|
Trong quá khứ, cây
đa niên và vùng ôn đới loài và dòng lai Hibiscus đã được
loại bỏ sang tình trạng của cây vườn ít được biết, ít nhất ở Hoa
Kỳ. Tuy nhiên, tiềm năng của chúng như một nguồn mới hoá có thể
ăn và màu lương thực thiên nhiên (mọi thứ bên trong lớp
anthocyanin của sắc tố hoa có thể ăn được) nần cao chúng đến
tình trạng như—có thể là mới nhất—của Cây trồng mới.
Mười bảy loài
Hibiscus bản địa ở Bắc Mỹ thay đổi từ USDA Zones 4–10 và,
trong điều kiện hoang dã, bị giam hãm trong miền đất ngập nước.
Trong trồng trọt, cây trồng được đặt trong các trang trại thường
xuyên, sử dụng các quy trình không tưới tràn trong điều kiện
ngập nước thụ động, hoặc tưới nhỏ giọt. Các loài đa niên cứng
khác và hình thức cây gỗ từ chấu Á, gồm có H. mutabilis, H.
syriacus, và loài liên-Thái Bình Dương H. hamabo và
H. tileaceous thích hợp với các vùng USDA Zones 8–10. Các
sản phẩm tiềm tàng từ những giống trồng này gồm có lương thực
tươi (cơ bản hoa có thể ăn được trong thương mại nhà hàng ăn
uống) và chất màu lương thực thiên nhiên, cũng như bứa ăn hạt có
thể ăn được và proteins hạt (trong áp dụng liệu pháp dinh dưỡng
(for nutraceutical applications), dầu hạt, dầu bôi trơn, vá sợi,
chất nhầy thực vật và polysaccharides phức tạp từ các cơ quan
quả, rễ, thân, và / hoặc nhánh cây.
Trong báo cáo này,
hoa của các loài Bắc Mỹ đã chọn, các loài châu Á và liên-Thái
Bình Dương không bản địa đã chọn và các giống trồng lai Bắc Mỹ
đã được chọn để phân tích cơ bản sắc tố. Hai mươi chín (29) loài
và dòng lai Malvaceae đã dùng trong việc mô tả đăc tính hoá học
của sắc tố trong hoa tươi được trình bày trong Bảng 1. Những
giống trồng này gồm có loài Hibiscus bản địa thuộc lục
địa US: Hibiscus aculeatus (vành nhạt với mắt đỏ nhỏ);
H. coccineus (vàng cam/đỏ rắn); H. laevis (kem đến đỏ
với mắt đỏ); H. martianus (đỏ rắn); H. moscheutos
(trắng đến màu kem hoặc đỏ có mắt đỏ); H. striatus
lambertianus (tím nhạt có mắt đỏ nhạt nhỏ); và vài dòng lai
của ba trong những loài bản địa này [gồm có BOSTx®HHHybrids:
‘Governor Ann’ (mulitple types); ‘Nathan’s Star’; ‘Pink Hybrids’
(mixed types); ‘Purple Hybrids’; ‘Razberri Rhapsody’; và
‘Razberri Ruffles’] (Hình. 1). Các hình biểu hiện của giống
trồng BOSTx®HHHybrids có thể sử dụng xin xem ở BOSTx.com.

Ngoài ra, vài giống
không dâm but của Malvaceae giống bản địa thuộc US cũng được
phân tích, gồm có Kosteletzkya virginica (màu hồng với
mắt vàng), Malvaviscus arboreus drummondii (vàng cam
rắn), Pavonia lasiopetalus (màu hồng rắn), và Sida
spinosa (màu vàng rắn). Malvaceae không bản địa được dùng
trong các phân tích gồm có Abelmoschus moschatus (hai
hình thức, vàng cam và đỏ, Á châu nhiệt đới), H. calyphyllus
(màu vàng, Madagscar), H. mutabilis (đào, Trung Quốc),
H. paramutabilis (đỏ, Trung Quốc), H. rosa-sinensis
(vàng cam, liên-Thái Bình Dương), H. syriacus (xanh
dương, Trung Quốc), và M. arboreus mexicana (vàng
cam, cácc nước Trung Mỹ). Các phương pháp của chúng tôi và kết
quả phân tích được trình bày chi tiết dưới đây.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
CHẾ
PHẨM TIÊU CHUẨN
Các nhà cung cấp
khác nhau cung cấp 18 tiêu chuẩn flavonoid aglycone với độ thuần
khiết 95%–99%. Các hợp chất Catechin và năm kiểu
epicatechin-type cùng với luteolin, naringenin, hesperetin và
kaempferol được mua từ Sigma Chemical Co. (St. Louis, Missouri).
Myricetin và apigenin nhận được từ Aldrich Chemical Co.
(Milwaukee, Wisconson) trong khi delphinidin nhận được từ
Spectrum Chemical Co. (New Brunswick, New Jersey). Aglycones còn
lại—gồm có cyanidin, petunidin, pelargonidin, peonidin,
malvidin, và quercetin—được mua từ Sarsyntex (Merignac, France).
Bắt đầu, các dung
dịch có 2–5 aglycones được dùng đên nhận thời gian giữ lại và
thông tin phổ trong việc nhận diện flavonoid aglycones hiện diện
trong chất trích hoa Hibiscus. Các dung dịch này được chế
phẩm bằng cách hoà tan hợp chất tiêu chuẩn trong methanol (1–2
mg/mL của mỗi aglycone). Sau khi lấy đi một ước số trong phân
tích HPLC, dung dịch tiêu chuẩn được trộn với 5 mL thuốc thử A
(Thuốc thử A là mộ hốn hợp 4:1 của 62.5% methanol nước với 0.5
g/L tert-butylhydroquinone và 6
N
HCl) và rút đi trong 2 giờ. Dung dịch có phản ứng này còn được
phân tích bởi HPLC.
Hai hình thức dung
dịch tiêu chuẩn (mỗi hình thức có aglycones khác nhau tìm thất
trong hoa Hibiscus) được phân tích bởi HPLC trong việc
xác định số lượng thông tin diện tích hợp chất và đỉnh ghi màu
sắc. Dung dịch đậm đặc nhiều nhất trên mỗi hình thức được chế
phẩm một cách chính xác từ bốn tiêu chuẩn thể rắn. Một cách đặc
biệt, 300–500 µg của mối trong bốn aglycones được cận trọng
lượng gần nhất 0.1 µg. Số lượng được phối hợp, sau đó được hoà
tan và pha với 5.00 mL với thuốc thử A. Kế đến, chất đậm đặc
được pha 1.00 mL đến 10.00 mL và 0.100 mL với 10.00 mL với thuốc
thử A để tạo ra hai dung dịch khác trong chuỗi. Các dung dịch
tiêu chuẩn được phân tích bởi HPLC bằng cách sử dụng 2, 10, và
20 µL tiêm chích.
PHÂN
TÍCH HPLC
Phương pháp LC đã
dùng là một hệ thống mô đun Hewlett-Packard (HP) 1050 Series
trang bị với một máy phát hiện dãy 1100 Series diode và một máy
vi tính HP Kayak có phần mềm HP HPLC 3D ChemStation trong việc
vận hành công cụ và phân tích dữ liệu. Phương pháp LC dùng một
cột HP Zorbax Eclipse XDB-C18 (250 × 4.6 mm) đi trước bởi một
cột bảo vệ của pha cố định tương tự. Các cột được duy trì trong
nhiệt độ phòng. Giai đoạn di động được thực hiện ở 1.00 mL/phút
và gồm có một dốc nước, methanol (MeOH) và acetonitrile (ACN),
mỗi có chứa 0.05% trifluoroacetic acid. Dốc là như sau: 0–5 phút
ở 90% H2O, 6% MeOH, và 4% ACN; 5–30 phút ở 85%, 9%, và 6%; 30–60
phút ở 71%, 17.4%, và 11.6%; 60–61 phút ở 0%, 85%, và 15%; 61–66
phút ở 90%, 6%, và 4%. Với anthocyanidins, tín hiệu sắc tố ký
được theo dõi ở 520 nm (20 nm rộng băng) liên quan với 570 nm
(60 nm rộng băng) trong khi, với tất cả flavonoid aglycones
khác, tín hiệu sắc tố ký được theo dõi ở 210 nm (20 nm rông
băng) liên quan với 550 nm (100 nm rộng băng). Thêm vào các tín
hiệu sắc tố ký, các phổ được thu gom trên 190–600 nm. Các phổ
của các đỉnh cao bên trong chất trích của hoa sắc tố ký được so
sánh sắc tố tiêu chuẩn trong các mục đích nhận diện.
TRÍCH CÁNH TRÀNG HOA TƯƠI
Hoa tươi của 29
loài và dòng lai của Hibiscus được kiểm tra trong một quá trình
4 ngày (Bảng 1). Hoa từ tám hoặc ít hơn dòng nhập được thu gom
vào buổi sáng sau khi hoa nở hoàn toàn, đặt trong khay vòm sáng
và vận chuyển trong điều cạnh mát (khi có thể được thực hiện
trong lần giao hàng hoa tươi cho khách hàng nhà hàng tiềm tàng)
đến phòng thí nghiệm, sau đó tồn trữ ở 2ºC trong một phòng lạnh
trong phòng thí nghiệm cho đến khi chất trích được thực hiện.
Thông thường, bốn bộ của hai trích xuất được thực hiện đồng
thời trong từng ngày của mẫu thu hoạch tươi, vì thế tám giống
hoa có thể được kiểm tra mỗi ngày trong khi giới hạn khoảng cách
thu hoạch và trích xuất đên 10 giờ.
Table 1.
Flavonoid aglycones trong 29 loài và dòng lai Hibiscus,
hoa tươi.
|
Tên loài giống |
Kích thước tương đối
và ngoại hình của hoa |
Nồng độ (mg/g mô tươi) |
Tổng số sắc tố (mg/g
hoa tươi) |
|
Quer-
citin |
Kaemp-
ferol |
Myri-
cetin |
Delphin-
idin |
Cyanan-
idin |
Petun-
idin |
Pelargon-
idin |
Malv-
idin |
|
Abelmoschus moschatus |
rất nhỏ; đỏ nhạt (chỉ
tươi) |
6 |
|
|
|
19 |
|
|
|
25 |
|
Abelmoschus moschatus |
nhỏ; vàng cam hồng
nhạt |
2 |
|
|
|
14 |
|
|
|
16 |
|
Hibiscus aculeatus |
Trung bình; vàng có
mắt đỏ |
127 |
|
16 |
|
3 |
|
|
|
146 |
|
Hibiscus calyphyllus |
Trung bình; vàng có
mắt đỏ tối |
9 |
|
|
1 |
5 |
|
|
|
15 |
|
Hibiscus coccineus |
lớn; vàng cam sao đỏ |
16 |
|
|
|
31 |
|
|
|
47 |
|
Hibiscus grandiflorus |
|
506 |
74 |
|
|
10 |
|
|
|
590 |
|
Hibiscus laevis
'Slight
Bush' |
Trung bình; trắng với
đỏ nhạt, mắt hồng |
160
|
|
|
|
7 |
|
|
|
167 |
|
Hibiscus martianus |
rất nhỏ; đỏ có mắt đỏ
vàng |
23 |
|
|
|
72 |
|
|
|
95 |
|
Hibiscus moscheutos
'White' |
lớn; màu kem với mắt
đỏ |
192 |
|
|
|
5 |
|
|
|
197 |
|
Hibiscus mutabilis
'Single Pink' |
lớn; hồng |
80 |
8 |
|
|
5 |
|
|
|
93 |
|
Hibiscus paramutabilis |
lớn; hồng tối |
91 |
4 |
|
|
20 |
|
|
|
115 |
|
Hibiscus rosa-sinensis |
Trung bình; đỏ nhạt,
mắt trắng nhạt, kiểu đỏ dài (chỉ tươi) |
7 |
|
|
|
36 |
|
|
|
43 |
|
Hibiscus striatus
lambertianus |
Trung bình; tím |
17 |
145 |
|
|
1 |
|
|
|
163 |
|
Hibiscus syriacus
'Purple Red' |
nhỏ; đỏ tím |
|
3 |
|
3 |
1 |
3 |
|
5 |
15 |
|
Hibiscus syriacus
'The Blues' |
Trung bình; xanh dương |
|
6 |
|
1 |
1 |
1 |
|
1 |
10 |
|
Hibiscus syriacus alba |
|
|
96 |
|
|
7 |
|
|
|
103 |
|
Kosteletzkya virginica |
Trung bình; tím
nhạt/hồng, mắt vàng nhỏ |
16 |
119 |
|
|
4 |
|
|
|
139 |
|
Malvaviscus arboreus
drummondii |
rất nhỏ; vàng cam,
dạng ống |
|
41 |
|
|
2 |
|
10 |
|
53 |
|
Malvaviscus arboreus
mexicana |
nhỏ; vàng cam, dạng
ống |
|
42 |
|
|
3 |
|
11 |
|
56 |
|
Pavonia hastata |
Trung bình; có sọc
nhạt-màu hồng tối |
8 |
|
|
|
28 |
|
|
|
36 |
|
Pavonia lasiopetalus |
Trung bình-nhỏ; màu
hồng |
4 |
|
|
|
3 |
|
|
|
7 |
|
Sida spinosa |
rất nhỏ; vàng vàng |
6 |
|
|
|
5 |
|
|
|
11 |
|
BOSTx(r) 'Delilah' |
|
764 |
49 |
|
|
146 |
|
|
|
959 |
|
BOSTx(r) 'Governor
Ann' (type) |
lớn; vàng cam đỏorange
red |
46 |
|
|
|
38 |
|
|
|
84 |
|
BOSTx(r) 'Lady Bird' |
|
|
1186 |
|
|
|
158 |
|
|
|
|
BOSTx(r) 'Marty's
Star' |
|
|
613 |
|
|
|
253 |
|
|
|
|
BOSTx(r) 'Orange Star' |
|
|
387 |
|
|
|
102 |
|
|
|
|
BOSTx(r) 'Purple
Backs' |
|
|
1379 |
96 |
|
|
69 |
|
|
|
|
BOSTx(r) 'Quatro Rojo' |
|
|
547 |
|
|
|
183 |
|
|
|
|
BOSTx(r) 'Razberri
Rhapsody' |
lớn; màu hồng rất tối |
125 |
|
|
|
77 |
|
|
|
202 |
|
BOSTx(r) 'Razberri
Ruffles' |
Trung bình; đỏ mâm xôi
sâu |
111 |
|
|
|
44 |
|
|
|
155 |
|
BOSTx(r) 'Rosalyn
Carter' |
|
1632 |
|
|
|
44 |
|
|
|
1676 |
|
BOSTx(r) 'Turk's Cap' |
|
|
27 |
674 |
|
|
11 |
|
|
|
|
BOSTx(r) 'Yoda' |
|
|
1032 |
|
|
|
276 |
|
|
|
|
BOSTx(r) Hybrid light
pinks (lg) |
lớn; trắng có mắt hồng
tối |
170
|
|
|
|
4 |
|
|
|
174 |
|
BOSTx(r) Purple
hybrids (mixed) |
lớn; màu hồng tím |
90 |
|
|
|
22 |
|
|
|
112 |
|
BOSTx(r)HHHybrid
'Nathan's Star' |
lớn; đỏ hồng tối |
6 |
|
|
|
39 |
|
|
|
45 |
|
BOSTx(r)HHHybrid Pink
- dark red eye |
lớn; màu hồng có mắt
hồng tối |
119 |
|
|
|
8 |
|
|
|
127 |
|
BOSTx(r)HHHybrid Pink
- med. red eye |
lớn; màu hồng có mắt
hồng trung bình |
81 |
|
|
|
7 |
|
|
|
88 |
|
BOSTx(r)Pink hybrids
(mixed) |
rất lớn; màu hồng có
mắt đỏ anh đào đến hông tối |
77 |
|
|
|
13 |
|
|
|
90 |
|
Pink Abutilon |
|
|
239 |
174 |
|
|
8 |
|
|
|
Qui trình chiết
xuất là như sau: Với hoa nhỏ đến rất nhỏ, 6–8 hoa toàn thể được
chọn để chiết xuất. Với hoa có kích cỡ trung bình đến lớn, 4–6
cánh tràng hoa từ một hoa đơn được dùng, phụ thuộc vào kích
thước của cánh tràng hoa. Các đường kính của hoâthy đổi từ nhỏ
bằng 3 cm (Pavonia spp.)
đến lớn bằng
30 cm (giống trồng lai Hibiscus).
Toàn bộ hoa hoặc
cánh tràng hoa cá thể (phụ thuộc vào kích thước hoa) được cắt
thành 2–5 mm bởi các mảnh 5–10 mm. Sau đó, 1.0–1.2 g mô tươi
được cân đến gần nhất 0.1 mg thành một ống bệt đáy tròn 50 mL.
Số lượng mô đã dùng trong các mẫu phơi khô hoặc sấy lạnh là ±
0.1 g, để có nồng độ sắc tố có thể so sánh với hoa tươi và bổ
sung trọng lượng nước mất đi trong các mẫu khử nước. Trọng lượng
khô của hoa thường ước chừng 10% trọng lượng tươi trong các mẫu
phơi khô và sấy lạnh. Mức độ khử nước của cánh tràng hoa trong
mẫu sấy lạnh (được đóng gói trong lát tích) tương đương với các
mẫu tươi. Mô được che phủ với 25 mL thuốc thử A và chảy ngược
trong 2 tiếng đồng hồ. Sau khi làm mát với nhiệt độ chung quanh,
hỗn hợp phản ứng dược tạo âm (sonicated) trong 5 phút, được
chuyển sang một ống bẹt có thể tích 100 mL và pha loãng đến dấu
có methanol. Mẫu pha được lắc trộn kỹ và một phần 4 mL được ly
tâm Một ước số của chất nổi tầng mặt trong được chuyển sang lọ
nhỏ HPLC để phân tích. Việc phân tích HPLC được thực hiện bằng
cách sử dụng môt một lần tiêm 20 µL và dược hoàn tất trong 2.5
tiếng đồng hồ chế phẩm trích.
KẾT
QUẢ
PHÉP
GHI SẮC TIÊU CHUẨN
Các thời gian giữ
lại trong 18 flavonoid aglycones ban đầu được khảo sát so sánh
tốt vớiấcc thời gian của Merken và Beecher (2000). Trong số 18
trình bày trên, tám aglycones được tìm thấy trong chất trích hoa
Hibiscus, gồm có delphinidin, cyanidin, petunidin,
myricetin, pelargonidin, malvidin, quercetin, và kaempferol. Sự
xác định cỡ cuat tám aglycones này cho các đường thẳng với các
hệ số 0.998 hoặc lớn nhiều hơn. Mọi phần chắn đều gần bằng số
không (0). Trong các tiêu chuẩn, giới hạn khám phá (LODs) thay
đổi từ 38 ng với kaempferol đến 149 ng với delphinidin. Với các
chất anthocyanidins, các LODs này xác định tối thiểu của hợp
chất có thể khám phá trong chất trích hoa. Tuy nhiên với
myricetin, quercetin và kaempferol, tối thiểu của hợp chất có
thể khám phá trong chất trích bị giới hạn bởi âm nền đưa đến
LODs của 450–520 ng. Trong một lần tiêm 20 µL và 100 mL của chất
trích, LODs qui đổi đến mức tối thiểu nồng độ có thể khám phá
trong hoa thay đổi giữa 0.32 mg/g với cyanidin và 2.6 mg/g với
kaempferol.
PHÂN
TÍCH HOA HIBISCUS
Flavonoid aglycones
nhận diện trong cánh tràng hoa hoa tươi của 29 loài và dòng lai
được trình bày trong Bảng 1. Hai chất flavonoid aglycones thường
tìm thấy nhiều nhất là flavonol quercetin và anthocyanin
cyanidin (Hình. 2). Mức độ Quercetin trong hoa thay đổi từ 2 đến
192 mg/g với mức độ cao nhất tìm thấy trên các hoa này có cánh
tràng hoa có màu trắng và kem. Những hoa này gồm có H.
moscheutos ‘trắng’, H. laevis ‘đỏ nhạt’, và
BOSTx®HHHybrids ‘hồng nhạt’. Quercetin không thể khám phá được
trong hai giống trồng H. syriacus (Bảng 1) hoặc trong hai
giống Malvaviscus arboreus. Cyanidin được nhận diện trong
mọi hoa, có nồng độ thay đổi từ 1 đến 77 mg/g. Các nồng độ cao
nhất của cyanidin được tìm thấy trong các hoa đỏ tươi hoặc đỏ
tối từ BOSTx® ‘Razberri Rhapsody’ và, một cách ngạc nhiên, các
hoa đỏ cam nhạt của H. martianus. Mức độ thấp nhất của
cyanidin được tìm tấy trên các giống trồng có hoa màu hồng,
trắng, vàng hoặc tím.

Ngoài các chất
quercetin và cyanidin, vài aglycones khác được khám phá trên các
hoa, nhưng chỉ trong các bộ genomes đặc biệt. Delphinidin,
petunidin, và malvidin (mọi chất anthocyanidins) được tìm thấy ở
các mức độ 1–5 mg/g trong các hoa của hai giống trồng H.
syriacus (một loài châu Á Hibiscus), ‘The Blues’, và
‘Purple Red’ (Bảng 1). Các kết quả này tương tự các kết quả của
Kim và Fujieda (1991), mặc dù họ cũng đã báo cáo sự hiện diện
của pelargonidin (màu đỏ của hoa) và peonidin, các hợp chất
trong nhiều giống trồng H. syriacus không bị khám phá
trong các giống trồng H. syriacus kiểm tra trong khảo
nghiệm này, vì chỉ các giống trồng có hoa màu xanh dương (phổ
biến nhiều hơn màu dỏ hoặc màu hồng của loài này) được tạo ra ở
trang trại Hibiscus Hill Plantation, Waller county, Texas.
Pelargonidin cũng được nhận diện trên các hoa đỏ vàng cam tối
của Malvaviscus arboreus drummondi và M. arboreus
mexicana, cả hai đều là loài Tân Thế gới. Trên các giống
trồng này, mức độ pelargonidin là ca. 10 mg per g mô hoa.
Kaempferol được tìm
thấy ở mức độ cao (41–145 mg/g) trên bốn loài, Kosteletzkya
virginica, H. striatus lambertianus, M. arboreus drummondi
và M. arboreus mexicana, mọi điều trong số là các giống
bản địa New World. Điều này cũng thử được tìm thấy ở các nồng độ
rất thấp (3–8 mg/g) trên các loài chấu Á H. mutabilis, H.
paramutabilis và hai giống trồng H. syriacus. Sựn
hiện diện của kaempferol trên H. mutabilis f.
versicolor đã được báo cáo bởi Ishikura (Ishikura 1973,
1982). Kaempferol cũng đã được báo cáo ở H. moscheutos
(Ohmoto et al. 1988) (a New World native) và H. rosa-sinensis
(Subramanian và Nair 1972) (một loài nhiệt đới liên-Thái Binhd
Dương), mặc dù điều này không được tìm thấy trên hai giống trồng
Hibiscus này trong khảo nghiệm của chúng tôi.
Một chất aglycone
cuối được nhận diện, nghĩa là. myricetin. Hợp chất này được tìm
thấy trên H. aculeatus, chỉ loài Hibiscus trong
phần Furcaria bản địa thuộc về New World. Loài này có liên quan
đến một số lượng loài một năm và hai năm châu Phi và châu Úc
trong phần Furcaria, gồm có kenaf (H. cannabinus),
roselle (H. sabdariffa), H. radiatus, red shield
hibiscus (H. acetosella), và nhiều bộ genomes châu Úc (ví
dụ, H. splendens, H. heterophyllus). Các hoa tươi của
H. aculeatus màu vàng có mắt đỏ nhạt nhỏ và được tìm thấy có
ước chừng 16 mg/g myricetin. Các số lượng nhỏ myricetin cũng
được tìm thấy ở H. calyphyllus và BOSTx® ‘Pink Hybrids’
(Bảng 1). Ba quercitin glycosides được nhận diện ở BOSTx®
‘Razberri Ruffles’, cũng như ít nhất bốn chất cyanadin và
quercetin glycosides không biết.
HÀM
LƯỢNG VITAMIN
Phân tích sơ khởi
được thực hiện trên một nắm tay mẫu hoa Hibiscus về các chất
tiền tố sinh tố A và E, một cách đặc biệt, carotenes và
tocopherols. Quy trình phân tích đã dùng là một thích ứng với
quy trình của Kurilich et al. (1999). Để chiết xuất chất tiền tố
sinh tố, cánh tràng hoa được cắt thành các mảnh nhỏ và chảy
ngược trong 30 phút trong ethanol có chất chống oxy hoá
butylhydroquinonone. Potassium hydroxide sau dó được thêm vào
hỗn hợp và chảy ngược được tiếp tục trong 30 phút nữa. Mẫu phản
ứng được lọc và sau đó phần lọc được bốc hơi quay trong chân
không đế một thể tích giảm. Sau khi thêm nước, mẫu được trích
với hexane:toluene (10:8). Lớp hexane:toluene được thu gom và
bốc hơi quay trong chân không giảm đến chất tồn dư khô. Chất dư
thừa sau đó được tái tạo trên tetrahydrofuran và chất trích được
phân tích bởi phép ghi sắc nước năng suất cao (HPLC).
HPLC được thực hiện
bằng cách sử dụng một máy Hewlett-Packard (HP) 1050LC trang bị
với một môđun 1100 Diode Array Detector và một phương pháp vận
hành vi tính ChemStation. Phương pháp HPLC tách riêng carotenes
và tocopherols dùng một cột Phenomenex Prodigy ODS-2 (5 µm, 4.6
× 250 mm) duy trì ở nhiệt độ chung quanh và một pha di động đồng
chuyên (an isocratic mobile phase) của
acetonitrile:methanol:tetrahydrofuran (52:40:8) chạy ở tốc độ
2.0 ml/phút. Thời gian chạy là 25 phút với tocopherols xuất hiện
ở 5–6 phút và carotenes bằng cách tách rửa ở 14–15 phút. Tín
hiệu ghi sắc được theo dõi ở 290 nm với tocopherols và 450 nm
với carotenes (cả hai liên quan đến 650 nm). Các phổ được thu
gom trên 210–750 nm.
Trong phân tích sơ
khởi,
a-
và
g-tocopherol
được tìm thấy trên cánh tràng hoa của tất cả tám giống hibiscus
được phân tích. Các giống này gồm có Hibiscus grandiflorus
và Bostx®hybirds của ‘Razberri Rhapsody’, ‘Governor Ann’,
‘Rosalyn Carter’, ‘Razberri Ruffles’, ‘Lady Bird’, ‘Quatro
Rojo’, và ‘Marty’s Star’. Từ việc xác định số lượng thô, chúng
tôi có thể nói là có ít nhất 20–80 ppm của một a-tocopherol và
2–15 ppm của
g-tocopherol
trên các cánh tràng hoá. Có một khả năng là
a-
và
b-carotene
cũng hiện diện nhưng phân tích phụ là điều cần thiết trong việc
nhận diện một cách tích cực các chất tiền tố này. Hiện nay chúng
tôi đang ở trong quá trình tối ưu hoá phương pháp chiết xuất
trong việc đánh giá số lượng chính xác của hàm lượng tocopherol
và carotene trong hoa hibiscus. Chúng tôi cũng đang thực hiên
các phân tích trong việc xác nhận hoăc loại bỏ việc nhận diện
carotenes. Khi cây hibiscus trổ hoa trong năm nay và nhiều mẫu
có tể thu hoạch, tám loài hibiscus đã phấn tích và các giống phụ
sẽ được phân tích trong hàm lượng chất tiền tố vitamin của chúng
bắng cách dùng phương pháp phân tích chẳng bao lâu sẽ là mới
chính xác nhiều hơn (soon-to-be new more accurate analysis
procedure).
SẢN
PHẨM GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Vài loại rào cản
điều hoà FDA tiềm tàng có thể phải được khắc phục trong việc
giới thiệu việc sử dụng sản phẩm Hibiscus giá trị gia
tăng ngoài thị trường. Trong trường hợp ba loài Malvaceae đặc
hữu bản địa Bắc Mỹ (Hibiscus moscheutos, H. aculeatus và
Kosteletskya virginiana), có vài tài liệu có công dụng
thực vật dân tộc ( documentation of ethnobotanical usage) (Cây
trồng cho một tương lai 2002; Dr. Duke’s Phytochemical and
Ethnobtanical Databases 2002). Đối với mọi loài Hibiscus
đặc hữu Mỹ bản địa có ít hoặc không dữ liệu hoá học thực vật.
Tuy nhiên, loài Hibiscus của Cựu Thế giới (và nhiều giống
khác bên trong Old World Malvaceae), được sưu tập tư liệu tốt.
Sự thiếu dữ liệu về các bộ genomes Malvaceae Bắc Mỹ là một trong
những động lực đứng sau nghiên cứu hoá học chúng tôi đã theo
đuổi trong những năm gần đây, nhiều trong số được sưu tầm ở đây.
Không có các dữ liệu trên, chúng tôi không thể di chuyển lên
phía trước với sự phát triển các chế phẩm về sản phẩm lương thực
giá trị gia tăng Hibiscus và các chế phẩm dùng bảo vệ da.
Thêm vào các sắc tố
có thể ăn được, mọi loài đặc hữu Bắc Mỹ còn cho năng suất cao về
sợi công nghiệp, như mọi loài và giống không đặc hữu khác trình
bày trong Bảng 1. Ngoài ra, rễ và hoa của nhiều loài này đã được
dùng để làm ra các loại trà rễ và hoa, và đã cho biết hoạt động
chống lại bệnh khối u, vi rút và ung thư. Mọi loài lại còn là
nhầy và nhiều (nếu không nói là tất cả) đã được dùng hàng trăm
năm trong nhiều nước—gồm có US—như các loại thuốc chống viêm
(demulcents), làm mềm (emollients), làm dịu thần kinh
(nervines), và thuốc dễ tiêu (stomachics), cũng như trong việc
điều trị bệnh kiết lỵ (dysentery), phổi (lung), và bệnh tiểu
(urinary ailments). Ở US, Kosteletskya đã được dùng như
potherb (lá) và hoa được ăn không nấu nướng. Rễ đã được dùng như
các loại rau (nấu nướng) và có thể được nghiền, làm thành bột
nhão và nướng thành kẹo dẻo “marshmallows;
trà
có thể được tạo ra từ hoa, và bất kể phần nào của cây có thể
được đun sôi và dùng như vật thay thế lòng trắng trứng để tạo ra
bánh trứng đường (meringues) (đường và nhầy của rễ, hoa và/hoặc
thân được trích và làm đậm đặc bằng cách luộc).
Các loài khác chúng
tôi mới trồng (hoặc đã trồng) có hiệu quả tương tự (Plants for a
Future 2002; Dr. Duke’s Phytochemical and Ethnobtanical
Databases 2002). Những loài này gồm có H. mutabilis và
H. paramutabilis, H. rosa-sinensis, và H. syriacus.
Chúng tôi cũng đã trồng các loài vài năm và/hoặc hai năm (như là
H. acetosella, H. cannabinis, và H. sabdariffa),
ằnhng
tập trung vào cây đa niên và thân gỗ Malvacea vì tiềm năng lớn
nhiều hơn trong nông nghiệp bền vững có các loài sống dài hơi.
Kết quả của các
nghiên cứu trước trong việc phân tích dinh dưỡng cánh tràng hoa
khử nước (phân tích thực hiện bởi Siliker Laboratories, Dallas,
Texas) cho biết năng suất quan trọng của proteins, sugars,
fiber, và mõ không bảo hoà trong chế độ ăn uống, cũng như đa
phần sinh tố chính trong bữa ăn. Những chất này có thể thu hồi
từ thu hoạch hoa trên một cơ sở thương phẩm. Các ứng dụng có thể
bao gồm việc sử dụng toàn bộ cánh tràng hoa tươi, sấy khô (khử
nước hoặc sấy lạnh), hoặc hoá đông trong việc sử dụng như sản
phẩm liệu pháp dinh dưỡng (nutraceutical products) và lương thực
đặc sản cho người sành ăn, hoặc như một cơ sở trích màu lương
thực thiên nhiên trong các ứng dụng trong lương thực và nước
giải khát. Các ứng dụng khác về hoa tươi và chế biến và những
chất trích này có thể bao gồm chế phẩm của sản phẩm ăn uống
cellulose vad chất nhầy, các vật mang qua da trong việc chuyển
giao dược liệu phi-lương thực, và chế phẩm bảo vệ da.
REFERENCES
-
Dr. Duke’s
Phytochemical and Ethnobotanical Databases.
www.ars-grin.gov/duke/ethnobot.html. April 2002
-
Merken, H.M. and
G.R. Beecher. 2000. Liquid chromatographic method for the
separation and quantification of prominent flavonoid
aglycones. J. Chrom. A. 897:177–184.
-
Kim, J.H.
|