiên của
những cơ chế ngủ nghỉ tiến hoá trong chức năng khác nhau hoàn
toàn của đổi màu khô hạn theo mùa trong thời kỳ thường. Tảo cát
không có ưu thê trên radiolaria hoặc những phù du khác gục ngã
với số lượng lớn, chúng may mắn giản đơn là có một đặc tính
thuận lợi, tiến hoá vì những lý do khác, nuôi dưỡng đi qua va
chạm và những đoạn tiếp nó.
Hai là,
chúng tôi tất cả biết làkhủng long tử vong vào cuối biến cố
Creta vàvì thế, làđộng vật có vú thống trị thê giới động vật có
xương sống hiện nay. Nhiều người giả định làđộng vật có vú phổ
biến trong thời kỳ khắc nghiệt này vì vài lý do ưu thế tổng hợp
trên khủng long. Nhưng một kết luận như trên hình như phần lớn
không thể thực hiện. Động vật có vú vàkhủng long đã cùng hiện có
trong 100 triệu năm, vàđộng vật có vú vẫn giữ lại kích cỡ chuột
hoặc nhỏ hơn, không tạo ra “xê dịch” tiến hoá để thay khủng
long. Không có luận cứ tốt về ưu thế của động vật có vú bằng ưu
thế tổng hợp luôn tiến bộ, và tính ngẫu nhiên hình như có thể
thực hiện nhiều hơn. Khi một luận cứ có thể chấp nhận được, động
vật có vú có thể đã sống sót từng phần như làmột kết quả kích
thước nhỏ của chúng (với kích thước lớn nhiều hơn, vàvì thế, sự
tuyệt chủng- kháng, những quần thể như làmột hệ quả, vàmô tả đặc
tính sinh thái ít hơn có nhiều nơi chỗ để trú ẩn, có thể nói như
vậy). Kích thước nhỏ có thể đã không làmột thích ứng dương của
động vật có vú, nhưng một dấu hiệu không khả năng luôn xâm nhập
miền trội của khủng long. Lại đặc tính “âm” này của thời kỳ
thường có thể là lý do chủ yếu trong việc sống sót của động vật
có vú vàmột điều kiện tiên quyết bài viết của tôi vàviệc đọc bài
này của bạn hôm nay.
Sigmund
Freud thường chú ý lànhững quay vòng lớn trong lịch sử khoa học
có nhưng một đặc tính phổ biến, vàchâm biếm chúng đánh nhào tính
kiêu căng cuả con người bệ này trên bệ kia nhận thức trước về
tính tự-cho-là-quan-trọng của chúng ta. Trong ba ví dụ của
Freud, Copernicus di chuyển nhàcủa chúng ta từ trung tâm ra chu
vi, Darwin sau đó loại bỏ chúng ta để “hạ thấp thế giới động
vật” vàcuối cùng (trong một trong những tuyên bố khiêm tốn nhất
của lịch sử trí thức), chính Freud khám phá tình trạng không ý
thức vàlàm nổ chuyện hoang đường của một tinh thần vừa phải hoàn
toàn. Theo ý nghĩa khôn ngoan vàquan trọng, sự quay tròn Darwin
vẫn làkhông hoàn toàn một cách đáng thương vì, mặc dù qua nghĩ
suy nhân loại chấp nhận sự quay tròn, nhiều người trong chúng ta
vẫn không muốn từ bỏ quan niệm tiện nghi làsự tiến hoá có nghĩa
là(hoặc ít nhất biểu hiện một nguyên tắc trung tâm của) tiến bộ
xác định để trả lại ngoại hình của một vật gì đó như ý thức của
con người không thể tránh được hoặc ít nhất có thể dự báo được.
Bệ không say rượu cho đến khi ta từ bỏ tiến bộ hoặc phức tạp hoá
như một nguyên tắc trung tâm vàđi đến ấp ủ khả năng mạnh mẽ
làtrí khôn của con người nhưng một nhánh nhỏ, phát sinh muộn
trên bụi cây lớn của đời sống- một chồi nhỏ có thể chắc làkhông
xuất hiện một lần thứ hai nhếu chúng ta có thể trồng lại bụi cây
từ hạt vàđể nó phát triển lại.
Động
vật nguyên sinh lànhững động vật nhìn bằng mắt, vànhững hình ảnh
chúng ta vẽ phản bội lại lòng tin sâu nhất của chúng ta và trình
bày giới hạn quan điểm hiện nay của chúng ta. Những nghệ sĩ đã
luôn vẽ lịch sử của đời sống hoá thạch nhiều về động vật không
xương sống, đến cá, đên lưỡng cư sớm trên đất liền vàloài bò
sát, đến khủng long, đến động vật có vú vàcuối cùng đến con
người. Không có trường hợp biệt lệ, tất cả những chuỗi đã vẽ từ
khi bắt đầu thể loại này trong những năm 1850 theo sau hội nghị.
Lại
chúng ta không bao giờ dừng lại để nhân biết phần lớn độ lệch
buồn cười mã hoá thành cách vũ trụ. Không quang cảnh trình bày
một động vật không xương sống khác sau khi cá đã tiến hoá nhưng
động vật không xương sống không đi xa hoặc ngưng tiến hoá! Sau
khi loài bò sát trên đất liền xuất hiện, không quang cảnh kế
tiếp luôn cho biết một loài cá (về sau những bảng biển chỉ theo
dõi trở lại loài bò sát như thằn lằn cá (ichthyosaurs)
vàplessiosaurs). Nhưng loài cá không ngưng tiến hoá sau khi một
dòng dõi nhỏ xoay sở để xâm nhập đất liền. Thật vậy, biến cố
chính trong sự tiến hoá của loài cá, xuất xứ và tăng lên tính
trội của teleosts, hoặc cá có xương mới, xuất hiện trong thời kỳ
của khủng long vàvì thế không bao giờ được trình bày trong bất
kỳ chuỗi nào trong số- dù cho teleosts gồm có nhiều hơn nửa của
tất cả mọi loài động vật có xương sống. Tại sao con người phải
xuất hiện vào cuối mọi chuỗi? Thứ tự của chúng ta động vật
nguyên sinh cổ xưa giữa những động vật có vú, và nhiều dòng dõi
thành công khác phát sinh muộn hơn chúng ta.
Chúng
ta sẽ không phá vỡ bệ của Freud vàhoàn tất sự quay vòng Darwin
cho đến khi chúng ta tìm thấy, nắm bắt, vàchấp nhận một phương
pháp khác vẽ lịch sử của cuộc sống. J. B. S. Haldane công bố
tính chất “lạ lùng nhiều hơn chúng ta giả định,” nhưng những
giới hạn này có thể chỉ lànhững khoá quan điểm bắt buộc về mặt
xã hội nhiều hơn làsau đó những giới hạn vốn có môn thần kinh
học của chúng ta. Những biểu tượng mới phải phá vỡ các khoá. Cây
gỗ- hoặc đúng hơn những cây bụi có nhánh phong phú vàsum suê-
nhiều hơn là thang và chuỗi giữ chìa khoá cho thời kỳ chuyển
tiếp quan điểm này.
Chúng
ta phải học tập theo dõi phạm vi biến đổi hoàn toàn, không chỉ
nhận thức hạn chế về đuôi phải nhỏ của sinh vật phức tạp nhất.
Chúng ta phải nhận biết là cây gỗ này có thể có một số lượng tối
đa nhánh gần bắt đầu cuộc sống đa bào vàlàlịch sử kế tiếp làmột
phần của quá trình loại trừ vàsự sống sót may mắn của một số ít,
nhiều hơn là trổ hoa thường xuyên, tiến triển vàphát triển của
một đa số đang phát triển. Chúng ta phải hiểu rõ lànhững nhánh
nhỏ là những nubbins ngẫu nhiên, không phải là mục tiêu có thể
dự báo của phía dưới bụi cây đồ sộ. Chúng ta phải nhớ lớn nhất
của mọi tuyên bố trong Kinh Thánh về sự khôn ngoan: “Nàng là cây
gỗ của cuộc sống với những người nằm giữ trên nàng; và hạnh phúc
cho mỗi người giữ được nàng”. “She is a tree of life to them
that lay hold upon her; and happy is every one that retaineth
her.”
FURTHER
READING
THE
BURGESS SHALE. Henry B. Whittington. Yale University Press,
1985.
EXTINCTION: A SCIENTIFIC AMERICAN BOOK. Steven M. Stanley. W. H.
Freeman and Company, 1987.
WONDERFUL LIFE: THE BURGESS SHALE AND THE NATURE OF HISTORY. S.
J. Gould. W. W. Norton, 1989.
THE
BOOK OF LIFE. Edited by Stephen Jay Gould. W. W. Norton,
1993
Trở về Trang Chính
|