Phân tích về Flavonoid Aglycones trên hoa dâm bụt tươi và bảo tồn

Lorraine S. Puckhaber, Robert D. Stipanovic, and Georgia A. Bost


Người dịch: Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

28 tháng 06 năm 2007

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Trong quá khứ, cây đa niên và vùng ôn đới loài và dòng lai Hibiscus đã được loại bỏ sang tình trạng của cây vườn ít được biết, ít nhất ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tiềm năng của chúng như một nguồn mới hoá có thể ăn và màu lương thực thiên nhiên (mọi thứ bên trong lớp anthocyanin của sắc tố hoa có thể ăn được) nần cao chúng đến tình trạng như—có thể là mới nhất—của Cây trồng mới.

Mười bảy loài Hibiscus bản địa ở Bắc Mỹ thay đổi từ USDA Zones 4–10 và, trong điều kiện hoang dã, bị giam hãm trong miền đất ngập nước. Trong trồng trọt, cây trồng được đặt trong các trang trại thường xuyên, sử dụng các quy trình không tưới tràn trong điều kiện ngập nước thụ động, hoặc tưới nhỏ giọt. Các loài đa niên cứng khác và hình thức cây gỗ từ chấu Á, gồm có H. mutabilis, H. syriacus, và loài liên-Thái Bình Dương H. hamaboH. tileaceous thích hợp với các vùng USDA Zones 8–10. Các sản phẩm tiềm tàng từ những giống trồng này gồm có lương thực tươi (cơ bản hoa có thể ăn được trong thương mại nhà hàng ăn uống) và chất màu lương thực thiên nhiên, cũng như bứa ăn hạt có thể ăn được và proteins hạt (trong áp dụng liệu pháp dinh dưỡng (for nutraceutical applications), dầu hạt, dầu bôi trơn, vá sợi, chất nhầy thực vật và polysaccharides phức tạp từ các cơ quan quả, rễ, thân, và / hoặc nhánh cây.

Trong báo cáo này, hoa của các loài Bắc Mỹ đã chọn, các loài châu Á và liên-Thái Bình Dương không bản địa đã chọn và các giống trồng lai Bắc Mỹ đã được chọn để phân tích cơ bản sắc tố. Hai mươi chín (29) loài và dòng lai Malvaceae đã dùng trong việc mô tả đăc tính hoá học của sắc tố trong hoa tươi được trình bày trong Bảng 1. Những giống trồng này gồm có loài Hibiscus bản địa thuộc lục địa US: Hibiscus aculeatus (vành nhạt với mắt đỏ nhỏ); H. coccineus (vàng cam/đỏ rắn); H. laevis (kem đến đỏ với mắt đỏ); H. martianus (đỏ rắn); H. moscheutos (trắng đến màu kem hoặc đỏ có mắt đỏ); H. striatus lambertianus (tím nhạt có mắt đỏ nhạt nhỏ); và vài dòng lai của ba trong những loài bản địa này [gồm có BOSTx®HHHybrids: ‘Governor Ann’ (mulitple types); ‘Nathan’s Star’; ‘Pink Hybrids’ (mixed types); ‘Purple Hybrids’; ‘Razberri Rhapsody’; và ‘Razberri Ruffles’] (Hình. 1). Các hình biểu hiện của giống trồng BOSTx®HHHybrids có thể sử dụng xin xem ở BOSTx.com.

Ngoài ra, vài giống không dâm but của Malvaceae giống bản địa thuộc US cũng được phân tích, gồm có Kosteletzkya virginica (màu hồng với mắt vàng), Malvaviscus arboreus drummondii (vàng cam rắn), Pavonia lasiopetalus (màu hồng rắn), và Sida spinosa (màu vàng rắn). Malvaceae không bản địa được dùng trong các phân tích gồm có Abelmoschus moschatus (hai hình thức, vàng cam và đỏ, Á châu nhiệt đới), H. calyphyllus (màu vàng, Madagscar), H. mutabilis (đào, Trung Quốc), H. paramutabilis (đỏ, Trung Quốc), H. rosa-sinensis (vàng cam, liên-Thái Bình Dương), H. syriacus (xanh dương, Trung Quốc), và M. arboreus mexicana (vàng cam, cácc nước Trung Mỹ). Các phương pháp của chúng tôi và kết quả phân tích được trình bày chi tiết dưới đây.

PHƯƠNG PHÁP LUẬN

CHẾ PHẨM TIÊU CHUẨN

Các nhà cung cấp khác nhau cung cấp 18 tiêu chuẩn flavonoid aglycone với độ thuần khiết 95%–99%. Các hợp chất Catechin và năm kiểu epicatechin-type cùng với luteolin, naringenin, hesperetin và kaempferol được mua từ Sigma Chemical Co. (St. Louis, Missouri). Myricetin và apigenin nhận được từ Aldrich Chemical Co. (Milwaukee, Wisconson) trong khi delphinidin nhận được từ Spectrum Chemical Co. (New Brunswick, New Jersey). Aglycones còn lại—gồm có cyanidin, petunidin, pelargonidin, peonidin, malvidin, và quercetin—được mua từ Sarsyntex (Merignac, France).

Bắt đầu, các dung dịch có 2–5 aglycones được dùng đên nhận thời gian giữ lại và thông tin phổ trong việc nhận diện flavonoid aglycones hiện diện trong chất trích hoa Hibiscus. Các dung dịch này được chế phẩm bằng cách hoà tan hợp chất tiêu chuẩn trong methanol (1–2 mg/mL của mỗi aglycone). Sau khi lấy đi một ước số trong phân tích HPLC, dung dịch tiêu chuẩn được trộn với 5 mL thuốc thử A (Thuốc thử A là mộ hốn hợp 4:1 của 62.5% methanol nước với 0.5 g/L tert-butylhydroquinone và 6 N HCl) và rút đi trong 2 giờ. Dung dịch có phản ứng này còn được phân tích bởi HPLC.

Hai hình thức dung dịch tiêu chuẩn (mỗi hình thức có aglycones khác nhau tìm thất trong hoa Hibiscus) được phân tích bởi HPLC trong việc xác định số lượng thông tin diện tích hợp chất và đỉnh ghi màu sắc. Dung dịch đậm đặc nhiều nhất trên mỗi hình thức được chế phẩm một cách chính xác từ bốn tiêu chuẩn thể rắn. Một cách đặc biệt, 300–500 µg của mối trong bốn aglycones được cận trọng lượng gần nhất 0.1 µg. Số lượng được phối hợp, sau đó được hoà tan và pha với 5.00 mL với thuốc thử A. Kế đến, chất đậm đặc được pha 1.00 mL đến 10.00 mL và 0.100 mL với 10.00 mL với thuốc thử A để tạo ra hai dung dịch khác trong chuỗi. Các dung dịch tiêu chuẩn được phân tích bởi HPLC bằng cách sử dụng 2, 10, và 20 µL tiêm chích.

PHÂN TÍCH HPLC

Phương pháp LC đã dùng là một hệ thống mô đun Hewlett-Packard (HP) 1050 Series trang bị với một máy phát hiện dãy 1100 Series diode và một máy vi tính HP Kayak có phần mềm HP HPLC 3D ChemStation trong việc vận hành công cụ và phân tích dữ liệu. Phương pháp LC dùng một cột HP Zorbax Eclipse XDB-C18 (250 × 4.6 mm) đi trước bởi một cột bảo vệ của pha cố định tương tự. Các cột được duy trì trong nhiệt độ phòng. Giai đoạn di động được thực hiện ở 1.00 mL/phút và gồm có một dốc nước, methanol (MeOH) và acetonitrile (ACN), mỗi có chứa 0.05% trifluoroacetic acid. Dốc là như sau: 0–5 phút ở 90% H2O, 6% MeOH, và 4% ACN; 5–30 phút ở 85%, 9%, và 6%; 30–60 phút ở 71%, 17.4%, và 11.6%; 60–61 phút ở 0%, 85%, và 15%; 61–66 phút ở 90%, 6%, và 4%. Với anthocyanidins, tín hiệu sắc tố ký được theo dõi ở 520 nm (20 nm rộng băng) liên quan với 570 nm (60 nm rộng băng) trong khi, với tất cả flavonoid aglycones khác, tín hiệu  sắc tố ký được theo dõi ở 210 nm (20 nm rông băng) liên quan với 550 nm (100 nm rộng băng). Thêm vào các tín hiệu sắc tố ký, các phổ được thu gom trên 190–600 nm. Các phổ của các đỉnh cao bên trong chất trích của hoa sắc tố ký được so sánh sắc tố tiêu chuẩn trong các mục đích nhận diện.

TRÍCH CÁNH TRÀNG HOA TƯƠI

Hoa tươi của 29 loài và dòng lai của Hibiscus được kiểm tra trong một quá trình 4 ngày (Bảng 1). Hoa từ tám hoặc ít hơn dòng nhập được thu gom vào buổi sáng sau khi hoa nở hoàn toàn, đặt trong khay vòm sáng và vận chuyển trong điều cạnh mát (khi có thể được thực hiện trong lần giao hàng hoa tươi cho khách hàng nhà hàng tiềm tàng) đến phòng thí nghiệm, sau đó tồn trữ ở 2ºC trong một phòng lạnh trong phòng thí nghiệm cho đến khi chất trích được thực hiện. Thông thường, bốn bộ của  hai trích xuất được thực hiện đồng thời trong từng ngày của mẫu thu hoạch tươi, vì thế tám giống hoa có thể được kiểm tra mỗi ngày trong khi giới hạn khoảng cách thu hoạch và trích xuất đên 10 giờ.

Table 1. Flavonoid aglycones trong 29 loài và dòng lai Hibiscus, hoa tươi.

Tên loài giống

Kích thước tương đối và ngoại hình của hoa

Nồng độ (mg/g mô tươi)

Tổng số sắc tố (mg/g hoa tươi)

Quer-
citin

Kaemp-
ferol

Myri-
cetin

Delphin-
idin

Cyanan-
idin

Petun-
idin

Pelargon-
idin

Malv-
idin

Abelmoschus moschatus

rất nhỏ; đỏ nhạt (chỉ tươi)

6

 

 

 

19

 

 

 

25

Abelmoschus moschatus

nhỏ; vàng cam hồng nhạt

2

 

 

 

14

 

 

 

16

Hibiscus aculeatus

Trung bình; vàng có mắt đỏ

127

 

16

 

3

 

 

 

146

Hibiscus calyphyllus

Trung bình; vàng có mắt đỏ tối

9

 

 

1

5

 

 

 

15

Hibiscus coccineus

lớn; vàng cam sao đỏ

16

 

 

 

31

 

 

 

47

Hibiscus grandiflorus

 

506

74

 

 

10

 

 

 

590

Hibiscus laevis 'Slight Bush'

Trung bình; trắng với đỏ nhạt, mắt hồng

160

 

 

 

7

 

 

 

167

Hibiscus martianus

rất nhỏ; đỏ có mắt đỏ vàng

23

 

 

 

72

 

 

 

95

Hibiscus moscheutos 'White'

lớn; màu kem với mắt đỏ

192

 

 

 

5

 

 

 

197

Hibiscus mutabilis 'Single Pink'

lớn; hồng

80

8

 

 

5

 

 

 

93

Hibiscus paramutabilis

lớn; hồng tối

91

4

 

 

20

 

 

 

115

Hibiscus rosa-sinensis

Trung bình; đỏ nhạt, mắt trắng nhạt, kiểu đỏ dài (chỉ tươi)

7

 

 

 

36

 

 

 

43

Hibiscus striatus lambertianus

Trung bình; tím

17

145

 

 

1

 

 

 

163

Hibiscus syriacus 'Purple Red'

nhỏ; đỏ tím

 

3

 

3

1

3

 

5

15

Hibiscus syriacus 'The Blues'

Trung bình; xanh dương

 

6

 

1

1

1

 

1

10

Hibiscus syriacus alba

 

 

96

 

 

7

 

 

 

103

Kosteletzkya virginica

Trung bình; tím nhạt/hồng, mắt vàng nhỏ

16

119

 

 

4

 

 

 

139

Malvaviscus arboreus drummondii

rất nhỏ; vàng cam, dạng ống

 

41

 

 

2

 

10

 

53

Malvaviscus arboreus mexicana

nhỏ; vàng cam, dạng ống

 

42

 

 

3

 

11

 

56

Pavonia hastata

Trung bình; có sọc nhạt-màu hồng tối

8

 

 

 

28

 

 

 

36

Pavonia lasiopetalus

Trung bình-nhỏ; màu hồng

4

 

 

 

3

 

 

 

7

Sida spinosa

rất nhỏ; vàng vàng

6

 

 

 

5

 

 

 

11

BOSTx(r) 'Delilah'

 

764

49

 

 

146

 

 

 

959

BOSTx(r) 'Governor Ann' (type)

lớn; vàng cam đỏorange red

46

 

 

 

38

 

 

 

84

BOSTx(r) 'Lady Bird'

 

 

1186

 

 

 

158

 

 

 

BOSTx(r) 'Marty's Star'

 

 

613

 

 

 

253

 

 

 

BOSTx(r) 'Orange Star'

 

 

387

 

 

 

102

 

 

 

BOSTx(r) 'Purple Backs'

 

 

1379

96

 

 

69

 

 

 

BOSTx(r) 'Quatro Rojo'

 

 

547

 

 

 

183

 

 

 

BOSTx(r) 'Razberri Rhapsody'

lớn; màu hồng rất tối

125

 

 

 

77

 

 

 

202

BOSTx(r) 'Razberri Ruffles'

Trung bình; đỏ mâm xôi sâu

111

 

 

 

44

 

 

 

155

BOSTx(r) 'Rosalyn Carter'

 

1632

 

 

 

44

 

 

 

1676

BOSTx(r) 'Turk's Cap'

 

 

27

674

 

 

11

 

 

 

BOSTx(r) 'Yoda'

 

 

1032

 

 

 

276

 

 

 

BOSTx(r) Hybrid light pinks (lg)

lớn; trắng có mắt hồng tối

170

 

 

 

4

 

 

 

174

BOSTx(r) Purple hybrids (mixed)

lớn; màu hồng tím

90

 

 

 

22

 

 

 

112

BOSTx(r)HHHybrid 'Nathan's Star'

lớn; đỏ hồng tối

6

 

 

 

39

 

 

 

45

BOSTx(r)HHHybrid Pink - dark red eye

lớn; màu hồng có mắt hồng tối

119

 

 

 

8

 

 

 

127

BOSTx(r)HHHybrid Pink - med. red eye

lớn; màu hồng có mắt hồng trung bình

81

 

 

 

7

 

 

 

88

BOSTx(r)Pink hybrids (mixed)

rất lớn; màu hồng có mắt đỏ anh đào đến hông tối

77

 

 

 

13

 

 

 

90

Pink Abutilon

 

 

239

174

 

 

8

 

 

 

Qui trình chiết xuất là như sau: Với hoa nhỏ đến rất nhỏ, 6–8 hoa toàn thể được chọn để chiết xuất. Với hoa có kích cỡ trung bình đến lớn, 4–6 cánh tràng hoa từ một hoa đơn được dùng, phụ thuộc vào kích thước của cánh tràng hoa. Các đường kính của hoâthy đổi từ nhỏ bằng 3 cm (Pavonia spp.) đến lớn bằng 30 cm (giống trồng lai Hibiscus).

Toàn bộ hoa hoặc cánh tràng hoa cá thể (phụ thuộc vào kích thước hoa) được cắt thành 2–5 mm bởi các mảnh 5–10 mm. Sau đó, 1.0–1.2 g mô tươi được cân đến gần nhất 0.1 mg thành một ống bệt đáy tròn 50 mL. Số lượng mô đã dùng trong các mẫu phơi khô hoặc sấy lạnh là ± 0.1 g, để có nồng độ sắc tố có thể so sánh với hoa tươi và bổ sung trọng lượng nước mất đi trong các mẫu khử nước. Trọng lượng khô của hoa thường ước chừng 10% trọng lượng tươi trong các mẫu phơi khô và sấy lạnh. Mức độ khử nước của cánh tràng hoa trong mẫu sấy lạnh (được đóng gói trong lát tích) tương đương với các mẫu tươi. Mô được che phủ với 25 mL thuốc thử A và chảy ngược trong 2 tiếng đồng hồ. Sau khi làm mát với nhiệt độ chung quanh, hỗn hợp phản ứng dược tạo âm  (sonicated) trong 5 phút, được chuyển sang một ống bẹt có thể tích 100 mL và pha loãng đến dấu có methanol. Mẫu pha được lắc trộn kỹ và một phần 4 mL được ly tâm Một ước số của chất nổi tầng mặt trong được chuyển sang lọ nhỏ HPLC để phân tích. Việc phân tích HPLC được thực hiện bằng cách sử dụng môt một lần tiêm 20 µL và dược hoàn tất trong 2.5 tiếng đồng hồ chế phẩm trích.

KẾT QUẢ

PHÉP GHI SẮC TIÊU CHUẨN

Các thời gian giữ lại trong 18 flavonoid aglycones ban đầu được khảo sát so sánh tốt vớiấcc thời gian của Merken và Beecher (2000). Trong số 18 trình bày trên, tám aglycones được tìm thấy trong chất trích hoa Hibiscus, gồm có delphinidin, cyanidin, petunidin, myricetin, pelargonidin, malvidin, quercetin, và kaempferol. Sự xác định cỡ cuat tám aglycones này cho các đường thẳng với các hệ số 0.998 hoặc lớn nhiều hơn. Mọi phần chắn đều gần bằng số không (0). Trong các tiêu chuẩn, giới hạn khám phá (LODs) thay đổi từ 38 ng với kaempferol đến 149 ng với delphinidin. Với các chất anthocyanidins, các LODs này xác định tối thiểu của hợp chất có thể khám phá trong chất trích hoa. Tuy nhiên với myricetin, quercetin và kaempferol, tối thiểu của hợp chất có thể khám phá trong chất trích bị giới hạn bởi âm nền đưa đến LODs của 450–520 ng. Trong một lần tiêm 20 µL và 100 mL của chất trích, LODs qui đổi đến mức tối thiểu nồng độ có thể khám phá trong hoa thay đổi giữa 0.32 mg/g với cyanidin và 2.6 mg/g với kaempferol.

PHÂN TÍCH HOA HIBISCUS

Flavonoid aglycones nhận diện trong cánh tràng hoa hoa tươi của 29 loài và dòng lai được trình bày trong Bảng 1. Hai chất flavonoid aglycones thường tìm thấy nhiều nhất là flavonol quercetin và anthocyanin cyanidin (Hình. 2). Mức độ Quercetin trong hoa thay đổi từ 2 đến 192 mg/g với mức độ cao nhất tìm thấy trên các hoa này có cánh tràng hoa có màu trắng và kem. Những hoa này gồm có H. moscheutos ‘trắng’, H. laevis ‘đỏ nhạt’, và BOSTx®HHHybrids ‘hồng nhạt’. Quercetin không thể khám phá được trong hai giống trồng H. syriacus (Bảng 1) hoặc trong hai giống Malvaviscus arboreus. Cyanidin được nhận diện trong mọi hoa, có nồng độ thay đổi từ 1 đến 77 mg/g. Các nồng độ cao nhất của cyanidin được tìm thấy trong các hoa đỏ tươi hoặc đỏ tối từ BOSTx® ‘Razberri Rhapsody’ và, một cách ngạc nhiên, các hoa đỏ cam nhạt của H. martianus. Mức độ thấp nhất của cyanidin được tìm tấy trên các giống trồng có hoa màu hồng, trắng, vàng hoặc tím.

Ngoài các chất quercetin và cyanidin, vài aglycones khác được khám phá trên các hoa, nhưng chỉ trong các bộ genomes đặc biệt. Delphinidin, petunidin, và malvidin (mọi chất anthocyanidins) được tìm thấy ở các mức độ 1–5 mg/g trong các hoa của hai giống trồng H. syriacus (một loài châu Á Hibiscus), ‘The Blues’, và ‘Purple Red’ (Bảng 1). Các kết quả này tương tự các kết quả của Kim và Fujieda (1991), mặc dù họ cũng đã báo cáo sự hiện diện của pelargonidin (màu đỏ của hoa) và peonidin, các hợp chất trong nhiều giống trồng H. syriacus không bị khám phá trong các giống trồng H. syriacus kiểm tra trong khảo nghiệm này, vì chỉ các giống trồng có hoa màu xanh dương (phổ biến nhiều hơn màu dỏ hoặc màu hồng của loài này) được tạo ra ở trang trại Hibiscus Hill Plantation, Waller county, Texas. Pelargonidin cũng được nhận diện trên các hoa đỏ vàng cam tối của Malvaviscus arboreus drummondiM. arboreus mexicana, cả hai đều là loài Tân Thế gới. Trên các giống trồng này, mức độ pelargonidin là ca. 10 mg per g mô hoa.

Kaempferol được tìm thấy ở mức độ cao (41–145 mg/g) trên bốn loài, Kosteletzkya virginica, H. striatus lambertianus, M. arboreus drummondiM. arboreus mexicana, mọi điều trong số là các giống bản địa New World. Điều này cũng thử được tìm thấy ở các nồng độ rất thấp (3–8 mg/g) trên các loài chấu Á H. mutabilis, H. paramutabilis và hai giống trồng H. syriacus. Sựn hiện diện của kaempferol trên H. mutabilis f. versicolor đã được báo cáo bởi Ishikura (Ishikura 1973, 1982). Kaempferol cũng đã được báo cáo ở H. moscheutos (Ohmoto et al. 1988) (a New World native) và H. rosa-sinensis (Subramanian và Nair 1972) (một loài nhiệt đới liên-Thái Binhd Dương), mặc dù điều này không được tìm thấy trên hai giống trồng Hibiscus này trong khảo nghiệm của chúng tôi.

Một chất aglycone cuối được nhận diện, nghĩa là. myricetin. Hợp chất này được tìm thấy trên H. aculeatus, chỉ loài Hibiscus trong phần Furcaria bản địa thuộc về New World. Loài này có liên quan đến một số lượng loài một năm và hai năm châu Phi và châu Úc trong phần Furcaria, gồm có kenaf (H. cannabinus), roselle (H. sabdariffa), H. radiatus, red shield hibiscus (H. acetosella), và nhiều bộ genomes châu Úc (ví dụ, H. splendens, H. heterophyllus). Các hoa tươi của H. aculeatus màu vàng có mắt đỏ nhạt nhỏ và được tìm thấy có ước chừng 16 mg/g myricetin. Các số lượng nhỏ myricetin cũng được tìm thấy ở H. calyphyllus và BOSTx® ‘Pink Hybrids’ (Bảng 1). Ba quercitin glycosides được nhận diện ở BOSTx® ‘Razberri Ruffles’, cũng như ít nhất bốn chất cyanadin và quercetin glycosides không biết.

HÀM LƯỢNG VITAMIN

Phân tích sơ khởi được thực hiện trên một nắm tay mẫu hoa Hibiscus về các chất tiền tố sinh tố A và E, một cách đặc biệt, carotenes và tocopherols. Quy trình phân tích đã dùng là một thích ứng với quy trình của Kurilich et al. (1999). Để chiết xuất chất tiền tố sinh tố, cánh tràng hoa được cắt thành các mảnh nhỏ và chảy ngược trong 30 phút trong ethanol có chất chống oxy hoá butylhydroquinonone. Potassium hydroxide sau dó được thêm vào hỗn hợp và chảy ngược được tiếp tục trong 30 phút nữa. Mẫu phản ứng được lọc và sau đó phần lọc được bốc hơi quay trong chân không đế một thể tích giảm. Sau khi thêm nước, mẫu được trích với hexane:toluene (10:8). Lớp hexane:toluene được thu gom và bốc hơi quay trong chân không giảm đến chất tồn dư khô. Chất dư thừa sau đó được tái tạo trên tetrahydrofuran và chất trích được phân tích bởi phép ghi sắc nước năng suất cao (HPLC).

HPLC được thực hiện bằng cách sử dụng một máy Hewlett-Packard (HP) 1050LC trang bị với một môđun 1100 Diode Array Detector  và một phương pháp vận hành vi tính ChemStation. Phương pháp HPLC tách riêng carotenes và tocopherols dùng một cột Phenomenex Prodigy ODS-2 (5 µm, 4.6 × 250 mm) duy trì ở nhiệt độ chung quanh và một pha di động đồng chuyên (an isocratic mobile phase) của acetonitrile:methanol:tetrahydrofuran (52:40:8) chạy ở tốc độ 2.0 ml/phút. Thời gian chạy là 25 phút với tocopherols xuất hiện ở 5–6 phút và carotenes bằng cách tách rửa ở 14–15 phút. Tín hiệu ghi sắc được theo dõi ở 290 nm với tocopherols và 450 nm với carotenes (cả hai liên quan đến 650 nm). Các phổ được thu gom trên 210–750 nm.

Trong phân tích sơ khởi, a- và g-tocopherol được tìm thấy trên cánh tràng hoa của tất cả tám giống hibiscus được phân tích. Các giống này gồm có Hibiscus grandiflorus và Bostx®hybirds của ‘Razberri Rhapsody’, ‘Governor Ann’, ‘Rosalyn Carter’, ‘Razberri Ruffles’, ‘Lady Bird’, ‘Quatro Rojo’, và ‘Marty’s Star’. Từ việc xác định số lượng thô, chúng tôi có thể nói là có ít nhất 20–80 ppm của một a-tocopherol và 2–15 ppm của g-tocopherol trên các cánh tràng hoá. Có một khả năng là a- và b-carotene cũng hiện diện nhưng phân tích phụ là điều cần thiết trong việc nhận diện một cách tích cực các chất tiền tố này. Hiện nay chúng tôi đang ở trong quá trình tối ưu hoá phương pháp chiết xuất trong việc đánh giá số lượng chính xác của hàm lượng tocopherol và carotene trong hoa hibiscus. Chúng tôi cũng đang thực hiên các phân tích trong việc xác nhận hoăc loại bỏ việc nhận diện carotenes. Khi cây hibiscus trổ hoa trong năm nay và nhiều mẫu có tể thu hoạch, tám loài hibiscus đã phấn tích và các giống phụ sẽ được phân tích trong hàm lượng chất tiền tố vitamin của chúng bắng cách dùng phương pháp phân tích chẳng bao lâu sẽ là mới chính xác nhiều hơn (soon-to-be new more accurate analysis procedure).

SẢN PHẨM GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Vài loại rào cản điều hoà FDA tiềm tàng có thể phải được khắc phục trong việc giới thiệu việc sử dụng sản phẩm Hibiscus giá trị gia tăng ngoài thị trường. Trong trường hợp ba loài Malvaceae đặc hữu bản địa Bắc Mỹ (Hibiscus moscheutos, H. aculeatusKosteletskya virginiana), có vài tài liệu có công dụng thực vật dân tộc ( documentation of ethnobotanical usage) (Cây trồng cho một tương lai 2002; Dr. Duke’s Phytochemical and Ethnobtanical Databases 2002). Đối với mọi loài Hibiscus đặc hữu Mỹ bản địa có ít hoặc không dữ liệu hoá học thực vật. Tuy nhiên, loài Hibiscus của Cựu Thế giới (và nhiều giống khác bên trong Old World Malvaceae), được sưu tập tư liệu tốt. Sự thiếu dữ liệu về các bộ genomes Malvaceae Bắc Mỹ là một trong những động lực đứng sau nghiên cứu hoá học chúng tôi đã theo đuổi trong những năm gần đây, nhiều trong số được sưu tầm ở đây. Không có các dữ liệu trên, chúng tôi không thể di chuyển lên phía trước với sự phát triển các chế phẩm về sản phẩm lương thực giá trị gia tăng Hibiscus và các chế phẩm dùng bảo vệ da.

Thêm vào các sắc tố có thể ăn được, mọi loài đặc hữu Bắc Mỹ còn cho năng suất cao về sợi công nghiệp, như mọi loài và giống không đặc hữu khác trình bày trong Bảng 1. Ngoài ra, rễ và hoa của nhiều loài này đã được dùng để làm ra các loại trà rễ và hoa, và đã cho biết hoạt động chống lại bệnh khối u, vi rút và ung thư. Mọi loài lại còn là nhầy và nhiều (nếu không nói là tất cả) đã được dùng hàng trăm năm trong nhiều nước—gồm có US—như các loại thuốc chống viêm (demulcents), làm mềm (emollients), làm dịu thần kinh (nervines), và thuốc dễ tiêu (stomachics), cũng như trong việc điều trị bệnh kiết lỵ (dysentery), phổi (lung), và bệnh tiểu (urinary ailments). Ở US, Kosteletskya đã được dùng như potherb (lá) và hoa được ăn không nấu nướng. Rễ đã được dùng như các loại rau (nấu nướng) và có thể được nghiền, làm thành bột nhão và nướng  thành kẹo dẻo “marshmallows; trà có thể được tạo ra từ hoa, và bất kể phần nào của cây có thể được đun sôi và dùng như vật thay thế lòng trắng trứng để tạo ra bánh trứng đường (meringues) (đường và nhầy của rễ, hoa và/hoặc thân được trích và làm đậm đặc bằng cách luộc).

Các loài khác chúng tôi mới trồng (hoặc đã trồng) có hiệu quả tương tự (Plants for a Future 2002; Dr. Duke’s Phytochemical and Ethnobtanical Databases 2002). Những loài này gồm có H. mutabilis H. paramutabilis, H. rosa-sinensis, và H. syriacus. Chúng tôi cũng đã trồng các loài vài năm và/hoặc hai năm (như là H. acetosella, H. cannabinis, và H. sabdariffa), ằnhng tập trung vào cây đa niên và thân gỗ Malvacea vì tiềm năng lớn nhiều hơn trong nông nghiệp bền vững có các loài sống dài hơi.

Kết quả của các nghiên cứu trước trong việc phân tích dinh dưỡng cánh tràng hoa khử nước (phân tích thực hiện bởi Siliker Laboratories, Dallas, Texas) cho biết năng suất quan trọng của proteins, sugars, fiber, và mõ không bảo hoà trong chế độ ăn uống, cũng như đa phần sinh tố chính trong bữa ăn. Những chất này có thể thu hồi từ thu hoạch hoa trên một cơ sở thương phẩm. Các ứng dụng có thể bao gồm việc sử dụng toàn bộ cánh tràng hoa tươi, sấy khô (khử nước hoặc sấy lạnh), hoặc hoá đông trong việc sử dụng như sản phẩm liệu pháp dinh dưỡng (nutraceutical products) và lương thực đặc sản cho người sành ăn, hoặc như một cơ sở trích màu lương thực thiên nhiên trong các ứng dụng trong lương thực và nước giải khát. Các ứng dụng khác về hoa tươi và chế biến và những chất trích này có thể bao gồm chế phẩm của sản phẩm ăn uống cellulose vad chất nhầy, các vật mang qua da trong việc chuyển giao dược liệu phi-lương thực, và chế phẩm bảo vệ da.

REFERENCES

  • Dr. Duke’s Phytochemical and Ethnobotanical Databases. www.ars-grin.gov/duke/ethnobot.html. April 2002
  • Merken, H.M. and G.R. Beecher. 2000. Liquid chromatographic method for the separation and quantification of prominent flavonoid aglycones. J. Chrom. A. 897:177–184.
  • Kim, J.H.